TỔNG QUAN
Đặc điểm giải phẫu niệu đạo nam
Niệu đạo (urethra) là ống dẫn nước tiểu từ bàng quang ra ngoài cơ thể Ở nam giới, niệu đạo có vai trò kép, vừa là đường dẫn nước tiểu, vừa là đường xuất tinh Trong khi đó, niệu đạo ở nữ giới có cấu trúc đơn giản hơn, chỉ chịu trách nhiệm dẫn nước tiểu ra ngoài Hiểu rõ về cấu tạo và chức năng của niệu đạo giúp nhận biết các vấn đề liên quan đến tiết niệu và sinh dục.
1.1.1.1 Đường đi: Niệu đạo bắt đầu từ cổ bàng quang ở lỗ niệu đạo trong (cách chỗ giữa gồ mu 3cm về phía sau) đi thẳng xuống dưới xuyên qua tiền liệt tuyến, sau đó đi qua hoành chậu và hoành niệu dục, cong ra trước và lên trên ôm lấy bờ dưới khớp mu (cách bờ này 1,5cm) rồi đi vào gốc và thân dương vật tới đỉnh của quy đầu
Niệu đạo là bộ phận giải phẫu gồm ba đoạn chính: đoạn tiền liệt, đoạn màng và đoạn xốp Trong sinh lý học, người ta phân chia niệu đạo thành hai phần chính: niệu đạo sau gồm đoạn tiền liệt và đoạn màng; trong khi đó, niệu đạo trước là đoạn xốp, đảm nhận vai trò quan trọng trong quá trình bài tiết và sinh lý tiết niệu.
Về phương diện phẫu thuật người ta chia niệu đạo thành 2 đoạn:
- Đoạn cố định: gồm đoạn tiền liệt, đoạn màng và phần niệu đạo xốp từ niệu đạo màng đến dây treo dương vật
- Đoạn di động: là phần niệu đạo xốp được giới hạn từ dây treo dương vật tới lỗ niệu đạo ngoài
Khi dương vật mềm, niệu đạo dài khoảng 16cm Trong đó đoạn tiền liệt dài khoảng 2,5 – 3cm, đoạn màng dài khoảng 1,2cm và đoạn xốp khoảng 12cm
Trong quá trình đi tiểu, niệu đạo có hình dạng gồm một khe thẳng dọc ở đầu dương vật, hình chữ T ngược trong thân dương vật, và khe ngang ở đoạn màng, cong ra sau ở đoạn tiền liệt Niệu đạo nở thành một ống thông không đều với 3 đoạn phình (hố thuyền, đoạn niệu đạo ở hành dương vật, xoang tiền liệt) và 4 đoạn hẹp (lỗ niệu đạo ngoài, đoạn niệu đạo trong vật xốp, đoạn niệu đạo màng, đoạn niệu đạo ở cổ bàng quang) Tuy nhiên, niệu đạo có thể được nong rộng và kéo dài thành một ống thẳng khi thông niệu đạo bằng ống thông sắt, giúp việc chẩn đoán và điều trị các bệnh liên quan dễ dàng hơn.
Niệu đạo đoạn qua tuyến tiền liệt chạy thẳng xuống dưới, hơi cong lõm ra trước, không theo trục của tuyến Trong khi đó, trục của tuyến tiền liệt chạy chếch xuống dưới và ra trước Do đó, niệu đạo và trục tuyến tiền liệt bắt chéo ở phía dưới gần đỉnh tuyến, khiến phần lớn niệu đạo nằm ở phía trước trục tuyến, chỉ có một phần nhỏ của tuyến nằm trước niệu đạo.
Niệu đạo màng chạy từ đỉnh tiền liệt tuyến tới hành dương vật, đi qua các hoành chậu và hoành niệu dục, được bảo vệ bởi cơ thắt vân niệu đạo nằm trong hoành niệu dục Khi ra khỏi hoành niệu dục, thành sau niệu đạo tiếp xúc trực tiếp với vật xốp, trong khi thành trước còn một phần ngoài vật xốp, dễ bị thủng khi thông niệu đạo bằng ống thông sắt Phía trước, niệu đạo liên quan với đám rối tĩnh mạch bàng quang, và đoạn màng dễ bị tổn thương khi ngã kiểu ngồi ngựa Ngoài ra, do liên quan với mạc đáy chậu giữa và xương chậu, niệu đạo màng có thể bị đứt khi gặp chấn thương gãy xương chậu, gây các biến chứng nghiêm trọng.
Niệu đạo đoạn xốp liên quan chủ yếu với vật xốp ở xung quanh
1.1.3 Cấu trúc của thành niệu đạo
Thành niệu đạo được cấu tạo bởi 2 lớp:
1.1.3.1 Lớp niêm mạc: rất chun giãn nên có thể căng ra khi đi tiểu hay nong niệu đạo Nhưng cũng vì đặc tính này mà khi niệu đạo bị đứt, hai đầu tách xa nhau làm nước tiểu dễ bị ngấm vào mô xung quanh và phẫu thuật viên khó tìm hai đầu đứt để nối lại Niêm mạc có nhiều tuyến niệu đạo, tiết ra một chất làm trơn lòng niệu đạo Các tuyến này có khi nằm sâu ở đáy các hốc niệu đạo, nên khi bị viêm niêm mạc niệu
Hình 1.1: Giải phẫu học niệu đạo nam
Theo Atlas Giải phẫu người của Frank H Netter (2009), viêm niệu đạo có thể trở thành mãn tính, gây hẹp niệu đạo do lớp niêm mạc thay đổi thành các hang tĩnh mạch, đặc biệt ở đoạn niệu đạo dương vật, biến đổi thành dạng vật xốp.
1.1.3.2 Lớp cơ: gồm các thớ cơ dọc ở trong và cơ vòng ở ngoài Lớp cơ dọc đoạn tiền liệt và đoạn màng là sự tiếp nối với lớp cơ bàng quang ở phía trên Lớp cơ vòng ở cổ bàng quang dầy lên và tạo nên một cấu trúc có chức năng như một cơ thắt giúp cho nước tiểu được giữ trong bàng quang giữa hai lần đi tiểu Vì cấu trúc này ở trên lỗ phóng tinh, nên khi giao hợp, tinh dịch không trào ngược lên bàng quang mà chỉ có thể xuống dương vật và được phóng ra ngoài
- Đoạn tiền liệt: được nuôi dưỡng bởi động mạch bàng quang dưới và động mạch trực tràng giữa
- Đoạn màng: được nuôi dưỡng bởi động mạch hành dương vật
- Đoạn xốp: được nuôi dưỡng bởi động mạch niệu đạo và một số nhánh của động mạch sâu dương vật
1.1.4.2 Tĩnh mạch: Máu tĩnh mạch dẫn từ các đoạn niệu đạo đổ về đám rối tĩnh mạch tuyến tiền liệt và tĩnh mạch thẹn trong
1.1.4.3 Bạch mạch: Bạch mạch từ niệu đạo tiền và đoạn màng đổ vào các hạch dọc động mạch thẹn trong rồi đổ vào các hạch dọc động mạch chậu trong Đối với đoạn xốp, hầu hết các bạch mạch đổ vào các hạch bẹn sâu, một số đổ vào các hạch dọc động mạch chậu ngoài
1.1.4.4 Thần kinh: Xuất phát từ đám rối tiền liệt và các nhánh của thần kinh thẹn.
Đặc điểm giải phẫu niệu đạo nữ
Niệu đạo nữ dài khoảng 3-4cm, bắt đầu từ lỗ niệu đạo trong ở cổ bàng quang và kết thúc tại lỗ niệu đạo ngoài ở âm hộ Niệu đạo nữ có cấu trúc tương tự như niệu đạo đoạn tiền liệt và đoạn màng ở nam giới, đảm nhận vai trò dẫn lưu nước tiểu ra ngoài cơ thể Hiểu về cấu trúc và vị trí của niệu đạo nữ giúp nâng cao nhận thức về sức khỏe tiết niệu phụ nữ và phòng ngừa các bệnh liên quan.
Lỗ niệu đạo ngoài là điểm hẹp nhất của niệu đạo, nằm giữa hai môi nhỏ, phía trước lỗ âm đạo và dưới sau âm vật Dòng chảy của nước tiểu đi qua lỗ niệu đạo ngoài trước khi ra khỏi cơ thể, đóng vai trò quan trọng trong hệ tiết niệu Trong quá trình đi qua, niệu đạo còn xuyên qua các hoành chậu và hoành niệu dục, có mối liên hệ chặt chẽ với các cấu trúc này Hiểu rõ vị trí và cấu trúc của lỗ niệu đạo ngoài giúp chẩn đoán và điều trị các vấn đề liên quan đến hệ tiết niệu hiệu quả hơn.
Hình thể trong: niêm mạc cũng có mào niệu đạo ở phía sau và những nếp dọc Ở gần lỗ niệu đạo ngoài, có hai lỗ thông của tuyến Skene
Mạch máu và thần kinh tương tự như ở nam.
Hẹp niệu đạo
1.3.1 Định nghĩa [29] Định nghĩa hẹp niệu đạo (urethral stricture) thường được dùng để nói tới hẹp niệu đạo trước, hay quá trình xơ hóa ảnh hưởng tới mô cương của thể xốp Mô cương thể xốp nằm ngay dưới lớp biểu mô của niệu đạo, trong vài trường hợp, quá trình xơ hóa lan rộng qua mô cương này tới những lớp mô xung quanh Sự co rút các mô sẹo làm giảm đi đường kính của niệu đạo (hình 1.2)
Xơ hóa thể xốp là quá trình tạo sẹo của thể xốp gần chỗ hẹp niệu đạo, gây ảnh hưởng lớn đến kết quả điều trị Khi điều trị hẹp niệu đạo, việc đánh giá mức độ xơ hóa thể xốp đóng vai trò quan trọng để xác định khả năng thành công của phẫu thuật tạo hình niệu đạo Hiểu rõ về xơ hóa thể xốp giúp các bác sĩ lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp, tăng khả năng phục hồi và giảm nguy cơ tái phát bệnh.
Hẹp niệu đạo sau thường không được coi là phần của định nghĩa chính xác về hẹp niệu đạo Đây là tình trạng tắc nghẽn niệu đạo do xơ hóa và đứt đoạn của niệu đạo sau, thường xảy ra sau chấn thương hoặc sau phẫu thuật tuyến tiền liệt.
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), thuật ngữ "hẹp niệu đạo" thường được sử dụng để chỉ các trường hợp liên quan đến niệu đạo trước, trong khi đó, các trường hợp đứt niệu đạo liên quan đến niệu đạo màng sau thường được gọi là contracture hoặc stenoses Tuy nhiên, trong tài liệu này, chúng tôi sử dụng khái niệm "hẹp niệu đạo" để đề cập đến cả niệu đạo trước và niệu đạo sau nhằm đảm bảo tính thống nhất trong quá trình trình bày.
1.3.2.1 Hẹp niệu đạo do di chứng của chấn thương niệu đạo [5],[9]
Nguyên nhân chấn thương từ bên trong khi đặt thông niệu đạo thường gặp nhất là do đặt ống thông lạc hướng, đặc biệt khi sử dụng ống cứng như ống nội soi bàng quang hoặc ống sắt Bèniqué Niệu đạo của nam giới có đoạn cong khoảng 90 độ tại vị trí nối giữa niệu đạo màng và hành niệu đạo, yêu cầu đầu ống thông phải đi sát thành trên niệu đạo để vượt qua đoạn cong này Sơ xuất trong quá trình đặt ống có thể khiến ống đi thẳng và đâm thủng niệu đạo ở phần niệu đạo hành Ngoài ra, việc sử dụng ống có kích thước lớn và áp sát vào thành niệu đạo có thể làm dịch tiết không thoát ra được qua miệng niệu đạo, gây chèn ép niêm mạc và dẫn đến các tổn thương hoại tử.
Nguyên nhân chủ yếu của chấn thương từ bên ngoài là do bệnh nhân ngã ngồi trên vật cứng, hai chân xoạc ra Tình huống điển hình là khi bị trượt ngã ngồi trên bờ thuyền hoặc cầu khỉ, niệu đạo bị kẹp giữa vật cứng phía dưới và vòm của khớp mu phía trên, gây tổn thương vùng tầng sinh môn, giữa bìu và hậu môn Chấn thương niệu đạo phần dương vật ít gặp hơn và thường xảy ra trong các trường hợp chấn thương trực tiếp.
Vỡ niệu đạo sau thường do chấn thương nặng gây gãy khung chậu gần khớp mu, thường gặp sau tai nạn giao thông hoặc bị vật lớn đè lên Thường xảy ra do đứt niệu đạo màng khi vỡ cung trước khung chậu hoặc toác khớp mu, gây đứt cân đáy chậu giữa Niệu đạo đi qua cân này cũng có thể bị kéo rách đứt hoàn toàn hoặc không hoàn toàn Tổn thương niệu đạo xảy ra ở khoảng 5% các trường hợp gãy khung chậu, đòi hỏi chẩn đoán và xử lý ngoài y học chính xác để tránh biến chứng.
Viêm nhiễm do lậu cầu khuẩn thường bắt nguồn từ niêm mạc niệu đạo và các ổ tuyến, trong đó viêm từ nang Morgani lan rộng gây xơ sẹo, chít hẹp niệu đạo nhiều vị trí Tình trạng này ảnh hưởng đến niệu đạo trước và niệu đạo màng, gây khó khăn trong việc lưu thông nước tiểu.
Hẹp niệu đạo do lao từ những tổn thương thận, bàng quang lan tới tuyến tiền liệt, niệu đạo hành
Nhiễm khuẩn bao quy đầu bị chít hẹp thường gây lây lan sang tuyến tiền liệt và niệu đạo, đặc biệt qua hoạt động giao hợp Các vi khuẩn phổ biến gây nhiễm trùng bao gồm Proteus mirabilis, Morgani, Enterobacter aerogenes, Clostridium, và Staphylococcus Hẹp niệu đạo do viêm nhiễm chủ yếu phát triển theo hướng ngược chiều, bắt nguồn từ các tác nhân bên ngoài vào trục niệu đạo, trừ trường hợp hẹp niệu đạo do lao.
1.3.2.3 Do điều trị gây nên
- Sau thông bàng quang lấy tháo nước tiểu (thường gặp ở các cơ sở điều trị hồi sức và tim mạch)
- Thông bàng quang nhiều lần do u xơ tiền liệt tuyến; hẹp, rối loạn vận động cổ bàng quang; bàng quang thần kinh
- Sau khi lấy sỏi niệu đạo làm tổn thương niêm mạc niệu đạo
- Hẹp niệu đạo tuyến tiền liệt sau mổ cắt u xơ tuyến tiền liệt
Theo nghiên cứu của Gheorghiu và cộng sự (2003), nguyên nhân hẹp niệu đạo do điều trị (iatrogenic stricture) chiếm 64,8% [18]
Nguyên nhân gây hẹp niệu đạo ở nữ giới vẫn chưa rõ ràng hoàn toàn Một số nghiên cứu cho rằng tình trạng này có thể xuất phát từ các điều trị y tế như sau phẫu thuật hoặc đặt sonde tiểu, trong khi đó, một số ý kiến khác lại cho rằng nguyên nhân liên quan đến viêm nhiễm hoặc chấn thương.
1.3.3 Lâm sàng hẹp niệu đạo
Hẹp niệu đạo thường gây ra các triệu chứng đặc trưng như đái khó, tia nước tiểu yếu dần, nhỏ giọt, và xoắn tia Người bệnh thường gặp khó khăn trong việc bắt đầu tiểu, thời gian đi tiểu kéo dài trên 30 giây đến 1 phút và có cảm giác muốn đi tiểu nhiều lần mà không hết Ngoài ra, kích thích rặn nhiều cũng là triệu chứng phổ biến của tình trạng này, ảnh hưởng rõ rệt đến chất lượng cuộc sống hàng ngày.
- Bí đái thực sự khi có bội nhiễm, sỏi kẹt chít hẹp hoàn toàn niệu đạo, bệnh nhân khó chịu, căng trướng bàng quang, vật vã cần tiểu tiện
Hỏi tiền sử và bệnh sử là bước quan trọng trong chẩn đoán hẹp niệu đạo, bao gồm các vấn đề như chấn thương, vết thương niệu đạo cũ, từng thực hiện phẫu thuật niệu đạo trước đó, hoặc các nhiễm trùng niệu đạo do lậu hoặc lao Trong khoảng 70-80% các trường hợp, nguyên nhân gây bệnh hẹp niệu đạo có thể được xác định dựa trên tiền sử bệnh lý này.
Thăm khám niệu đạo giúp phát hiện các thương tổn ngoài viêm, hẹp niệu đạo hoặc hẹp bao quy đầu, miệng sáo Khi thăm khám, có thể cảm nhận được những đoạn hoặc cục xơ cứng trên gốc dương vật, thể hiện các tổn thương cấu trúc Thông niệu đạo bằng ống thông Nelaton 18Ch giúp xác định mức độ hẹp niệu đạo, đặc biệt là những trường hợp thường không qua được ống thông Ở nữ giới, triệu chứng tắc nghẽn bàng quang thường ít gặp hơn (2-29%), với các dấu hiệu phổ biến gồm căng bàng quang, tia nước tiểu yếu, nhỏ giọt, và tái đi tái lại các viêm nhiễm đường tiết niệu.
Chụp niệu đạo bàng quang ngược dòng hay xuôi dòng vẫn còn được áp dụng để biết rõ vị trí hẹp, mức độ hẹp niệu đạo (hình 1.2)
Chụp niệu đồ tiêm tĩnh mạch để đánh giá ảnh hưởng hẹp niệu đạo đến chức năng thương tổn thận, niệu quản bàng quang
Chụp X quang niệu đạo khi tiểu tiện tư thế thẳng, nghiêng để phát hiện túi thừa bàng quang niệu đạo
Hẹp niệu đạo trước thường tập trung ở niệu đạo tầng sinh môn và niệu đạo hành, gây cản trở dòng chảy nước tiểu Trong khi đó, hẹp niệu đạo sau gồm hẹp niệu đạo màng và hẹp tuyến tiền liệt, là các vị trí quan trọng ảnh hưởng đến chức năng tiết niệu Hẹp niệu đạo có thể do lậu gây ra, với nhiều chỗ bị hẹp mức độ khác nhau, niêm mạc niệu đạo không còn nhẵn gọn mà thay vào đó là các thành hình chuỗi cứng, gây tắc nghẽn đáng kể.
Các thăm dò khác bao gồm đánh giá các thay đổi về niệu động học nhằm xác định tăng áp lực bàng quang và thành niệu đạo tại chỗ hẹp Đo lưu lượng nước tiểu là phương pháp quan trọng để đánh giá chức năng tiết niệu, trong đó nhận thấy khối lượng nước tiểu mỗi lần bị giảm, thời gian tiểu kéo dài và lưu lượng dòng nước tiểu giảm dưới 15ml/giây, phản ánh tình trạng tắc nghẽn hoàn toàn hoặc phần nào của đường tiết niệu.
Phương pháp xẻ lạnh qua nội soi
Cắt trong niệu đạo, còn gọi là nội soi mở rộng niệu đạo, là thủ thuật sử dụng nội soi để loại bỏ mô sẹo và mở rộng lòng niệu đạo bị hẹp Mục đích chính của phương pháp này là tăng đường kính của niệu đạo sau quá trình lành thương, giúp cải thiện chức năng tiết niệu và giảm các triệu chứng tắc nghẽn Phương pháp này đảm bảo an toàn, ít để lại sẹo, và thường mang lại kết quả khả quan cho bệnh nhân mắc hẹp niệu đạo.
Phương pháp xẻ lạnh là thủ thuật cắt trong niệu đạo dưới sự hướng dẫn của nội soi, sử dụng dao lạnh để mở rộng chỗ hẹp an toàn và chính xác Thủ thuật này thường thực hiện dưới gây tê tại chỗ hoặc toàn thân, và sau đó lưu thông tiểu trong vòng 3-5 ngày trước khi rút ống thông, mặc dù lưu ống lâu hơn không mang lại hiệu quả rõ rệt Xẻ tại vị trí 12 giờ thường được lựa chọn, mặc dù còn tranh cãi về lý do tại sao khu vực này ít gây tổn thương thần kinh hang hơn so với các vị trí khác như 5, 7, 3, 9, 11 và 1 giờ, vốn chứa các nhánh thần kinh quan trọng của niệu đạo Khi thể xốp xơ hóa sâu, cắt trong niệu đạo không còn hiệu quả, và việc sử dụng dao nóng hoặc laser để cắt trong niệu đạo không được khuyến nghị do nhiệt có thể gây tổn thương thể xốp và làm nặng thêm tình trạng hẹp, gây tái phát kéo dài.
Phương pháp có tỷ lệ thành công cao trong 6 tháng đầu, tuy nhiên khi kéo dài thời gian thì tỷ lệ thành công giảm chỉ còn khoảng 50% Thành công của phương pháp giảm rõ rệt sau các lần thực hiện, với lần thứ hai chỉ khoảng 20% và khả năng thành công của lần thứ ba rất thấp Nong niệu đạo có thể làm kéo dài thời gian tái phát bệnh, gây ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị lâu dài Ngoài ra, việc tiêm steroid vào chỗ hẹp không mang lại kết quả như mong đợi, nhất là trong các lần điều trị thứ hai và thứ ba [2],[38],[39].
Hình 1.4: Đoạn niệu đạo hẹp trước và sau khi thực hiện xẻ lạnh qua nội soi
(Nguồn: Dirk Manski (2015), "Internal Urethrotomy", from:http://www.urology- textbook.com/internal-urethrotomy.html) [15]
Nghiên cứu của Steenkamp và cộng sự (1997) cho thấy không có sự khác biệt đáng kể giữa phương pháp nong niệu đạo và cắt trong niệu đạo, nhưng hiệu quả giảm khi độ dài đoạn hẹp tăng lên, và khuyến cáo sử dụng nong và cắt cho đoạn hẹp ngắn dưới 2cm, trong khi phẫu thuật tạo hình phù hợp cho đoạn hẹp dài trên 4cm Đối với đoạn hẹp từ 2 đến 4cm, nên thử phương pháp nong và cắt trong niệu đạo trước khi xem xét các phương pháp điều trị khác Nghiên cứu của Pansadoro và Emiliozzi (1996) cho thấy tỷ lệ thành công của cắt trong niệu đạo đạt khoảng 20-35%, và đối với những bệnh nhân có hẹp niệu đạo đoạn ngắn dưới 1.5cm không kèm xơ cứng hoặc tổn thương sâu, tỷ lệ thành công lâu dài có thể lên đến 74%.
Theo Alain Wein (1994), việc có nhiều collagen và fibroblast trong thể xốp dẫn đến quá trình xơ hóa và làm hẹp lòng niệu đạo Trong phương pháp xẻ lạnh, sau khi cắt ngang mô sẹo, niêm mạc niệu đạo sẽ phát triển lên trên mô sẹo giúp ngăn ngừa hình thành sẹo mới và giảm thiểu nguy cơ tái hẹp.
John A Nesbitt II khuyên nên xẻ đến khi thấy mô lành hoặc có máu ra là đủ, đồng thời cần xẻ cách xa 2 đầu chỗ hẹp 0,5cm để tránh tổn thương cơ thắt ngoài Trong nghiên cứu của Nguyễn Tiến Đệ (2003), có 38 trường hợp hẹp ngắn hơn 2cm sau khi xẻ lạnh cho kết quả rất tốt, mặc dù vẫn có 3 trường hợp mắc hẹp niệu đạo kết hợp với hẹp cổ bọng đái hoặc hẹp lỗ sáo Một số tác giả đề xuất thực hiện xẻ lạnh trong các trường hợp hẹp niệu đạo nhẹ có mô xơ ít và đoạn hẹp ngắn, hẹp cổ bọng đái sau cắt đốt nội soi tiền liệt tuyến, hoặc hẹp lại sau mổ hở Tuy nhiên, không nên áp dụng phương pháp này trong các trường hợp nhiễm trùng tiểu cấp, áp xe quanh niệu đạo hoặc hẹp có dò ở hội âm, để tránh các biến chứng nghiêm trọng.
(3) Hẹp một đoạn dài và hẹp hoàn toàn [2]
Theo nghiên cứu của Zehri (2009) trên 148 bệnh nhân, tỷ lệ thành công đạt 37% Các chuyên gia khuyến cáo không nên xẻ niệu đạo cho bệnh nhân bị hẹp niệu đạo dương vật hoặc hẹp sau cắt đốt tuyến tiền liệt khi độ dài hẹp lớn hơn 2cm để đảm bảo hiệu quả và an toàn.
Nghiên cứu của Isono (2012) cho thấy hiệu quả của phương pháp xẻ niệu đạo nội soi – Direct Vision Internal Urethrotomy (DVIU) không đạt được kết quả mong muốn, với tỷ lệ tái phát cao sau phẫu thuật Trong nghiên cứu trên 19 bệnh nhân, có 13 người bị tái phát sau khi điều trị, và tỷ lệ khỏi hẹp niệu đạo sau một lần xẻ lần đầu là 44,4% vào 3 tháng, 38,1% sau 6 tháng, và chỉ còn 20,3% sau 5 năm Sau lần xẻ thứ hai, tỷ lệ thành công giảm còn 42,2% vào 3 tháng, 28,6% sau 6 tháng, và 14,3% sau 5 năm Wani cũng nhấn mạnh rằng xẻ niệu đạo và nong niệu chỉ mang lại hiệu quả cải thiện tạm thời về lưu lượng nước tiểu và triệu chứng, và phẫu thuật tạo hình là phương pháp điều trị hẹp niệu đạo được coi là tiêu chuẩn vàng.
Javier Tinaut (2014) công bố kết quả nghiên cứu trên 45 bệnh nhân bị hẹp niệu đạo, đánh giá hiệu quả của phương pháp xẻ niệu đạo nội soi và tạo hình niệu đạo Xẻ niệu đạo nội soi là phương pháp an toàn, phù hợp cho các đoạn hẹp ngắn (