ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu
Các BN nội trú được chẩn đoán VTTM chi dưới tại Bệnh Viện Đa Khoa Trung Ƣơng Cần Thơ trong thời gian từ 6/2014 đến tháng 5/2015
Bệnh đƣợc chẩn đoán xác định VTTM
BN đồng ý tham gia nghiên cứu
BN có các triệu chứng của chi dưới cần chẩn đoán phân biệt hoặc là triệu chứng của các bệnh sau:
Hội chứng phù bạch huyết
Phình động mạch, thông động tĩnh mạch
Tụ máu do chấn thương, gãy cẳng chân Áp xe
Các bệnh gây phù chi dưới như: suy tim phải, suy gan, suy thận
BN không đƣợc thực hiện xét nghiệm D-Dimer và siêu âm Doppler tĩnh mạch để chẩn đoán
Mất dấu BN trong quá trình theo dõi như trong trường hợp chuyển viện
Các khoa Bệnh Viện Đa Khoa Trung Ƣơng Cần Thơ
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
Chúng tôi chọn cỡ mẫu là trên 30 mẫu
Sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện: chọn BN đầu tiên cho đến khi đủ số lƣợng
2.2.3.1 Đặc điểm chung của đối tƣợng nghiên cứu
Các đặc điểm về dân số:
Tuổi: được chi làm 3 nhóm: dưới 30 tuổi, 30 đến 65 tuổi và trên 65 tuổi Giới: chia làm 2 nhóm nam và nữ
Nghề nghiệp: chia làm các nhóm: nội trợ, công nhân, nông dân, học sinh-sinh viên, cán bộ công nhân viên chức, khác
Dân tộc: gồm kinh, khơmer, dân tộc khác Địa dƣ cƣ trú: chia làm 2 nhóm:
Thành thị gồm những bệnh nhân (BN) sinh sống tại các khu đô thị, thành phố, thị xã và thị trấn, nơi tập trung dân cư đông đúc và cơ sở hạ tầng phát triển Ngược lại, nông thôn là nơi cư trú của các bệnh nhân sống ở vùng quê, miền biển, miền núi, vùng sâu, vùng xa, nơi điều kiện sống còn nhiều khó khăn và ít tiện nghi Phân biệt rõ hai nhóm này giúp hiểu rõ đặc điểm bệnh lý và nhu cầu chăm sóc y tế phù hợp với từng vùng miền.
Các đặc điểm về nhân trắc học:
Cân nặng: đơn vị tính bằng kilogram
Chiều cao: đơn vị tính centimet
BMI: là chỉ số khối cơ thể: BMI = cân nặng/(chiều cao) 2
2.2.3.2 Đặc điểm lâm sàng: Đặc điểm của nguyên nhân của lần nhập viện này: BN nhập viện vì bệnh VTTM hay vì một bệnh khác, bệnh gì, có liên quan đến phẫu thuật
Thời điểm có triệu chứng trước hay sau khi vào viện
Thời gian xuất hiện triệu chứng đến khi đƣợc chẩn đoán, đƣợc tính bằng ngày
Chi nào bị bệnh: chi phải, chi trái, cả hai
BN có bao nhiêu triệu chứng
Các triệu chứng cần chú ý gồm có đau ở các vùng như bẹn, đùi, khoeo, bắp chân, bàn chân và cổ chân, kèm theo đó là phù chi và các dấu hiệu bất thường về màu sắc da như đỏ hoặc tím da Những biểu hiện này có thể là dấu hiệu của các vấn đề về tuần hoàn hoặc các bệnh lý liên quan đến chân và cần được đánh giá y tế kịp thời.
Có triệu chứng nào khác không
Triệu chứng nào xuất hiện đầu tiên
Các triệu chứng toàn thân:
Chán ăn, mất ngủ, mệt mỏi
2.2.3.3 Đặc điểm các cận lâm sàng
Xét nghiệm D-Dimer là phương pháp quan trọng để chẩn đoán huyết khối trong lòng mạch, với ngưỡng chuẩn đoán là 500 ng/ml Số lần thực hiện xét nghiệm D-Dimer cần thiết để xác định chính xác tình trạng của bệnh nhân tùy thuộc vào từng trường hợp lâm sàng cụ thể Kết quả xét nghiệm D-Dimer định lượng cho biết mức độ hiện diện của các fibrin phân hủy trong máu, giúp phát hiện sớm các huyết khối hoặc tắc nghẽn mạch máu Xét nghiệm D-Dimer đóng vai trò then chốt trong chẩn đoán các bệnh lý liên quan đến huyết khối, góp phần giảm thiểu nguy cơ biến chứng nguy hiểm.
Siêu âm Doppler tĩnh mạch chi dưới giúp đánh giá số lần thực hiện cần thiết và xác định kết quả dương tính, xác định hệ tĩnh mạch nào bị tắc, vị trí và đoạn tĩnh mạch bị tắc Quá trình này còn kiểm tra xem có tắc tĩnh mạch nông kèm theo không, cũng như đặc điểm của huyết khối như độ echo và tính xốp của huyết khối khi đè ép Khi tĩnh mạch bị tắc hoàn toàn, trên hình ảnh siêu âm sẽ xuất hiện mất màu hoàn toàn trên Doppler màu hoặc Doppler năng lượng, cùng với mất phổ nảy cao khi thực hiện nghiệm pháp đuổi máu, giúp chẩn đoán chính xác tình trạng tắc nghẽn tĩnh mạch chi dưới.
BN có đƣợc siêu âm kiểm tra khi ra viện, còn huyết khối không
BN có cần làm thêm cận lâm sàng hình ảnh nào khác để chẩn đoán (CT, MRV, chụp tĩnh mạch cản quang), kết quả chẩn đoán dương tính không
2.2.3.4 Đặc điểm các yếu tố liên quan
BN có bao nhiêu yếu tố liên quan, là những yếu tố nào trong những yếu tố sau: Tuổi
Các phẫu thuật chỉnh hình chi dưới gần đây
Mang thai, sinh đẻ gần đây
Sử dụng thuốc tránh thai, liệu pháp estrogen, thuốc điều trị ung thƣ
Bệnh nội khoa cấp tính: suy tim nặng, nhồi máu cơ tim cấp, đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, đột quỵ, nhiễm trùng cấp
Tiền sử rối loạn đông máu
Sử dụng ống thông tĩnh mạch, tiêm chích ma túy
Các bệnh lý khác kèm theo
2.2.3.5 Điều trị Điều trị nội
Chúng tôi áp dụng các biện pháp điều trị sau:
Trong giai đoạn cấp, bệnh nhân nên nằm bất động trên giường để giảm nguy cơ biến chứng, đồng thời kê cao chân trên khung Braun trong thời gian đầu nhằm thúc đẩy tuần hoàn máu và ngăn chặn tắc nghẽn động mạch phổi do huyết khối bong ra theo dòng máu về tim.
Có thể dùng băng đàn hồi quấn ép chi bệnh
Cho BN tiêm thuốc hoặc uống thuốc chống đông máu, các nhóm thuốc chống đông máu sử dụng là:
Heparin không phân đoạn: 80U/kg bolus và sau đó 18U/kg/giờ truyền tĩnh mạch
LMWH như enoxaparin 70 – 100 UI/kg/12giờ tiêm dưới da
Fondaparinux là một loại thuốc thuộc nhóm ức chế yếu tố Xa, không gây ức chế thrombin, do đó không làm kéo dài đáng kể thời gian thời gian thrombin và aPTT Liều dùng của thuốc là 5mg, 7,5mg, hoặc 10mg tiêm dưới da, phù hợp với trọng lượng của bệnh nhân để đảm bảo hiệu quả điều trị tối ưu.
Nhóm kháng vitamin K, thường dùng là wafarin 1 đến 10mg/ngày, Sintrom 4mg liều lƣợng theo kết quả INR
Kiểm tra bộ xét nghiệm đông cầm máu: PT, aPTT, Fibrinogen, INR, công thức máu
Duy trì liệu pháp kháng đông bằng thuốc kháng vitamin K phối hợp với Aspirin liều thấp là cần thiết để phòng ngừa các biến chứng huyết khối Điều trị ngoại khoa chỉ được khuyến nghị sau khi tình trạng bệnh ổn định, thường sau 10 đến 14 ngày điều trị nội khoa thành công.
2.2.3.6 Đánh giá kết quả điều trị Đánh giá tổng số ngày điều trị, tình trạng BN khi ra viện Quan niệm đánh giá kết quả điều trị của chúng tôi nhƣ sau:
Sau khi điều trị, các triệu chứng như đau, tê và khó chịu đều biến mất hoàn toàn, mang lại kết quả tốt cho bệnh nhân Bệnh nhân có thể trở lại sinh hoạt và lao động bình thường mà không gặp phải vấn đề gì về sức khỏe.
Sau quá trình điều trị, các bệnh nhân đã hết hiện tượng viêm tắc nhưng một số triệu chứng vẫn giảm chưa hoàn toàn hoặc còn nhẹ, kèm theo các biến chứng nhẹ hoặc đã hết khi ra viện Bệnh nhân có thể trở lại hoạt động lao động bình thường sau điều trị thành công.
Không kết quả: sau điều trị bệnh không thuyên giảm hoặc sinh biến chứng nặng, tử vong
Do đây là một bệnh cần điều trị lâu dài, bệnh nhân sau khi xuất viện cần tái khám định kỳ để kiểm soát tình trạng bệnh Tuy nhiên, do nghiên cứu của chúng tôi chỉ tập trung vào giai đoạn điều trị nội trú, nên không đề cập đến các vấn đề liên quan đến việc tái khám sau điều trị.
Phương pháp và kỹ thuật thu thập số liệu
Thu thập số liệu gồm 2 phần: hỏi, thăm khám lâm sàng BN và xét nghiệm cận lâm sàng sau đó ghi vào bảng câu hỏi đã thiết kế
2.3.1 Hỏi bệnh: hỏi theo bảng câu hỏi thiết kế sẵn
Hỏi về hành chánh: tên tuổi, địa chỉ, nghề nghiệp, dân tộc
Hỏi về nguyên nhân của lần vào viện này
Hỏi về các triệu chứng
Hỏi về thời gian xuất hiện triệu chứng
Hỏi về tính chất, mức độ các triệu chứng
Hỏi triệu chứng nào đầu tiên
Hỏi về tiền sử bản thân: các bệnh đã mắc, bệnh đang điều trị, thuốc đang dùng và thời gian dùng thuốc, tiền sử gia đình
Hỏi về các yếu tố nguy cơ liên quan
Hỏi lại các triệu chứng trước khi BN ra viện
Bao gồm: nhìn, sờ và làm một số nghiệm pháp đặc biệt
Có thể thấy da vùng VTTM sƣng, đỏ
Có thể nhìn thấy các tĩnh mạch nông giãn, nổi trên mặt da
Có thể có vỡ tĩnh mạch gây vùng tím bầm, loét da do giãn tĩnh mạch hay ở mắt cá trong
Có thể nhìn thấy tím chi do tắc mạch hoại tử
Có thể nhìn thấy bóng nước
Mãng da sạm do giãn tĩnh mạch lâu năm
Sờ và làm một số nghiệm pháp đặc biệt:
Có thể sờ thấy chi lạnh trong trường hợp tắc kèm động mạch Ấn thấy lõm (phù)
Sờ có thể thấy các tĩnh mạch bị giãn to, nổi cục
Sờ, vuốt nhẹ ở chi dưới thì BN tăng cảm giác đau
Bóp nhẹ vùng cơ dép thấy đau (dấu hiệu Homans)
Bạn có thể thực hiện thêm một số nghiệm pháp như nghiệm pháp Perthes khi triệu chứng không rõ ràng Trong đó, nghiệm pháp Perthes giúp đánh giá lưu thông tĩnh mạch bằng cách yêu cầu bệnh nhân đứng và buộc garo vùng tĩnh mạch nông dưới hoặc trên khớp gối, từ đó xác định xem máu tĩnh mạch nông có về hệ tĩnh mạch sâu một cách bình thường hay không Các nghiệm pháp này hỗ trợ chẩn đoán chính xác và đánh giá mức độ lưu thông hệ thống tĩnh mạch chi dưới.
BN đi bộ nhanh tại chỗ giúp các cơ co bóp đẩy máu tĩnh mạch sâu về tim, đồng thời chuyển hướng máu từ hệ tĩnh mạch nông về tĩnh mạch sâu Khi con đường này bị nghẽn tắc, tĩnh mạch nông sẽ căng phồng, xuất hiện tình trạng tím tái, gây đau đớn tại vùng thắt garo.
Nghiệm pháp Linton giúp đánh giá tình trạng tắc nghẽn tĩnh mạch, bằng cách đứng thẳng, gập gối và theo dõi tĩnh mạch nông ở cẳng chân Nếu hệ tĩnh mạch nông không căng phồng, điều này cho thấy máu đã lưu thông về hệ tĩnh mạch sâu một cách bình thường Ngược lại, nếu hệ tĩnh mạch nông căng phồng, chứng tỏ có tắc nghẽn trong hệ tĩnh mạch sâu, cần xem xét các phương pháp chẩn đoán và điều trị phù hợp.
2.3.2.2 Khám các cơ quan khác
Khám tổng quát: thể trạng BN, tuyến giáp, hạch
Khám tim, khám phổi, khám bụng
Để chẩn đoán phân biệt và loại trừ các bệnh có triệu chứng tương tự như viêm mô tế bào, u nang Baker, suy tĩnh mạch, hội chứng phù bạch huyết, phình động mạch, thông động tĩnh mạch, tụ máu do chấn thương, gãy cẳng chân, áp xe, cũng như các bệnh gây phù nề chi dưới như suy tim phải, suy gan và suy thận.
Tìm các yếu tố nguy cơ đi kèm, bệnh kèm theo
Lấy các dấu hiệu sinh tồn: mạch, huyết áp, nhiệt độ, nhịp thở
2.3.2.3 Đo các chỉ số nhân trắc:
2.3.3 Xét nghiệm cận lâm sàng Định lượng D-Dimer theo phương pháp hóa miễn dịch phát quang (Immuno Chemiluminesence Metric Assay-ICLMA), tiến hành trên máy tự động Giới hạn bình thường của D-Dimer là dưới 500ng/ml Ngưỡng chẩn đoán là trên 500ng/ml
Siêu âm Doppler tĩnh mạch thường sử dụng đầu dò có tần số 5 đến 10MHz cho các tĩnh mạch nông và 2,5 đến 3,5MHz cho các tĩnh mạch sâu hoặc bệnh nhân béo, nghi ngờ huyết khối tĩnh mạch Hệ thống tĩnh mạch nên được đánh giá từ ngay dưới dây chằng chậu đến chỗ chia ba của tĩnh mạch khoeo ở phần trên của bắp chân, mỗi đoạn 2-3cm bằng siêu âm có ép Ngoài ra, có thể khảo sát thêm các tĩnh mạch chậu ngoài và tĩnh mạch cẳng chân Tĩnh mạch chậu, tĩnh mạch đùi chung và tĩnh mạch đùi thường được đánh giá tốt khi bệnh nhân nằm ngửa, còn tĩnh mạch khoeo có thể khảo sát khi bệnh nhân nằm ngửa với gối gấp góc 20-30 độ và xoay ngoài hoặc nằm nghiêng với phần cần siêu âm ở mặt trên Trong trường hợp huyết khối tắc mạch, hình ảnh siêu âm có thể cho thấy mất dòng chảy hoặc dòng chảy nhỏ ở ngoại vi, tĩnh mạch bị đè không xẹp.
Biểu đồ 2.1 Sơ đồ nghiên cứu
Bệnh nhân viêm tắc tĩnh mạch chi dưới
Hỏi bệnh, khám lâm sàng Xét nghiệm D-Dimer, siêu âm Doppler mạch máu
Tìm hiểu các yếu tố liên quan Điều trị Theo dõi, đánh giá
Bảng câu hỏi đã thiết kế
Cân sức khỏe: sử dụng cân sức khoẻ có gắn thước đo chiều cao TZ- 120
Thước đo chiều cao: được gắn trên cân sức khoẻ, đơn vị đo centimet Ống nghe
Máy huyết áp: sử dụng máy đo huyết áp cơ Yamasu
Nhiệt kế Đồng hồ đếm
Máy xét nghiệm sinh hóa FIA8000 sử dụng bộ kit xét nghiệm nồng độ D-Dimer để đánh giá tình trạng của bệnh nhân Quy trình xét nghiệm D-Dimer gồm sử dụng một kháng thể đơn dòng D-Dimer kết hợp với keo vàng, cùng với một kháng thể đơn dòng D-Dimer phủ trên vạch kết quả test Kháng thể đánh dấu keo vàng sẽ kết hợp với D-Dimer trong mẫu máu để tạo thành phức hợp kháng thể-kháng nguyên, sau đó di chuyển đến vùng phân tích thẻ test nhờ hoạt động mao dẫn Tại đây, phức hợp này gặp kháng thể cố định trên màng để tạo ra vạch đỏ xuất hiện trên kết quả xét nghiệm Cuối cùng, thẻ vạch kết quả được chèn vào thiết bị phân tích FIA8000, nơi nồng độ D-Dimer được đo và hiển thị rõ ràng trên màn hình, giúp các bác sĩ đưa ra quyết định chẩn đoán chính xác.
Máy siêu âm Doppler màu kỹ thuật số LOGIQ C5 Premium sử dụng kỹ thuật siêu âm tiên tiến để đánh giá hệ tuần hoàn dưới da Quá trình thực hiện bắt đầu khi BN nằm ngửa, để lộ vùng từ bẹn đến bàn chân, dùng đầu dò tần số 7,5 MHz để khảo sát tĩnh mạch nông và đầu dò 3,5 MHz cho tĩnh mạch sâu Các bác sĩ đánh giá từng đoạn 2-3 cm từ bẹn đến khoeo qua các mặt cắt ngang và dọc, kết hợp nghiệm pháp đè ép và Doppler phổ để đo vận tốc dòng chảy trong tĩnh mạch Trong đó, người bệnh gấp gối 20-30 độ và xoay ngoài để khảo sát tĩnh mạch khoeo, bên cạnh đó còn kiểm tra toàn diện hệ động mạch với việc đánh giá thành mạch, phổ Doppler, và vận tốc máu, đảm bảo đánh giá chính xác và toàn diện hệ tuần hoàn dưới da.
Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Các số liệu đƣợc nhập và xử lý bằng phần mền SPSS 16.0
Các số liệu định lượng như tuổi, chiều cao, cân nặng, BMI, số lần xét nghiệm, kết quả xét nghiệm D-Dimer, số yếu tố nguy cơ liên quan và số ngày nằm viện được mô tả bằng các thống kê trung bình, độ lệch chuẩn và phân lớp khi phân tích dữ liệu Thông tin này thường được trình bày dưới dạng biểu đồ cột hoặc bảng phân bố để dễ dàng nhận diện xu hướng và mối liên hệ giữa các biến số Việc sử dụng các số liệu định tính này giúp cung cấp cái nhìn toàn diện về tình hình lâm sàng của bệnh nhân, đồng thời hỗ trợ các phân tích định lượng chính xác hơn.
Các số liệu định tính như giới tính và các yếu tố nguy cơ được trình bày rõ ràng qua bảng phân phối tần suất, tỷ lệ phần trăm, hoặc biểu đồ, giúp người đọc dễ dàng hiểu và phân tích dữ liệu một cách trực quan và chính xác.
Các số liệu được kiểm định bằng phương pháp 2 với mức ý nghĩa thống kê đƣợc chọn xác định ở chỉ số p ≤ 0,05.
Đạo đức trong nghiên cứu
Giải thích rõ mục đích, ý nghĩa của nghiên cứu cho BN khi cần thiết để tạo thêm tinh thần hợp tác cùng làm việc
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tiêu chuẩn chọn mẫu là bệnh nhân đồng ý tham gia, không bị ép buộc và luôn được tôn trọng quyền tự do của họ Các thông tin của bệnh nhân được giữ kín để đảm bảo tính riêng tư và bảo mật dữ liệu Việc tuân thủ các nguyên tắc đạo đức nghiên cứu thể hiện cam kết của chúng tôi trong việc bảo vệ quyền lợi của người tham gia.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm dân số nghiên cứu
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ các nhóm tuổi trong nghiên cứu
Nhận xét: Độ tuổi 30 đến 65 chiếm nhiều nhất 59,5% (có 22 trường hợp) Độ tuổi dưới 30 ít nhất có 2 trường hợp chiếm 5,4%, và trên 65 tuổi có 13 trường hợp chiếm 35,1%
Bảng 3.1 Tỷ lệ giới tính
Giới Số trường hợp Tỷ lệ (%)
Tỷ lệ BN nam / BN nữ là: 1/3,6
Số BN nữ chiếm 78,4%, BN nam 21,6%
Chủng tộc Số BN Tỷ lệ %
Dân tộc kinh có 34 BN chiếm 91,9%
Dân tộc khơmer có 3 BN chiếm 8,1%
Bảng 3.3 Địa dƣ Địa dƣ Số BN Tỷ lệ %
Số BN ở nông thôn chiếm tỷ lệ 89,9% cao hơn ở thành thị 10,8%
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ nhóm lao động
Nghề nông 64,9%, nội trợ 29,7% còn lại công nhân 2,7%, công nhân viên 2,7%
Nông dân Công nhân Nội trợ Công nhân viên
Biểu đồ 3.3 Phân bố nghề nghiệp
Nhóm lao động chân tay 97,3%, nhóm lao động trí óc 2,7%
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ béo phì trong nghiên cứu
Tỷ lệ BN béo phì khá cao có 17 BN chiếm 45,9%, không béo phì là 54,1%
3.1.7 Thời điểm có triệu chứng
Bảng 3.4 Thời điểm có triệu chứng Thời điểm có triệu chứng Số trường hợp Tỷ lệ %
Tất cả 100% đã có triệu chứng của VTTM trước khi vào viện Bệnh Viện Đa Khoa Trung Ƣơng Cần Thơ
Lao động chân tay Lao động trí óc
3.1.8 Lý do và nguyên nhân vào viện
Bảng 3.5 Các nguyên nhân vào viện
Nguyên nhân Số trường hợp Tỷ lệ %
Do viêm tắc tĩnh mạch 33 89,2
Bí tiểu do bướu tiền liệt tuyến 1 2,7
Suy thận mạn giai đoạn cuối 1 2,7
Trong tổng số bệnh nhân nhập viện, có đến 89,2% do viêm họng trung ương mãn tính (VTTM), trong khi các nguyên nhân khác như nhiễm trùng nặng, bí tiểu do bướu tiền liệt tuyến, suy thận mạn giai đoạn cuối và thiếu máu chiếm tỷ lệ đều là 2,7% Đây cho thấy VTTM là nguyên nhân chính khiến bệnh nhân phải vào viện, còn các bệnh lý khác chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ, đòi hỏi sự chú ý đặc biệt trong chẩn đoán và điều trị.
Biểu đồ 3.5 Thời gian chẩn đoán
Nhận xét: Đa số trường hợp (48,7%) được chẩn đoán trong vòng 3 ngày sau khởi phát triệu chứng
21,7% đƣợc chẩn đoán trong vòng từ 4 đến 7 ngày, 29,7% trên 7 ngày mới đƣợc chẩn đoán
≤ 3 ngày Từ 4 đến 7 ngày > 7 ngày
Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng
3.2.1.1 Đặc điểm triệu chứng tại chổ
Bảng 3.6 Đặc điểm các triệu chứng
Triệu chứng Số trường hợp Tỷ lệ % Đau 33 89,2
Phù chân 37 100 Đỏ da, tím da 32 86,5
Triệu chứng phù chi xuất hiện 100% ở tất cả các BN
Các triệu chứng phổ biến khi mắc bệnh bao gồm đau xuất hiện ở mức 89,2%, da đỏ hoặc tím chi chiếm tỷ lệ 86,5%, và sờ nóng chi đến 97,3%, kèm theo cảm giác tê chân khoảng 94,6% Ngoài ra, những triệu chứng ít gặp hơn như giãn tĩnh mạch nông chiếm 40,5%, chuột rút ở mức 29,7%, cùng các triệu chứng khác chiếm tỷ lệ 13,5%.
Không có BN nào bị loét da
3.2.1.2 Các triệu chứng xuất hiện đầu tiên
Bảng 3.7 Triệu chứng xuất hiện đầu tiên
Triệu chứng đầu tiên Số trường hợp Tỷ lệ % Đau 23 62,2
Hầu hết BN có triệu chứng đầu tiên là đau chiếm 62,2%, tiếp theo là phù chi 29,7%, tê chân 8,1%
Bảng 3.8 Các vị trí đau
Vị trí đau Số trường hợp Tỷ lệ %
Bàn chân 1 2,7 Đau chổ khác: 0 0
Nhận xét: Đa số các BN đau ở khoeo 54%, đau ở bẹn 32,4%
Chiếm ít hơn là đau ở đùi 27%, đau ở bắp chân 29,7%, ở bàn chân 2,7% Chƣa ghi nhận đau ở vị trí khác
Bảng 3.9 Số lƣợng các triệu chứng tại chổ
Số triệu chứng Số trường hợp Tỷ lệ %
Có 2,7% trường hợp BN có 3 triệu chứng, 5,4% có 4 triệu chứng, 48,7% có 5 triệu chứng, 43,2% trường hợp có ≥ 6 triệu chứng tại chổ
Có tới 91,9% số bệnh nhân có từ 5 triệu chứng trở lên
Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ các triệu chứng toàn thân
Trong nghiên cứu, có tới 89,2% bệnh nhân ghi nhận mạch nhanh trên 90 lần/phút, cho thấy tần suất cao của triệu chứng này Ngoài ra, 91,9% bệnh nhân thường xuyên cảm thấy mệt mỏi, ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống Khoảng 75,7% bệnh nhân gặp phải các vấn đề về ăn uống kém, mất ngủ, làm trầm trọng thêm tình trạng sức khỏe Một tỷ lệ nhỏ hơn, 18,9% bệnh nhân, xuất hiện sốt trong quá trình theo dõi Cuối cùng, có 5,4% bệnh nhân có các triệu chứng toàn thân khác đi kèm, cho thấy mức độ đa dạng và phức tạp của các biểu hiện lâm sàng.
Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ các chi bị bệnh
Có tới 75,7 % BN bị chân trái, 13,5 % bị chân phải, và 10,8% số BN bị bệnh cả hai chân
Sốt Ăn kém, mất ngủ
3.2.2 Đặc điểm các cận lâm sàng
Bảng 3.10 Số lần làm D-Dimer
Số lần làm D-Dimer Số trường hợp Tỷ lệ %
Chỉ có 8 BN đƣợc làm D-Dimer giúp chẩn đoán chiếm 21,6% và chỉ làm 1 lần Còn lại 78,4% không có làm D-Dimer
Bảng 3.11 Tỷ lệ làm D-Dimer dương tính
D-Dimer Số trường hợp Tỷ lệ
Xét nghiệm D-Dimer dương tính 85,7%, còn lại 14,3% là âm tính
Bảng 3.12 Số lần Doppler để chẩn đoán (+)
Số lần Số trường hợp Tỷ lệ %
Tất cả 100% bệnh nhân VTTM đều được thực hiện siêu âm mạch máu để chẩn đoán chính xác Trong đó, có đến 86,5% bệnh nhân được xác định nguyên nhân trong lần siêu âm đầu tiên, giúp đánh giá hiệu quả và hướng điều trị phù hợp Chỉ có 5 bệnh nhân cần thực hiện siêu âm lần hai để xác định lại chẩn đoán, đảm bảo quá trình chẩn đoán chính xác và tối ưu hóa chăm sóc bệnh nhân.
Bảng 3.13 Hệ tĩnh mạch bị tắc
Hệ tĩnh mạch bị tắc Số trường hợp Tỷ lệ %
Cả hệ nông và sâu 12 32,4
100% số BN có tắc tĩnh mạch sâu
67,6% chỉ tắc hệ tĩnh mạch sâu, có 32,4% BN có tắc cả hệ tĩnh mạch sâu và hệ tĩnh mạch nông Không có tắc hệ tĩnh mạch nông đơn thuần
Chúng tôi ghi nhận các vị trí tắc nhƣ sau:
Biểu đồ 3.8 Vị trí đoạn tắc trên siêu âm Doppler
Phân tích cho thấy đa số bệnh nhân gặp phải tắc mạch ở đoạn từ chậu bẹn đến khoeo với tỷ lệ 35,1%, tiếp theo là đoạn từ đùi đến khoeo chiếm 24,3%, trong khi đó tắc mạch ở đoạn bẹn đến đùi chiếm 16,2%, còn đoạn cẳng chân chỉ chiếm 29,7% Điều này cho thấy các khu vực này đều có nguy cơ cao bị tắc mạch, đặc biệt là đoạn từ chậu bẹn đến khoeo Hiểu rõ về phân bố tắc mạch giúp định hướng chẩn đoán và điều trị hiệu quả cho bệnh nhân.
Có tới 32,4% có tắc kèm tĩnh mạch nông
40 Đoạn từ chậu bẹn đến đùi Đoạn từ chậu bẹn đến khoeo Đoạn từ đùi đến khoeo
Tắc tĩnh mạch nông kèm theo Đoạn cẳng chân
Bảng 3.14 Vị trí tắc trên siêu âm
Vị trí tắc Số trường hợp Tỷ lệ %
Tắc đoạn gần và đoạn xa 11 29,7
100% trường hợp tắc đoạn gần, 29,7% tắc đoạn gần và đoạn xa tĩnh mạch
Echo huyết khối Số trường hợp Tỷ lệ %
Có tới 67,6% huyết khối có echo kém, 32,4% huyết khối có echo hỗn hợp, không có trường hợp nào huyết khối có echo dày
Bảng 3.16 Nghiệm pháp đè ép tĩnh mạch
Nghiệm pháp đè ép Số trường hợp Tỷ lệ % Đè ép không xẹp 32 86,5 Đè ép xẹp 5 13,5
Nghiệm pháp đè ép tĩnh mạch trên siêu âm có xẹp 13,5%, không xẹp 86,5%
Bảng 3.17 Huyết khối động mạch cùng bên chi bệnh
Huyết khối động mạch cùng bên chi bệnh Số trường hợp Tỷ lệ %
10,8% BN có huyết khối động mạch cùng bên chi bệnh lúc phát hiện VTTM.
Đặc điểm yếu tố liên quan
3.3.1 Các yếu tố liên quan
Bảng 3.18 Yếu tố liên quan
Yếu tố liên quan Số trường hợp Tỷ lệ %
Phẫu thuật chỉnh hình chi dưới gần đây 3 8,1
Sử dụng ống thông tĩnh mạch 0 0
Tiền sử viêm tắc tĩnh mạch 3 8,1
Nghề nghiệp đứng lâu, ít vận động 2 5,4
Sử dụng thuốc ngừa thai, estrogen 5 13,5
Tình trạng khác: Chấn thương cẳng chân 1 2,7
Trong các yếu tố liên quan đến tình trạng bất động, tỷ lệ cao nhất là 16,2%, chiếm trọng số lớn trong các nguyên nhân, tiếp theo là các yếu tố như sử dụng thuốc ngừa thai, hút thuốc lá, và suy tĩnh mạch đều chiếm cùng tỷ lệ 13,5% Bệnh nội khoa cấp chiếm 10,8%, gần đây phẫu thuật chỉnh hình chi dưới và tiền sử VTTM đều chiếm 8,1% Ngoài ra, ung thư, nghề nghiệp đứng lâu, ít vận động và sử dụng thuốc trị K lần lượt chiếm 5,4%, 5,4% và 2,7% Các yếu tố khác cũng góp phần nhỏ vào tổng thể ảnh hưởng đến tình trạng này với tỷ lệ 2,7%.
Không có trường hợp nào sử dụng ống thông tĩnh mạch, mang thai
Bảng 3.19 Số lƣợng các yếu tố liên quan
Số yếu tố Số trường hợp Tỷ lệ %
Khoảng 40,6% bệnh nhân không phát hiện được yếu tố liên quan nào đến bệnh, trong khi đó, 59,4% bệnh nhân có yếu tố liên quan Trong số này, yếu tố liên quan duy nhất chiếm tỷ lệ cao nhất là 35,1%, còn yếu tố liên quan thứ hai là 16,2% Chỉ có 8,1% bệnh nhân có hơn hai yếu tố liên quan, cho thấy đa số bệnh nhân có ít yếu tố liên quan đến bệnh của họ.
3.3.2 Các bệnh nội khoa kèm theo
Bảng 3.20 Đái tháo đường, tăng huyết áp, rối loạn lippid máu
Bệnh nội khoa kèm theo Số trường hợp Tỷ lệ % Đái tháo đường 12 32,4
Có tới 32,4% số BN có đái tháo đường, 45,9% có kèm tăng huyết áp, 35,1% có rối loạn lippid máu kèm theo.
Đánh giá kết quả điều trị
3.4.1 Các biện pháp điều trị
Các bệnh nhân của chúng tôi đã được áp dụng các phương pháp điều trị hiệu quả như kê cao chân, sử dụng băng thun, thuốc chống đông máu như LMWH và thuốc kháng vitamin K, cũng như các phương pháp phẫu thuật Những phương pháp này mang lại kết quả tích cực trong quá trình điều trị, giúp cải thiện tình trạng sức khỏe của bệnh nhân Việc áp dụng đa dạng các biện pháp điều trị này đảm bảo tối ưu hóa khả năng hồi phục và giảm thiểu các biến chứng liên quan.
Bảng 3.21 Các biện pháp điều trị
Các biện pháp điều trị Số trường hợp áp dụng Tỷ lệ %
Kê cao chân tại giường 36 97,3
Kiểm tra INR, công thức máu 35 94,6
Các biện pháp được dùng là: kê cao chân tại giường 97,3%, dùng thuốc kháng vitamin K 89,2%, LMWH 94,6% Dùng băng thun, vớ 21,6%
Có 89,2% BN đƣợc kiểm tra INR, công thức máu
Chỉ có 2 trường hợp điều trị phẫu thuật chiếm 5,4%
Thời gian điều trị trung bình: 10,27 ngày Độ lệch chuẩn: 5,54 ngày
Thời gian điều trị ngắn nhất: 3 ngày
Thời gian điều trị dài nhất: 28 ngày
3.4.3 Các biến chứng do viêm tắc tĩnh mạch
Trong 37 BN của chúng tôi ghi nhận 4 BN có biến chứng huyết khối lan rộng làm hoại tử chi
Biểu đồ 3.9 Tỷ lệ biến chứng do viêm tắc tĩnh mạch
Có tới 10,8% biến chứng huyết khối lan rộng gây hoại tử chi
Biến chứng hoại tử chi Không biến chứng
3.4.4 Các biến chứng do điều trị
Trong quá trình điều trị chúng tôi ghi nhận có biến chứng chảy máu gồm: tụ máu nơi tiêm chích, chảy máu răng miệng, rong kinh nhƣ sau:
Bảng 3.22 Các biến chứng do điều trị
Biến chứng Số trường hợp Tỷ lệ %
Tụ máu nơi tiêm chích 9 24,3
Tụ máu nơi tiêm chích là biến chứng gặp nhiều 24,3%, tiếp đến là chảy máu răng miệng 5,4% và rong kinh là 5,4%
Thống kê lại chúng tôi có kết quả nhƣ sau:
Bảng 3.23 Đánh giá kết quả điều trị
Nội dung Số trường hợp Tỷ lệ %
Kết quả điều trị khi ra viện
Chỉ có 37,8% BN là có kết quả điều trị tốt, có tới 48,6% chỉ đạt kết quả trung bình Tới 13,5% BN điều trị không kết quả
Biểu đồ 3.10 Tỷ lệ tử vong
Có tới 10,8% BN tử vong trong nghiên cứu
Biểu đồ 3.11 Tỷ lệ các triệu chứng còn khi ra viện
Số BN không còn triệu chứng khi ra viện là 45,5%
Có tới 48,5% BN còn đau chân, 6% còn tê chân khi ra viện
Tử vong Không tử vong
Tê chân Đau chânKhông còn triệu chứng
BÀN LUẬN
Đặc điểm dân số nghiên cứu
Trong nghiên cứu của chúng tôi, độ tuổi từ 30 đến 65 chiếm tỷ lệ cao nhất là 59,5%, trong khi độ tuổi dưới 30 chỉ chiếm ít nhất 5,4% Tuổi trung bình mắc bệnh của chúng tôi là 59,7 ± 15,4, có sự khác biệt có ý nghĩa so với nghiên cứu của Hồ Khánh Đức và cộng sự (2012) với tuổi trung bình 50,72 tuổi (p=0,001, khoảng tin cậy 95%), nhưng không khác biệt so với nghiên cứu của Nguyễn Trung Hiếu và cộng sự (2009) với tuổi trung bình 63,09 ± 19,06 tuổi (p=0,193, khoảng tin cậy 95%).
Nghiên cứu của Richard H White cho thấy tỷ lệ VTTM tăng theo tuổi, nhưng kết quả của chúng tôi lại ghi nhận tỷ lệ VTTM trên nhóm tuổi trên 65 là 35,1%, thấp hơn so với 59,5% của nhóm từ 30 đến 65 tuổi Tuy nhiên, do nghiên cứu của ông dựa trên tỷ lệ trong dân số chung với mẫu rộng hơn, nên không thể so sánh trực tiếp kết quả này Chúng tôi hy vọng các nghiên cứu tiếp theo với mẫu lớn hơn sẽ xác định rõ hơn mối liên hệ giữa tuổi và VTTM.
Bảng 4.1 Tỷ lệ viêm tắc tĩnh mạch trong dân số theo nhóm tuổi [39]
Nhóm tuổi Tỷ lệ trong dân số
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ mắc bệnh ở nữ là 78,4%, cao hơn so với tỷ lệ 60,77% nữ mắc bệnh được báo cáo trong nghiên cứu của Huỳnh Thị Thanh Trang và cộng sự (2011) Sự khác biệt này mang ý nghĩa thống kê (χ² = 4,812, p = 0,028), cho thấy phụ nữ có nguy cơ mắc bệnh cao hơn đáng kể trong các nghiên cứu so sánh.
Nghiên cứu của Richard H White cho thấy tỷ lệ nam nữ không có sự khác biệt rõ ràng Tuy nhiên, giữa người châu Á và phương Tây có sự khác biệt về các yếu tố liên quan đến giới, như nữ châu Á ít hút thuốc hơn, mang thai và sinh đẻ nhiều hơn, dễ mắc các bệnh mãn tính hơn nam giới, và trình độ hiểu biết về bệnh và phòng ngừa còn hạn chế Những yếu tố này được xem là nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt về tỷ lệ giới trong các nghiên cứu Tuy nhiên, do mẫu nghiên cứu của chúng tôi nhỏ, chưa phản ánh đầy đủ dân số, cần các nghiên cứu quy mô lớn hơn để xác định chính xác tỷ lệ nam nữ liên quan đến các yếu tố sức khỏe và lối sống.
Dân tộc Kinh chiếm 91,9% trong dân số của chúng tôi, chủ yếu do dân tộc Kinh chiếm khoảng 86% dân số cả nước và tập trung đông đảo tại các vùng đồng bằng, đặc biệt là Đồng bằng sông Cửu Long, nơi dân tộc Kinh chiếm đa số Tỷ lệ này phù hợp với các nghiên cứu của Huỳnh Văn Ân về đặc điểm dân tộc của Việt Nam.
(2009), trong đó tỷ lệ người kinh chiếm 98% [18]
4.1.4 Địa dƣ và nghề nghiệp
Trong số bệnh nhân, tỷ lệ người có địa chỉ tại khu vực nông thôn chiếm đến 89,2%, chủ yếu do đồng bằng sông Cửu Long chủ yếu là vùng nông thôn Điều này cũng lý giải tại sao 54,7% bệnh nhân làm nông và nội trợ, phản ánh rõ đặc thù của khu vực nông thôn trong cơ cấu nghề nghiệp và đời sống hàng ngày.
Hầu hết bệnh nhân thuộc nhóm lao động chân tay, chiếm tỷ lệ 97,2%, phản ánh đặc điểm công việc và điều kiện sống của nhóm này Trong khi đó, chỉ có một bệnh nhân là giáo viên thuộc nhóm lao động trí óc, điều này rõ ràng liên quan chặt chẽ đến địa chỉ cư trú của bệnh nhân.
Chúng tôi phân chia dân số nghiên cứu thành hai nhóm: có béo phì và không béo phì, dựa trên phương pháp phân loại béo phì của tác giả Nguyễn Văn Tuấn (2010)[24], nhằm đảm bảo tính chính xác trong việc xác định mức độ béo phì của từng đối tượng nghiên cứu.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 37 bệnh nhân gồm 17 bệnh nhân béo phì (chiếm 45,9%) và 20 bệnh nhân không béo phì (chiếm 54,1%), cho thấy tỷ lệ béo phì cao hơn nhiều so với các nghiên cứu trước đây như của Nguyễn Văn Trí (2010) với tỷ lệ 3,1% và của Huỳnh Văn Ân (2009) với 9% Sự khác biệt này có thể giải thích bằng hai yếu tố chính: thứ nhất, cách phân loại và tiêu chuẩn chẩn đoán béo phì của chúng tôi khác với các tiêu chuẩn trước đó, trong đó tiêu chuẩn chẩn đoán béo phì cho người Việt thấp hơn; thứ hai, phương pháp chọn mẫu thuận tiện với quy mô nhỏ của chúng tôi cũng góp phần làm tỷ lệ béo phì dường như cao hơn Béo phì là một yếu tố liên quan đã được chứng minh trong các nghiên cứu y học.
Theo nghiên cứu của Margaret A Allman-Farinelli (2011), béo phì làm tăng nguy cơ mắc huyết khối tĩnh mạch sâu, với tỷ lệ lần lượt là 1,97 ở nam và 2,29 ở nữ Khi chỉ số BMI đạt hoặc vượt mức 30, nguy cơ này tăng lên đến 2,39 lần, cho thấy mối liên hệ rõ ràng giữa béo phì và các vấn đề về huyết khối tĩnh mạch sâu.
Theo Mary Cushman (2007), béo phì làm tăng nguy cơ mắc các bệnh liên quan lên gấp 2 đến 3 lần ở nam giới và 7,24 đến 26 lần ở phụ nữ Khi béo phì nặng (BMI từ 40 trở lên) đi kèm, mức nguy cơ này còn cao hơn nữa, cho thấy tầm quan trọng của việc kiểm soát cân nặng để giảm thiểu các rủi ro sức khỏe liên quan.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, không thể xác định rõ mối liên hệ giữa béo phì và viêm tai giữa mạn tính (VTTM) Tuy nhiên, kết quả cho thấy 45,9% bệnh nhân VTTM có béo phì, điều này cho thấy cần phải xem xét kỹ hơn yếu tố béo phì như một yếu tố liên quan đến bệnh lý này để nâng cao hiểu biết và cải thiện các chiến lược phòng ngừa và điều trị.
4.1.6 Lý do và nguyên nhân vào viện
Trong y văn VTTM được phát hiện qua ba tình huống chính: có triệu chứng nghi ngờ, nghi ngờ tắc mạch phổi, hoặc qua khám xét hệ thống một cách có hệ thống Thông thường, các triệu chứng của VTTM khá mơ hồ hoặc không rõ ràng, với tỷ lệ cao Tuy nhiên, theo nghiên cứu của chúng tôi, đã ghi nhận rằng tới 89,2% các trường hợp VTTM được phát hiện qua các phương pháp này.
BN VTTM thường có các triệu chứng rõ ràng liên quan đến bệnh, trong khi một số ít trường hợp được phát hiện qua khám tổng quát khi có dấu hiệu nghi ngờ Các nguyên nhân phổ biến dẫn đến nhập viện bao gồm nhiễm trùng nặng (2,7%), bí tiểu do bướu tiền liệt tuyến (2,7%), suy thận mạn giai đoạn cuối (2,7%) và thiếu máu (2,7%) Hiện tại, chúng tôi chưa ghi nhận trường hợp nào nghi ngờ tắc mạch phổi hoặc phát hiện huyết khối ngẫu nhiên mà bệnh nhân không có triệu chứng rõ ràng.
4.1.7 Thời gian có triệu chứng và thời gian chẩn đoán
Hầu hết bệnh nhân đều có triệu chứng trước khi nhập viện, nhưng do chủ quan, nhiều người chỉ đi khám khi triệu chứng trở nên nặng hơn, dẫn đến trì hoãn trong việc chẩn đoán Thời gian trung bình từ khi triệu chứng bắt đầu đến khi được chẩn đoán là khoảng 8,35 ngày, nhưng có thể kéo dài đến 90 ngày, tạo ra trở ngại lớn cho việc điều trị sớm, ngăn ngừa biến chứng nặng và giảm khả năng thành công của liệu trình điều trị.
Lâm sàng, cận lâm sàng
Khám lâm sàng đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong chẩn đoán VTTM, giúp phát hiện các dấu hiệu đặc hiệu để xác định chính xác bệnh Các dấu hiệu lâm sàng sai lệch hoặc không rõ ràng có thể dẫn đến chẩn đoán sai, gây ra việc sử dụng thuốc kháng đông không phù hợp hoặc bỏ sót chẩn đoán, từ đó gây nguy cơ biến chứng thuyên tắc phổi Do đó, việc nhận biết các dấu chứng lâm sàng gợi ý chẩn đoán VTTM là rất cần thiết để đảm bảo điều trị đúng đắn và giảm thiểu rủi ro.
Trong kết quả nghiên cứu của chúng tôi, hiện tượng phù chân xuất hiện ở 100% các trường hợp, kèm theo đó là cảm giác đau và sờ da nóng với tỷ lệ lần lượt là 89,2% và 97,3% Những số liệu này được so sánh với nghiên cứu của Hồ Khánh Đức, cho thấy mức độ phổ biến và các triệu chứng liên quan đều tương đồng hoặc cao hơn, góp phần làm rõ đặc điểm lâm sàng của bệnh lý.
(2012) với tỷ lệ lần lƣợt là 96,8%, 96,8% và 100%[10], chúng tôi thấy triệu chứng đau có sự khác biệt (χ 2 = 6,919, p= 0,009)
Trong các triệu chứng đau, chúng tôi phân chia theo vị trí như sau: đau bẹn, đau đùi, đau khoeo, đau bắp chân, đau cổ chân, đau bàn chân Các trường hợp đau ở bẹn và đùi trên thường có xác định bằng siêu âm là tắc đoạn chậu bẹn đến đùi Đau ở khoeo thường liên quan đến tắc đoạn từ đùi đến khoeo, trong khi các trường hợp đau ở bắp chân và bàn chân thường do tắc ở đoạn cẳng chân.
Chúng tôi nhận thấy có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ các triệu chứng như đau bẹn (32,4% so với 2,1%), đỏ da (86,5% so với 7,4%), giãn tĩnh mạch nông (40,5% so với 15,8%) và tê chân (94,6% so với 10,5%) giữa nghiên cứu của chúng tôi và nghiên cứu của Hồ Khánh Đức, với các giá trị p < 0,001 thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê rõ rệt.
Các triệu chứng đau, tê chân của bệnh nhân thường mang tính chủ quan, dẫn đến việc đo lường độ chính xác của các triệu chứng này gặp giới hạn Theo Victr F Tapson và các cộng sự, việc đánh giá chính xác các triệu chứng này là thách thức do tính chất cá nhân và khó kiểm soát của chúng.
Đau bắp chân có độ nhạy từ 66-91% và độ đặc hiệu từ 3-87%, trong khi phù chân có độ nhạy từ 35-97% và độ đặc hiệu từ 8-88%, đòi hỏi phải chẩn đoán phân biệt chính xác với các nguyên nhân khác như tổn thương gân cơ, bệnh xương khớp, rối loạn thần kinh Phù chi cũng có thể liên quan đến các bệnh lý như viêm xương khớp, phù bạch huyết, rối loạn mỡ máu, chèn ép tĩnh mạch do bệnh lý hạch bạch huyết, ung thư vùng chậu hoặc suy tim phải Do đó, chẩn đoán phân biệt kịp thời và chính xác là yếu tố quan trọng trong quản lý lâm sàng của các triệu chứng này.
BN có triệu chứng trên, và cần cảnh giác để kịp thời phát hiện VTTM sớm
Các dấu hiệu có thể xuất hiện riêng lẻ hoặc kết hợp với nhau, và khi chúng xuất hiện cùng nhau, khả năng chẩn đoán chính xác sẽ cao hơn Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có đến 48,6% trường hợp có sự xuất hiện của các dấu hiệu này, giúp nâng cao hiệu quả trong quá trình chẩn đoán bệnh.
BN thường có 5 triệu chứng tại chỗ, với hơn 97,3% bệnh nhân có từ 4 triệu chứng trở lên và 100% trong nghiên cứu có từ 3 triệu chứng trở lên, cho thấy triệu chứng VTTM khá phong phú và thường xuất hiện đồng thời Các triệu chứng phổ biến bao gồm phù chân, sờ nóng da, đau chân, đỏ da và tê chân, phản ánh sự đa dạng và liên quan giữa các biểu hiện của bệnh.
Bảng 4.2 Tỷ lệ chi bệnh
Chi bị bệnh Nghiên cứu của chúng tôi
Nghiên cứu của Hồ Khánh Đức và Nguyễn Ngọc Bình[10]
Nghiên cứu của Nguyễn Trung Hiếu và Nguyễn Văn Trí[11]
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ huyết khối mạch máu chân trái cao hơn gấp 5,6 lần so với chân phải, phù hợp với các nghiên cứu quốc tế phản ánh rằng chân trái có khả năng mắc bệnh cao hơn gấp 2-3 lần Vị trí huyết khối phổ biến nhất là từ tĩnh mạch khoeo, tĩnh mạch đùi và chậu, chiếm trên 50%, do huyết khối thường bắt đầu từ tĩnh mạch khoeo và lan dần về trung tâm Tỷ lệ huyết khối tĩnh mạch gần trung tâm, như tĩnh mạch chậu bẹn, cũng khá cao với 51,3%, làm tăng nguy cơ thuyên tắc phổi nếu không điều trị kịp thời Theo các nghiên cứu, huyết khối tĩnh mạch sâu gần trung tâm có nguy cơ thuyên tắc phổi từ 40-50%, trong khi huyết khối xa hơn có nguy cơ thấp hơn, dưới 4% Nguyên nhân chính khiến tĩnh mạch chân trái mắc huyết khối nhiều hơn là do đường đi chéo của mạch chậu phía trái và lưu lượng máu chậm hơn vì nằm sau xương chậu Ngoài ra, phần lớn bệnh nhân thuận chân phải, vận động chân phải nhiều hơn cũng góp phần vào tỷ lệ huyết khối chân trái cao hơn, mặc dù cần nghiên cứu với mẫu lớn hơn để xác định chính xác Chúng tôi cũng ghi nhận 4 trường hợp biểu hiện tím và lạnh chi, cho thấy các triệu chứng của hoại tử chi.
Trong bốn trường hợp, có hai trường hợp nổi các bóng nước chứa dịch trong do bệnh nhân đến trễ khi tình hình bệnh diễn tiến nặng, làm tăng nguy cơ biến chứng Các trường hợp này đã phải đối mặt với những biến chứng nghiêm trọng như hoại tử chi trên, buộc phải tiến hành phẫu thuật đoạn chi để cứu tính mạng bệnh nhân Ngược lại, hai trường hợp còn lại không thể thực hiện phẫu thuật do bệnh lý nội khoa phức tạp, gây khó khăn trong điều trị và làm giảm khả năng phục hồi Việc chủ động khám và điều trị sớm đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu các biến chứng nặng nề của bệnh.
1 trường hợp khác bị sạm da, dầy sừng hoá do suy tĩnh mạch mạn tính
Ngoài các triệu chứng tại chỗ, nhiều bệnh nhân còn xuất hiện các triệu chứng toàn thân như mạch nhanh trên 90 lần/phút (89,2%), sốt (18,9%), mệt mỏi (91,9%) và ăn kém hơn bình thường (75,7%) Những dấu hiệu này, mặc dù không đặc hiệu cho VTTM, nhưng phản ánh tình trạng viêm và đáp ứng toàn thân, đồng thời có thể liên quan đến các bệnh lý khác hoặc phối hợp Do đó, cần cảnh giác và theo dõi các triệu chứng toàn thân để chẩn đoán chính xác và xử lý kịp thời.
Chúng tôi chưa ghi nhận trường hợp nào có triệu chứng nghi ngờ tắc mạch phổi mặc dù tỷ lệ tắc mạch phổi do VTTM sâu là rất cao 70- 90%[5]
D-Dimer là test nhanh có thể phát hiện đƣợc sự hiện diện của huyết khối trong cơ thể BN Theo y văn nước ngoài, nồng độ D-Dimer tăng ở gần như tất cả những
Xét nghiệm D-Dimer chủ yếu có giá trị trong việc loại trừ chẩn đoán huyết khối tắc mạch, đặc biệt ở các bệnh nhân có nguy cơ cao như BN bị thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch, bệnh tim phổi, bệnh lý ác tính, sau chấn thương, phẫu thuật, có thai hoặc trên 80 tuổi Khi nồng độ D-Dimer dưới 500 ng/ml, khả năng âm tính dự đoán huyết khối có thể đạt tới 95%, tuy nhiên mức trên 500 ng/ml không rõ ràng trong chẩn đoán xác định Trong nghiên cứu của chúng tôi, 87,5% các trường hợp có kết quả D-Dimer dương tính phù hợp với hình ảnh siêu âm, trong khi còn lại 12,5% có kết quả âm tính nhưng siêu âm lại xác định có huyết khối Các tác giả như Đặng Vạn Phước và cộng sự nhận định siêu âm màu Doppler là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán VTTM, với ngưỡng D-Dimer ≥ 500 ng/ml có độ nhạy 77,8%, độ đặc hiệu 42,8%, giá trị dự đoán dương 33,2% và giá trị dự đoán âm 84,1% Do đó, D-Dimer chủ yếu hỗ trợ loại trừ huyết khối, còn chẩn đoán chính xác cần dựa vào siêu âm Doppler màu.
Trong nghiên cứu, tất cả các trường hợp đều được chẩn đoán bằng siêu âm Doppler màu, phương pháp cận lâm sàng không xâm lấn, dễ thực hiện và chính xác nhưng phụ thuộc vào kinh nghiệm của người thực hiện Kết quả cho thấy, lần siêu âm đầu có 86,5% bệnh nhân xác định có huyết khối, và lần thứ hai giảm còn 13,5%, so sánh với nghiên cứu của Huỳnh Văn Ân và Ngô Văn Thành, tỷ lệ huyết khối lần đầu là 65,1% và lần hai là 34,9%, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (χ²=7,449, p=0,006) Trong khi đó, nghiên cứu của Nguyễn Văn Trí và cộng sự cho thấy tỷ lệ huyết khối qua siêu âm lần một là 80% và lần hai là 20% trong nhóm có VTTM, không có sự khác biệt ý nghĩa (χ²=0,973, p=0,324) Các tác giả nước ngoài cũng cho rằng tỷ lệ huyết khối sẽ tăng theo thời gian, khoảng 50% trong tuần đầu tiên và gần 80% vào tuần thứ hai Jack L Cronenwett và cộng sự đề cập rằng khoảng một nửa số huyết khối phát triển trong phẫu thuật chi dưới trong phòng mổ, phần còn lại có thể xảy ra trong 3-5 ngày tới, cho thấy tỷ lệ huyết khối trên siêu âm sẽ tăng theo thời gian diễn tiến bệnh.
Về vị trí tắc chúng tôi so sánh kết quả của chúng tôi với kết quả nghiên cứu của Hồ Khánh Đức và cộng sự [10] nhƣ sau:
Kết quả tắc tĩnh mạch từ đoạn chậu đến đùi của chúng tôi chiếm tỷ lệ 16,2%, trong khi cộng sự của Hồ Khánh Đức là 11,6%, với sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (χ² = 0,769, p = 0,381) Tắc đoạn từ chậu đến khoeo của chúng tôi là 35,1%, còn của họ là 39%, cũng không có sự khác biệt ý nghĩa (χ² = 0,232, p = 0,630) Tắc đoạn từ đùi đến khoeo có tỷ lệ gần như nhau, 24,3% so với 24,2%, mà không khác biệt thống kê đáng kể (χ² < 0,001, p = 0,986) Tuy nhiên, có tới 32,4% các trường hợp kèm tắc tĩnh mạch nông của chúng tôi, so với 11,6% của đối tượng nghiên cứu, trong đó sự khác biệt này mang ý nghĩa thống kê rõ ràng (χ² = 15,659, p < 0,001) Phân bố huyết khối tĩnh mạch chi dưới chủ yếu tập trung ở các tĩnh mạch đoạn gần như đùi chung, đùi nông, đùi sâu và khoeo, chủ yếu hình thành ở đoạn gần có thể do hai nguyên nhân chính: kích thước lớn của các tĩnh mạch dễ phát hiện huyết khối qua siêu âm, hoặc huyết khối từ đoạn xa phát triển lên Thực tế, tỷ lệ huyết khối tĩnh mạch sâu đoạn xa cao hơn nhiều so với kết quả siêu âm, trong khi trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ tắc đoạn gần đạt 100%, với tới 29,7% có tắc cả đoạn gần và đoạn xa.