ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả bệnh nhi dưới 24 tháng được chẩn đoán HPQ vào khoa Nội tổng hợp Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ
Một trong hai tiêu chuẩn sau:
1 Trẻ có cơn khó thở cấp, đáp ứng với điều trị thuốc dãn PQ và có tiền sử:
- Trẻ dưới 24 tháng có khó thở kèm khò khè xảy ra ít nhất 3 lần trong 2 năm đầu đời
- Không kể tuổi khởi phát
- Không kể yếu tố khởi phát
- Có hay không cơ địa dị ứng của bản thân hoặc gia đình
2 Trẻ đã được chẩn đoán HPQ
Có dị tật bẩm sinh kèm theo: tim mạch (tim bẩm sinh), hô hấp (dị tật bẩm sinh đường hô hấp), thần kinh - cơ…
Có bệnh lý mãn tính khác đi kèm: bại não, loạn sản PQ - phổi, suy giảm miễn dịch (bẩm sinh hay mắc phải)…
Người nhà không hợp tác hoặc không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu Địa điểm: tại khoa Nội Tổng Hợp, Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ
Phương pháp nghiên cứu
Cỡ mẫu được tính theo công thức: n = Z 2 1-α/2 ×( )
Z là trị số từ phân phối chuẩn; z = 1,96
Trong nghiên cứu này, mức ý nghĩa α được chọn là 0,05, phản ánh xác suất sai lầm loại I (kết quả dương tính giả) Theo nghiên cứu của Trần Anh Tuấn tại Bệnh viện Nhi Đồng I năm 2006, tỷ lệ trẻ nhập viện vì hen nhũ nhi là 5,1%, tương đương với p = 0,051 Ngoài ra, sai số cho phép d được đặt là 0,05 nhằm đảm bảo độ chính xác phù hợp trong phân tích dữ liệu.
Thế các giá trị vào công thức, ta được n = 74,3
Như vậy: chọn cỡ mẫu ít nhất là 75 bệnh nhi
Chọn mẫu thuận tiện cho đến khi đủ số lượng
2.2.4 Liệt kê và định nghĩa biến số
Tên biến Loại biến Giá trị
1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu:
- Tháng tuổi Định tính Định tính Định tính Định lượng Định tính
5 giá trị: Cần Thơ, Hậu Giang, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Khác (Bạc Liêu, Đồng Tháp ) Nông thôn, thành thị
- Tuổi xuất hiện khò khè
- Tuổi xuất hiện khò khè Định lượng Định tính
3 giá trị: < 6 tháng, 6 -
- Số lượng bạch cầu đa nhân trung tính Định lượng Định tính Định tính
3 giá trị: giảm, bình thường, tăng
4 Một số yếu tố liên quan:
- Tiền sử dị ứng cá nhân:
VMDƯ, dị ứng thức ăn, mề đay, chàm, dị ứng thuốc
- Loại thức ăn gây dị ứng
: tôm, cua biển, thịt bò, sữa công thức, khác (trứng, thịt gà, cá biển…)
- Tiền sử gia đình có mắc một số bệnh lý dị ứng: VMDƯ, viêm xoang, HPQ, mề đay, dị ứng thức ăn, chàm
- Thành viên gia đình mắc
HPQ: mẹ, cha, anh chị em ruột, khác (ông, bà, cô, dì…)
- Thành viên gia đình mắc
VMDƯ: mẹ, cha, anh chị em ruột, khác (ông, bà, cô, dì…)
- Có hút thuốc lá trong nhà
- Hút thuốc khi có mặt trẻ
- Chất liệu nấu bếp trong nhà: gas, củi, điện Định tính Định tính Định tính Định tính Định tính Định tính Định tính Định tính Định tính
4 giá trị: con thứ 1, con thứ 2, con thứ 3, con thứ 4
- Sử dụng nhang, thuốc xịt phòng
- Có nuôi chó mèo trong nhà
- Có vuốt ve chó mèo
- Thời gian bú sữa mẹ hoàn toàn
Các yếu tố khởi phát bệnh bao gồm nhiễm khuẩn đường hô hấp, thay đổi thời tiết, khói bụi và khói thuốc lá Ngoài ra, gắng sức và thức ăn cũng có thể gây ảnh hưởng và làm tăng nguy cơ mắc bệnh Việc nhận biết các yếu tố này giúp kiểm soát và phòng ngừa hiệu quả tình trạng bệnh lý.
2.2.4.2 Định nghĩa các biến số
Nông thôn là khu vực không thuộc nội thành, nội thị của các đô thị, thị xã, thị trấn, do ủy ban nhân dân xã quản lý Trong khi đó, thành phố và thị xã bao gồm phần lãnh thổ thuộc nội thành, nội thị của các địa phương này.
Khò khè là tiếng thở liên tục mang tính nhạc, thường nghe thấy từ ngực bệnh nhân, chủ yếu ở thì thở ra nhưng cũng có thể xuất hiện khi hít vào Âm sắc của tiếng khò khè có thể cao hoặc thấp, và có thể là đơn âm khi tắc nghẽn ở đường thở lớn hoặc trung tâm, hoặc đa âm khi tắc nghẽn xảy ra ở nhiều đường thở nhỏ như các phế quản nhỏ và vừa.
- Số lần khò khè: là các lần trẻ nhập viện vì khò khè kèm theo khó thở
- Khó thở: là một cảm giác chủ quan, thường được mô tả là hơi thở ngắn, mức độ thay đổi từ khó chịu nhẹ đến ngạt thở [14]
- Sốt: khi nhiệt độ đo ở hậu môn ≥ 38 0 C hay nhiệt độ đo ở nách ≥ 37,5 0 C [6]
Hình ảnh ứ khí trên phim X-quang phổi thể hiện rõ hình ảnh lồng ngực căng phồng, khoang gian sườn dãn rộng, vòm hoành hạ thấp và phẳng, cùng với tăng sáng ở hai phế trường Ngoài ra, có thể thấy kèm theo các dấu hiệu như tràn khí dưới da hoặc tràn khí trung thất, giúp chẩn đoán chính xác tình trạng khí trong lồng ngực.
- Thiếu máu: trẻ 6 tháng đến 2 tuổi có lượng huyết sắc tố (Hb) < 11g/dL, dung tích hồng cầu (Hct) < 33% [18]
- Mức độ thiếu máu: nhẹ (Hb từ 9 đến dưới 11g/dL), trung bình (Hb từ 6 đến
9 g/dL), nặng (Hb dưới 6g/dL) [18]
- Giá trị bình thường của số lượng bạch cầu đa nhân trung tính theo tuổi: 1,0
Bú sữa mẹ hoàn toàn là phương pháp không cho trẻ dùng thức ăn hay thức uống nào khác, kể cả nước Tuy nhiên, trẻ sơ sinh vẫn được phép sử dụng các dung dịch như oresol, thuốc nhỏ và xi-rô chứa vitamin, khoáng chất cũng như các loại thuốc cần thiết để đảm bảo sự phát triển và sức khỏe của trẻ.
Gắng sức đề cập đến mức độ vận động thể lực cao hơn bình thường, đặc biệt ở trẻ nhỏ và trẻ mới biết đi, trong đó các hoạt động như khóc và cười đều phản ánh cường độ vận động tương đương với trẻ lớn hơn, giúp phát triển sự linh hoạt và sức bền của trẻ trong giai đoạn đầu đời.
2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.5.1 Các bước tiến hành thu thập số liệu
Chúng tôi tiến hành lựa chọn trước 20 bệnh nhân để hiệu chỉnh lại bộ câu hỏi cho hoàn chỉnh, sau đó thu thập số liệu qua 5 bước:
- Yếu tố khởi phát bệnh, diễn biến bệnh
- Loại thuốc đã được sử dụng và sự đáp ứng với thuốc
- Khai thác bệnh hen phế quản
Cấp tính (< 3 tuần) hay mãn tính (> 8 tuần)
Ho khan hay ho có đàm
Triệu chứng đi kèm: khò khè, khó thở, nôn ói…
Yếu tố khởi phát: cảm lạnh, về đêm, khói thuốc, khi nằm, khi bú…
Tháng tuổi xuất hiện lần khò khè đầu tiên
Số lần khò khè, thời gian khò khè lâu nhất
Cách khởi phát khò khè: cấp tính hay từ từ, kéo dài, ngày càng nặng
Tiếng thở khò khè: chỉ ở thì thở ra, lớn, không nghe thấy
Các dấu hiệu đi kèm như sau ăn, ói, ho, triệu chứng trở nên nặng hơn khi thay đổi tư thế, giảm khả năng tăng cân, tái phát nhiễm khuẩn và kém đáp ứng với thuốc điều trị HPQ.
Yếu tố khởi phát: cảm lạnh, về đêm, khói thuốc lá, khi bú, khi ăn…
Khó thở có thể xuất hiện đột ngột trong vài phút hoặc có triệu chứng từ cấp tính trong vài giờ, bán cấp kéo dài vài ngày hoặc tuần, hoặc mạn tính diễn ra trong vài tháng gần đây.
Xuất hiện khó thở khi nào, có liên quan thời tiết hay gắng sức không
Có kèm sốt hay có biểu hiện viêm long đường hô hấp không
Khó thở khiến trẻ: khóc yếu, bú kém, thường ngồi hay bỏ bú…
Các yếu tố liên quan của bệnh HPQ:
Có hút thuốc lá trong nhà, trẻ có tiếp xúc khói thuốc lá
Nuôi chó mèo, trẻ có vuốt ve chó mèo
Sử dụng nhang thuốc xịt phòng trong nhà
Loại chất liệu nấu bếp trong nhà: gas, củi, điện…
Số tháng trẻ được bú sữa mẹ hoàn toàn
Tiền căn bản thân bao gồm các yếu tố như sinh đủ tháng hay thiếu tháng, cân nặng lúc sinh, thứ tự sinh trong gia đình, tình trạng tiêm chủng đầy đủ hay thiếu, cũng như các bệnh lý đã mắc, đặc biệt là các bệnh dị ứng Những thông tin này rất quan trọng để đánh giá tình trạng sức khỏe và dự đoán khả năng mắc các bệnh liên quan trong tương lai Nắm rõ tiền sử bệnh lý giúp các bác sĩ đưa ra chẩn đoán chính xác và hướng điều trị phù hợp Từ các yếu tố này, có thể xác định nguy cơ mắc các bệnh dị ứng hoặc các vấn đề sức khỏe khác để có biện pháp phòng tránh kịp thời.
- Tiền căn gia đình: thành viên mắc HPQ, bệnh dị ứng như chàm, mề đay…
- Tri giác: quan sát để đánh giá tri giác của trẻ là tỉnh táo, kích thích
- Da niêm: quan sát màu sắc ở môi, đầu chi, tìm dấu hiệu chàm, dị ứng da
Mạch (bắt mạch quay và đếm tần số trong 1 phút), nhiệt độ (đo ở nách bằng nhiệt kế thủy ngân và được cộng thêm 0,5 0 C)
Nhịp thở (đếm trọn 1 phút khi trẻ nằm yên và mẹ vén áo trẻ lên) [13]
- Khám phổi (cho trẻ nằm, bộc lộ phần ngực và bụng): quan sát lồng ngực và nghe phổi
Tình trạng co kéo cơ liên sườn, xảy ra khi các cơ liên sườn di chuyển hướng vào trong trong quá trình hít vào, là dấu hiệu của khó thở ở trẻ Bên cạnh đó, rút lõm lồng ngực, hay còn gọi là lõm phần dưới của lồng ngực khi trẻ hít vào, là biểu hiện cho thấy trẻ đang gặp vấn đề về hô hấp nghiêm trọng Các dấu hiệu này cần được chẩn đoán sớm để có phương pháp điều trị phù hợp, đảm bảo sức khỏe và sự phát triển của trẻ.
[13], co kéo cơ ức đòn chũm và rút lõm hõm ức…
Bất thường cấu trúc, biến dạng: lồng ngực hình thùng, gù vẹo cột sống…
Nghe tiếng thở khò khè của trẻ bằng ống nghe hoặc bằng tai (áp sát tai vào vùng miệng mũi của trẻ), nghe ran ở phổi bằng ống nghe
- Khám các cơ quan khác
Bướ c 3: Ghi nh ậ n các k ế t qu ả c ậ n lâm sàng
- Công thức máu: hồng cầu, Hb, Hct, công thức bạch cầu
- X quang tim phổi thẳng: tìm hình ảnh ứ khí, thâm nhiễm phổi trên phim
- Khí máu động mạch (trường hợp nặng): pH, PaO2, PaCO2, HCO3
Bướ c 4: Ghi nh ậ n tình tr ạ ng lúc nh ậ p vi ệ n c ủ a bé t ừ h ồ sơ bệ nh án t ạ i khoa
Trong quá trình xử trí ban đầu tại bệnh viện, các triệu chứng của cơn HPQ ở trẻ thường không còn rõ ràng nữa Chính vì lý do này, người thu thập số liệu cần ghi nhận chính xác tình trạng của trẻ tại thời điểm nhập viện từ hồ sơ bệnh án trong vòng 24 giờ đầu sau khi trẻ nhập viện để đảm bảo độ chính xác của dữ liệu.
Bướ c 5: Sau khi k ế t thúc, s ố li ệu đượ c thu th ậ p theo m ẫ u th ố ng nh ấ t
2.2.5.2 Công cụ thu thập số liệu
Bệnh án mẫu (phụ lục), ống nghe, thước dây
2.2.6 Phương pháp hạn chế sai số
Người cung cấp thông tin không sống chung hoặc trực tiếp nuôi dưỡng trẻ, đồng thời một số thuật ngữ chưa được giải thích rõ ràng, gây khó hiểu và dẫn đến câu trả lời thiếu chính xác.
Mức độ tắc nghẽn PQ ảnh hưởng đến phản ứng của trẻ với thuốc khí dung giãn PQ Do đó, quá trình đánh giá khả năng phục hồi của tắc nghẽn PQ cần được thực hiện nhiều lần để đảm bảo độ chính xác Lần thở khí dung đầu tiên có thể không phản ánh đầy đủ mức độ tắc nghẽn, do đó cần theo dõi diễn biến của trẻ qua các lần đánh giá để đưa ra chẩn đoán và điều trị phù hợp.
Đạo đức trong nghiên cứu
Tất cả bệnh nhi đều có sự đồng ý của bố mẹ và nghiên cứu được thực hiện sau khi được phê duyệt bởi Hội đồng Nghiên cứu Khoa học của Trường Đại học Y Dược Cần Thơ Quá trình khảo sát tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn về y đức nhằm mục đích phục vụ nghiên cứu khoa học, hỗ trợ chẩn đoán và phòng ngừa bệnh hiệu quả Đồng thời, nghiên cứu đảm bảo bảo mật thông tin cá nhân của trẻ và duy trì tính công bằng và khách quan trong quá trình thu thập dữ liệu.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm dịch tễ của mẫu nghiên cứu
Nhận xét: nam chiếm tỉ lệ là 70,6% Tỉ lệ nam/nữ: 2,4/1
3.1.2 Phân bố theo địa phương
Bảng 3.4: Phân bố trẻ mắc hen phế quản theo địa phương (n = 85) Địa phương Tần suất Tỉ lệ (%)
Khác: Bạc Liêu, Đồng Tháp… 4 4,6
Nhận xét: đa số nơi cư ngụ của các trẻ mắc HPQ là tại Cần Thơ (47,1%) và
Biểu đồ 3.1: Phân bố bệnh theo giới(n = 85)
3.1.3 Phân bố theo khu vực thành thị và nông thôn
Nhận xét: trẻ mắc HPQ phân bố theo khu vực nông thôn và thành thị là tương đương nhau
Trẻ mắc HPQ nhập viện có tháng tuổi nhỏ nhất là 7 tháng và lớn nhất là 24 tháng (trung bình là 15,2 ± 5,3 tháng)
Nhận xét: trẻ mắc HPQ nhập viện phân bố chủ yếu ở nhóm từ 12 đến 24 tháng tuổi với 69,4%.
Khảo sát về đặc điểm lâm sàng
3.1.1 Tuổi khò khè lần đầu theo nhóm tuổi
Trẻ có biểu hiện khò khè lần đầu sớm nhất là 02 tháng và muộn nhất là 14 tháng (trung bình: 7,4 ± 3,1 tháng tuổi)
Biểu đồ 3.2: Phân bố theo khu vực thành thị và nông thôn(n = 85)
Biểu đồ 3.3: Phân bố trẻ mắc hen phế quản theo tuổi (n = 85)
Bảng 3.5: Tuổi khò khè lần đầu theo nhóm tuổi (n = 85)
Tuổi xuất hiện khò khè Tần suất Tỉ lệ (%)
Nhận xét: nhóm tuổi từ 6 đến dưới 12 tháng chiếm tỉ lệ cao nhất với 57,7% 3.1.2 Số lần khò khè của trẻ khi được chẩn đoán hen phế quản
Nhận xét: đa số trẻ được chẩn đoán HPQ khi có số lần khò khè là 3 (55,3%) và có 7% trẻ được chẩn đoán khì khò khè từ 6 lần trở lên
3.1.3 Tình hình chẩn đoán hen phế quản trước khi nhập viện
Bảng 3.6: Tình hình chẩn đoán hen phế quản trước khi nhập viện (n = 85) Được chẩn đoán HPQ Tần suất Tỉ lệ (%)
Nhận xét: chỉ có 8,2% trẻ được chẩn đoán HPQ trước khi nhập viện
Biểu đồ 3.4: Số lần khò khè của trẻ khi được chẩn đoán HPQ (n = 85)
Bảng 3.7: Lý do vào viện của trẻ mắc hen phế quản (n = 85)
Lý do Tần suất Tỉ lệ (%)
Khác: ho và sốt hoặc khò khè 8 9,4
Nhận xét: khó thở và ho là hai lý do vào viện thường gặp nhất ở trẻ mắc HPQ (chiếm 68,2%)
3.1.5 Triệu chứng cơn hen phế quản cấp
Bảng 3.8: Triệu chứng cơn hen phế quản cấp (n = 85)
Triệu chứng cơn hen Tần suất Tỉ lệ (%)
Co kéo cơ hô hấp phụ 65 76,5
Các triệu chứng phổ biến bao gồm khò khè, ho, nhịp thở nhanh, co kéo cơ hô hấp phụ, chảy mũi, sốt và kích thích, với tỷ lệ xuất hiện trên 50% Trong đó, khò khè là biểu hiện phổ biến nhất, chiếm 100%, còn ho xuất hiện với tỉ lệ gần như chắc chắn là 98,8%, phản ánh mức độ nghiêm trọng và tần suất cao của các triệu chứng trong các ca bệnh.
Bảng 3.9: Các tiếng ran ở phổi trong cơn hen phế quản cấp (n = 85)
Tiếng ran ở phổi Tần suất Tỉ lệ (%)
Một trẻ có thể có nhiều tiếng ran ở phổi
Nhận xét: trong cơn HPQ cấp, trẻ có tiếng ran ở phổi chủ yếu là ran ngáy (77,6%) và ran ẩm (74,1%)
3.1.6 Mức độ nặng của cơn hen
Nhận xét: đa số trẻ nhập viện với cơn HPQ mức độ trung bình (72,9%) 3.1.7 Phân bố bậc hen
Bảng 3.10: Phân bố bậc hen (n = 85)
Bậc hen Tần suất Tỉ lệ (%)
Nhận xét: bệnh hen của trẻ chủ yếu là bậc 1 (92,9%) Không ghi nhận trường hợp nào bậc 3 hoặc bậc 4
Biểu đồ 3.5: Mức độ nặng của cơn hen phế quản (n = 85)
3.2 KHẢO SÁT CÁC KẾT QUẢ CẬN LÂM SÀNG
Bảng 3.11: Hình ảnh x - quang phổi thẳng (n = 74)
Hình ảnh x quang Tần suất Tỉ lệ (%) Ứ khí 38 51,4
Một trẻ có thể có hai hình ảnh tổn thương trên phim x - quang
Nhận xét: trẻ mắc HPQ nhập viện có hình ảnh ứ khí trên phim x - quang phổi thẳng là 51,4% và hình ảnh thâm nhiễm phổi là 59,5%
3.2.2 Đánh giá tình trạng thiếu máu qua lượng hemoglobin
Trong 85 trẻ mắc HPQ nhập viện, ghi nhận 31 trẻ có tình trạng thiếu máu kèm theo (36,5%)
Nhận xét: trong 31 trẻ mắc HPQ có kèm theo thiếu máu, ghi nhận 27 trẻ thiếu máu ở mức độ nhẹ (chiếm 87,1%)
Tổng số lượng bạch cầu: giá trị trung bình là 11,6 ± 4,5.10 9 /l, giá trị cao nhất là 23,7.10 9 /l và giá trị thấp nhất là 3,4.10 9 /l
Trong 85 trẻ mắc HPQ nhập viện, ghi nhận 22 trường hợp có tổng số lượng bạch cầu > 15.10 9 /l (25,9%)
Biểu đồ 3.6: Mức độ thiếu máu của trẻ mắc HPQ (n = 31)
Nhận xét: trong 85 trẻ mắc HPQ nhập viện, có 23 trẻ tăng số lượng bạch cầu đa nhân trung tính chiếm 27,1%
3.3 KHẢO SÁT CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
3.3.1 Yếu tố chủ thể (yếu tố nội tại)
3.3.1.1 Thứ tự con trong gia đình của trẻ mắc bệnh hen phế quản
Nhận xét: HPQ thường gặp ở con thứ 1 (49,4%) và con thứ 2 (37,6%) trong gia đình
Biểu đồ 3.7: Số lượng bạch cầu đa nhân trung tính (n )
Con thứ 1 Con thứ 2 Con thứ 3 Con thứ 4
Biểu đồ 3.8: Thứ tự con trong gia đình của trẻ mắc HPQ (n = 85)
3.3.1.2 Tiền sử dị ứng của bệnh nhi hen phế quản
Trong 85 trẻ mắc HPQ nhập viện, có 47 trẻ có tiền sử dị ứng cá nhân chiếm 55,3%
Bảng 3.12: Tiền sử dị ứng của bệnh nhi hen phế quản (n = 85)
Tiền sử dị ứng cá nhân Tần suất Tỉ lệ (%)
Một trẻ có thể có nhiều tiền sử dị ứng cá nhân
Nhận xét: VMDƯ là tiền sử dị ứng thường gặp nhất ở trẻ (32,9%) Dị ứng thức ăn là tiền sử thường gặp thứ hai (16,5%)
M ộ t s ố lo ạ i th ứ c ăn mà tr ẻ m ắ c HPQ b ị d ị ứ ng
Bảng 3.13: Một số loại thức ăn mà trẻ mắc hen phế quản bị dị ứng (n = 14)
Loại thức ăn gây dị ứng Tần suất Tỉ lệ (%)
Khác: trứng, thịt gà, cá biển… 3 21,4
Một trẻ mắc HPQ có thể dị ứng với nhiều loại thức ăn
Nhận xét: tôm là loại thức ăn thường gây dị ứng nhất ở trẻ mắc bệnh HPQ (chiếm 42,9%)
3.3.1.3 Tiền sử gia đình Đa số trẻ đều có tiền sử gia đình mắc một số bệnh lý liên quan đến HPQ (viêm mũi dị ứng, viêm xoang, dị ứng thức ăn, mề đay, chàm) hoặc HPQ: 61/85 trẻ (chiếm 71,8%)
Bảng 3.14: Tiền sử gia đình có mắc một số bệnh lý dị ứng (n = 85)
Mắc các bệnh Tần suất Tỉ lệ (%)
Một trẻ có thể có tiền sử gia đình mắc nhiều bệnh lý
Nhận xét: gia đình của trẻ mắc chủ yếu: VMDƯ, viêm xoang và HPQ
Thành viên trong gia đ ình có m ắ c m ộ t s ố b ệ nh lý d ị ứ ng
Bảng 3.15: Thành viên trong gia đình mắc bệnh hen phế quản (n = 85)
Thành viên trong gia đình Tần suất Tỉ lệ (%)
Khác: ông, bà, cô, dì, chú… 15 17,6
Trong một gia đình có thể có nhiều thành viên cùng mắc HPQ
Nhận xét: cha hoặc mẹ mắc HPQ là tình huống thường gặp nhất
Bảng 3.16: Thành viên trong gia đình mắc bệnh viêm mũi dị ứng (n = 85)
Thành viên trong gia đình Tần suất Tỉ lệ (%)
Khác: ông, bà, cô, dì, chú… 5 5,9
Trong một gia đình có thể có nhiều thành viên cùng mắc VMDƯ
Nhận xét: mẹ là thành viên mắc VMDƯ chiếm đa số trong gia đình
3.3.2 Yếu tố liên quan đến môi trường (yếu tố khách quan khởi phát cơn hen) 3.3.2.1 Hút thuốc lá trong nhà
Bảng 3.17: Hút thuốc lá trong nhà (n = 85)
Hút thuốc lá trong nhà Tần suất Tỉ lệ (%)
Có hút thuốc lá trong nhà 53 62,4
Hút thuốc khi có mặt trẻ 31 58,5
Tính tỉ lệ trên tổng số có hút thuốc lá trong nhà n = 53
Nhận xét: đa số trẻ mắc HPQ đều có tình trạng hút thuốc lá trong nhà (chiếm 62,4%)
3.3.2.2 Chất liệu nấu bếp trong nhà
Bảng 3.18: Chất liệu nấu bếp trong nhà (n = 85)
Chất liệu nấu bếp Tần suất Tỉ lệ (%)
Gia đình có thể sử dụng cùng lúc 2 loại chất liệu nấu bếp
Nhận xét: chất liệu nấu bếp thường được sử dụng trong những gia đình có trẻ mắc HPQ là gas và củi
3.3.2.3 Một số thói quen trong gia đình của trẻ mắc hen phế quản
Bảng 3.19: Một số thói quen trong gia đình của trẻ mắc hen phế quản (n = 85)
Thói quen trong gia đình Tần suất Tỉ lệ (%)
Sử dụng nhang, thuốc xịt phòng 43 50,6
Có nuôi chó mèo trong nhà 31 36,5
Có vuốt ve chó mèo 4 4,7
Các thói quen như sử dụng nhang và thuốc xịt phòng vẫn phổ biến trong nhiều gia đình có trẻ mắc bệnh HPQ, với tỷ lệ lần lượt là 50,6% Ngoài ra, việc nuôi chó mèo cũng góp phần vào các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ, chiếm tỷ lệ 36,5% Những thói quen này cần được chú ý và điều chỉnh để giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh HPQ ở trẻ nhỏ.
3.3.2.4 Tiền căn bú sữa mẹ
Nhận xét: trẻ có tiền căn bú sữa mẹ hoàn toàn từ 4 tháng trở lên là 42,4%
3.3.2.5 Một số yếu tố nghi ngờ khởi phát cơn hen phế quản
100% bệnh nhi có ít nhất một yếu tố khởi phát cơn HPQ
Nhận xét: nhiễm khuẩn hô hấp, thay đổi thời tiết, khói bụi và khói thuốc lá là những yếu tố quan trọng nghi gây khởi phát cơn hen
Biểu đồ 3.9: Thời gian trẻ được bú sữa mẹ hoàn toàn(n = 85)
Khói bụi, khói thuốc lá
Biểu đồ 3.10: Một số yếu tố nghi ngờ khởi phát cơn HPQ (n = 85)
3.3.3 Một số mối liên quan giữa các yếu tố ảnh hưởng đến hen phế quản và mức độ cơn hen
3.3.3.1 Mối liên quan giữa giới và mức độ cơn hen
Bảng 3.20: Mối liên quan giữa giới và mức độ cơn hen
Nhận xét: ở trẻ nam thì tỉ lệ cơn hen nặng cao hơn trẻ nữ Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p = 0,737)
3.3.3.2 Mối liên quan giữa tiền căn dị ứng cá nhân và mức độ cơn hen
Bảng 3.21:Mối liên quan giữa tiền căn dị ứng cá nhân và mức độ cơn hen
Trẻ có tiền căn dị ứng cá nhân có nguy cơ gặp các cơn hen nặng cao hơn so với trẻ không có tiền căn dị ứng cá nhân Tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê (p=0,192), cho thấy chưa rõ mối liên hệ giữa tiền căn dị ứng cá nhân và mức độ nặng của hen suyễn.
3.3.3.3 Mối liên quan giữa hít khói thuốc lá thụ động và mức độ cơn hen
Bảng 3.22: Mối liên quan giữa hít khói thuốc lá thụ động và mức độ cơn hen
Trẻ hít khói thuốc lá thụ động có nguy cơ gặp các cơn hen nặng cao gấp 5,778 lần so với những trẻ không tiếp xúc với khói thuốc Sự khác biệt này mang ý nghĩa thống kê rõ ràng (p = 0,001), nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giảm tiếp xúc với khói thuốc lá trong môi trường của trẻ để phòng ngừa các cơn hen cấp tính.
3.3.3.4 Mối liên quan giữa tiền căn bú sữa mẹ và mức độ cơn hen
Bảng 3.23: Mối liên quan giữa tiền căn bú mẹ và mức độ cơn hen
Trẻ có tiền căn bú sữa mẹ hoàn toàn dưới 4 tháng có khả năng gặp cơn hen nặng cao hơn so với trẻ được bú sữa mẹ từ 4 tháng trở lên Tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê (p = 0,108), cho thấy chưa rõ ràng về mối liên hệ giữa thời gian bú sữa mẹ và mức độ nặng của cơn hen.
Chương 4 BÀN LUẬN KẾT QUẢ
4.1 ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ CỦA MẪU NGHIÊN CỨU
Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ trẻ mắc HPQ phân bố theo giới, nam chiếm 70,6% và nữ chiếm 29,4%, với tỷ lệ nam/nữ là 2,4/1, phù hợp với kết quả của Trần Anh Tuấn (nam: 68,9%, nữ: 31,1%, tỷ lệ nam/nữ: 2,2/1) Tuy nhiên, kết quả này khác biệt so với các khảo sát của Bùi Thị Hoàng Ngân và Nguyễn Thanh Phước, với tỷ lệ nam/nữ lần lượt là 1,39/1 và 1,4/1 Nguyên nhân chính được cho là các nghiên cứu trước thường tập trung vào trẻ ở độ tuổi lớn hơn, khi đó sự khác biệt trong phân bố giới giữa các trẻ mắc HPQ dần thu hẹp theo tuổi tác.
HPQ thường gặp ở trẻ trai nhiều hơn trẻ gái do đường thở của trẻ trai nhỏ hơn so với kích thước phổi, gây ra kháng lực đường hô hấp cao hơn Ngoài ra, trương lực đường thở khi nghỉ của trẻ trai cũng cao hơn so với trẻ gái Tỉ lệ giới tính mắc HPQ dao động từ 1,5 đến 3,3 nam trên 1 nữ, tùy theo từng tác giả [28].
4.1.2 Phân bố theo địa phương
Các trường hợp mắc HPQ nhập viện tại Cần Thơ chiếm tỷ lệ 47,1%, trong khi các tỉnh khác như Hậu Giang, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Đồng Tháp, Bạc Liêu chiếm 52,9% Tuy nhiên, kết quả này khác với nghiên cứu của tác giả Võ Hoàng Sự, cho thấy tỷ lệ ở Cần Thơ là 63% và các tỉnh khác thấp hơn, mặc dù cả hai đều thực hiện tại Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ Nguyên nhân có thể do chúng tôi lấy mẫu ở trẻ nhỏ dưới 24 tháng tuổi, độ tuổi khó chẩn đoán và điều trị hen, trong khi đó, nghiên cứu của tác giả chủ yếu là trẻ dưới 15 tuổi, dễ chẩn đoán hơn các triệu chứng hen.
4.1.3 Phân bố theo khu vực thành thị và nông thôn
Theo Y văn, trẻ mắc HPQ sống ở thành phố có xu hướng cao hơn so với nông thôn Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trẻ mắc hen ở khu vực nông thôn (51,8%) và thành phố (48,2%) gần như tương đương Trong khi đó, tác giả Phan Lộc Mai, dựa trên nghiên cứu tại Bệnh viện Nhi Đồng I năm 2004, cho biết trẻ mắc hen chủ yếu phân bố tại thành thị, với tỷ lệ lên đến 65%.
Dữ liệu của chúng tôi khác biệt so với các nghiên cứu trước có thể do ảnh hưởng của quá trình công nghiệp hóa, tập trung nhiều nhà máy, xí nghiệp tại khu vực nông thôn gây ô nhiễm môi trường sống Ô nhiễm môi trường này là yếu tố thuận lợi dẫn đến sự khởi phát của HPQ, làm gia tăng các vấn đề về sức khỏe cộng đồng trong khu vực.
Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận, trẻ mắc HPQ nhập viện có độ tuổi trung bình là 15,2 ± 5,3 tháng, dao động từ 7 đến 24 tháng, với tỷ lệ 30,6% ở độ tuổi 6 - ≤ 12 tháng và 69,4% ở độ tuổi 12 - 24 tháng Kết quả của Trần Anh Tuấn cho thấy trẻ có độ tuổi trung bình là 14,7 ± 4,1 tháng, với tỷ lệ 31,1% trong nhóm 6 - ≤ 12 tháng và 68,9% trong nhóm 12 - 24 tháng Các số liệu của chúng tôi phù hợp với các tỷ lệ này trong các nghiên cứu trước đó.
HPQ có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi, mặc dù thường gặp ở trẻ trên 1 tuổi và hiếm khi xảy ra ở trẻ dưới 6 tháng tuổi Đây là nhận định của chúng tôi dựa trên các dữ liệu và nghiên cứu hiện có.
4.2.1 Tuổi khò khè lần đầu theo nhóm tuổi
Trẻ có biểu hiện khò khè xuất hiện sớm nhất là 2 tháng tuổi và muộn nhất là 14 tháng tuổi, trung bình là 7,4 ± 3,1 tháng, với tỷ lệ trẻ dưới 6 tháng chiếm 28,2%, từ 6 đến dưới 12 tháng chiếm 57,7%, và từ 12 đến 24 tháng chiếm 14,1% Các nghiên cứu của Trần Anh Tuấn và Nguyễn Thanh Phước cho thấy nhóm tuổi khò khè lần đầu thường dưới 12 tháng, với tuổi trung bình lần lượt là 8,7 ± 3,8 tháng và 10,3 ± 7,8 tháng Theo Dutau G, tuổi khởi phát khò khè không phải là dấu hiệu chắc chắn dự báo diễn biến kéo dài của bệnh hen phế quản trẻ em sau này ở các lứa tuổi lớn hơn Vì vậy, vấn đề này cần được nghiên cứu thêm để xác định hướng xử trí phù hợp và hiệu quả cho bệnh nhân.
4.2.2 Số lần khò khè của trẻ khi được chẩn đoán hen phế quản
Bệnh nhi được chẩn đoán hen phế quản (HPQ) với số lần khò khè khác nhau, trong đó 55,3% trẻ có 3 lần, 21,2% có 4 lần, 16,5% có 5 lần và 7% trẻ trải qua ≥6 lần khò khè Kết quả của chúng tôi khác biệt so với nghiên cứu của Trần Anh Tuấn, nơi tỷ lệ khò khè 3 lần là 71,6%, 4 lần là 20,5%, 5 lần là 6,8% và 10 lần là 1,4%, trong đó tỷ lệ khò khè trên 4 lần cao hơn (44,7%), cho thấy hen phế quản ở trẻ sơ sinh chưa được quan tâm đúng mức và chẩn đoán còn chậm trễ Nguyên nhân có thể do nghiên cứu của Trần Anh Tuấn thực hiện tại Bệnh viện Nhi Đồng I, nơi có cơ sở vật chất và kỹ thuật hiện đại, trong khi nghiên cứu của chúng tôi tại khu vực Cần Thơ và Đồng Bằng Sông Cửu Long, nơi người dân còn gặp khó khăn trong tiếp cận dịch vụ y tế, thiếu trang thiết bị và kinh nghiệm chẩn đoán hen ở trẻ nhỏ còn hạn chế Theo Lynch BA và cộng sự, tỷ lệ chẩn đoán trễ HPQ ở trẻ em cũng khá cao, khoảng 44% đến 65%, phản ánh thực trạng chẩn đoán còn nhiều thách thức trong thực tiễn.
Đặc điểm dịch tễ của mẫu nghiên cứu
Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ trẻ mắc HPQ theo giới cho thấy nam chiếm 70,6% và nữ chiếm 29,4%, tỷ lệ nam/nữ là 2,4/1, phù hợp với các kết quả của Trần Anh Tuấn (nam: 68,9%, nữ: 31,1%, tỷ lệ nam/nữ: 2,2/1), đồng thời cho thấy xu hướng tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ nam cao hơn trẻ nữ Tuy nhiên, khảo sát của Bùi Thị Hoàng Ngân và Nguyễn Thanh Phước ghi nhận tỷ lệ nam/nữ lần lượt là 1,39/1 và 1,4/1, phản ánh sự chênh lệch ít hơn giữa các giới Nguyên nhân của sự khác biệt này có thể do các nghiên cứu trước tập trung ở nhóm trẻ lớn hơn, khi đó sự phân bố giữa hai giới về tỷ lệ mắc HPQ càng ngày càng thu hẹp khi trẻ lớn dần.
HPQ thường xuyên gặp ở trẻ trai nhiều hơn trẻ gái do đường thở của trẻ trai nhỏ hơn so với kích thước phổi, gây ra kháng lực đường hô hấp lớn hơn Ngoài ra, trương lực đường thở lúc nghỉ của trẻ trai cao hơn so với trẻ gái, và tỉ lệ giới tính mắc bệnh thay đổi từ 1,5 đến 3,3 nam trên mỗi nữ theo các tác giả khác nhau.
4.1.2 Phân bố theo địa phương
Các trường hợp mắc HPQ nhập viện tại Cần Thơ chiếm tỷ lệ 47,1%, trong khi các tỉnh khác như Hậu Giang, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Đồng Tháp, Bạc Liêu chiếm 52,9% Tuy nhiên, số liệu này chưa khớp hoàn toàn với nghiên cứu của Võ Hoàng Sự, theo đó Cần Thơ có tỷ lệ 63%, Hậu Giang 14,3%, Vĩnh Long 13%, các địa phương khác 9,8% Nguyên nhân chính có thể do chúng tôi lấy mẫu từ trẻ nhỏ dưới 24 tháng tuổi, khiến chẩn đoán và điều trị hen còn hạn chế do độ tuổi này khó xác định, trong khi đó, nghiên cứu của tác giả bao gồm trẻ dưới 15 tuổi, giúp nhận biết bệnh hen dễ dàng hơn.
4.1.3 Phân bố theo khu vực thành thị và nông thôn
Theo các nghiên cứu, tỷ lệ trẻ mắc hen phế quản (HPQ) sống ở khu vực thành thị cao hơn so với nông thôn, đặc biệt là theo kết quả của tác giả Phan Lộc Mai tại Bệnh viện Nhi Đồng I năm 2004, khi cho thấy tỷ lệ trẻ mắc hen tại thành phố chiếm tới 65% Tuy nhiên, nghiên cứu mới nhất của chúng tôi ghi nhận tỷ lệ trẻ mắc hen sống ở nông thôn là 51,8%, trong khi đó tỷ lệ ở thành thị là 48,2%, cho thấy sự phân bố gần như cân đối giữa hai khu vực Điều này cho thấy môi trường sống và yếu tố về môi trường có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh hen ở trẻ em.
Dữ liệu của chúng tôi khác biệt so với các nghiên cứu trước do tác động của quá trình công nghiệp hóa, với sự tập trung nhiều nhà máy và xí nghiệp tại khu vực nông thôn gây ô nhiễm môi trường sống Ô nhiễm môi trường này là yếu tố thuận lợi khởi phát bệnh lý về đường hô hấp, đặc biệt là HPQ, góp phần làm gia tăng nguy cơ và tỷ lệ mắc bệnh trong cộng đồng.
Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận trẻ mắc HPQ nhập viện có độ tuổi trung bình là 15,2 ± 5,3 tháng, trong đó phần lớn trẻ nằm trong độ tuổi 12-24 tháng (69,4%) và 6-12 tháng (30,6%) Kết quả của Trần Anh Tuấn cũng cho thấy trẻ mắc HPQ có độ tuổi trung bình là 14,7 ± 4,1 tháng, với tỷ lệ tương tự ở các nhóm tuổi: từ 6 - ≤ 12 tháng chiếm 31,1% và từ 12 - 24 tháng chiếm 68,9% Các số liệu này cho thấy xu hướng trẻ mắc HPQ chủ yếu ở độ tuổi dưới 24 tháng.
HPQ có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi, nhưng thường gặp ở trẻ trên 1 tuổi và rất hiếm khi xảy ra ở trẻ dưới 6 tháng tuổi, theo nhận xét của chúng tôi.
Đặc điểm lâm sàng
4.2.1 Tuổi khò khè lần đầu theo nhóm tuổi
Trong nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy trẻ có biểu hiện khò khè sớm nhất là 2 tháng tuổi và muộn nhất là 14 tháng tuổi, trung bình là 7,4 ± 3,1 tháng tuổi Khoảng 28,2% trẻ khò khè dưới 6 tháng, 57,7% từ 6 đến dưới 12 tháng, và 14,1% từ 12 đến 24 tháng Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu của Trần Anh Tuấn và Nguyễn Thanh Phước, cho thấy hơn 60% trẻ lần đầu khò khè dưới 12 tháng tuổi, với tuổi trung bình lần lượt là 8,7 ± 3,8 tháng và 10,3 ± 7,8 tháng Theo Dutau G, tuổi khởi phát khò khè không phải là dấu hiệu dự đoán chính xác cho diễn biến kéo dài của bệnh hen suyễn trẻ em (HPQ) sau này, đặc biệt ở các lứa tuổi lớn hơn, do đó, vấn đề này cần được nghiên cứu thêm để xác định hướng xử trí phù hợp.
4.2.2 Số lần khò khè của trẻ khi được chẩn đoán hen phế quản
Bệnh nhi được chẩn đoán hen phế quản thời thơ ấu (HPQ) với số lần khò khè đa dạng, trong đó 55,3% trẻ khò khè 3 lần, 21,2% trẻ khò khè 4 lần, 16,5% trẻ khò khè 5 lần và 7% trẻ khò khè trên 6 lần Kết quả của chúng tôi khác biệt so với nghiên cứu của Trần Anh Tuấn, trong đó 71,6% trẻ khò khè 3 lần, 20,5% 4 lần, 6,8% 5 lần và chỉ 1,4% trên 10 lần, trong đó tỷ lệ trẻ khò khè trên 4 lần cao hơn (44,7%) Điều này cho thấy, hen nhũ nhi chưa nhận được sự quan tâm đầy đủ và việc chẩn đoán trễ ở trẻ còn phổ biến, đặc biệt khi trẻ được chẩn đoán HPQ chỉ sau khi có tiền sử khò khè và khó thở ít nhất 3 lần Nguyên nhân có thể do nghiên cứu của tác giả này thực hiện tại Bệnh viện Nhi Đồng I – bệnh viện hàng đầu về chuyên khoa nhi của khu vực miền Nam với cơ sở vật chất tốt, kỹ thuật hiện đại và trình độ chuyên môn cao; trong khi nghiên cứu của chúng tôi diễn ra tại Cần Thơ và Đồng Bằng Sông Cửu Long, nơi có điều kiện tiếp cận dịch vụ y tế còn hạn chế, cơ sở vật chất thiếu thốn và kinh nghiệm chẩn đoán hen phế quản ở trẻ nhỏ còn chưa cao Theo Lynch BA và cộng sự, tỷ lệ chẩn đoán trễ HPQ ở trẻ em cũng khá cao, khoảng 44% đến 65%, cho thấy sự cần thiết nâng cao nhận thức và kỹ năng chẩn đoán bệnh sớm ở trẻ nhỏ.
Chúng tôi nhận thấy rằng việc duy trì thái độ tích cực trong quá trình tầm soát hen, đặc biệt ở trẻ nhũ nhi, là rất quan trọng Điều này giúp xây dựng chiến lược điều trị và phòng ngừa bệnh hiệu quả hơn, đảm bảo sức khỏe tốt cho trẻ nhỏ.
4.2.3 Tình hình chẩn đoán hen phế quản trước khi nhập viện
Trong 85 ca mắc HPQ nhập viện, chúng tôi ghi nhận: 7 trẻ được chẩn đoán hen trước khi nhập viện chiếm 8,2%, 78 trẻ chưa được chẩn đoán chiếm 91,8% (bao gồm những trẻ mắc hen nhưng chưa được chẩn đoán và trẻ đủ tiêu chuẩn chẩn đoán hen lần đầu) Theo Khuyến cáo hội nghị khoa học bệnh phổi toàn quốc - Cần Thơ
Trong cộng đồng, tỷ lệ trẻ mắc bệnh viêm phổi hepptitis quan trong cộng đồng (HPQ) vẫn còn khá cao và có xu hướng tăng each year Tuy nhiên, tỷ lệ trẻ mắc hen suyễn chưa được chẩn đoán chính xác vẫn chiếm một phần lớn, lên đến 55%, cho thấy cần nâng cao nhận thức và công tác khám sàng lọc để giảm thiểu tình trạng này.
Do đề tài có phạm vi thực hiện trong thời gian ngắn và quy mô nhỏ, chúng tôi không đủ điều kiện để xác định tỷ lệ trẻ mắc hen suyễn chưa được chẩn đoán, mà chỉ thống kê số trẻ đã được chẩn đoán bệnh trước đó hay chưa Vấn đề này cần được làm rõ thông qua các nghiên cứu quy mô lớn hơn để cung cấp dữ liệu chính xác và đầy đủ hơn về tình hình mắc bệnh của trẻ em.
Theo nghiên cứu của chúng tôi, trẻ mắc HPQ nhập viện chủ yếu do khó thở (37,6%) và ho (30,6%), trong khi các nguyên nhân khác như ho và khò khè (14,1%), ho và khó thở (8,2%), ho phối hợp với sốt hoặc khò khè (9,4%) chiếm tỷ lệ thấp hơn.
Khó thở (41%) và ho (20%) là những triệu chứng phổ biến nhất dẫn đến nhập viện, trong đó có 12% bệnh nhân gặp cả hai triệu chứng cùng lúc Các số liệu của chúng tôi phù hợp với khảo sát trước đó, cho thấy rằng khó thở và ho là hai lý do chính khiến bệnh nhân phải đến cơ sở y tế cấp cứu Ngoài ra, một số trường hợp báo cáo triệu chứng khác chiếm tỷ lệ 22,8%.
Trẻ thường nhập viện do cơn hen cấp gây ra các triệu chứng khó thở nổi bật, trong đó ho cũng rất phổ biến nhưng dễ bị bỏ sót, đặc biệt là tình trạng ho kéo dài ở trẻ nhỏ Việc nhận biết sớm các triệu chứng này là rất quan trọng để điều trị hiệu quả và giảm nguy cơ biến chứng.
4.2.5 Triệu chứng cơn hen phế quản cấp
Trẻ dưới 24 tháng tuổi không có tiêu chuẩn chính xác để chẩn đoán HPQ, khiến việc phân biệt bệnh này với các bệnh khác như viêm tiểu dễ gặp nhiều khó khăn Trong độ tuổi này, các triệu chứng của HPQ thường khá giống với các bệnh nhiễm trùng tiết niệu khác, gây khó khăn cho các bác sĩ trong việc xác định chính xác Việc chẩn đoán đúng đòi hỏi sự chú ý đặc biệt và có thể cần đến các xét nghiệm chuyên sâu để loại trừ các bệnh lý khác Chính vì vậy, việc phát hiện sớm và phân biệt HPQ ở trẻ nhỏ là khá thách thức nhưng vô cùng quan trọng để có phương pháp điều trị thích hợp.
PQ, dị vật đường thở, mềm sụn thanh quản… Vì vậy, cần phải khai thác bệnh sử, tiền sử, thăm khám lâm sàng một cách tỉ mỉ [25], [28], [40]
Khò khè là một trong những triệu chứng chính để chẩn đoán hen phế quản (HPQ) Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi, tất cả trẻ bị hen nhập viện đều xuất hiện hiện tượng khò khè, phù hợp với các nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Hoàng Ngân và Phan Lộc Mai.
Chẩn đoán hen phế quản cần phải kết hợp các triệu chứng lâm sàng khác và theo dõi phản ứng tích cực với thuốc dãn phế quản, bởi vì tiếng thở khò khè cũng thường gặp ở trẻ mắc các bệnh lý đường hô hấp khác, đặc biệt là trẻ dưới 3 tuổi [17], [19], [25].
Khoảng 98,8% bệnh nhi nhập viện đều có biểu hiện ho, phù hợp với khảo sát của Bùi Thị Hoàng Ngân (97,92%) [19] Theo y văn, có đến 57% trẻ bị viêm họng do nhiễm virus đường hô hấp hoặc tiếp xúc với dị nguyên, không khí lạnh, khói, và thường đáp ứng tốt với liệu pháp kháng viêm [26].
Trong số trẻ nhập viện do HPQ, có đến 80% biểu hiện nhịp thở nhanh và 76,5% xuất hiện co kéo cơ hô hấp phụ, cho thấy các triệu chứng này khá phổ biến trong bệnh lý này Kết quả của chúng tôi thấp hơn so với các nghiên cứu của Bùi Thị Hoàng Ngân với tỷ lệ nhịp thở nhanh là 85,4% và co kéo cơ hô hấp phụ là 95,83%, cũng như của Phan Lộc Mai với tỷ lệ tương tự lần lượt là 94,81% và 95,83%, phản ánh sự khác biệt trong phân tích lâm sàng hoặc mẫu bệnh nhân.
Các biểu hiện suy hô hấp ở trẻ có thể dao động tùy thuộc vào mức độ nặng của cơn hen, khiến tỉ lệ của các triệu chứng thay đổi đáng kể Trong đó, nhịp thở nhanh và co kéo cơ hô hấp phụ là những dấu hiệu quan trọng phản ánh độ nặng của cơn hen quấn, cần được chú ý đặc biệt để đánh giá tình trạng của trẻ.
Các kết quả cận lâm sàng
Trẻ em dưới hoặc bằng 24 tháng tuổi không thể thực hiện các xét nghiệm thăm dò chức năng hô hấp để chẩn đoán chính xác bệnh HPQ Các xét nghiệm khác chỉ mang tính hỗ trợ trong quá trình chẩn đoán và điều trị bệnh [25], [28].
Theo nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhi mắc HPQ trong cơn hen cấp thường có hình ảnh đặc trưng trên phim X-quang phổi thẳng, trong đó ứ khí chiếm tỷ lệ 51,4% và thâm nhiễm phổi chiếm 59,5% Các bệnh nhi mắc HPQ có xu hướng cần nhập viện và được chụp X-quang để đánh giá rõ hơn tình trạng phổi, với 74 trên 85 trẻ nhập viện được chụp phim để phục vụ chẩn đoán và điều trị phù hợp.
Các nghiên cứu của Phan Lộc Mai, Nguyễn Tiến Dũng và Lê Thị Hồng Hạnh cho thấy tỷ lệ hình ảnh ứ khí trên phim X-quang phổi thẳng lần lượt là 78,9%, 72,7% và 60%, phù hợp với kết quả của chúng tôi khi nhận thấy hình ảnh ứ khí chiếm tỷ lệ cao ở trẻ nhập viện vì cơn hen (< 50%) Theo y văn, trẻ mắc cơn hen phế quản cấp thường có biểu hiện hình ảnh ứ khí trên phim X-quang phổi, nhưng hình ảnh này không đặc trưng hoàn toàn cho hen phế quản và có thể xuất hiện sau điều trị cơn khó thở tốt Ngoài ra, tất cả trẻ mắc hen phế quản đều cần được chụp X-quang để loại trừ các bất thường bẩm sinh, dị vật đường thở hoặc nhiễm trùng mãn tính Về hình ảnh thâm nhiễm phổi, nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tỷ lệ cao hơn so với khảo sát của Phan Lộc Mai (27,7%), có thể do phần lớn trẻ khởi phát cơn hen do nhiễm khuẩn hô hấp, với tỷ lệ 89,4% so với 54,29% trong nghiên cứu của tác giả.
Theo các nghiên cứu, trẻ nhũ nhi bị hen cấp thường gặp tình trạng bội nhiễm đi kèm, điều này góp phần làm tăng tỷ lệ thâm nhiễm phổi được ghi nhận trong nghiên cứu của chúng tôi.
4.3.2 Đánh giá tình trạng thiếu máu qua lượng hemoglobin
Kết quả khảo sát cho thấy, bệnh nhi mắc HPQ có kèm thiếu máu chiếm tỷ lệ 36,5%, trong đó đa phần là thiếu máu nhẹ (87,1%) Theo nghiên cứu của tác giả Ramakrishnan K trên nhóm trẻ từ 2 đến 18 tuổi, tỷ lệ trẻ thiếu máu sau 3 năm mắc HPQ là 74%, trong khi đó ở nhóm không thiếu máu chỉ là 33% Các dữ liệu này chỉ ra rằng trẻ thiếu máu có nguy cơ phát triển HPQ cao gấp 5,75 lần so với trẻ không thiếu máu, đồng thời thiếu máu còn được xem là một yếu tố nguy cơ dẫn đến hen suyễn ở trẻ em.
Chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu cắt ngang để thống kê tỷ lệ trẻ mắc hen có kèm thiếu máu, phù hợp với nhận định của Ramakrishnan K Trẻ mắc HPQ cần được tầm soát vấn đề thiếu máu, đặc biệt ở lứa tuổi nhũ nhi, vì hệ miễn dịch của trẻ chưa phát triển hoàn chỉnh Việc tầm soát thiếu máu ở trẻ nhỏ là vô cùng cần thiết để phòng ngừa các biến chứng liên quan đến hệ miễn dịch chưa trưởng thành của trẻ.
4.3.3 Số lượng bạch cầu và công thức bạch cầu
Sau khi khảo sát 85 trẻ mắc HPQ nhập viện, phát hiện có 25,9% trẻ (22 trẻ) có tổng số lượng bạch cầu trên 15.10^9/l, tỷ lệ này phù hợp với kết quả của Phan Lộc Mai (23,38%) Ngoài ra, có 27,1% trẻ (23 trẻ) ghi nhận tăng bạch cầu đa nhân trung tính, theo Phan Lộc Mai và Lê Thị Hồng Hạnh, tỉ lệ này phản ánh tình trạng tăng bạch cầu phổ biến ở trẻ mắc HPQ.
Tỷ lệ tăng bạch cầu đa nhân trung tính liên quan đến tình trạng bội nhiễm thường gặp trong cơn HPQ, với tỷ lệ 29,87% và 32,1% theo các nghiên cứu trước đó, phù hợp với số liệu của chúng tôi Tăng bạch cầu ái toan thường gợi ý về HPQ, dị ứng hoặc cả hai, nhưng do chưa xét nghiệm số lượng bạch cầu ái toan tại cơ sở nghiên cứu của chúng tôi, vấn đề này còn chưa được làm rõ Đây là một hạn chế của đề tài, ảnh hưởng đến độ chính xác trong chẩn đoán và phân loại bệnh.
Các yếu tố liên quan
4.4.1 Yếu tố chủ thể (yếu tố nội tại)
4.4.1.1 Thứ tự con trong gia đình của trẻ mắc bệnh hen phế quản
Trong nghiên cứu của chúng tôi, trẻ mắc HPQ chủ yếu là con thứ nhất trong gia đình, chiếm 49,4%, tiếp đó là con thứ hai với 37,6%, con thứ ba với 9,4% và con thứ tư với 3,5% Kết quả này tương tự với các nghiên cứu trước đó, trong đó Nguyễn Thanh Hải ghi nhận tỷ lệ trẻ mắc HPQ theo thứ tự con lần lượt là 49,5%, 29%, 8,4% và 4,7%, cho thấy xu hướng trẻ con thứ nhất mắc bệnh cao hơn.
Theo nghiên cứu của tác giả Zekveld C và cộng sự, những đứa trẻ sinh ra sớm trong gia đình có nguy cơ cao mắc các bệnh dị ứng Trong khi đó, Bernsen RM lại phát hiện rằng trẻ có thứ tự sinh cao hơn trong gia đình thường có nguy cơ mắc bệnh dị ứng thấp hơn, cho thấy mối quan hệ phức tạp giữa thứ tự sinh và nguy cơ dị ứng ở trẻ.
Có mối liên hệ giữa thứ tự con trong gia đình và nguy cơ mắc bệnh dị ứng, bao gồm hen suyễn Vì vậy, những đứa trẻ sinh đầu cần chú ý đến các vấn đề về dị ứng và bệnh hen để đảm bảo sức khỏe tốt từ khi còn nhỏ.
4.4.1.2 Tiền sử dị ứng của bệnh nhi hen phế quản
Dữ liệu cho thấy 55,3% trẻ mắc HPQ có cơ địa dị ứng, trong đó VMDƯ chiếm tỷ lệ cao nhất với 32,9%, tiếp theo là dị ứng thức ăn (16,5%), mề đay (10,6%), chàm (7,1%) và dị ứng thuốc (1,2%) Thống kê này phù hợp với các nghiên cứu y văn khác, trong đó tỷ lệ bệnh nhân HPQ có cơ địa dị ứng trung bình khoảng 50% Nguyễn Thanh Phước ghi nhận tỉ lệ dị ứng cá nhân là 58%, VMDƯ 26,3%, dị ứng thức ăn 14,9%, mề đay 19,2%, chàm 7,4% và dị ứng thuốc 3,9% Tuy nhiên, kết quả của Trần Anh Tuấn cho thấy tỷ lệ trẻ mắc HPQ có cơ địa dị ứng lên tới 78,4%, với VMDƯ chiếm 67,6%, có thể do nghiên cứu được thực hiện tại TP.Hồ Chí Minh — một thành phố lớn, dân cư đông đúc và môi trường ô nhiễm, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt hóa hệ miễn dịch trên cơ địa mẫn cảm.
Có mối liên quan giữa HPQ và cơ địa dị ứng, đồng thời VMDƯ làm tăng nguy cơ phát triển bệnh hen ở trẻ em Trẻ mắc HPQ kèm theo VMDƯ có chi phí điều trị cao hơn đáng kể, cho thấy mối liên hệ giữa các yếu tố này và mức độ khó kiểm soát bệnh Khoảng 30-60% trẻ bị chàm có thể phát triển hen và các biểu hiện dị ứng khác như viêm phế quản co thắt, thể tạng tiết dịch, thần kinh, điều kiện thuận lợi gây nên các bệnh dị ứng đường hô hấp Do đó, việc phát hiện sớm các bệnh lý dị ứng ở trẻ mắc hen là rất quan trọng để xây dựng chiến lược kiểm soát bệnh hiệu quả.
M ộ t s ố lo ạ i th ứ c ăn mà tr ẻ m ắ c HPQ b ị d ị ứ ng
Theo khảo sát của chúng tôi, tỷ lệ trẻ mắc HPQ dị ứng với các loại thực phẩm phổ biến như tôm (42,9%), cua biển (28,6%), thịt bò (21,4%), sữa công thức (14,2%) và các loại thức ăn khác như trứng, thịt gà, cá biển (21,4%) khá cao, phù hợp với dữ liệu của Friedlander JL và cộng sự (24,3% trẻ mắc HPQ có dị ứng thực phẩm, trong đó hải sản chiếm 21,9% và sữa bò 15%), nhưng cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Diệu Thúy (tôm 22,7%, cua 18,2%, sữa công thức 13,6%, trứng 4,5%) Sự khác biệt này có thể do phương pháp chẩn đoán dị ứng bằng test dị nguyên, giúp xác định chính xác các loại thức ăn gây dị ứng ở trẻ em.
Các loại sữa như sữa bò, sữa trâu, sữa dê và các chế phẩm từ sữa là những thức ăn tiếp xúc đầu tiên với trẻ, cùng với các thực phẩm khác như tôm, cua, cá đều có thể gây dị ứng dẫn đến hen suyễn [24] Dị ứng thức ăn làm tăng triệu chứng hen ban ngày, tăng nguy cơ nhập viện và suy giảm chức năng phổi của trẻ [39] Chính vì vậy, việc hướng dẫn gia đình hạn chế cho trẻ tiếp xúc với các loại thực phẩm gây dị ứng là rất cần thiết để phòng ngừa các biến chứng của hen.
4.4.1.3 Tiền sử gia đình có mắc một số bệnh lý dị ứng Đa số trẻ đều có tiền sử gia đình mắc các bệnh lý liên quan đến HPQ hoặc HPQ (71,8%) Trong đó: VMDƯ (36,5%), viêm xoang (30,6%), HPQ (28,2%), mề đay (12,9%), dị ứng thức ăn (7,1%) và chàm (1,2%) Số liệu của chúng tôi khá tương đồng với của Trần Anh Tuấn (trẻ có tiền căn dị ứng gia đình: 62,2%, trong đó HPQ chiếm 37,8%) [32]; nhưng có sự chênh lệch với của Nguyễn Thanh Phước (trẻ có tiền căn dị ứng gia đình là 86,3%, trong đó HPQ: 59,6%, viêm xoang: 43,5%,
VMDƯ: 37,6%, mề đay: 17,7%, dị ứng thức ăn: 5,5% và chàm: 4,7%) [20], có thể do trong tiêu chuẩn chọn mẫu của tác giả có yếu tố tiền căn dị ứng gia đình [20]
Hiện nay, các nhà nghiên cứu đã xác định được nhiều gen có vai trò khác nhau trong quá trình bệnh sinh của bệnh HPQ, cho thấy di truyền đóng vai trò quan trọng bên cạnh các yếu tố môi trường trong việc hình thành bệnh.
Thành viên trong gia đ ình có m ắ c m ộ t s ố b ệ nh lý d ị ứ ng
Trong nghiên cứu của chúng tôi về tỷ lệ mắc HPQ, mẹ chiếm 10,6%, cha 5,9%, anh chị em ruột 3,5%, và các thành viên khác như ông, bà, cô, dì (17,6%), phù hợp với các kết quả của Nguyễn Thanh Phước và Phan Lộc Mai, thể hiện xu hướng gia tăng các thành viên trong gia đình liên quan đến tình trạng HPQ và nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hỗ trợ gia đình trong quá trình quản lý bệnh.
Các thành viên mắc VMDƯ chủ yếu là mẹ chiếm tỷ lệ cao nhất với 25,9%, tiếp đến là cha với 8,2%, anh chị em ruột khoảng 1,2%, và các thành viên khác như ông bà, cô dì chiếm 5,9% Những số liệu này khá phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phước, trong đó tỷ lệ mắc VMDƯ của mẹ là 16,5%, cha là 14,5%, anh chị em là 2%, và họ hàng là 4,7%.
Các nghiên cứu cho thấy rằng cha hoặc mẹ mắc bệnh hen phế quản (HPQ) và viêm mũi dị ứng (VMDƯ) thường gặp nhất trong các thành viên gia đình Theo y văn, nếu cha mẹ bị hen, nguy cơ trẻ mắc bệnh này sẽ tăng cao, với tỷ lệ lên đến 50% nếu cả hai mẹ cha đều mắc bệnh, và 25% nếu chỉ một trong hai người bị hen Ngoài ra, VMDƯ cũng là một bệnh lý có tính chất gia đình và có mối liên hệ chặt chẽ với HPQ, bởi cả hai bệnh đều liên quan đến tình trạng viêm đường dẫn khí.
4.4.2 Yếu tố liên quan đến môi trường (yếu tố khách quan khởi phát hen)
Mối liên hệ giữa tiếp xúc dị nguyên và sự xuất hiện của dị ứng trẻ không luôn luôn tuyến tính, phụ thuộc vào loại dị nguyên, liều lượng, thời gian tiếp xúc, tuổi của trẻ và yếu tố di truyền Hầu hết trẻ có cơ địa dị ứng khi tiếp xúc với các dị nguyên môi trường trong 3 năm đầu đời sẽ có nguy cơ phát triển bệnh dị ứng như hen phế quản sau này.
4.4.2.1 Hút thuốc lá trong nhà
Trong quá trình xử lý số liệu, chúng tôi ghi nhận rằng 62,4% trẻ mắc HPQ sống trong môi trường có hút thuốc lá trong nhà và 58,5% trẻ tiếp xúc với khói thuốc khi có mặt của người lớn, điều này phù hợp với nghiên cứu của Trần Anh Tuấn với tỷ lệ lần lượt là 64,9% Tuy nhiên, kết quả này chưa bằng các nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hải, với tỷ lệ hút thuốc trong nhà và ngoài trời là 73,2% và 86,7%, có thể do nhóm trẻ trong nghiên cứu của chúng tôi có độ tuổi nhỏ hơn và bố mẹ ý thức hơn trong việc tránh hút thuốc khi có mặt trẻ Ngoài ra, theo Nguyễn Thanh Phước, tỷ lệ hút thuốc trong nhà là 49,4%, cho thấy sự khác biệt trong thói quen hút thuốc của các gia đình.
Hít phải khói thuốc lá thụ động làm tăng nguy cơ mắc hen phế quản (HPQ) ở trẻ em và là một yếu tố chính góp phần phát triển bệnh cũng như làm nặng các triệu chứng của hen Do đó, việc giáo dục gia đình trẻ về tác hại của khói thuốc lá là rất cần thiết để phòng ngừa bệnh hiệu quả.
4.4.2.2 Chất liệu nấu bếp trong nhà