ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Từ tháng 8/2014 đến 5/2015, bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện đa khoa Thành phố Cần Thơ và Bệnh viện Đại học Y Dược Cần Thơ với các triệu chứng liên quan đến đường tiểu dưới, nhằm được chẩn đoán và điều trị kịp thời.
Bệnh nhân từ 50 tuổi trở lên có điểm IPSS ≥ 8 và thể tích tuyến tiền liệt qua siêu âm ≥ 20 ml, phù hợp để điều trị nội khoa Các phương pháp điều trị bao gồm dùng thuốc chẹn thụ thể alpha-1 giao cảm hoặc kết hợp thuốc chẹn thụ thể alpha-1 giao cảm với thuốc ức chế 5-alpha reductase để giảm triệu chứng và kích thước tuyến tiền liệt.
Bệnh nhân câm, điếc, tâm thần, chậm phát triển trí tuệ, người có trí nhớ không minh mẫn, từ chối tham gia nghiên cứu
Bệnh nhân có nồng độ PSA > 4 ng/ml, kết quả phân tích nước tiểu bất thường (hồng cầu, bạch cầu, nitrite nước tiểu dương tính), bí tiểu
Bệnh nhân có tiền sử ung thư tuyến tiền liệt, đã trải qua phẫu thuật hoặc xạ trị vùng chậu, mắc hẹp niệu đạo, sỏi bàng quang hoặc các bệnh lý thần kinh như tai biến mạch máu não, chấn thương sọ não và chấn thương cột sống Ngoài ra, bệnh nhân còn bị đái tháo đường, suy tim và bệnh thận mạn tính Những người đã sử dụng thuốc chẹn alpha-1 giao cảm trong vòng 2 tuần hoặc thuốc ức chế 5-alpha reductase trong vòng 6 tháng cần được xem xét kỹ lưỡng trong quá trình điều trị.
Bệnh nhân được chỉ định điều trị ngoại khoa hoặc tự ý ngưng thuốc trong vòng 3 tháng kể từ ngày khám.
Phương pháp nghiên cứu
Mô tả cắt ngang tiến cứu
2.2.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
Phòng khám niệu Bệnh viện đa khoa Thành phố Cần Thơ và Bệnh viên Đại học y dược Cần Thơ từ 8/2014 đến 5/2015
2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu:
2.2.5.1 Công cụ thu thập số liệu: phiếu thu thập thông tin nghiên cứu
- Các triệu chứng đường tiểu dưới trên bệnh nhân trong 1 tháng trở lại đây:
+ Tiểu nhiều lần ban ngày: Bệnh nhân tiểu trên 8 lần trong ngày tính từ lúc thức dậy đến lúc đi ngủ
+ Tiểu gấp: bệnh nhân than phiền về tình trạng đột ngột mắc tiểu và cảm thấy khó trì hoãn
+ Tiểu đêm: bệnh nhân phải thức dậy vào ban đêm để đi tiểu từ 1 lần trở lên
+ Tiểu gấp không kiểm soát: thoát nước tiểu ngoài ý muốn đi kèm hoặc ngay sau khi có triệu chứng tiểu gấp
+ Khởi động chậm: bệnh nhân cảm thấy khó để bắt đầu đi tiểu
+ Tia nước tiểu yếu: bệnh nhân thấy có sự giảm lưu lượng dòng tiểu
+ Tiểu gắng sức: bệnh nhân phải rặn để bắt đầu và duy trì dòng tiểu
+ Tiểu ngắt quãng: dòng nước tiểu ngừng lại rồi tiếp tục ít nhất 1 lần trong khi đang đi tiểu
+ Tiểu rỉ rả cuối dòng: kéo dài giai đoạn cuối của thì tống xuất khi dòng nước tiểu yếu lại chỉ còn nhỏ giọt
+ Cảm thấy tiểu không hết: bệnh nhân cảm giác còn nước tiểu sau khi đã tiểu xong
+ Tiểu rỉ sau khi tiểu xong: bệnh nhân thoát nước tiểu ngoài ý muốn ngay sau khi tiểu xong
- Hoàn thành bảng câu hỏi IPSS, QoL
- Định lượng nồng độ PSA huyết thanh
- Siêu âm đánh giá kích thước tuyến tiền liệt qua ngả trên xương mu: Thể tích tuyến tiền liệt được tính theo công thức:
V (ml) = Dài(cm) × Rộng(cm) × Cao(cm) × 0.52 [66]
2.2.5.4 Đánh giá kết quả điều trị:
-Sau 3 tháng, bệnh nhân được đánh giá lại điểm IPSS và điểm QoL
2.2.6 Các biến số nghiên cứu:
2.2.6.1 Lâm sàng và cận lâm sàng trước điều trị:
- Các triệu chứng đường tiểu dưới
+ Tiểu nhiều lần ban ngày
+ Tiểu gấp không kiểm soát
+ Khởi động chậm Tia nước tiểu yếu
+ Tiểu gắng sức Tiểu ngắt quãng
+ Tiểu rỉ rả cuối dòng
+ Cảm thấy tiểu không hết
+ Tiểu rỉ sau khi tiểu xong
- Điểm IPSS trước điều trị
- Độ nặng triệu chứng theo thang điểm IPSS + trung bình (8 - 19)
- Điểm QoL trước điều trị
- Độ nặng theo thang điểm QoL trước điều trị + nhẹ (0 - 2)
- Thể tích tuyến tiền liệt (ml)
- Nhóm thể tích tuyến tiền liệt (ml)
- Nồng độ PSA huyết thanh (ng/ml)
- Nhóm nồng độ PSA huyết thanh (ng/ml) + 0.9: tương quan rất chặt chẽ
- Kết quả các kiểm định có ý nghĩa thống kê khi hệ số p ≤ 0.05.
Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện với sự tôn trọng tuyệt đối các nguyên tắc đạo đức trong y học, đảm bảo quyền lợi và sự an toàn của các đối tượng tham gia Tất cả các đối tượng đều đã hiểu rõ mục đích và nội dung của nghiên cứu và tham gia hoàn toàn tự nguyện, không bị ảnh hưởng hay gây hại bởi hoạt động nghiên cứu Các nhóm thuốc sử dụng đều đã được chứng minh là an toàn và hiệu quả, trong khi quyền bảo mật thông tin cá nhân của các đối tượng được đặt lên hàng đầu Quá trình thu thập và xử lý dữ liệu được thực hiện trung thực, minh bạch, không có hành vi giả mạo số liệu nhằm tạo thuận lợi cho nghiên cứu.
KẾT QUẢ
Sau thời gian tiến hành nghiên cứu từ tháng 8 năm 2014 đến tháng 5 năm
2015, đã có 83 bệnh nhân đủ điều kiện tham gia nghiên cứu, nhóm nghiên cứu chúng tôi rút ra một số kết quả sau:
3.1 Một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng trước điều trị:
Biểu đồ 3.1 Phân bố nhóm tuổi
Tuổi trung bình của bệnh nhân: 67.18 ± 9.57
Nhóm tuổi 60 - 69 chiếm đa số với tỉ lệ 41 %, kế đến là nhóm ≥ 70 tuổi chiếm tỉ lệ 37.3% và nhóm 50 - 59 tuổi chiếm tỉ lệ 21.7%
3.1.2 Các triệu chứng đường tiểu dưới:
Biểu đồ 3.2 Tỉ lệ các triệu chứng đường tiểu dưới Nhận xét:
Các triệu chứng phổ biến nhất bao gồm tia nước tiểu yếu với tỷ lệ 91.6%, tiểu đêm chiếm 90.4%, khởi động chậm đạt 79.5%, tiểu rỉ rả cuối dòng là 77.1%, tiểu gắng sức chiếm 74.7%, cảm giác tiểu không hết khoảng 65.1%, tiểu nhiều lần ban ngày đạt 61.4%, tiểu ngắt quãng là 57.8%, tiểu gấp chiếm 54.2%, tiểu rỉ sau khi tiểu xong là 51.8%, và tiểu gấp không kiểm soát với tỷ lệ 34.9%.
Tiểu rỉ sau khi tiểu …
Tiểu rỉ rả cuối dòng
Tiểu gấp Tiểu đêm Tiểu nhiều lần ban ngày
3.1.3 Điểm IPSS trước điều trị:
Bảng 3.1 Điểm IPSS trung bình trước điều trị Điểm IPSS Trung bình
Điểm IPSS-chung trước điều trị là 19.82 ± 5.89
Trung bình điểm IPSS-đổ đầy nhỏ hơn điểm IPSS-tống xuất
3.1.3.2 Độ nặng của triệu chứng theo thang điểm IPSS:
Bảng 3.2 Tỉ lệ bệnh nhân theo độ nặng điểm IPSS Độ nặng Số bệnh nhân Tỉ lệ (%)
Nhóm bệnh nhân có điểm IPSS mức độ trung bình chiếm tỉ lệ lớn nhất với 54.2 %, kế đến là nhóm có điểm IPSS mức độ nặng chiếm tỉ lệ 45.8%
Bảng 3.3 Tỉ lệ bệnh nhân theo độ nặng điểm QoL Độ nặng Số bệnh nhân Tỉ lệ (%)
Điểm QoL trung bình của bệnh nhân là 4.07 ± 1.03, cho thấy đa số người bệnh đạt mức trung bình về chất lượng cuộc sống Trong nhóm này, có tới 62.7% bệnh nhân ghi nhận mức độ QoL trung bình, trong khi đó, 33.7% mắc phải mức độ nặng và chỉ có 3.6% ở mức độ nhẹ Kết quả này phản ánh rằng phần lớn bệnh nhân đang gặp phải các ảnh hưởng trung bình đến chất lượng cuộc sống của họ.
Có sự tương quan thuận mức độ trung bình có ý nghĩa thống kê giữa điểm QoL với điểm IPSS (Pearson’s r = 0.627, p < 0.001)
3.1.5 Thể tích tuyến tiền liệt:
Bảng 3.4 Tỉ lệ bệnh nhân theo thể tích tuyến tiền liệt Thể tích tuyến tiền liệt (ml) Số bệnh nhân Tỉ lệ (%)
Thể tích tuyến tiền liệt trung bình: 47.52 ± 17.12
Nhóm bệnh nhân có thể tích tuyến tiền liệt > 40 ml chiếm tỉ lệ lớn nhất 62.7 %, kế đến là nhóm 30 - 40 ml chiếm tỉ lệ 25.3 % và nhóm < 30 ml chiếm tỉ lệ 12%
Bảng 3.5 Tỉ lệ bệnh nhân theo nồng độ PSA Nồng độ PSA (ng/ml) Số bệnh nhân Tỉ lệ (%)
Nồng độ PSA trung bình: 2.06 ± 0.85 ng/ml
Tỉ lệ bệnh nhân có nồng độ PSA trong khoảng 1.5 - 4 ng/ml chiếm tỉ lệ lớn nhất với 78.3 %, kế đến là nhóm < 1.5 ng/ml chiếm tỉ lệ 21.7%
Có sự tương quan thuận mức độ yếu có ý nghĩa thống kê giữa nồng độ PSA và thể tích tuyến tiền liệt (Pearson’s r = 0.446, p < 0.001)
3.2 Mối tương quan giữa điểm IPSS với các yếu tố lâm sàng cận lâm sàng:
3.2.1 Tương quan giữa điểm IPSS và tuổi:
Bảng 3.6 Điểm IPSS trung bình theo tuổi
Nhóm tuổi Điểm IPSS trung bình
Có sự chênh lệch trung bình điểm IPSS giữa các nhóm tuổi, với kết quả phân tích One Way ANOVA cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (F = 7.165, p = 0.001) Kết quả kiểm định Post Hoc xác nhận rằng nhóm ≥ 70 tuổi có điểm IPSS cao hơn đáng kể so với các nhóm tuổi khác, thể hiện vai trò của tuổi tác trong đánh giá triệu chứng của bệnh nhân.
Sai biệt trung bình giữa nhóm 50 - 59 và nhóm 60 - 69 là -0.173, không có ý nghĩa thống kê với p = 0.994
Sai biệt trung bình giữa nhóm 50 - 59 và nhóm ≥ 70 là -4.83, có ý nghĩa thống kê với p = 0.011
Sai biệt trung bình giữa nhóm 60 - 69 và nhóm ≥ 70 là -4.657, có ý nghĩa thống kê với p = 0.003
Có sự tương quan thuận mức độ yếu có ý nghĩa thống kê giữa tuổi và điểm IPSS (Pearson’s r = 0.285, p = 0.009)
3.2.2 Tương quan giữa điểm IPSS và thể tích tuyến tiền liệt:
Bảng 3.7 Điểm IPSS trung bình theo thể tích tuyến tiền liệt
Thể tích tuyến tiền liệt (ml) Điểm IPSS trung bình
Dữ liệu cho thấy có sự khác biệt trung bình về điểm IPSS giữa các nhóm thể tích tuyến tiền liệt khác nhau, tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê (kết quả phân tích One Way ANOVA F = 2.765, p = 0.069).
Có sự tương quan thuận mức độ yếu có ý nghĩa thống kê giữa thể tích tuyến tiền liệt và điểm IPSS (Pearson’s r = 0.276, p = 0.011)
3.2.3 Tương quan giữa điểm IPSS và nồng độ PSA:
Bảng 3.8 Điểm IPSS trung bình theo nồng độ PSA huyết thanh
Nồng độ PSA (ng/ml) Điểm IPSS trung bình
Không có sự chênh lệch có ý nghĩa thống kê trung bình điểm IPSS giữa
2 nhóm nồng độ PSA (T-test, p = 0.797)
Không có sự tương quan có ý nghĩa thống kê giữa điểm IPSS với nồng độ PSA (Pearson’s r = -0.001, p = 0.996)
Biểu đồ 3.3 Tỉ lệ bệnh nhân theo phương pháp điều trị
Nhóm bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp kết hợp Alfuzosin với Dutasteride 2 thuốc chiếm tỉ lệ lớn nhất 63.9%, nhóm điều trị bằng Alfuzosin chiếm tỉ lệ 36.1%
3.3.2 Điểm IPSS sau điều trị:
3.3.2.1 Điểm IPSS sau điều trị và độ giảm so với trước khi điều trị:
Bảng 3.9 Điểm IPSS sau điều trị và độ giảm so với trước điều trị
Nhóm bệnh nhân Điểm IPSS Trung bình Độ giảm
IPSS-chung 12.25 ± 6.59 7.57 ± 4.28 IPSS-đổ đầy 5.52 ± 3.60 3.27 ± 3.85 IPSS-tống xuất 6.73 ± 4.28 4.30 ± 4.15 Đơn trị
IPSS-chung 11.07 ± 7.051 7.43 ± 4.313 IPSS-đổ đầy 4.6 ± 3.578 3.97 ± 3.709 IPSS-tống xuất 6.47 ± 4.754 3.47 ± 3.655
IPSS-chung 12.92 ± 6.291 7.64 ± 4.302 IPSS-đổ đầy 6.04 ± 3.546 4.49 ± 4.401 IPSS-tống xuất 6.89 ± 4.027 3.15 ± 3.987
Sau điều trị, điểm IPSS trung bình là 12,25 ± 6,59, giảm trung bình 7,57 ± 4,28 so với trước điều trị, cho thấy sự cải thiện rõ rệt về triệu chứng tiểu đường Sự khác biệt giữa điểm IPSS trước và sau điều trị có ý nghĩa thống kê với giá trị t = 16,104 (Pair Sample T-test, p < 0.05), khẳng định hiệu quả của phương pháp điều trị trong việc giảm các triệu chứng liên quan đến rối loạn tiết niệu.
Sau điều trị, điểm IPSS đầy đủ trung bình là 5.52 ± 3.60, giảm trung bình 3.27 ± 3.85 so với trước điều trị, cho thấy sự cải thiện rõ rệt về triệu chứng tiết niệu ở bệnh nhân Sự khác biệt giữa điểm IPSS trước và sau điều trị đạt ý nghĩa thống kê với Z = -6.123, p < 0.001, xác nhận hiệu quả của phương pháp điều trị trong việc giảm thiểu các triệu chứng liên quan.
Điểm IPSS sau điều trị trung bình là 6.73 ± 4.28, thấp hơn so với điểm IPSS trước điều trị, với mức giảm trung bình là 4.30 ± 4.15 Sự khác biệt giữa điểm IPSS trước và sau điều trị mang ý nghĩa thống kê rõ rệt (Wilcoxon test có Z = -6.586, p < 0.001), cho thấy hiệu quả rõ rệt của quá trình điều trị trong việc cải thiện các triệu chứng của người bệnh.
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ giảm điểm chỉ số IPSS giữa nhóm bệnh nhân điều trị bằng alfuzosin và nhóm bệnh nhân điều trị bằng sự kết hợp của alfuzosin với dutasteride (Mann-Whitney Test, Z = -0.067, p = 0.947), cho thấy hai phương pháp điều trị này có hiệu quả tương đương trong việc cải thiện triệu chứng của bệnh nhân.
3.3.2.2 Mức đáp ứng với điều trị theo độ giảm điểm IPSS:
Biểu đồ 3.4 Tỉ lệ bệnh nhân theo mức đáp ứng với điều trị
Nhóm bệnh nhân đáp ứng đáng kể chiếm tỷ lệ cao nhất, chiếm tới 41%, cho thấy hiệu quả điều trị rõ rệt Tiếp theo là nhóm bệnh nhân đáp ứng trung bình với tỷ lệ 28.9%, phản ánh các mức độ cải thiện đa dạng Nhóm đáp ứng nhẹ chiếm 16.9%, cho thấy phần nhỏ bệnh nhân có mức phản ứng còn hạn chế Cuối cùng, tỷ lệ bệnh nhân không đáp ứng chiếm 13.2%, yêu cầu các biện pháp điều trị khác phù hợp.
Không đáp ứng (< 3) Nhẹ (3 - 5) Trung bình (6 - 8) Đáng kể (≥ 9)
3.3.2.3 Độ nặng của triệu chứng theo thang điểm IPSS sau điều trị:
Bảng 3.10 Tỉ lệ bệnh nhân theo độ nặng điểm IPSS sau điều trị Độ nặng Số bệnh nhân Tỉ lệ (%)
Sau quá trình điều trị, phần lớn bệnh nhân đạt điểm IPSS mức độ trung bình, chiếm tỷ lệ 63,9%, cho thấy hiệu quả điều trị rõ ràng Trong đó, nhóm nhẹ chiếm tỷ lệ 22,9%, phản ánh sự cải thiện rõ rệt trong triệu chứng của bệnh nhân Bệnh nhân ở nhóm nặng chỉ chiếm 13,3%, phù hợp với mục tiêu điều trị và chăm sóc phù hợp cho từng loại mức độ bệnh.
3.3.3 Điểm QoL sau điều trị:
3.3.3.1 Điểm QoL sau điều trị và độ giảm so với trước điều trị:
Bảng 3.11 Điểm QoL sau điều trị và độ giảm so với trước điều trị
Nhóm bệnh nhân Điểm QoL Độ giảm
Sau điều trị, điểm QoL trung bình là 2.07 ± 1.228, giảm đáng kể so với trước điều trị trung bình 2 ± 1.379 điểm, cho thấy sự cải thiện rõ rệt về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Phân tích bằng kiểm định Wilcoxon cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa điểm QoL trước và sau điều trị (Z = -7.326, p < 0.001), khẳng định rằng phương pháp điều trị mang lại hiệu quả tích cực rõ rệt.
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ giảm điểm IPSS giữa nhóm bệnh nhân điều trị bằng alfuzosin và nhóm bệnh nhân điều trị bằng alfuzosin kết hợp dutasteride (Mann-Whitney Test, Z = -0.220, p = 0.826), cho thấy hai phương pháp điều trị này mang lại hiệu quả tương đương trong việc cải thiện triệu chứng của bệnh nhân.
3.3.3.2 Độ nặng điểm QoL sau điều trị:
Bảng 3.12 Tỉ lệ bệnh nhân theo độ nặng điểm QoL sau điều trị Độ nặng Số bệnh nhân Tỉ lệ (%)
Sau quá trình điều trị, phần lớn bệnh nhân có điểm chất lượng cuộc sống (QoL) mức độ nhẹ, chiếm tỷ lệ 67.5%, cho thấy hiệu quả tích cực của phương pháp điều trị Tiếp theo, nhóm bệnh nhân có QoL trung bình chiếm 28.9%, phản ánh sự cải thiện rõ rệt sau điều trị Trong khi đó, số bệnh nhân có QoL nặng chỉ chiếm 3.6%, cho thấy đa số người bệnh đã giảm thiểu các triệu chứng nghiêm trọng, nâng cao chất lượng cuộc sống sau điều trị.
3.4 Mối tương quan giữa kết quả điều trị với các yếu tố lâm sàng, cận lâm sàng:
3.4.1 Độ giảm IPSS theo tuổi bệnh nhân:
Bảng 3.13 Độ giảm IPSS trung bình theo tuổi
Nhóm tuổi Độ giảm điểm IPSS Đơn trị Kết hợp thuốc
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê độ giảm điểm IPSS giữa các nhóm tuổi (Kruskal-Wallis Test, p = 0.791)
Không có mối tương quan giữa tuổi và độ giảm điểm IPSS (Spearman’s r = 0.155, p = 0.413)
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê độ giảm điểm IPSS giữa nhóm tuổi (Kruskal-Wallis Test, p = 0.903)
Không có mối tương quan giữa tuổi và độ giảm điểm IPSS (Spearman’s r = 0.012, p = 0.93)
3.4.2 Độ giảm IPSS theo thể tích tuyến tiền liệt:
Bảng 3.14 Độ giảm IPSS trung bình theo thể tích tuyến tiền liệt
Thể tích tuyến tiền liệt
(ml) Độ giảm IPSS Đơn trị Kết hợp thuốc
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê độ giảm điểm IPSS giữa các nhóm thể tích tuyến tiền liệt (Kruskal-Wallis Test, p 0.429)
Không có mối tương quan giữa thể tích tuyến tiền liệt và độ giảm điểm IPSS (Spearman’s r = -0.174, p = 0.357)
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê độ giảm điểm IPSS giữa các nhóm thể tích tuyến tiền liệt (Kruskal-Wallis Test, p 0.196)
Không có mối tương quan giữa thể tích tuyến tiền liệt và độ giảm điểm IPSS (Spearman’s r = 0.239, p = 0.085)
3.4.3 Độ giảm IPSS theo nồng độ PSA:
Bảng 3.15 Độ giảm IPSS trung bình theo nồng độ PSA
(ng/ml) Độ giảm điểm IPSS Đơn trị Kết hợp thuốc
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê độ giảm điểm IPSS giữa các nhóm thể tích tuyến tiền liệt (Mann-Whitney Test, p 0.461)
Không có mối tương quan giữa thể tích tuyến tiền liệt và độ giảm điểm IPSS (Spearman’s r = -0.224, p = 0.235)
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê độ giảm điểm IPSS giữa các nhóm thể tích tuyến tiền liệt (Mann-Whitney Test, p 0.401)
Không có mối tương quan giữa thể tích tuyến tiền liệt và độ giảm điểm IPSS (Spearman’s r = 0.202, p = 0.147).
BÀN LUẬN
4.1 Các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân:
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tuổi trung bình của bệnh nhân là 67.18 ± 9.57 Kết quả này khá tương đồng với kết quả Roehrborn
(2008), trung bình là 66.1 ± 7.01 tuổi [76], tuy nhiên cao hơn kết quả nghiên cứu của các tác giả Marks (2009), trung bình là 64.6 ± 8.1 [49]; Chapple
Theo các nghiên cứu, tuổi trung bình của bệnh nhân mắc các rối loạn tiết niệu dưới (LUTS) dao động khoảng 63,9 đến 65,8 tuổi, tùy thuộc vào phân bố địa lý Mặc dù LUTS ít gây nguy hiểm đến tính mạng, nhưng ảnh hưởng tiêu cực của nó đến chất lượng cuộc sống là rất lớn Tuổi thọ trung bình của nam giới Việt Nam là khoảng 70,4 tuổi, do đó việc điều trị rối loạn tiểu tiện có thể giúp nâng cao chất lượng cuộc sống trung bình thêm khoảng 3 năm cho bệnh nhân.
Nhóm tuổi chiếm tỷ lệ lớn nhất trong nghiên cứu là từ 60-69 tuổi, chiếm 41%, tiếp theo là nhóm trên 70 tuổi với 37,3% và nhóm 50-59 tuổi với 21,7% Các nghiên cứu lớn đã chỉ ra xu hướng gia tăng tỷ lệ rối loạn tiểu tiện dưới mức chướng (LUTS) theo tuổi Nghiên cứu của Taylor (2006) trên 5995 nam giới từ 65 tuổi trở lên tại Mỹ cho thấy tỷ lệ LUTS trung bình và nặng (IPSS ≥ 8) tăng từ 40,2% ở nhóm 65-69 tuổi lên 51,6% ở nhóm trên 80 tuổi Tương tự, nghiên cứu của Boyle (2003) trên 4979 nam giới từ 40 tuổi trở lên tại bốn quốc gia gồm Hà Lan, Pháp, Anh và Hàn Quốc cho thấy tỷ lệ LUTS trung bình đến nặng dao động từ 10,6% đến 19,0%, thể hiện rõ xu hướng tăng theo tuổi.
Dưới đây là các câu quan trọng phản ánh nội dung chính của đoạn văn gốc, được tối ưu hóa cho SEO:1 "Tỷ lệ mắc các triệu chứng liên quan đến LUTS trong cộng đồng tăng theo độ tuổi, với các nhóm 40-49, 50-59, 60-69 và 70-79 tuổi có tỷ lệ lần lượt là 30.5%, 40.4%."2 "Nghiên cứu của Ming-Ping Wu (2013) dựa trên dữ liệu bảo hiểm quốc gia tại Đài Loan đã xác định tỷ lệ LUTS trong cộng đồng là 4.32% ở người từ 18-29 tuổi, tăng đều đặn đến 38.47% ở nhóm 70-79 tuổi."3 "Kết quả này cho thấy sự gia tăng rõ rệt của tỷ lệ LUTS theo tuổi, phản ánh tầm quan trọng của việc chẩn đoán và điều trị sớm các triệu chứng liên quan ở người lớn tuổi."
Nghiên cứu EPIC đã tiến hành trên 19.165 đàn ông và phụ nữ từ 18 tuổi trở lên tại năm quốc gia gồm Canada, Đức, Ý, Thụy Điển và Vương Quốc Anh Kết quả cho thấy, tỷ lệ bệnh nhân mắc ít nhất một triệu chứng rối loạn chức năng đường tiểu dưới (LUTS) tăng theo độ tuổi, đặc biệt ở nhóm đàn ông từ 39 tuổi trở lên, với các nhóm tuổi từ 39-49, 50-59, 60-69 và trên 70 tuổi Điều này nhấn mạnh mối liên hệ giữa tuổi tác và sự xuất hiện của các triệu chứng LUTS, qua đó giúp nâng cao nhận thức và hướng dẫn phân loại bệnh phù hợp cho các nhóm tuổi khác nhau.
Dưới 60 tuổi, tỷ lệ bệnh nhân mắc LUTS lần lượt là 51.3%, 62% và 80.7%, cho thấy sự chênh lệch rõ ràng bắt đầu từ nhóm tuổi 60 trở lên Mặc dù nhóm nghiên cứu của chúng tôi không ghi nhận xu hướng tăng đều đặn của tỷ lệ bệnh nhân LUTS theo tuổi, nhưng sự khác biệt giữa nhóm 60-69 tuổi và nhóm trên 70 tuổi là không đáng kể (chỉ 3 bệnh nhân) Ngược lại, hai nhóm tuổi này thể hiện sự chênh lệch rõ ràng so với nhóm trẻ hơn, đặc biệt là dưới 60 tuổi.
Ở tuổi 60 trở lên, tỷ lệ mắc các triệu chứng tiết niệu dưới (LUTS) tăng dần theo tuổi, đặc biệt sau 60 tuổi, phù hợp với kết quả nghiên cứu EPIC Sự gia tăng này mang ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh dân số Việt Nam đang ngày càng già hóa, góp phần thúc đẩy các vấn đề liên quan đến sức khỏe tiêu hóa nam giới cao tuổi.
4.1.2 Các triệu chứng đường tiểu dưới:
Các triệu chứng liên quan đến hệ tiết niệu có tỉ lệ xuất hiện từ lớn đến nhỏ bao gồm tia nước tiểu yếu (91.6%), tiểu đêm (90.4%), khởi động chậm (79.5%), tiểu rỉ rả cuối dòng (77.1%), tiểu gắng sức (74.7%), cảm thấy tiểu không hết (65.1%), tiểu nhiều lần ban ngày (61.4%), tiểu ngắt quãng (57.8%), tiểu gấp (54.2%), tiểu rỉ sau khi đi tiểu xong (51.8%) và tiểu gấp không kiểm soát (34.9%) Hầu hết các triệu chứng này thuộc nhóm triệu chứng tống xuất, ngoại trừ triệu chứng tiểu đêm thuộc nhóm đổ đầy Trong từng nhóm triệu chứng, tiểu đêm là triệu chứng phổ biến nhất trong nhóm đổ đầy, trong khi tia nước tiểu yếu là triệu chứng phổ biến nhất trong nhóm tống xuất, còn cảm giác tiểu không hết là triệu chứng phổ biến nhất trong nhóm các triệu chứng sau đi tiểu.
Nghiên cứu của Peter (1997) trên 1200 bệnh nhân LUTS do tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt cho thấy các triệu chứng phổ biến nhất gồm tia nước tiểu yếu, tiểu rỉ rả cuối dòng, tiểu ngắt quãng, khởi động chậm và cảm giác không hết nước Mặc dù các triệu chứng tống xuất chiếm tỷ lệ cao, nhưng các triệu chứng đổ đầy lại gây ảnh hưởng lớn hơn đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân [62] So sánh với kết quả của Dohovan, nhóm nghiên cứu của chúng tôi phát hiện tỷ lệ triệu chứng tiểu đêm lên đến 90.4%, chỉ thấp hơn chút ít so với tỷ lệ 91.6% của triệu chứng tia nước yếu, phù hợp với nghiên cứu EPIC nơi tiểu đêm là triệu chứng phổ biến nhất Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến tần suất cao của triệu chứng này do tiểu đêm gây tác động tiêu cực đến giấc ngủ, sức khỏe và chất lượng cuộc sống [43], [47], [85] Nghiên cứu của Kupelian (2011) cũng chỉ ra rằng mức độ tiểu đêm có mối liên hệ mật thiết với nguy cơ tử vong về sau, khi tăng số lần tiểu đêm làm gia tăng đáng kể nguy cơ này [42].
4.1.3 Điểm IPSS trước điều trị:
Nghiên cứu cho thấy điểm IPSS-chung trước điều trị của bệnh nhân là 19.82 ± 5.89, điểm IPSS-đổ đầy là 8.78 ± 4.29, và điểm IPSS-tống xuất là 11.04 ± 5.22, phù hợp với các nghiên cứu của Chapple và Hong Jeng Yu (2011) Kết quả này cao hơn so với các nghiên cứu của Roehrborn (2003), Kerrebroeck (2000), Siami (nghiên cứu CombAT) và McConnell (nghiên cứu MTOPS), nhưng thấp hơn so với nghiên cứu của Marks.
Sự khác biệt giữa các nghiên cứu khác nhau có thể xuất phát từ các yếu tố như địa dư, sắc tộc và cỡ mẫu Các tác giả đánh giá điểm IPSS-đổ đầy và điểm IPSS-tống xuất thường nhận thấy điểm IPSS-tống xuất cao hơn điểm IPSS-đổ đầy, điều này phù hợp với kết quả nghiên cứu của nhóm chúng tôi.
Bảng 4.1 Điểm IPSS trung bình trong nghiên cứu của các tác giả khác
Nghiên cứu IPSS-chung IPSS-đổ đầy IPSS-tống xuất Marks (2009) [48] 21.3 ± 5,1 9.3 ± 2.6 12.0 ± 3.6 Hong Jeng Yu (2011) [95] 19.8 ± 4.5 6.9 ± 3.1 13.0 ± 3.3 Chapple (2011) [22] 19.1 ± 4.30 7.9 ± 2.53 11.2 ± 3.20
Siami (CombAT) [82] 16.4 ± 6,19 7.9 ± 2.53 11.2 ± 3.20 Độ nặng của LUTS trước điều trị đánh giá dựa trên điểm IPSS, nhóm trung bình (8 - 19 điểm) chiếm tỉ lệ cao nhất 54.2%, nhóm nặng chiếm tỉ lệ 45.8% Trong nghiên cứu của Roehrborn (2003), nhóm trung bình chiếm tỉ lệ 65.5 %, nhóm nặng chiếm tỉ lệ 33.1% [68] Các triệu chứng đường tiểu dưới do tăng sinh lành tuyến tiền liệt là một tình trạng bệnh lý tiến triển dần theo thời gian về độ nặng triệu chứng, niệu động học và biến chứng [26], [71], kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tuy hầu hết các bệnh nhân tìm sự chăm sóc y tế khi LUTS ở mức trung bình nhưng vẫn còn một bộ phận lớn bệnh nhân chỉ tìm đến chăm sóc y tế khi LUTS đã tiến triển đến mức độ nặng, tỉ lệ này cao hơn đáng kể so với nghiên cứu của Roehrborn (2003), tỉ lệ thấp các bệnh nhân LUTS tìm đến sự chăm sóc y tế đã được ghi nhận trong nghiên cứu của Rosen (2003) (nghiên cứu MSAM-7), nghiên cứu này khảo sát trên 12815 nam giới từ 50 - 80 tuổi cho thấy 90% có LUTS, tuy nhiên chỉ có 19% bệnh nhân được thăm khám và 11% được điều trị [78]
4.1.4 Điểm QoL truớc điều trị:
Trong nghiên cứu của chúng tôi, điểm QoL trước điều trị trung bình là 4.07 ± 1.03, nhóm có điểm QoL mức độ trung bình (3 - 4 điểm) chiếm tỉ lệ cao nhất 62.7%, nhóm có điểm QoL mức độ nặng (5 - 6 điểm) chiếm tỉ lệ 33.7%, nhóm có điểm QoL mức độ nhẹ (0 - 2) chiếm tỉ lệ 3.6% Điểm QoL trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 4.07 ± 1.03, khá tương đồng với nghiên cứu của các tác giả khác: nghiên cứu Roehrborn
(2001) cho kết quả điểm QoL trung bình 4.1 điểm [69]; nghiên cứu của Chapple (2005) cho kết quả điểm QoL trung bình 3.7 ± 1 [21]; một nghiên cứu khác của Chapple (2011) cho kết quả điểm QoL trung bình 3.9 ± 1.04 [22]; nghiên cứu của Hong Jeng Yu (2011) cho kết quả điểm QoL trung bình 3.8 ± 0.8 [95]; và nghiên cứu của Ozturk (2011) cho kết quả điểm QoL trung bình 3.86 ± 0.8 [33]
Có mối tương quan thuận mức trung bình có ý nghĩa thống kê giữa điểm QoL và điểm IPSS (Pearson’s r = 0.627, p < 0.001), cho thấy rằng sự tăng của triệu chứng lý phù tuyến tiền liệt (LUTS) liên quan đến giảm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Nhiều nghiên cứu trước đó, như của Bosch (1995) với hệ số tương quan r = 0.74, Cam (2002) r = 0.75, và Tsukamoto (2007) r = 0.66, cũng xác nhận mối liên hệ chặt chẽ giữa IPSS và QoL Điều này cho thấy rõ ảnh hưởng của LUTS đối với chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.
Hầu hết bệnh nhân đến khám có điểm QoL từ 3-4, phản ánh mức chất lượng cuộc sống tạm được và gặp khó khăn Tuy nhiên, nhóm từ 5-6 điểm, biểu hiện mức độ khổ sở và không chịu đựng được, cũng chiếm tỷ lệ đáng kể là 33.7% Điều này cho thấy bệnh nhân thường chấp nhận rối loạn tiểu tiện đến khi triệu chứng ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống mới tìm đến dịch vụ y tế, nhằm làm giảm các khó khăn và cải thiện tình trạng sức khỏe.
4.1.5 Thể tích tuyến tiền liệt: