1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

1698 Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng Cận Lâm Sàng Và Yếu Tố Tiên Lượng Nặng Của Ngộ Độc Phospho Hữu Cơ Tại Bv Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ.pdf

106 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng Cận Lâm Sàng Và Yếu Tố Tiên Lượng Nặng Của Ngộ Độc Phospho Hữu Cơ Tại Bệnh Viện Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ
Tác giả Trần Văn Sửa
Người hướng dẫn PGS.TS Phạm Thị Tâm, BSCKII. Kha Hữu Nhân
Trường học Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Nội khoa
Thể loại Luận án chuyên khoa cấp II
Năm xuất bản 2014
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (13)
    • 1.1. Đại cương về thuốc trừ sâu nhóm phospho hữu cơ (13)
    • 1.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và chẩn đoán ngộ độc phospho hữu cơ 8 1.3. Đánh giá yếu tố tiên lượng nặng và tử vong theo thang điểm APACHE II (18)
    • 1.4. Điều trị ngộ độc phospho hữu cơ và các yếu tố liên quan (29)
    • 1.5. Các nghiên cứu trong nước và ngoài nước về ngộ độc phospho hữu cơ . 25 Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (35)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (37)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (38)
    • 2.3. Đạo đức trong nghiên cứu (49)
  • Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (37)
    • 3.1. Đặc tính chung của đối tượng nghiên cứu (52)
    • 3.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng (57)
    • 3.3. Kết quả tiên lượng nặng và tử vong theo thang điểm APACHE II (62)
    • 3.4. Kết quả điều trị và các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị ngộ độc (66)
  • Chương 4: BÀN LUẬN (52)
    • 4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (72)
    • 4.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân ngộ độc phospho hữu cơ (74)
      • 4.2.1. Hội chứng lâm sàng (74)
    • 4.3. Ứng dụng thang điểm APACHE II để đánh giá tiên lượng nặng và tử (81)
    • 4.4. Đánh giá kết quả điều trị và các yếu tố liên quan (86)
  • KẾT LUẬN (93)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (96)

Nội dung

ỦBND HUYỆN PHƯỚC LONG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ TRẦN VĂN SỬA NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG NẶNG[.]

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc tính chung của đối tượng nghiên cứu

3.1.1 Phân bố theo giới tính

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ ngộ độc PPHC theo giới tính

Nhận xét: Tỷ lệ nam giới bị ngộ độc PPHC trong nhóm nghiên cứu cao gần 04 lần so với nữ giới

3.1.1 Phân bố theo nhóm tuổi:

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ ngộ độc PPHC theo nhóm tuổi

Trong nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân ngộ độc PPHC cao nhất ở nhóm tuổi dưới 40 tuổi, chiếm đến 69,49%, cho thấy phần lớn các trường hợp ngộ độc xảy ra ở nhóm người trẻ Ngược lại, nhóm tuổi trên 60 tuổi có tỷ lệ mắc thấp nhất chỉ 8,47%, phản ánh rằng nguy cơ ngộ độc PPHC giảm dần cùng với tuổi tác Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức về ngộ độc PPHC đặc biệt ở nhóm tuổi trẻ để phòng ngừa hiệu quả.

Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ ngộ độc PPHC theo nghề nghiệp

Trong nhóm nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân ngộ độc phospho hữu vượt trội ở nhóm nông dân, chiếm tới 77,97%, cho thấy nghề nghiệp liên quan mật thiết đến nguy cơ ngộ độc Trong khi đó, tỷ lệ bệnh nhân là học sinh rất thấp, chỉ chiếm 1,69%, còn lại là người cao tuổi và các nghề khác, phản ánh sự phân bố không đều của các nguy cơ ngộ độc trong cộng đồng.

3.1.3 Phân bố bệnh nhân ngộ độc PPHC theo vùng

Bảng 3.1 Phân bố theo vùng

Trong số 5 tỉnh giáp ranh TP.Cần Thơ, tỉnh Hậu Giang có tỷ lệ bệnh nhân ngộ độc PPHC cao nhất chiếm 35,6%, trong khi đó Bạc Liêu và Đồng Tháp ghi nhận tỷ lệ thấp nhất, mỗi tỉnh chỉ chiếm 1,7%.

3.1.4 Phân bổ theo trình độ văn hoá

Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ ngộ độc PPHC theo trình độ văn hoá

Trong nhóm nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân ngộ độc PPHC không có sự khác biệt đáng kể giữa các trình độ văn hóa từ Trung học cơ sở đến Trung học phổ thông, cũng như nhóm mù chữ và học lực tiểu học Điều này cho thấy rằng trình độ học vấn không ảnh hưởng rõ rệt đến nguy cơ ngộ độc PPHC trong cộng đồng Các kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc triển khai các biện pháp phòng ngừa và giáo dục sức khỏe cho tất cả các nhóm dân số, bất kể trình độ học vấn.

3.1.5 Phân bố theo hoàn cảnh kinh tế

Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ ngộ độc PPHC theo hoàn cảnh kinh tế

Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân ngộ độc có hoàn cảnh nghèo chiếm cao hơn

61,02% so với bệnh nhân không nghèo là 38,98%

Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ ngộ độc PPHC theo nguyên nhân ngộ độc

Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân ngộ độc do tự tử chiếm cao hơn gấp 09 lần so với nguyên nhân từ sinh hoạt lao động

3.1.7 Các loại thuốc ngộ độc

Bảng 3.2 Các loại thuốc gây ngộ độc

Các loại thuốc n Tỷ lệ % Các loại thuốc n Tỷ lệ %

Space Loft 300EC 1 1,69 Kinagold 23EC 1 1,69

Nhận xét: Có 03 loại thuốc gây ngộ độc chiếm tỷ lệ cao (Monitor, Basudin, Hopsan), mỗi loại chiếm 15,25%

Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ ngộ độc PPHC theo thời gian ngộ độc

Nhận xét: Bệnh nhân ngộ độc PPHC đa số vào viện trong vòng 6 giờ đầu ngộ độc chiếm tỷ lệ 84,75%

3.1.9 Xử trí của tuyến trước

Biểu đồ 3.8 Các phương pháp xử trí cho bệnh nhân ngộ độc ở tuyến trước

Trong nhóm nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân ngộ độc PPHC được xử lý bằng phương pháp rửa dạ dày tại tuyến trước chiếm tỷ lệ cao nhất là 86,40%, cho thấy đây là phương pháp phổ biến và hiệu quả trong xử trí ban đầu Trong khi đó, PAM có tỷ lệ sử dụng thấp nhất chỉ với 13,60%, phản ánh sự ưu tiên của các tuyến trong lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp với mức độ và tình trạng của bệnh nhân.

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng

3.2.1 Hội chứng lâm sàng cơ bản

Bảng 3.3 Hội chứng lâm sàng

Hội chứng lâm sàng n Tỷ lệ %

Không có triệu chứng khi nhập viện 13 22,03

Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân có hội chứng Muscarin chiếm cao nhất 47,46%; Hội chứng Nicotin chiếm thấp nhất 13,56%

3.2.2 Các dấu hiệu lâm sàng

Biểu đồ 3.9 Tỷ lệ bệnh nhân ngộ độc PPHC theo điểm Glassgow

Trong nhóm nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân ngộ độc PPHC có điểm Glasgow lớn hơn 13 điểm chiếm đa số, chiếm đến 79,66%, cho thấy họ có mức tỉnh táo cao Trong khi đó, tỷ lệ bệnh nhân có điểm Glasgow dưới 8 điểm và từ 8 đến 12 điểm đều chiếm 10,17%, phản ánh mức độ tổn thương não khác nhau trong nhóm nghiên cứu These findings highlight the importance of the Glasgow Coma Scale in assessing the severity of PPHC poisoning cases.

Biểu đồ 3.10 Tỷ lệ bệnh nhân ngộ độc PPHC có hội chứng suy hô hấp

Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân ngộ ngộ độc PPHC không có triệu chứng suy hô hấp chiếm cao nhất 83,05%, có triệu chứng suy hô hấp chiếm thấp hơn

Biểu đồ 3.11 Tỷ lệ bệnh nhân ngộ độc PPHC theo chỉ số huyết áp

Nhận xét: Đa số bệnh nhân ngộ độc PPHC trong nhóm nghiên cứu có huyết áp bình thường, chỉ có 1,69% có huyết giảm

3.2.3 Phân loại mức độ ngộ độc dựa vào hội chứng lâm sàng

Bảng 3.4 Phân loại mức độ ngộ độc dựa vào hội chứng lâm sàng

Phân loại mức độ ngộ độc n Tỷ lệ %

Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân ngộ độc PPHC trong nhóm nghiên cứu được phân loại trung bình chiếm cao nhất 45,8%, nặng chiếm thấp nhất 22%

3.2.4 Kết quả cận lâm sàng

3.2.4.1 Trung bình các chỉ số xét nghiệm trên bệnh nhân ngộ độc

Bảng 3.5 Bảng giá trị trung bình các chỉ số xét nghiệm

Cận lâm sàng Trung bình Nhỏ nhất Lớn nhất Cholinesterase (U/L) 1.080,9±1.435,9 69 6.741

Nhận xét: Chỉ số men cholinesterase trung bình là 1.080,9±1.435,9 thấp hơn nhiều so với chỉ số bình thường là 5.300-12.900U/L

3.2.4.2 Kết quả xét nghiệm khác

Bảng 3.6 Kết quả xét nghiệm cận lâm sàng (nY)

Kết quả xét nghiệm cận lâm sàng n % pH máu

Số lượng Bạch cầu Tăng 28 47,5

Trong nhóm nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân ngộ độc PPHC có chỉ số pH máu bình thường chiếm 57,6%, trong khi đó tỷ lệ giảm là 42,4%, không có trường hợp tăng pH Chỉ số HCO3- giảm chiếm hơn 78%, còn lại 22% có giá trị bình thường, không có trường hợp tăng HCO3- Đa số bệnh nhân không gặp giảm natri máu và kali máu, với chỉ số creatinine bình thường và không có trường hợp giảm Phần lớn bệnh nhân có chỉ số hematocrit (HCT) bình thường, chiếm 71,2%, trong khi đó 28,8% có tăng, không có trường hợp giảm hematocrit Chỉ số bạch cầu chủ yếu ở mức bình thường, và sự gia tăng ít hơn đáng kể so với mức bình thường, không có trường hợp giảm bạch cầu.

3.2.4.3 Kết quả xét nghiệm men cholinesterase:

Bảng 3.7 Kết quả xét nghiệm men cholinesterase

Giảm mức độ trung bình còn (10 – 20%) 4 6,8

Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân ngộ độc PPHC trong nhóm nghiên cứu có men cholinesterase giảm nặng (< 10%) chiếm cao nhất 62,7%, giảm mức độ trung bình (10 – 20%) chiếm thấp nhất 6,8%

3.2.4.4 Phân loại mức độc ngộ độc dựa vào men cholinesterase:

Bảng 3.8 Phân loại mức độc ngộ độc theo men cholinesterase

Phân loại mức độ ngộ độc dựa vào hội chứng lâm sàng Tổng p Nhẹ Trung bình Nặng

% 32,2 45,8 22 100 Nhận xét: Men cholinesterase giảm nặng có liên quan đến mức độ nặng của bệnh nhân ngộ độc PPHC: p< 0,05.

Kết quả tiên lượng nặng và tử vong theo thang điểm APACHE II

Bảng 3.9 Kết quả thang điểm APACHE II Điểm APACHE II n Tỷ lệ %

Nhận xét: Tỷ lệ nhóm điểm Apache II từ 0 – 4 điểm trong nhóm nghiên cứu chiếm cao nhất 45,8%; không có nhóm điểm > 35

3.3.2 Kết quả tiên lượng nặng và tử vong

Bảng 3.10 Kết quả tiên lượng nặng và tử vong theo APACHE II

Sống Tử vong Sống Tử vong Sống Tử vong n 42 0 12 0 4 1

Nhận xét: Không có trường hợp tử vong thuộc nhóm điểm < 20 điểm, có 01 trường hợp tử vong thuộc nhóm điểm > 19 điểm chiếm 20%

3.3.3 Phân loại mức độ ngộ độc dựa vào thang điểm APACHE II

Bảng 3.11 Phân loại ngộ độc dựa vào thang điểm APACHE II

Phân loại mức độ ngộ độc dựa vào hội chứng lâm sàng Tổng p Nhẹ Trung Bình Nặng

Nhận xét: Tất cả bệnh nhân được phân loại nặng đều có điểm

APACHE II > 19 điểm p < 0,05 nên điểm APACHE II và phân loại mức độ ngộ độc có yếu tố liên quan

3.3.4 Yếu tố liên quan giữa điểm APACHE II và men cholinesterase

Bảng 3.12 Yếu tố liên quan giữa điểm APACHE II và men cholinesterase

Nhận xét: Men cholinesterase giảm nặng chiếm tỷ lệ cao ở các nhóm điểm: p > 0,05 nên chỉ số men và điểm APACHE II không có yếu tố liên quan

3.3.5 Yếu tố liên quan giữa điểm APACHE II và đặc điểm của bệnh nhân

Bảng 3.13 Yếu tố liên quan giữa điểm APACHE II và giới Điểm APACHE II

Nhận xét:: Nam giới chiếm tỷ lệ cao hơn nữ giới ở các nhóm điểm: p>0,05 nên giới tính và điểm APACHE II không có yếu tố liên quan

Bảng 3.14 Yếu tố liên quan giữa điểm APACHE II và nhóm tuổi Điểm APACHE II

Nhận xét cho thấy rằng bệnh nhân cao tuổi thường không có điểm số APACHE II nặng, trong khi đa số các trường hợp nặng lại thuộc nhóm tuổi dưới 40, với mức độ ý nghĩa thống kê p < 0,05 Điều này cho thấy có sự liên quan giữa tuổi và mức độ nghiêm trọng của điểm APACHE II, phản ánh tầm quan trọng của yếu tố tuổi trong đánh giá tình trạng bệnh nhân.

Bảng 3.15 Yếu tố liên quan giữa điểm APACHE II và nguyên nhân ngộ độc Điểm APACHE II

Nguyên nhân ngộ độc chủ yếu do tai nạn lao động sinh hoạt, nhưng không gây ra các trường hợp bệnh nặng Phân tích cho thấy, không có sự khác biệt đáng kể về điểm APACHE II giữa các nhóm nguyên nhân ngộ độc (p > 0,05), cho thấy không có mối liên hệ rõ rệt giữa nguyên nhân ngộ độc và mức độ nghiêm trọng của bệnh.

Bảng 3.16 Yếu tố liên quan giữa điểm APACHE II và thời gian ngộ độc Điểm APACHE II

Nhận xét: Không có trường hợp nào nhập viện sau 6 giờ có điểm

APACHE II > 19 điểm: p > 0,05 nên giữa thời gian ngộ độc và điểm APACHE II không có yếu tố liên quan.

BÀN LUẬN

Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Trong số 59 bệnh nhân ngộ độc PPHC, tỷ lệ nam giới cao hơn nữ giới, chiếm đến 79,7% so với 20,3% (Biểu đồ 3.1) Điều này phù hợp với các nghiên cứu trước đây của Nguyễn Huy Ngọc, với tỷ lệ nam chiếm 69,2% và nữ 30,8%, cũng như nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Mai, trong đó nam chiếm 75,37% và nữ 21,63%, cho thấy nam giới có nguy cơ cao hơn khi bị ngộ độc PPHC.

Nghiên cứu của Kishore Gnana Sam Mpharm phân tích 91 trường hợp ngộ độc thuốc trừ sâu, trong đó nam giới chiếm tỷ lệ cao hơn so với nữ giới (76% so với 23,9%), cho thấy nam giới có nguy cơ tiếp xúc và mắc phải độc tố thuốc trừ sâu cao hơn Bên cạnh đó, nghiên cứu của Yong Hwan Kim năm 2012 trên 149 bệnh nhân cũng ghi nhận tỷ lệ nam giới chiếm tới 80,4%, phản ánh xu hướng tương tự về phổ biến của ngộ độc thuốc trừ sâu ở nam giới Các kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức và biện pháp phòng ngừa để giảm thiểu tác động của ngộ độc thuốc trừ sâu đến sức khỏe cộng đồng.

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ ngộ độc ở nam giới cao hơn nữ giới, phần lớn nguyên nhân là do tự tử, với khoảng 85% các vụ ngộ độc liên quan đến hành vi tự tử (Biểu đồ 3.6) Theo Hundekari IA tại Ấn Độ, trong hơn 150 trường hợp, tỷ lệ nam giới ngộ độc chiếm 61,33% và nữ giới 38,67% Nghiên cứu của Mahrous A Ibrahim trên 90 trường hợp cho thấy tỷ lệ nữ giới cao hơn, với 56% so với 44% của nam giới Các nghiên cứu khác cũng đồng thuận về tỷ lệ tự tử chiếm phần lớn trong các vụ ngộ độc PPHC, như nghiên cứu của Murat Sungur với 68% và của Sahin Cloak với 67,2% Nguyên nhân chủ yếu của ngộ độc là do tự tử, phản ánh xu hướng đáng chú ý trong các báo cáo y học về ngộ độc trong cộng đồng.

Nam giới thường chịu đựng cảm xúc kém hơn phụ nữ, dễ dẫn đến hành vi tự tử Các trường hợp tự tử này chủ yếu thuộc nhóm có mức sống thấp, trong đó nghèo chiếm tới 61% Ngoài ra, trình độ học vấn hạn chế cũng là một yếu tố liên quan, góp phần vào nguy cơ tự tử cao hơn trong cộng đồng.

50% có trình độ cấp I trở xuống, Biểu đồ 3.4), nên có nổi khổ và nhiều bức xúc trong cuộc sống

Ngộ độc thuốc sâu PPHC có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, từ 15 đến 65 tuổi, với tuổi trung bình là 35±14 tuổi (Biểu đồ 3.2) Theo nghiên cứu của chúng tôi, nhóm tuổi dưới 40 chiếm tỷ lệ cao nhất với 69,5%, thấp hơn so với Nguyễn Đức Lư với 75% Trong khi đó, nhóm 40–60 tuổi chiếm 22%, cao hơn so với 17% trong nghiên cứu của ông Nhóm trên 60 tuổi không có sự khác biệt rõ ràng, chiếm khoảng 8% Tuổi trung bình của các bệnh nhân phù hợp với các nghiên cứu trước như của Okhan Akdur (t trung bình 34±13,8 tuổi, năm 2008) và Kishore Gnana Sam Mpharm (t trung bình 31,23±11,11 tuổi), đặc biệt là đối tượng dưới 40 tuổi thường gặp phải tình trạng ngộ độc thuốc sâu PPHC.

Nghiên cứu của Maxime Maignan cho thấy tuổi trung bình của các bệnh nhân là 40, thấp nhất là 28 tuổi và cao nhất là 65 tuổi, trong khi nghiên cứu của Parul Goel ghi nhận nhóm tuổi trung bình của nam là 38,9±12,55 và của nữ là 37±12,41, đều thuộc độ tuổi lao động có khả năng tiếp xúc nhiều với thuốc trừ sâu PPHC, từ đó tăng nguy cơ ngộ độc Hầu hết các bệnh nhân ngộ độc PPHC là nông dân chiếm tới 78%, cao hơn các nghiên cứu trước đó, như của Nguyễn Ngọc Mai và Nguyễn Huy Ngọc, lần lượt là 72,6% và 73%, vì họ thường xuyên tiếp xúc với thuốc trừ sâu trong quá trình sản xuất nông nghiệp Ngoài ra, nhóm tuổi này thường gặp áp lực tâm lý lớn từ các vấn đề kinh tế, tình cảm, xã hội, dễ dẫn đến tự tử bằng cách sử dụng các loại thuốc độc sẵn có trong nhà, trong đó thuốc trừ sâu là phương pháp phổ biến nhất do tính dễ sử dụng và dễ mua.

Các loại thuốc gây độc thuộc nhóm PPHC thường gặp bao gồm các thuốc có độc tính cao như Monitor, Basudin, Azodrin, Hopsan, Parathion, được trình bày trong Bảng 3.2 Mặc dù độc tính của các loại thuốc PPHC khác nhau, nhưng tác dụng của chúng tương tự nhau và mức độ nguy hiểm phụ thuộc vào mức độ ngộ độc, không thể so sánh sức mạnh của từng loại thuốc với nhau.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, phần lớn các bệnh nhân ngộ độc thuốc trừ sâu PPHC đến bệnh viện trong vòng 6 giờ kể từ khi tiếp xúc, chiếm 84,7%, cao hơn so với tỷ lệ 80% được ghi nhận trong nghiên cứu của Chaou C.H năm 2010 [28] Điều này cho thấy với phương tiện và điều kiện giao thông thuận tiện hiện nay, người nhà có thể dễ dàng và nhanh chóng đưa bệnh nhân ngộ độc tới các cơ sở y tế cấp cứu Sự phát hiện sớm và chuyển bệnh nhân đến bệnh viện kịp thời đóng vai trò quan trọng trong nâng cao hiệu quả điều trị và giảm thiểu biến chứng Việc này không chỉ giúp tối ưu hóa kết quả chăm sóc cho bệnh nhân ngộ độc PPHC mà còn có tác động tích cực đến quá trình chuyển tuyến và hỗ trợ các bệnh viện tuyến dưới trong công tác cấp cứu.

Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân ngộ độc phospho hữu cơ

Qua nghiên cứu 59 bệnh nhân ngộ độc PPHC cho thấy có 46 trường hợp có biểu hiện của 03 Hội chứng lâm sàng cơ bản (Bảng 3.3):

▪ Hội chứng Muscarin: 47,5% (28 bệnh nhân)

▪ Hội chứng Nicotin : 13,6% (8 bệnh nhân)

▪ Hội chứng Thần kinh trung ương: 16,9% (10 bệnh nhân)

Tỷ lệ xuất hiện 03 hội chứng đối với bệnh nhân ngộ độc PPHC trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của Nguyễn Đức

Các nghiên cứu đều cho thấy tỉ lệ các hội chứng khi ngộ độc PPHC khá cao, với hội chứng Muscarin phổ biến nhất, dao động từ 73% đến 100%, trong khi hội chứng Thần kinh trung ương có tỉ lệ từ 39% đến 78% Sự khác biệt trong các số liệu có thể được giải thích bởi thực tế nhiều bệnh nhân đã được sơ cứu trước khi nhập viện, như rửa dạ dày, xử lý than hoạt, atropine hay PAM, khiến các triệu chứng lâm sàng không rõ ràng hơn so với lần nhập viện ban đầu Ngoài ra, trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi còn có 6 trường hợp ngộ độc do sinh hoạt lao động, mức độ nhẹ và không có các hội chứng lâm sàng rõ ràng, góp phần làm giảm tỷ lệ các hội chứng này trong tổng thể.

Hội chứng Muscarin luôn xuất hiện trong các bệnh nhân ngộ độc PPHC theo lý thuyết Tuy nhiên, trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ có 47,5% (28 bệnh nhân) thể hiện rõ hội chứng này Dù vậy, so với hai hội chứng còn lại, hội chứng Muscarin chiếm tỷ lệ cao nhất, phù hợp với nhận định của nhiều tác giả về các trường hợp ngộ độc PPHC thường biểu hiện hội chứng Muscarin rõ nét.

Hội chứng Nicotin có yếu cơ hoặc liệt cơ chiếm 13,6% (8 bệnh nhân)

Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ các biểu hiện của hội chứng nicotine thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Đức Lư (76,2%) và Nguyễn Huy Ngọc (86%), đồng thời nhiều tác giả xem triệu chứng liệt cơ hô hấp là dấu hiệu của ngộ độc nặng Kết quả nghiên cứu cho thấy, khi mức độ ngộ độc càng nặng, tỷ lệ gặp hội chứng nicotine tăng cao và nguy cơ phải thở máy cũng gia tăng đáng kể.

Hội chứng thần kinh trung ương có rối loạn ý thức chiếm tỷ lệ 16,9% (10 bệnh nhân), trong đó có những trường hợp hôn mê với điểm số Glasgow < 8 chiếm 10,2%, và điểm số từ 8-12 cũng chiếm 10,2%, thấp hơn so với nghiên cứu của Phạm Duệ (59,1%) Ngộ độc càng nặng, tỷ lệ gặp hội chứng thần kinh trung ương càng cao, và có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa ba nhóm độ nặng lâm sàng (nặng, vừa, nhẹ).

Qua so sánh kết quả nghiên cứu của chúng tôi với các tác giả khác thấy rằng: Hội chứng muscarin là luôn luôn có, trung thành nhất; Hội chứng

Nicotin và Hội chứng thần kinh trung ương liên quan đến mức độ ngộ độc trung bình và nặng của ngộ độc PPHC

4.2.2 Các triệu chứng trầm trọng

Suy hô hấp là tình trạng bệnh nhân nhập viện với tỷ lệ khá cao 16,9% (10 trường hợp), thể hiện rõ trong Biểu đồ 3.10 Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Thái, tất cả các trường hợp tử vong đều do suy hô hấp, với tỷ lệ tử vong trên các bệnh nhân suy hô hấp là 15%, cao hơn so với kết quả của chúng tôi (01 trường hợp tử vong, chiếm 10% trong tổng số 10 trường hợp suy hô hấp) Nghiên cứu của Jennifer L Carey trên 376 bệnh nhân cho thấy tỷ lệ suy hô hấp là 24%, cũng cao hơn so với nghiên cứu của chúng tôi Sự khác biệt này có thể do mẫu nghiên cứu của chúng tôi có số lượng hạn chế hoặc đặc điểm đặc trưng khác biệt của bệnh nhân.

59 trường hợp nên tỷ lệ bệnh nhân có biểu hiện suy hô hấp chắc chắn cũng thấp hơn các nghiên cứu có mẫu lớn hơn

Suy hô hấp cấp tính là hậu quả nghiêm trọng của ngộ độc PPHC, gây liệt cơ hô hấp do ức chế trung tâm hô hấp và làm mất khả năng cung cấp oxy cho bệnh nhân, thường xuất hiện sớm hoặc muộn tùy theo lâm sàng Các biểu hiện sớm của suy hô hấp thường liên quan đến dấu hiệu thần kinh trung ương và hội chứng Muscarin, trong khi suy hô hấp muộn có thể liên quan đến rối loạn chức năng thần kinh cơ, đòi hỏi nghiên cứu sâu hơn để nâng cao phương pháp điều trị Hầu hết các trường hợp tử vong do ngộ độc PPHC đều liên quan đến suy hô hấp, đặc biệt khi bệnh nhân nhập viện trong tình trạng đã nặng, gây co thắt phế quản, tăng tiết dịch và rối loạn nhịp tim Theo nghiên cứu của Hundekari IA, nguyên nhân tử vong hàng đầu là suy hô hấp, tỷ lệ tử vong phụ thuộc vào loại thuốc gây độc, lượng sử dụng, sức khỏe bệnh nhân và tốc độ chẩn đoán, điều trị Khi có dấu hiệu suy hô hấp, cần tiến hành hồi sức hô hấp ngay lập tức bằng phương pháp thông khí áp lực, thở máy và điều trị tích cực để giảm tỷ lệ tử vong Trong các trường hợp này, sử dụng Atropine là ưu tiên đối với các bệnh nhân có biến chứng hội chứng Muscarin, còn đối với hội chứng Nicotin thì chưa cần thiết, giúp cải thiện tiên lượng và giảm nguy cơ tử vong.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có một trường hợp trụy mạch trong tổng số 59 bệnh nhân, với bệnh nhân vào viện trong tình trạng mạch bằng 0, huyết áp bằng 0, hôn mê sâu theo thang điểm Glasgow 3, ngưng tim và ngưng thở sau hồi sức, đặt nội khí quản, thở máy và sử dụng thuốc đối kháng, qua đó bệnh nhân có diễn biến tích cực hơn với mạch và huyết áp trở lại nhưng vẫn còn hôn mê sâu, sau điều trị một thời gian xuất hiện biến chứng viêm phổi và tử vong sau 12 ngày Theo nghiên cứu của Jose Chacko, rối loạn nhịp tim thường gặp ở bệnh nhân ngộ độc cấp tính PPHC, thể hiện qua các biểu hiện như nhịp nhanh thất và vô tâm thu Độc tính của PPHC tác động lên tim qua ba giai đoạn chính: ban đầu là tác động mạnh mẽ vào hệ giao cảm trong vài phút, biểu hiện bằng nhịp tim nhanh và tăng huyết áp (các triệu chứng của hội chứng Nicotin), tiếp đó là giai đoạn dài hơn với hoạt động cholinergic, tim biểu hiện nhịp chậm và hạ huyết áp kèm các thay đổi sóng ST-T, gây nguy hiểm đến tính mạng bệnh nhân; giai đoạn cuối kéo dài với QT kéo dài, sóng VT bất thường có thể dẫn đến tử vong, thường xuất hiện từ vài giờ đến 15 ngày sau khi ngộ độc, khi các dấu hiệu độc tính rõ ràng bắt đầu giảm dần.

Hôn mê thường xuất hiện ở bệnh nhân ngộ độc, đặc biệt là ngộ độc PPHC, khi mới nhập viện điều trị Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân có hôn mê trước khi vào viện là 10,2% (Glasgow < 8 điểm), thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Văn Thái là 17% Hôn mê là biểu hiện rất nặng của ngộ độc PPHC, hầu hết các trường hợp nặng và tử vong đều ghi nhận bệnh nhân có hôn mê trước khi nhập viện; trong nghiên cứu của chúng tôi, có 01 trường hợp tử vong cũng có biểu hiện hôn mê.

4.2.3 Kết quả xét nghiệm men cholinesterase huyết tương

Kết quả trong Bảng 3.5 cho thấy, trong tổng số 59 trường hợp, nồng độ men cholinesterase huyết tương thấp nhất là 69 U/L, cao nhất là 6.741 U/L, với giá trị trung bình là 1.080,9 ± 1.435,9 U/L Bảng 3.7 cho thấy có 16,9% (10/59) các trường hợp xét nghiệm men cholinesterase huyết tương bình thường, trong khi đó, còn khoảng 13,6% (8/59) các trường hợp có mức giảm nhẹ trong khoảng 20% - 50%, cho thấy sự biến động rõ rệt về nồng độ men trong mẫu nghiên cứu.

Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Mai trên 73 bệnh nhân cho thấy tỷ lệ giảm men nhẹ chiếm 35,13%, giảm trung bình 16,16%, và giảm nặng chiếm 48,64% [14] Trong một nghiên cứu khác của EddLeston.M, kết quả cho thấy 48% người bệnh có mức men cholineesterase dưới 600U/L khi bị ngộ độc PPHC [30] Kishore Gnana Sam Mpharm trên 68 trường hợp ghi nhận mức men thấp nhất là 60U/L, cao nhất là 8.020U/L, và trung bình là 295U/L [45] Nghiên cứu của Peter.J.V trên 396 bệnh nhân cho thấy mức men trung bình là 317U/L, với thấp nhất là 222U/L và cao nhất là 635U/L, thấp hơn nhiều so với số liệu của chúng tôi [54] Trong khi đó, nghiên cứu của Xiaofeng Zhang trên 180 bệnh nhân ghi nhận mức men trung bình đối với nam là 8.436±1.971, đối với nữ là 7.158±1.510, cao hơn đáng kể so với kết quả của chúng tôi [63].

Qua kết quả trên cho thấy tỷ lệ cholinesterase huyết tương giảm tỷ lệ thuận với tình trạng trầm trọng đối với bệnh nhân ngộ độc PPHC

Các trường hợp men giảm nhẹ, trung bình thường chỉ có triệu chứng lâm sàng nhẹ, trong khi đó một số trường hợp men giảm ít nhưng triệu chứng nặng hơn, và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p=0,001), như đã nêu trong Bảng 3.8 Nghiên cứu của Hsien-Yi Chen M.D với 168 bệnh nhân có men giảm cho thấy giới hạn bình thường của men rất rộng, khiến một số trường hợp có men giảm ít nhưng thực chất đã giảm nhiều so với chính mức ban đầu của từng bệnh nhân trước khi ngộ độc Yardan.T nhận định chỉ số men cholinesterase liên quan tới mức độ dự đoán lâm sàng của bệnh nhân mới nhập viện, nhưng không dự đoán chính xác khả năng tử vong, và sự gia tăng men trong giai đoạn hồi phục chứng minh điều đó Tuy nhiên, 83,1% (49/59) bệnh nhân có men cholinesterase giảm có thể chưa phản ánh hoàn toàn tình trạng bệnh, thực tế tất cả bệnh nhân trong nghiên cứu đều có men giảm, các trị số bình thường nằm trong khoảng từ 5.300 – 12.900 U/L, cho thấy mức giảm này là phổ biến trong ngộ độc PPHC.

Kết quả xét nghiệm men Cholinesterase không đủ để đánh giá chính xác tình trạng ngộ độc PPHC, như nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có 13 trường hợp ngộ độc nặng nhưng chỉ có 4/13 trường hợp có men ở mức nhẹ hoặc trung bình Nhận định này phù hợp với ý kiến của Nguyễn Ngọc Mai, cho rằng không nên dựa vào giảm men là yếu tố duy nhất để xác định mức độ nặng nhẹ của bệnh, đồng thời làm cơ sở cho chọn lựa thuốc điều trị Thực tế điều trị và kết quả xét nghiệm của Phạm Duệ cho thấy không thể chỉ dựa vào mức men để chẩn đoán chính xác hoặc đánh giá độ nặng của ngộ độc PPHC Theo Xiaofeng Zhang, có sự khác biệt về chỉ số men giữa nhóm người tiếp xúc nhiều và ít với thuốc trừ sâu do yếu tố nghề nghiệp, do đó khi đánh giá bệnh nhân qua xét nghiệm men cần có sự khách quan hơn, khai thác yếu tố nghề nghiệp Siva Prabodh V nhấn mạnh rằng, ngoài số huyết thanh acetylcholinesterase, cần phải xem xét các biểu hiện lâm sàng của người bệnh để xây dựng kế hoạch điều trị hiệu quả hơn.

Trong tổng số 59 trường hợp nghiên cứu, có 47,5% bệnh nhân có tăng bạch cầu, phản ánh phản ứng của cơ thể trước tình trạng nhiễm độc Tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu của Vũ Văn Đính và Nguyễn Đình Chất, khi họ nhận thấy tăng bạch cầu trong 83,87% các trường hợp ngộ độc PPHC Sự tăng bạch cầu này không phụ thuộc vào yếu tố nhiễm khuẩn hay không nhiễm khuẩn, cho thấy đây là phản ứng sinh lý của cơ thể trước độc tố mà không liên quan đến nhiễm trùng.

Ngộ độc PPHC gây tăng số lượng bạch cầu đa nhân trung tính nhưng làm giảm hiệu quả thực bào, đặc biệt khi mức độ ngộ độc nặng hơn, khả năng thực bào càng giảm Điều này có thể là yếu tố bệnh sinh góp phần làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn trong ngộ độc PPHC Vì vậy, việc sử dụng kháng sinh dự phòng trong các trường hợp ngộ độc cấp PPHC nặng là cần thiết để giảm thiểu biến chứng nhiễm trùng.

Kết quả xét nghiệm máu cho thấy 42,4% bệnh nhân có pH máu giảm, cho thấy chỉ số pH máu là một trong những biểu hiện cận lâm sàng thường gặp ở bệnh nhân ngộ độc PPHC Trong khi đó, tỷ lệ giảm natri máu rất ít, chỉ chiếm một phần nhỏ trong các trường hợp ngộ độc PPHC Hạ kali máu diễn ra nhiều hơn, với 74,6% (44/59) bệnh nhân mắc phải, phản ánh rối loạn điện giải phổ biến trong quá trình ngộ độc Tuy nhiên, rối loạn nước và điện giải thường ít được chú ý trong các báo cáo về ngộ độc PPHC Phần lớn bệnh nhân có chỉ số creatinine bình thường, cho thấy ảnh hưởng của chức năng thận đến tình trạng ngộ độc PPHC còn hạn chế Xét nghiệm HCO3- thường giảm rõ rệt, là đặc trưng điển hình của các bệnh nhân ngộ độc PPHC.

Ứng dụng thang điểm APACHE II để đánh giá tiên lượng nặng và tử

APACHE II là một hệ thống phân loại mức độ nghiêm trọng của bệnh nhân được Knaus mô tả vào năm 1985 [23] Là một trong những hệ thống được áp để đánh giá tình trạng bệnh nhân trong vòng 24 giờ đầu nhập viện tại khoa cấp cứu; một số nguyên từ 0-71 điểm được tính toán dựa trên một số phép đo, điểm số càng cao tương ứng với bệnh nặng và nguy cơ tử vong càng cao

Hệ thống thang điểm APACHE II được sử dụng để đánh giá tiên lượng các trường hợp bệnh nặng, ngộ độc thuốc trừ PPHC và các trường hợp ngộ độc khác, giúp chọn lựa phương pháp điều trị phù hợp Điểm APACHE II phản ánh mức độ nặng của bệnh nhân, phục vụ trong việc so sánh các bệnh nhân và dự đoán khả năng tử vong Dù là hệ thống mới, thang điểm này đã được áp dụng rộng rãi nhờ vào nhiều nghiên cứu chứng minh hiệu quả của nó Điểm số được tính dựa trên độ tuổi và 12 phép đo sinh lý quan trọng như nhiệt độ, oxy máu, pH máu, nhịp tim, nhịp thở, natri, kali, Hematocrit, creatinine, và Glasgow trong 24 giờ đầu sau nhập viện, kết hợp với thông tin về tiền sử sức khỏe trước đó Thông tin thu thập từ các số liệu lâm sàng và mẫu bệnh án đã được thiết kế sẵn để hỗ trợ việc tính điểm chính xác.

Chúng tôi phân chia điểm APACHE II thành 08 nhóm để đánh giá mức độ nặng nhẹ của bệnh nhân, dựa trên Bảng 3.9 [19], trong khi nghiên cứu của Nguyễn Quang Hoà chia thành 06 nhóm [9] Tiêu chuẩn tiên lượng tình trạng bệnh nhân được xác định dựa trên điểm số, với mức độ nhẹ, trung bình và nặng tương ứng lần lượt là các nhóm điểm dưới 10, từ 10 đến 19, và trên 20.

Nhóm điểm dưới 10 chiếm tỷ lệ cao nhất là 71,2% (42/59 trường hợp), thể hiện rằng phần lớn học sinh có điểm thấp Nhóm điểm từ 10 đến 19 chiếm 20,4% (12/59), trong khi nhóm trên 19 điểm chiếm 8,5% (5/59) Trong đó, có một trường hợp tử vong thuộc nhóm điểm trên 19, chiếm tỷ lệ tử vong 20% trong nhóm này, như đã được thể hiện trong Bảng 3.10 Nghiên cứu của Shou-Liang Hu đã nhấn mạnh mối liên hệ giữa điểm số và tỷ lệ tử vong.

Khám phá điểm APACHE II trung bình của bệnh nhân khi mới nhập viện là 14,7 ± 3,8, cho thấy mức độ bệnh nặng ban đầu Tuy nhiên, chỉ số này đã giảm đáng kể sau một khoảng thời gian điều trị, phản ánh quá trình cải thiện sức khỏe và hiệu quả của các biện pháp chăm sóc y tế.

Trong nhóm điểm APACHE II dưới 10 điểm, chiếm đến 71,2% với 42/59 trường hợp, chủ yếu là các trường hợp ngộ độc nhẹ và trung bình, lần lượt chiếm 45,2% (19/42) và 54,8% (23/42), thể hiện qua Bảng 3.11 Nhóm điểm thấp này cho thấy các bệnh nhân bị ngộ độc PPHC ở mức độ nhẹ hoặc trung bình, phù hợp với thực tế là hầu hết các bệnh nhân đã được xử trí sơ bộ tại các bệnh viện tuyến dưới trước khi nhập viện tại Khoa HSTC – CĐ, gồm rửa dạ dày (86,4%), than hoạt (50,8%), Atropine (35,6%) và PAM (13,6%), giúp giảm đáng kể mức độ trầm trọng của ngộ độc PPHC.

Trong nhóm điểm từ 10-19 điểm, có 20,4% tổng số trường hợp (12/59) Các bệnh nhân trong nhóm này thường bị đánh giá ngộ độc ở mức độ trung bình, chiếm 33,3% (4/12), và mức độ nặng chiếm 66,7% (8/12) Những trường hợp này chưa được bệnh viện tuyến dưới xử trí đầy đủ, dẫn đến nguy cơ giảm khả năng giảm nhẹ tình trạng ngộ độc, với tỷ lệ không được rửa dạ dày là 13,6%, không được xử trí than hoạt là 49,2%, không được xử trí Atropine là 63,4%, và không có xử trí PAM lên tới 86,4% Trong nhóm này đã ghi nhận một trường hợp tử vong, chứng tỏ việc dự đoán tình trạng ngộ độc nặng trong nhóm điểm này là phù hợp và cần chú trọng hơn trong xử trí ban đầu.

Trong nhóm điểm trên 19 điểm, có 5/59 trường hợp (8,5%) được xác định là ngộ độc nặng, phù hợp với tiêu chí đánh giá tình trạng ngộ độc theo thang điểm APACHE II Các bệnh nhân thuộc nhóm này đều được đánh giá là ngộ độc nặng, cho thấy mức độ nghiêm trọng của các trường hợp trong nhóm điểm cao Ngoài ra, chúng tôi nhận thấy nguyên nhân của tình trạng ngộ độc nặng ở nhóm này có thể tương tự với nhóm bệnh nhân có điểm từ 10-19 điểm, góp phần làm rõ mối liên hệ giữa mức điểm và mức độ nặng của ngộ độc.

Kết quả cho thấy hệ thống thang điểm APACHE II có giá trị dự báo chính xác về mức độ nặng và tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân ngộ độc PPHC So sánh với nghiên cứu của Nguyễn Quang Hòa [9], nhóm dưới 10 điểm chiếm 15%, thấp hơn so với kết quả của chúng tôi; nhóm 10-19 điểm chiếm 25%, gần bằng; trong khi nhóm >19 điểm chiếm 41,90%, cao hơn nhiều so với nghiên cứu của chúng tôi Sự khác biệt này có thể được giải thích do nghiên cứu của Nguyễn Quang Hòa tại Trung tâm Chống độc Hà Nội, nơi tiếp nhận và điều trị các trường hợp ngộ độc nặng từ khu vực phía Bắc, dẫn đến tỷ lệ bệnh nặng dự báo cao hơn so với nghiên cứu của chúng tôi. -Tăng hiệu quả viết lại bài SEO với [Pollinations.AI](https://pollinations.ai/redirect/kofi) – công cụ AI đột phá dành cho nhà sáng tạo nội dung như bạn!

Nghiên cứu của N Eizadi-Mood cho thấy nhóm điểm trên 19 chiếm tỷ lệ 13,7%, cao hơn so với số liệu của chúng tôi Trong khi đó, nghiên cứu của Pardeepa Jayawardane lại ghi nhận tỷ lệ nhóm trên 19 điểm là 8,3%, gần bằng với kết quả của nghiên cứu này.

- Yếu tố liên quan giữa thang điểm APACHE II và men cholinesterase (Bảng 3.12):

Trong nhóm điểm APACHE II dưới 10 điểm, tỷ lệ bệnh nhân có mức men cholinesterase bình thường đạt 21,43% (9/42), trong khi đó, tỷ lệ người có men giảm nhẹ, trung bình chiếm khoảng 19,05%, và men giảm nặng chiếm đến 59,52% (25/42) Điều này cho thấy, mặc dù nhiều bệnh nhân có điểm APACHE II bình thường, nhưng tỷ lệ giảm men cholinesterase nặng vẫn chiếm tỷ lệ cao, phản ánh mức dự báo về tình trạng sức khỏe của bệnh nhân có thể còn nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thể trạng thực tế.

Trong nhóm điểm APACHE II từ 10 – 19 điểm, 8,3% bệnh nhân có men cholinesterase bình thường, trong khi đó, 16,67% có mức giảm nhẹ hoặc giảm trung bình, và đến 75% bệnh nhân có men giảm nặng Nhóm này gồm 12 trường hợp,cho thấy dự đoán trung bình về tình trạng bệnh nhân, tuy nhiên tỷ lệ giảm men nặng vẫn chiếm tỷ lệ cao, cho thấy mức độ nghiêm trọng của suy giảm men cholinesterase trong nhóm này.

Nhóm điểm APACHE II trên 19 điểm ghi nhận có giảm men cholinesterase nhẹ đến nặng, trong đó trung bình chiếm 40% (2/5 trường hợp) và giảm nặng chiếm 60% (3/5 trường hợp) Các bệnh nhân có điểm số > 19 điểm thường có tiên lượng ngộ độc nặng, đặc biệt khi kèm theo giảm men cholinesterase mức độ nặng, phản ánh mức độ nghiêm trọng của tình trạng bệnh.

Qua kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm bệnh nhân có điểm APACHE II

Trong nghiên cứu, mặc dù đều có mức men giảm ở các điểm số, nhưng có trường hợp điểm APACHE II dưới 10 vẫn đi kèm với mức men giảm nặng, cho thấy không có mối liên hệ thống kê có ý nghĩa giữa điểm APACHE II và mức men cholinesterase (p > 0,05) Điều này phù hợp với kết luận của Eun-Jung Kang, cho rằng mức độ giảm men cholinesterase không phản ánh chính xác điểm số APACHE II, nhằm làm rõ mối quan hệ giữa các yếu tố này trong chẩn đoán lâm sàng.

- Yếu tố liên quan giữa điểm điểm APACHE II và giới tính (Bảng 3.13):

Phần trăm nữ giới có điểm APACHE II 0,05), cho thấy giới tính không ảnh hưởng đáng kể đến mức độ ngộ độc theo điểm số này.

Đánh giá kết quả điều trị và các yếu tố liên quan

Kết quả điều trị cho 59 bệnh nhân ngộ độc PPHC cho thấy tỷ lệ tử vong chỉ 1,69% (1/59), theo Bảng 3.17 Trong khi đó, nghiên cứu của Arti Muley trên 76 bệnh nhân ghi nhận có 8 trường hợp tử vong, tương đương tỷ lệ 10,52%.

Các nghiên cứu về tỷ lệ tử vong trong ngộ độc PPHC cho thấy mức độ dao động từ 9% đến 30%, với nghiên cứu của Jan Muhammad Shaikh ghi nhận tỷ lệ 9%, Eun-Jung Kang là 19%, Shadnia S là 30%, và John Victor Peter là 13,1% Tỷ lệ tử vong trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn nhiều, chỉ 9%, có thể do mẫu nghiên cứu nhỏ, tỷ lệ bệnh nặng thấp (5/59 trường hợp nặng theo APACHE II), và thực hiện ở các đơn vị cấp cứu chống độc Kết quả này cho thấy công tác chẩn đoán và điều trị ngộ độc PPHC đã mang lại hiệu quả cao, mặc dù chúng tôi chưa đề cập đến phác đồ điều trị cụ thể mà tập trung vào giá trị dự báo và đánh giá mức độ ngộ độc của bệnh nhân để hướng đến điều trị tích cực và phù hợp Trong số các triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân, hội chứng thần kinh trung ương xuất hiện ở 16,9% (10/59), và việc kết hợp các dấu hiệu lâm sàng cùng xét nghiệm cholinesterase giúp lựa chọn thuốc và liều dùng phù hợp, chủ yếu là Atropine và PAM, để điều trị hiệu quả ngộ độc PPHC.

Rửa dạ dày là một bước quan trọng trong quá trình điều trị sau nhập viện, với 10,2% bệnh nhân (6/59 trường hợp) cần thực hiện thủ thuật này Phần lớn các trường hợp (86,40%) đã được tuyến trước thực hiện rửa dạ dày trước đó, cho thấy sự chủ động trong xử lý ban đầu Việc rửa dạ dày sau khi nhập viện thường được thực hiện đối với những bệnh nhân chưa từng được rửa dạ dày trước đó hoặc khi có chỉ định phải rửa lại do nghi ngờ tuyến trước chưa làm sạch triệt để.

Than hoạt được sử dụng để xử trí ngộ độc cho nhiều bệnh nhân, với 50,80% trong tổng số 59 trường hợp đã được tuyến trước xử trí Để đảm bảo an toàn cho các bệnh nhân còn lại và những trường hợp cần thêm biện pháp, tỷ lệ xử trí bằng than hoạt chiếm tới 69,5% Than hoạt là phương pháp giải độc đơn giản, dễ thực hiện và đã được các đơn vị cấp cứu sử dụng như một công cụ hiệu quả trong xử lý các trường hợp ngộ độc.

Trong quá trình điều trị, chúng tôi đã sử dụng Atropine cho 76,3% các trường hợp sau khi vào viện với thời gian trung bình là 3,89±2,596 ngày Trước đó, 35,6% bệnh nhân đã được sử dụng Atropine tại tuyến trước, tổng cộng có 66 trường hợp dùng thuốc trước và sau nhập viện, trong đó có 7 bệnh nhân dùng hai lần Chúng tôi nhận thấy cần thiết phải bổ sung liều Atropine nếu tuyến trước chưa đủ liều hoặc bệnh nhân có điều kiện nhưng chưa được chỉ định sử dụng Theo nghiên cứu của Heidi Hrabetz, thời gian sử dụng Atropine trung bình cho 27/33 trường hợp là 2 ngày, thấp hơn so với kết quả của chúng tôi.

Trong quá trình điều trị, có 10 bệnh nhân mắc hội chứng thần kinh trung ương cần sử dụng PAM, chiếm 18,6% trong tổng số 59 bệnh nhân, với thời gian trung bình sử dụng là 1,27 ± 0,467 ngày Đã có 8 bệnh nhân được sử dụng PAM trước nhập viện, góp phần nâng tổng số bệnh nhân sử dụng PAM trước và sau nhập viện lên 19 người Việc sử dụng PAM phải được cân nhắc kỹ dựa trên các dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng phù hợp, đảm bảo an toàn và hiệu quả trong điều trị Nghiên cứu của Hsien-Yi Chen ủng hộ việc dùng liều cao PAM trong 48 giờ nhằm cải thiện chức năng cholinesterase và giảm tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân.

Trong các nghiên cứu về tỷ lệ thở máy ở bệnh nhân, có khoảng 20,3% bệnh nhân phải thở máy, trong khi nghiên cứu của Eizadi.N-Mood ghi nhận tỷ lệ này là 13,7% [31], còn Jennifer L Carey báo cáo 24% bệnh nhân được đặt nội khí quản trong số 376 bệnh nhân nghiên cứu [40] Kết quả cho thấy tất cả các trường hợp có suy hô hấp đều được chỉ định thở máy, phản ánh tầm quan trọng của biện pháp này trong cấp cứu bệnh nhân ngộ độc có biểu hiện suy hô hấp [25] Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân suy hô hấp là 16,9%, nhưng tỷ lệ chỉ định thở máy là 20,3%, do một số bệnh nhân ngộ độc nặng chưa có biểu hiện suy hô hấp nhưng vẫn cần được chỉ định thở máy để đảm bảo an toàn.

Một số biến chứng thường gặp ở bệnh nhân ngộ độc phospho hữu cơ:

Viêm phổi là biến chứng phổ biến nhất, chiếm tỷ lệ 20,3% trong các trường hợp ngộ độc, đặc biệt khi ngộ độc nặng hơn thì nguy cơ viêm phổi càng cao Nghiên cứu của Murat Sungur cho thấy 21,3% bệnh nhân có biến chứng viêm phổi hít, một biến chứng nặng đòi hỏi theo dõi cẩn thận khi vận chuyển và nhận biết sớm mất phản xạ nôn để giảm thiểu nguy cơ Các nghiên cứu từ Sri Lanka của Sugunadevan.M.S và các tác giả Hàn Quốc như Han SC, Ko YH cũng ghi nhận tỷ lệ viêm phổi do biến chứng của ngộ độc PPHC lên tới hơn 22%, với tỷ lệ lên đến 78% theo nghiên cứu của Lee.P và 82% trong khảo sát của Heidi Hrabetz Hầu hết các trường hợp viêm phổi liên quan đến bệnh viện và thở máy, do đó, việc thực hiện các biện pháp như rửa tay và dẫn lưu định kỳ các dịch tồn đọng trong ống sonde là rất cần thiết để giảm thiểu tần suất biến chứng này.

Viêm phổi thường gặp ở những bệnh nhân suy hô hấp nặng và nguy kịch, nhưng cũng có nhiều trường hợp suy hô hấp nghiêm trọng không kèm theo viêm phổi, điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Theo nghiên cứu của Jun Ho Lee, tình trạng suy hô hấp không nhất thiết luôn đi kèm với viêm phổi, cho thấy sự đa dạng trong các nguyên nhân và yếu tố ảnh hưởng đến diễn biến bệnh Việc phân biệt chính xác giữa các trường hợp này là rất quan trọng để đưa ra phương pháp điều trị phù hợp và hiệu quả.

Trong nghiên cứu, có 46 trên 96 trường hợp tử vong, tỷ lệ tử vong là 22,9%, trong đó nguyên nhân chính gây tử vong là biến chứng viêm phổi.

Trong tất cả các bệnh nhân trụy mạch, suy hô hấp là tình trạng phổ biến, với 89,3% trong số 28 bệnh nhân viêm phổi của tác giả phát triển suy hô hấp Tác giả nhấn mạnh rằng trụy tim mạch và viêm phổi là hai yếu tố tiên quyết dẫn đến suy hô hấp.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, truỵ mạch là biến chứng hiếm gặp đối với bệnh nhân ngộ độc PPHC, chiếm tỷ lệ 1,69% (Bảng 3.20) và trường hợp này cũng đã tử vong Bệnh nhân vào viện trong tình trạng mạch = 0, huyết áp = 0, hôn mê sâu với điểm Glasgow 3, ngưng thở và được tiến hành hồi sức cấp cứu bao gồm hô hấp nhân tạo, sốc điện, đặt nội khí quản và thở máy, cùng sử dụng thuốc đối kháng Sau điều trị, bệnh nhân có mạch và huyết áp trở lại nhưng điểm Glasgow vẫn còn 3, sau 5 ngày xuất hiện biến chứng viêm phổi, và đến ngày thứ 12 thì tử vong Điều này phù hợp với khuyến cáo của Eizadi.N-Mood, cho thấy bệnh nhân có điểm Glasgow ≤10 điểm có nguy cơ biến chứng cao hơn so với những bệnh nhân có điểm >10 điểm.

Trong nghiên cứu này, thời gian điều trị cho 59 bệnh nhân ngộ độc PPHC dao động từ 3 đến 30 ngày, trung bình là 8,56 ± 5,322 ngày Có 18,6% số trường hợp điều trị dưới 5 ngày, 62,7% từ 5 đến 10 ngày, và 18,6% trên 10 ngày So với nghiên cứu của Chauo.C.H trên 131 bệnh nhân, thời gian điều trị trung bình dài hơn, khoảng 18 ± 14,5 ngày.

Nghiên cứu cho thấy thời gian điều trị dao động từ dưới 5 ngày đến trên 10 ngày, phản ánh mức độ ngộ độc khác nhau; phần lớn bệnh nhân điều trị trong vòng dưới 5 ngày có ngộ độc nhẹ, trong khi nhóm điều trị trên 10 ngày thường mắc ngộ độc trung bình đến nặng kèm biến chứng như viêm phổi và suy hô hấp, cần thời gian điều trị dài hơn để đạt hiệu quả Thang điểm APACHE II là công cụ hiệu quả trong việc đánh giá và tiên lượng tình trạng ngộ độc PPHC, giúp phân loại mức độ nặng nhẹ của bệnh nhân chính xác; các nghiên cứu của Saad Ahmed Naved và Panda.S đều nhấn mạnh tính hữu ích của hệ thống thang điểm này trong dự đoán tiên lượng bệnh nặng Trong một trường hợp nghiên cứu, bệnh nhân có điểm APACHE II là 20, dự báo tình trạng nặng, với các dấu hiệu giảm nhận thức nặng, số lượng bạch cầu tăng, mạch và huyết áp yếu, thang điểm Glasgow dưới 8, cùng các biểu hiện suy hô hấp và hội chứng thần kinh trung ương, cho thấy mức độ nghiêm trọng của ngộ độc.

Mặc dù đã điều trị tích cực nhưng bệnh nhân vẫn tử vong, đặc biệt lưu ý đến tình trạng ngộ độc dựa trên hội chứng lâm sàng và các xét nghiệm men Trong tổng số 59 trường hợp, có 13 ca nặng chiếm tỷ lệ 22% (xem bảng 3.4), trong đó có 1 trường hợp tử vong.

05 ca được chúng tôi tiên lượng nặng bằng thang điểm APACHE II (nhóm >

19 điểm) Như vậy việc tiên lượng tình trạng nặng của bệnh nhân dựa điểm số APACHE II là tương đối chính xác

Các yếu tố liên quan trong nghiên cứu:

Ngày đăng: 22/08/2023, 18:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Nguyễn Đạt Anh, Nguyễn Lân Việt, Phạm Quang Vinh, Nguyễn Quốc (2014), "Các Thang điểm thiết yếu sử dụng trong thực hành lâm sàng", NXB Thế giới, tr. 482-502 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Thang điểm thiết yếu sử dụng trong thực hành lâm sàng
Tác giả: Nguyễn Đạt Anh, Nguyễn Lân Việt, Phạm Quang Vinh, Nguyễn Quốc
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2014
[4] Nguyễn Đình Chắt, Vũ Văn Đính (1993), "Nghiên cứu tình trạng nhiểm khuẩn trong ngộ độc phospho cấp hữu cơ", Tạp chí Y học thực hành số 5, Bộ Y tế xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình trạng nhiểm khuẩn trong ngộ độc phospho cấp hữu cơ
Tác giả: Nguyễn Đình Chắt, Vũ Văn Đính
Nhà XB: Bộ Y tế
Năm: 1993
[5] Phạm Duệ (2004), Nghiên cứu kết hợp PAM và atropin trong điều trị ngộ độc cấp phospho hữu cơ, Luận án tiến sỹ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu kết hợp PAM và atropin trong điều trị ngộ độc cấp phospho hữu cơ
Tác giả: Phạm Duệ
Nhà XB: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2004
[9] Nguyễn Quang Hòa (2011), Áp dụng thang điểm APACHE II trong đánh giá độ nặng và tiên lượng tử vong ở bệnh nhân ngộ độc cấp, Luận văn thạc sỹ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn thạc sỹ Y học
Tác giả: Nguyễn Quang Hòa
Nhà XB: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2011
[10] Nguyễn Đức Lư (1999), Khảo sát các yếu tố tiên lượng nặng và tử vong ở bệnh nhân ngộ độc cấp phospho hữu cơ, Luận án Thạc sĩ, Trường Đại học Y dược Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát các yếu tố tiên lượng nặng và tử vong ở bệnh nhân ngộ độc cấp phospho hữu cơ
Tác giả: Nguyễn Đức Lư
Nhà XB: Trường Đại học Y dược Tp Hồ Chí Minh
Năm: 1999
[11] Nguyễn Đức Lư (2013), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị suy hô hấp ở bệnh nhân ngộ độc cấp hóa chất thuốc trừ sâu phospho hữu cơ, Luận án Tiến sĩ, Học viện Quân y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị suy hô hấp ở bệnh nhân ngộ độc cấp hóa chất thuốc trừ sâu phospho hữu cơ
Tác giả: Nguyễn Đức Lư
Nhà XB: Học viện Quân y
Năm: 2013
[12] Nguyễn Đức Lư, Đoàn Quang Vinh (2011), "Nghiên cứu tình trạng ngộ độc hóa chất trừ sâu phospho hữu cơ tại một số tỉnh miền Trung - Tây nguyên", Y học thực hành (798), Số 12, tr. 64-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình trạng ngộ độc hóa chất trừ sâu phospho hữu cơ tại một số tỉnh miền Trung - Tây nguyên
Tác giả: Nguyễn Đức Lư, Đoàn Quang Vinh
Nhà XB: Y học thực hành
Năm: 2011
[13] Nguyễn Đức Lư, Nguyễn Thị Dụ (2011), "Nhận xét các trường hợp tử vong do ngộ độc cấp phospho hữu cơ", Y học thực hành (797), Số 12, tr. 62-64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận xét các trường hợp tử vong do ngộ độc cấp phospho hữu cơ
Tác giả: Nguyễn Đức Lư, Nguyễn Thị Dụ
Nhà XB: Y học thực hành
Năm: 2011
[14] Nguyễn Ngọc Mai (2005), Đánh giá hiệu quả phác đồ điều trị phối hợp pralidoxime với atropine trong cấp cứu ngộ độc lân hữu cơ tại Bệnh viện đa khoa Kiên Giang, Luận án chuyên khoa cấp II, Học viện Quân y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả phác đồ điều trị phối hợp pralidoxime với atropine trong cấp cứu ngộ độc lân hữu cơ tại Bệnh viện đa khoa Kiên Giang
Tác giả: Nguyễn Ngọc Mai
Nhà XB: Học viện Quân y
Năm: 2005
[15] Kha Hữu Nhân (1997), "Nhận xét về tổng liều atropin trong điều trị ngộ độc thuốc trừ sâu kháng cholinesterase tại khoa Hồi sức cấp cứu Bệnh viện đa khoa tỉnh Cần Thơ 1990 - 1992", Tuyển tập công trình khoa học công nghệ, Trường Đại học Cần Thơ, tr. 56-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập công trình khoa học công nghệ
Tác giả: Kha Hữu Nhân
Nhà XB: Trường Đại học Cần Thơ
Năm: 1997
[16] Nguyễn Huy Ngọc (2002), Sử dụng pralidoxim trong điều trị ngộ độc cấp phospho hữu cơ theo phân loại lâm sàng và theo liều atropin, Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Y học, trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Y học
Tác giả: Nguyễn Huy Ngọc
Nhà XB: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2002
[18] Nguyễn Văn Thái (1996), Nghiên cứu ứng dụng pralidoxim trong điều trị ngộ độc phospho hữu cơ, Luận án Thạc sĩ, Trường Đại học Y Dược Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ứng dụng pralidoxim trong điều trị ngộ độc phospho hữu cơ
Tác giả: Nguyễn Văn Thái
Nhà XB: Trường Đại học Y Dược Tp Hồ Chí Minh
Năm: 1996
[19] Phạm Ngọc Thảo (2013), Hồi sức cấp cứu - Chống độc, Trường Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh, tr.294-295 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồi sức cấp cứu - Chống độc
Tác giả: Phạm Ngọc Thảo
Nhà XB: Trường Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2013
[20] Phạm Ngọc Thảo (2012), "Tình hình ngộ độc tại bệnh viện Chợ Rẫy", Hội thảo điều trị ngộ độc, Bệnh viện Chợ Rẫy, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình ngộ độc tại bệnh viện Chợ Rẫy
Tác giả: Phạm Ngọc Thảo
Nhà XB: Hội thảo điều trị ngộ độc
Năm: 2012
[21] Đặng Quang Tâm (2009), Phác điều trị, Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ, tr.366-370TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phác điều trị
Tác giả: Đặng Quang Tâm
Nhà XB: Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ
Năm: 2009
[23] Amy Grace Rapsang (2014), "Scoring systems in the intensive care unit: A compendium". Department of Anesthesiology and Intensive Care, Jaw aharlal of Post graduate, medical Education and Research, Dhanvantari Nagar, Puducherry, India, Volume (18), Issue (4), pp.220-228 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Scoring systems in the intensive care unit: A compendium
Tác giả: Amy Grace Rapsang
Nhà XB: Department of Anesthesiology and Intensive Care, Jawaharlal of Post graduate, medical Education and Research, Dhanvantari Nagar, Puducherry, India
Năm: 2014
[3] Nguyễn Đình Chắt, Nguyễn Ngọc Lanh và cs (1993), "Giảm khả năng của thực bào đa nhân trung tính, trong ngộ độc cấp phospho hữu cơ", Tạp chí Y học thực hành số 6, Bộ Y tế xuất bản Khác
[22] Akhan Akdur (2010), "Poisoning severity score, Glasgow coma scale, corrected QT interval in acute organophosphate poisoning". Human and Experimental Toxicology 29(5), pp.419-425 Khác
[24] Arti Muley (2014), "To indentify morbidity and mortality predictors in acute organophosphate poisoning", Indian Journal of Critical Care Medicine Vol 18 Issue 5, pp. 297-300 Khác
[25] Ashutosh N. AGGARWAL (2006), "Performance of standard severity scoring systems for outcome prediction in patients admitted to a respiratory intensive care unit in North India". Department of Pulmonary Medicine, Postgraduate Institure of Medical Education and Research, Chandigarh, India. Respirology 11, pp.196-204 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng điểm APACHE II [1] - 1698 Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng Cận Lâm Sàng Và Yếu Tố Tiên Lượng Nặng Của Ngộ Độc Phospho Hữu Cơ Tại Bv Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ.pdf
ng điểm APACHE II [1] (Trang 23)
SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU - 1698 Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng Cận Lâm Sàng Và Yếu Tố Tiên Lượng Nặng Của Ngộ Độc Phospho Hữu Cơ Tại Bv Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ.pdf
SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU (Trang 51)
Bảng 3.1. Phân bố theo vùng - 1698 Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng Cận Lâm Sàng Và Yếu Tố Tiên Lượng Nặng Của Ngộ Độc Phospho Hữu Cơ Tại Bv Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ.pdf
Bảng 3.1. Phân bố theo vùng (Trang 53)
Bảng 3.3. Hội chứng lâm sàng - 1698 Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng Cận Lâm Sàng Và Yếu Tố Tiên Lượng Nặng Của Ngộ Độc Phospho Hữu Cơ Tại Bv Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ.pdf
Bảng 3.3. Hội chứng lâm sàng (Trang 57)
Bảng 3.6. Kết quả xét nghiệm cận lâm sàng (n=59) - 1698 Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng Cận Lâm Sàng Và Yếu Tố Tiên Lượng Nặng Của Ngộ Độc Phospho Hữu Cơ Tại Bv Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ.pdf
Bảng 3.6. Kết quả xét nghiệm cận lâm sàng (n=59) (Trang 60)
Bảng 3.8. Phân loại mức độc ngộ độc theo men cholinesterase - 1698 Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng Cận Lâm Sàng Và Yếu Tố Tiên Lượng Nặng Của Ngộ Độc Phospho Hữu Cơ Tại Bv Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ.pdf
Bảng 3.8. Phân loại mức độc ngộ độc theo men cholinesterase (Trang 61)
Bảng 3.12. Yếu tố liên quan giữa điểm APACHE II và men cholinesterase - 1698 Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng Cận Lâm Sàng Và Yếu Tố Tiên Lượng Nặng Của Ngộ Độc Phospho Hữu Cơ Tại Bv Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ.pdf
Bảng 3.12. Yếu tố liên quan giữa điểm APACHE II và men cholinesterase (Trang 63)
Bảng 3.11. Phân loại ngộ độc dựa vào thang điểm APACHE II - 1698 Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng Cận Lâm Sàng Và Yếu Tố Tiên Lượng Nặng Của Ngộ Độc Phospho Hữu Cơ Tại Bv Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ.pdf
Bảng 3.11. Phân loại ngộ độc dựa vào thang điểm APACHE II (Trang 63)
Bảng 3.13. Yếu tố liên quan giữa điểm APACHE II và giới - 1698 Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng Cận Lâm Sàng Và Yếu Tố Tiên Lượng Nặng Của Ngộ Độc Phospho Hữu Cơ Tại Bv Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ.pdf
Bảng 3.13. Yếu tố liên quan giữa điểm APACHE II và giới (Trang 64)
Bảng 3.15. Yếu tố liên quan giữa điểm APACHE II và nguyên nhân ngộ - 1698 Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng Cận Lâm Sàng Và Yếu Tố Tiên Lượng Nặng Của Ngộ Độc Phospho Hữu Cơ Tại Bv Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ.pdf
Bảng 3.15. Yếu tố liên quan giữa điểm APACHE II và nguyên nhân ngộ (Trang 65)
Bảng 3.18. Xử trí sau vào viện - 1698 Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng Cận Lâm Sàng Và Yếu Tố Tiên Lượng Nặng Của Ngộ Độc Phospho Hữu Cơ Tại Bv Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ.pdf
Bảng 3.18. Xử trí sau vào viện (Trang 66)
Bảng 3.23. Yếu tố liên quan giữa số ngày điều trị và nguyên nhân ngộ độc - 1698 Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng Cận Lâm Sàng Và Yếu Tố Tiên Lượng Nặng Của Ngộ Độc Phospho Hữu Cơ Tại Bv Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ.pdf
Bảng 3.23. Yếu tố liên quan giữa số ngày điều trị và nguyên nhân ngộ độc (Trang 69)
Bảng 3.24. Yếu tố liên quan giữa số ngày điều trị và thời gian ngộ độc - 1698 Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng Cận Lâm Sàng Và Yếu Tố Tiên Lượng Nặng Của Ngộ Độc Phospho Hữu Cơ Tại Bv Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ.pdf
Bảng 3.24. Yếu tố liên quan giữa số ngày điều trị và thời gian ngộ độc (Trang 69)
Bảng 3.25. Yếu tố liên quan giữa ngày điều trị và men cholinesterase - 1698 Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng Cận Lâm Sàng Và Yếu Tố Tiên Lượng Nặng Của Ngộ Độc Phospho Hữu Cơ Tại Bv Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ.pdf
Bảng 3.25. Yếu tố liên quan giữa ngày điều trị và men cholinesterase (Trang 70)
Bảng 3.27. Yếu tố liên quan giữa ngày điều trị và phân loại mức độ ngộ độc - 1698 Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng Cận Lâm Sàng Và Yếu Tố Tiên Lượng Nặng Của Ngộ Độc Phospho Hữu Cơ Tại Bv Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ.pdf
Bảng 3.27. Yếu tố liên quan giữa ngày điều trị và phân loại mức độ ngộ độc (Trang 71)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w