ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhi mắc bệnh tiêu chảy cấp tại khoa Nhiễm, Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ
Từ tháng 12 năm 2013 đến tháng 03 năm 2014
Khoa nhiễm bệnh viên Nhi Đồng Thành Phố Cần Thơ
2.1.4 Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu
- Tiêu chí chọn đối tượng vào nghiên cứu
+ Trẻ đi tiêu phân lỏng > 3 lần/ngày
+ Thời gian mắc bệnh < 14 ngày
+ Gia đình đồng ý tham gia nghiên cứu
Một số trường hợp không phù hợp với tiêu chuẩn lựa chọn bao gồm trẻ mắc các bệnh phối hợp như viêm phổi, bệnh tim bẩm sinh, cũng như những trẻ có dị tật bẩm sinh như câm điếc.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
Cỡ mẫu được ước lượng theo công thức
Z: trị số phân phối chuẩn, với độ tin cậy 95%, Z 2 ( 1 – α/2) = 1,96
p: ở đây chọn p = 0,5 để đạt cỡ mẫu tối đa , (1 – p = 1 – 0,5 =
d: sai số tuyệt đối, chọn d = 0,1
Vì vậy cỡ mẫu trong nghiên cứu này ít nhất là 96 bệnh nhi
Cỡ mẫu được lấy theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện
2.2.4 Phương pháp thu thập số liệu
Tất cả bệnh nhi phù hợp với tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu, tiến hành:
- Phỏng vấn bằng bộ câu hỏi soạn sẵn (phỏng vấn người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ)
- Khám lâm sàng: đánh giá dấu mất nước, đo nhiệt độ
- Ghi nhận một số triệu chứng lâm sàng và kết quả cận lâm sàng thông qua bệnh án
Đánh giá kết quả chăm sóc là bước quan trọng để ghi nhận tình trạng bệnh nhi trước khi xuất viện, dựa trên bộ câu hỏi chuẩn đã soạn sẵn nhằm đảm bảo tính toàn diện và chính xác Trong trường hợp bệnh nhi đã xuất viện trước thời điểm đánh giá, việc ghi nhận kết quả chăm sóc được thực hiện dựa vào hồ sơ bệnh án để đảm bảo dữ liệu được cập nhật đầy đủ và khách quan Quá trình này giúp đánh giá hiệu quả chăm sóc, cung cấp thông tin quan trọng cho quá trình điều trị và chăm sóc sau này.
2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu sẽ được nhập và phân tích bằng phần mền SPSS 16.0
2.2.5 Các biến số nghiên cứu
- Tuổi: là biến định tính, tuổi của bệnh nhi được tính theo năm sinh dương lịch sau đó quy đổi ra số tháng [28], được chia làm bốn nhóm:
+ < 6 tháng tuổi + 7-12 tháng tuổi + 13-36 tháng tuổi + > 36 tháng tuổi
- Giới tính: là biến định tính, gồm hai giá trị là nam và nữ
- Nơi ở: Theo quy định của chính phủ chia nơi ở thành 2 nhóm nông thôn và thành thị [15]
Nông thôn là khu vực không thuộc nội thành, nội thị của các thành phố, thị xã, thị trấn, và được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã Đây là phần lãnh thổ nông nghiệp, có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nông thôn và giữ gìn nét văn hóa truyền thống của địa phương Việc quản lý hiệu quả nông thôn giúp nâng cao đời sống cư dân, thúc đẩy phát triển bền vững, đồng thời góp phần vào sự đa dạng về cảnh quan và sinh thái của quốc gia.
+ Thành thị: phần lãnh thổ thuộc nội thành, nội thị các thánh phố, thị xã, thị trấn
- Số lần đi tiêu trong ngày: biến định tính, số lần đi tiêu được tính trong 24 giờ [21] Có 3 giá trị:
Tiêu phân lỏng là một biến đổi định tính về tiêu hóa, đặc trưng bởi tình trạng đi tiêu phân có nhiều nước, phân ở dạng nhão hoặc lỏng tùy thuộc vào tỷ lệ nước trong phân Tình trạng này thường được nhận biết qua việc hỏi trực tiếp người chăm sóc trẻ để đánh giá chính xác.
- Màu sắc phân của trẻ sau khi đi tiêu trong ngày: là biến định tính, có 4 giá trị:
+ Màu vàng + Đàm nhầy + Màu xanh + Có máu
- Mùi phân: là biến định tính, có 2 giá trị:
Nôn là một biến đổi tính, thể hiện hoạt động làm trống dạ dày bằng các cơn co thắt mạnh để đẩy chất trong dạ dày ra ngoài qua đường miệng Triệu chứng nôn được ghi nhận dựa trên câu chuyện của trẻ hoặc người chăm sóc trẻ, giúp chẩn đoán chính xác các vấn đề về tiêu hóa Có hai giá trị liên quan đến nôn, thể hiện các mức độ hoặc hình thái khác nhau của triệu chứng này.
- Số lần nôn: là biến định tính, số lần nôn của trẻ được tính trong 24 giờ, có 3 giá trị:
Chán ăn là một biến định tính thể hiện qua tình trạng trẻ thường từ chối các thức ăn thông thường hoặc ăn ít hơn so với nhu cầu bình thường của trẻ Điều này phản ánh khả năng tiêu thụ thực phẩm của trẻ bị giảm đi đáng kể Chán ăn có hai giá trị chính, phản ánh mức độ và tình trạng của vấn đề ăn uống ở trẻ Việc đánh giá chính xác tình trạng chán ăn giúp xác định các nguyên nhân và có phương pháp can thiệp phù hợp để cải thiện dinh dưỡng cho trẻ.
- Nhiệt độ: là biến định lượng, được đo ở nách bằng nhiệt kế, sau khi đo lấy kết quả cộng thêm 0,5 0 C [21], [34], chia làm 4 nhóm:
+ Không sốt: nhiệt độ đo được ở nách 37,5 0 C + Sốt nhẹ: nhiệt độ từ > 37,5 0 C-38,5 0 C
+ Sốt vừa: nhiệt độ từ 38,5 0 C-39,5 0 C + Sốt cao: nhiệt độ từ 39,5 0 C-40,5 0 C
- Tình trạng hâm của bẻ: là biến định tính, là tình trạng bé xuất hiện những nốt đỏ và đau ở mông [21] Có 2 giá trị:
- Đánh giá tình trạng mất nước của trẻ dựa vào các dấu hiệu sau
+ Tri giác: quan sát xem trẻ tỉnh táo, hoạt bát hay bứt rức, quấy khóc li bì khó đánh thức hay hôn mê
+ Mắt: xem mắt trẻ có bình thường không hay trũng sâu hơn bình thường
Khát là một dấu hiệu quan trọng để đánh giá tình trạng sức khỏe của trẻ Đối với trẻ có thể tự uống được, cha mẹ nên cung cấp một ly nước để kiểm tra khả năng uống của trẻ Đối với trẻ nhỏ hơn, sử dụng muỗng để đút giúp đánh giá xem trẻ có uống bình thường hay uống háo hức, hoặc gặp khó khăn trong việc uống Việc đánh giá chính xác khả năng uống của trẻ giúp cha mẹ nhận biết rõ tình trạng sức khỏe và từ đó có biện pháp chăm sóc phù hợp.
+ Nếp véo da: bình thường mất nhanh < 2 giây, có mất nước thời gian hồi phục > 2 giây [2], [21]
Sau đó dựa vào bảng 1.1 để phân loại mất nước Có 3 giá trị:
+ Có mất nước + Mất nước nặng + Không mất nước
- Một số tác nhân nguyên nhân gây tiêu chảy cấp
+ Nấm, tạp trùng + Enterobacter other + Enterobacter colaocae + Shigella
+ Klebsiella 2.2.5.4 Kết quả chăm sóc
- Trẻ hết mất nước: là biến định tính, được đánh giá dựa vào bảng
Trẻ đi tiêu bình thường là dấu hiệu của hệ tiêu hóa khỏe mạnh, thể hiện qua phân đều đặn, không lẫn nhầy máu, không có mùi chua hay thối, và số lần đi tiêu mỗi ngày từ 3 đến 5 lần Phân bình thường thường đóng thành khuôn, không có các dấu hiệu bất thường Có hai mức độ của trẻ đi tiêu bình thường, phản ánh sự cân bằng của hệ tiêu hóa và dinh dưỡng hàng ngày.
- Nhiệt độ của trẻ: là biến định tính, có 2 giá trị
- Tình trạng nôn của trẻ: là biến định tính, có 2 giá trị
- Tình trạng hâm: là biến định tính, có 2 giá trị
- Tình hình ăn uống của trẻ: là biến định tính, có 2 giá trị
+ Ăn uống bình thường + Vẫn chưa ăn uống bình thường được
- Thời gian chăm sóc để trẻ hết: mất nước, nôn, hâm, sốt, chán ăn, đi tiêu phân lỏng: là biến định lượng, có 3 giá trị
- Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhi tiêu chảy cấp
- Mô tả kết quả chăm sóc bệnh nhi tiêu chảy cấp
2.2.7 Các biện pháp hạn chế sai số
- Định nghĩa rõ ràng đối tượng cần khảo sát căn cứ tiêu chuẩn được chọn và tiêu chuẩn loại ra
- Thiết kế bộ câu hỏi đúng mục tiêu, rõ ràng, dễ hiểu
- Những bộ câu hỏi không đầy đủ thông tin sẽ được thu thập lại để bổ sung đầy đủ hoặc được loại bỏ
Bước 1 trong quy trình là chọn bệnh nhi nhập viện tại khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ, đã được chẩn đoán mắc tiêu chảy cấp Các bệnh nhi này phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn chọn bệnh đề ra và không nằm trong các tiêu chuẩn loại trừ, đảm bảo lựa chọn những trường hợp phù hợp để tiến hành các bước tiếp theo trong quy trình điều trị và nghiên cứu.
Bước 2 : Phỏng vấn dựa vào bộ câu hỏi, khám lâm sàng, ghi nhận kết quả cận lâm sàng, đánh giá kết quả chăm sóc
Bước 3 : Thu thập số liệu
Bước 4 : Làm sạch số liệu, kiểm tra lại từng phiếu trước khi nhập liệu đảm bảo thông tin chính xác, xử lí và phân tích số liệu
Bước 5 : Tổng kết số liệu, viết luận văn.
Đạo đức trong nghiên cứu
- Luận văn này được thông qua và chấp thuận của trường Đại Học Y Dược Cần Thơ và Bệnh viện Nhi Đồng thành phố Cần Thơ
Trước khi tham gia nghiên cứu, các đối tượng đã được giải thích rõ ràng về mục đích và phương pháp tiến hành nghiên cứu, đảm bảo họ hiểu rõ thông tin liên quan Sự tham gia của các đối tượng là hoàn toàn tự nguyện, không chịu bất kỳ ép buộc nào, tạo điều kiện thuận lợi để đảm bảo tính trung thực và đạo đức trong quá trình nghiên cứu.
Tất cả thông tin mà đối tượng nghiên cứu cung cấp đều được bảo mật tuyệt đối, chỉ sử dụng để phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học Cam kết không tiết lộ bất kỳ dữ liệu nào cho bên thứ ba nhằm đảm bảo quyền riêng tư và an toàn của người tham gia Việc giữ bí mật thông tin nghiên cứu là nguyên tắc nghiêm ngặt, giúp thúc đẩy sự tin tưởng và hợp tác của đối tượng tham gia.
Hạn chế của đề tài
Vì nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Nhi Đồng thành phố Cần Thơ, các số liệu thu thập chỉ mang ý nghĩa trong phạm vi nhỏ; do đó, cần thực hiện các nghiên cứu tiếp theo trên phạm vi rộng hơn để có cái nhìn toàn diện hơn về bệnh tiêu chảy cấp.
KẾT QỦA
Đặc điểm của mẫu nghiên cứu
Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Hải Yến, có tổng cộng 124 trẻ bị tiêu chảy cấp, trong đó 84 trẻ là nam, chiếm tỷ lệ 67,7%, còn 40 trẻ là nữ, chiếm tỷ lệ 32,3% Tỉ số giới tính của bệnh là 2,09, cho thấy trẻ nam mắc bệnh tiêu chảy nhiều hơn trẻ nữ Hiện tượng này phản ánh xu hướng trẻ nam có khả năng cao bị tiêu chảy cấp hơn so với trẻ nữ trong cộng đồng nghiên cứu.
2006 cũng ở Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ cũng ghi nhận tỉ số này là 1,42
Các nghiên cứu cho thấy tỉ lệ mắc bệnh ở trẻ nam cao hơn trẻ gái, với tỷ lệ lần lượt là 66,3% so với 33,7%, phù hợp với nhiều công trình trước đó Tỉ lệ giới tính dao động khoảng 1,7, do đặc điểm hành vi của bé trai thường hiếu động hơn, dễ tiếp xúc với môi trường ô nhiễm chứa nhiều tác nhân gây tiêu chảy Ngoài ra, các yếu tố dân số học cũng cho thấy trẻ dưới 5 tuổi, đặc biệt là bé trai, có nguy cơ mắc tiêu chảy cấp cao hơn so với bé gái.
Trong nghiên cứu của chúng tôi bao gồm tất cả 124 trẻ được chia thành 4 nhóm tuổi:
+ Nhóm < 6 tháng tuổi có 26 trẻ chiếm tỉ lệ 21%
+ Nhóm 7-12 tháng tuổi có 57 trẻ chiếm tỉ lệ 46%
+ Nhóm 1-3 tuổi có 37 trẻ chiếm tỉ lệ 29,8%
+ Nhóm > 3 tuổi có 4 trẻ chiếm tỉ lệ 3,2%
Trẻ dưới 6 tháng tuổi có tỷ lệ mắc tiêu chảy cấp thấp vì kháng thể trong sữa mẹ truyền cho trẻ giúp giảm nguy cơ mắc bệnh Những trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 3 đến 6 tháng đầu có nguy cơ tiêu chảy cấp thấp hơn so với trẻ không bú mẹ Ngoài ra, việc bú mẹ còn giảm đáng kể nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng đường ruột ở trẻ nhỏ.
Trẻ trong nhóm tuổi từ 7-12 tháng chiếm tỷ lệ cao nhất với 46%, tiếp theo là nhóm 1-3 tuổi chiếm 29,8%, trong khi trẻ từ 13-24 tháng có tỷ lệ mắc cao nhất (58,2%) theo ghi nhận của Vũ Thị Huyền và Nguyễn Đình Học Đây là giai đoạn trẻ bắt đầu ăn dặm, lượng sữa mẹ giảm đi khiến khả năng truyền kháng thể từ mẹ giảm, trong khi hệ miễn dịch của trẻ còn yếu và dễ bị nhiễm trùng do chế biến và bảo quản thực phẩm không an toàn Bên cạnh đó, trẻ từ 1-3 tuổi bắt đầu làm quen với môi trường bên ngoài, khiến khả năng tiếp xúc với các tác nhân gây tiêu chảy tăng cao.
Trẻ trên 3 tuổi có tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy cấp thấp nhất do các chức năng của các cơ quan đã phát triển hoàn thiện hơn so với các độ tuổi nhỏ hơn Ngoài ra, việc tiêm phòng đầy đủ và đúng lịch cho trẻ ở nhóm tuổi này cũng góp phần giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh tiêu chảy cấp Các yếu tố này giúp cải thiện sức khỏe tiêu hóa và nâng cao khả năng đề kháng của trẻ trong độ tuổi trên 3.
Sữa mẹ không chỉ cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cần thiết cho trẻ mà còn cung cấp kháng thể giúp trẻ chống lại các bệnh nhiễm khuẩn hiệu quả Sữa mẹ thường được dung nạp tốt hơn, đặc biệt khi trẻ bị tiêu chảy; duy trì việc bú mẹ giúp giảm lượng phân tiết và nhanh hồi phục hơn so với trẻ không bú mẹ Ngoài ra, công tác tuyên truyền và giáo dục sức khỏe cùng với việc tiêm phòng vaccine đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế số lượng trẻ mắc tiêu chảy cấp.
Những trẻ mắc tiêu chảy cấp thường sống ở nông thôn chiếm tỉ lệ 65,3% còn lại ở thành thị chiếm 34,7% So sánh với tác giả Nguyễn Thành
Số trẻ sống ở nông thôn chiếm tỷ lệ cao, khoảng 66,3%, phù hợp với kết quả nghiên cứu của tác giả này, trong khi đó, tác giả Hoàng Trọng Quý ghi nhận tỷ lệ nông thôn chiếm 58,7% và thành phố 41,3% Sự chênh lệch này có thể do nghiên cứu của chúng tôi tập trung tại vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, nơi phần lớn cư dân sinh sống tại nông thôn Trẻ em ở nông thôn có tỷ lệ mắc tiêu chảy cấp cao hơn so với trẻ thành phố, có thể do công tác giáo dục sức khỏe còn hạn chế ở vùng nông thôn, ảnh hưởng đến kiến thức phòng bệnh của phụ huynh và người chăm sóc trẻ Ngoài ra, tập quán nuôi dưỡng theo nhiều kinh nghiệm dân gian lạc hậu, sai lầm còn góp phần làm tăng tỷ lệ mắc bệnh trong cộng đồng nông thôn.
Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 100% trẻ mắc tiêu chảy cấp đều có triệu chứng đi tiêu phân lỏng Số lần đi tiêu phân lỏng ở các trẻ được phân thành ba nhóm khác nhau, giúp phân loại mức độ nặng của bệnh Các nhóm này cung cấp cái nhìn rõ ràng về tần suất tiêu chảy, từ đó hỗ trợ trong việc chẩn đoán và điều trị phù hợp.
+ Trẻ đi tiêu từ 5-10 lần trong ngày chiếm 57,3%
+ Trẻ đi tiêu > 10 lần trong ngày chiếm 24,2%
+ Đi tiêu < 5 lần trong ngày chiếm 18,5%
Theo những nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thu Cúc trẻ đi tiêu
Trong các nghiên cứu về tần suất đi tiêu của trẻ, hơn 68,7% trẻ chiếm khoảng 10 lần hoặc ít hơn, trong khi nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tỷ lệ này là 57,3% Mặc dù có sự khác biệt giữa các nghiên cứu, nhưng cả hai đều cho thấy phần lớn trẻ đi tiêu trong ngày từ 5 đến 10 lần, phản ánh mức độ phổ biến của hành vi tiêu dùng này ở trẻ nhỏ.
Khi vi khuẩn xâm nhập vào lòng ruột, chúng nhân lên gây phá hủy cấu trúc liên bào và làm cùn nhung mao ruột, dẫn đến giảm khả năng hấp thu dinh dưỡng Tổn thương niêm mạc ruột còn gây mất enzyme cắt đường đôi, làm giảm khả năng tiêu hóa và hấp thu đường đôi trong thức ăn Áp lực thẩm thấu tăng cao khiến nước thoát ra ngoài lòng ruột, gây tiêu chảy nhiều lần trong ngày và phân chứa nhiều nước, gây mất nước và điện giải nghiêm trọng.
Trẻ mắc tiêu phân lỏng kèm theo nôn ói chiếm tỷ lệ đáng kể, với thống kê là 64,5% theo một nghiên cứu và 46,9% theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Cúc Cả hai nghiên cứu đều chỉ ra rằng tình trạng trẻ nôn ói kết hợp tiêu chảy xảy ra với tỷ lệ cao Trong nghiên cứu này, chúng tôi phân loại số lần nôn ở trẻ thành ba nhóm để phân tích rõ hơn về mức độ nôn ói liên quan đến tiêu chảy.
+ Trẻ nôn ói 5-10 lần trong ngày chiếm tỉ lệ 62,5%
+ Trẻ nôn ói < 5 lần trong ngày chiếm tỉ lệ 28,8%
+ Trẻ nôn ói > 10 lần trong ngày chiếm tỉ lệ 8,7%
Trẻ nôn 5-10 lần trong ngày là hiện tượng phổ biến và thường gặp trong các trường hợp tiêu chảy cấp Nôn có thể do độc tố vi khuẩn kích thích niêm mạc ruột của trẻ, gây ra phản ứng nôn mửa liên tục Triệu chứng này cần được theo dõi kỹ để phân biệt với các vấn đề sức khỏe khác, đồng thời hỗ trợ chẩn đoán chính xác và điều trị kịp thời.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 104 trẻ sốt, chiếm 83,8%, phù hợp với các kết quả của Nguyễn Thị Thu Cúc (78,3%) và Nguyễn Thành On (81,7%), cho thấy sự nhất quán trong tỷ lệ trẻ sốt trong các nghiên cứu này Chúng tôi cũng nhận thấy rằng phần lớn trẻ mắc tiêu chảy cấp có kèm sốt nhẹ, với tỷ lệ là 54,8%, so với tỷ lệ 46,3% theo Nguyễn Thị Thu Cúc, phản ánh mức độ sốt nhẹ prevalent ở trẻ mắc tiêu chảy cấp.
Sốt là phản ứng của cơ thể khi có yếu tố lạ xâm nhập, thể hiện qua triệu chứng sốt nhẹ phổ biến ở trẻ em Phần lớn trẻ đã được điều trị tại nhà bằng thuốc hạ sốt trước khi nhập viện, do đó mức độ sốt có thể giảm đi Ngoài ra, cách lấy mẫu xét nghiệm cũng ảnh hưởng đến kết quả, vì thường lấy mẫu vào buổi chiều cách thời điểm trẻ nhập viện vài giờ, khiến trẻ đã có thể được dùng thuốc hạ sốt trước khi xét nghiệm.
Phần lớn trẻ bị tiêu chảy cấp không mất nước, chiếm tỉ lệ 78,2%, trong khi đó, tỷ lệ trẻ mất nước là 21,8% Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hải Yến cũng cho kết quả tương tự với 85,7% không mất nước và 14,3% mất nước, còn nghiên cứu của Hoàng Trọng Quý ghi nhận 73,3% trẻ không mất nước và 26,7% trẻ mất nước.
Trong 21,8% trẻ bị mất nước chúng tôi ghi nhận có 3 trẻ mất nước nặng (2,4%) và 24 trẻ có mất nước (19,4%)
Trẻ mất nước do đi tiêu phân lỏng nhiều lần trong ngày kèm theo nôn ói, gây mất cân bằng điện giải và giảm lượng dịch trong cơ thể Việc chăm sóc đúng cách là rất quan trọng, đặc biệt là cung cấp đủ lượng Oresol theo hướng dẫn để bù nước hiệu quả cho trẻ Đồng thời, duy trì chế độ dinh dưỡng cân đối giúp hỗ trợ quá trình hồi phục và ngăn ngừa tình trạng mất nước nghiêm trọng ở trẻ.
Tỉ lệ hâm trong nhóm nghiên cứu là 16,1%
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 83,9% trẻ không bị hâm, phần lớn các bệnh nhi mắc tiêu chảy cấp có biểu hiện hâm do trẻ được mặc tả suốt ngày và các bà mẹ thường tránh tắm cho trẻ để phòng ngừa lạnh, khiến bệnh nặng thêm Tuy nhiên, do chỉ tập trung đánh giá kết quả chăm sóc, chúng tôi chưa khảo sát kỹ phần thực hành của các bà mẹ trong việc chăm sóc trẻ Đề nghị các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung tìm hiểu rõ hơn về thực hành chăm sóc của các bà mẹ để nâng cao hiệu quả phòng và điều trị bệnh cho trẻ.
Trong nhóm bệnh nhi nghiên cứu, có đến 70,2% trẻ biểu hiện chán ăn, trong khi đó 29,8% không có triệu chứng này Trẻ chán ăn có thể do các nguyên nhân như đau bụng, đầy hơi, khó tiêu hoặc do cơ thể mệt mỏi Việc duy trì chế độ dinh dưỡng phù hợp trong giai đoạn bệnh và hồi phục là vô cùng quan trọng để tránh tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng Chính vì vậy, cần hướng dẫn bố mẹ cách cho trẻ ăn (bú) đúng cách nhằm cung cấp đầy đủ dưỡng chất cần thiết cho sự phát triển của trẻ.
Phân của trẻ mắc tiêu chảy cấp chủ yếu có màu vàng, chiếm tỷ lệ 74,2%, và không có mùi tanh, với tỷ lệ 77,4% Nhìn chung, đa số trẻ bị tiêu chảy cấp đều có phân màu vàng và không có mùi tanh, giúp nhận biết các đặc điểm phân characteristic của tình trạng này.
Theo ghi nhận của tác giả Nguyễn Thị Thu Cúc, tỷ lệ trẻ đi tiêu phân vàng đạt 83,4%, cho thấy sự phổ biến của triệu chứng này Trong khi đó, tác giả Nguyễn Thành On ghi nhận phân vàng chiếm 82,7% và tỷ lệ trẻ không có mùi tanh đạt 75%, phản ánh các đặc điểm tiêu hóa thường gặp ở trẻ Các số liệu này giúp làm rõ tỷ lệ trẻ có phân vàng và các biểu hiện liên quan, hỗ trợ trong chẩn đoán và điều trị các vấn đề về tiêu hóa ở trẻ nhỏ.
Theo tác giả Nguyễn Thị Hải Yến, có đến 96,8% trẻ em tiêu phân vàng và 47,4% trẻ tiêu phân không có mùi tanh Mặc dù có sự khác biệt về tỷ lệ, nhưng nhìn chung, đa số trẻ tiêu phân vàng và không có mùi tanh.
Tính chất phân tanh hay không tanh phụ thuộc chủ yếu vào cảm nhận chủ quan của các bà mẹ hoặc người chăm sóc trẻ, nên có thể có sự khác biệt trong nhận định Ngoài ra, mùi phân còn chịu ảnh hưởng từ loại thức ăn mà trẻ tiêu thụ, ảnh hưởng đến đặc tính của phân.
4.2.2 Đặc điểm cận lâm sàng
Kết quả chăm sóc
4.3.1 Tình trạng mất nước và sốt
Trong mẫu nghiên cứu 124 trẻ chúng tôi ghi nhận kết quả chăm sóc về tình trạng mất nước và sốt như sau:
Trong tổng số 27 trẻ mắc mất nước, có nhiều trẻ đã được chăm sóc hiệu quả với thời gian điều trị từ 1-2 ngày chiếm tỉ lệ cao nhất là 55,6%, tiếp theo là 3-4 ngày chiếm 29,6% và trên 4 ngày chiếm 14,8% Thời gian trung bình để trẻ hồi phục là 2 ngày Cần chú ý rằng, sự nâng cao kiến thức và thái độ chăm sóc của nhân viên y tế cũng như các bà mẹ đã góp phần giúp tỉ lệ trẻ không còn mất nước trước khi xuất viện đạt cao, thể hiện hiệu quả trong chăm sóc trẻ bị mất nước.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ trẻ hết sốt đạt 97,1%, trong đó đa số trẻ (57,7%) đã hết sốt trong vòng 1-2 ngày, và 34,6% trẻ mất sốt sau 3-4 ngày Chỉ có 2,9% trẻ còn sốt, chủ yếu ở mức độ nhẹ Thời gian chăm sóc trung bình để trẻ hết sốt là 2 ngày, phần lớn do trẻ trong mẫu nghiên cứu có mức độ sốt nhẹ, nên thời gian chăm sóc từ ngày thứ 1 đến 2 chiếm tỷ lệ cao nhất.
4.3.2 Tình trạng tiêu phân lỏng và nôn
Kết quả chăm sóc 124 trẻ có triệu chứng tiêu phân lỏng cho thấy 98,4% trẻ đi tiêu lại bình thường sau điều trị, trong khi chỉ 1,6% chưa đạt kết quả này Thời gian trung bình để trẻ đi tiêu lại bình thường là 3 ngày, với 48,4% trẻ cần từ 3-4 ngày, 27,4% trẻ cần hơn 4 ngày, và 22,6% trẻ hồi phục trong 1-2 ngày Điều này cho thấy hầu hết trẻ đáp ứng tốt với quá trình chăm sóc, tiêu phân lỏng không kéo dài quá 7 ngày ở các trường hợp này, đảm bảo hiệu quả và an toàn cho sức khỏe của trẻ.
Trong tổng số trẻ, có 91,3% (73 trẻ) đã hết nôn, trong khi 8,7% (7 trẻ) vẫn còn nôn Phần lớn trẻ (41,3%) đã hết nôn trong vòng 1-2 ngày đầu, 38,8% hết nôn sau 3-4 ngày điều trị, và chỉ 11,2% còn nôn sau ngày thứ 4 Thời gian trung bình để trẻ hết nôn là khoảng 3 ngày, cho thấy quá trình hồi phục tương đối nhanh chóng.
4.3.3 Tình trạng hâm và chán ăn
Theo nghiên cứu, có 95% trẻ bị hâm đến trước khi xuất viện đã khỏi hoàn toàn, chỉ có 5% trẻ còn hâm do nhân viên y tế chưa giải thích rõ về cách làm khô thoáng vùng da cho người nhà Để đảm bảo chăm sóc tốt nhất, nhân viên y tế cần hướng dẫn tư vấn kỹ lưỡng và chính xác cho người nhà về cách chăm sóc trẻ bị hâm Trong đó, khoảng 45% trẻ được chăm sóc khỏi hâm trong vòng 3-4 ngày.
Kết quả ghi nhận có 81 trẻ (93,1%) không còn chán ăn, trong khi chỉ có 6 trẻ (6,9%) vẫn còn chán ăn Việc xác định chính xác trạng thái chán ăn dựa nhiều vào nhận thức chủ quan của người chăm sóc, do đó cần thường xuyên thăm hỏi và theo dõi để đánh giá chính xác, tránh tình trạng trẻ bị thiếu hụt dinh dưỡng Đặc biệt, có 44,8% trẻ hết chán ăn trong ngày thứ 1-2, còn 38% trẻ hết trong ngày thứ 3-4, cho thấy quá trình phục hồi diễn ra rõ ràng trong các ngày đầu điều trị.
4 trở đi chiếm 10,3% Thời gian chăm sóc trung bình là 2 ngày.