BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ VÕ LƯƠNG SƠN ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VÀ TÌM HIỂU MỐI LIÊN QUAN GIỮA NỒNG ĐỘ NT proBNP TRONG TIÊN LƯỢNG NGẮN HẠN Ở BỆNH NHÂN SUY TIM MẠN T[.]
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng
Tất cả bệnh nhân chẩn đoán suy tim mạn đang điều trị nội trú tại Khoa Tim mạch – Khớp, Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ, từ tháng 4 năm 2017 đến tháng 6 năm 2018, đều được theo dõi và xử trí chuyên sâu để cải thiện chất lượng cuộc sống và tăng khả năng hồi phục.
Chẩn đoán suy timmạn theo tiêu chuẩn Framingham [23]. Để xác định chẩn đoán suy tim mạn ít nhất có 2 tiêu chuẩn chính hoặc
1 tiêu chuẩn chính và 2 tiêu chuẩn phụ.
Tiêu chuẩn chính Tiêu chuẩn phụ
-Cơn khó thởkịch phát về đêm hoặc khó thởphải ngồi
- Áp lực TM hệ thống >16 cmH2O
- Phản hồi gan tĩnh mạch cổ
Tiêu chuẩn chính hay phụ
Giảm 4,5 kg/5 ngày điều trịsuy tim
Tất cả những bệnh nhân suy tim mạn nhưng có kèm theo một trong những tiêu chuẩn sau đây sẽ không đưa vào nghiên cứu này:
- Suy thận (mức lọc cầu thận 0,05, cho thấy mối liên hệ rõ ràng giữa đái tháo đường và mức độ của NT-proBNP ở bệnh nhân suy tim.
3.2.2.4 Nồng độ NT-proBNP và thiếu máu cục bộ cơ tim ở bệnh nhân suy tim
* Tỉ lệ bệnh thiếu máu cục bộ cơ tim ở bệnh nhân suy tim
Biểu đồ 3.5:Phân bố tỉ lệbệnhthiếu máu cục bộ ở bệnh nhân suy tim
Có 29,2% bệnh nhân suy tim có bệnh thiếu máu cục bộ cơ tim đi kèm.
* Liên quan giữa nồng độ NT-proBNP trung vị với bệnh thiếu máu cục bộ cơ tim
Bảng 3.6: Liên quan giữa nồng độ NT-proBNP trung vị vớibệnhthiếu máu cục bộ cơ tim
Bệnh thiếu máu cục bộ n
Nồng độ NT-proBNP trung vị (pg/mL)
Nồng độ trung vị NT-proBNP ở bệnh nhân suy tim kèm thiếu máu cục bộ cơ tim cao hơn so với nhóm không có thiếu máu cục bộ cơ tim Sự khác biệt này đạt ý nghĩa thống kê với giá trị p=0,005, cho thấy mức độ NT-proBNP có thể phản ánh chính xác tình trạng thiếu máu cục bộ cơ tim ở bệnh nhân suy tim.
3.2.2.5 Nồng độ NT-proBNP và rối loạn lipid máu ở bệnh nhân suy tim
* Tỉ lệ rối loạn lipid máu ở bệnh nhân suy tim
Biểu đồ 3.6:Phân bố tỉ lệ rối loạn lipid máu ở bệnh nhân suy tim
Nhận xét: Đa số bệnh nhân suy tim có rối loạn lipid máu với tỉ lệ 86,7%.
* Liên quan giữa nồng độ NT-proBNP trung vị với rối loạn lipid máu Bảng 3.7: Liên quan giữa nồng độ NT-proBNP trung vị với rối loạn lipid máu
Nồng độ NT-proBNP trung vị (pg/mL)
Nồng độ NT-proBNP trung vị của bệnh nhân suy tim có rối loạn lipid máu cao thường cao hơn so với những bệnh nhân không mắc rối loạn lipid máu Tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê (p > 0,05), cho thấy không có mối liên hệ rõ ràng giữa rối loạn lipid máu và nồng độ NT-proBNP trong nghiên cứu này.
3.2.2.7 Nồng độ NT-proBNP và đặc điểm phân suất tống máu
* Đặc điểm phân suất tống máu
Biểu đồ 3.7:Tỉ lệ đặc điểm phân suất tống máu
Bệnh nhân suy tim có phân suất tống máu ≥50% chiếm tỉ lệ cao nhất là 34,6%.
* Liên quan giữa nồng độ NT-proBNP trung vị với phân suất tống máu Bảng 3.8:Liên quan giữa nồng độ NT-proBNP trung vị với phân suất tống máu
Nồng độ NT-proBNP trung vị (pg/mL)
Phân suất tống máu càng giảm thì nồng độNT-proBNP trung càng cao và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p=0,02.
3.2.2.8 Nồng độ NT-proBNP và mức độ suy tim theo NYHA
* Mức độ suy tim theo NYHA
Biểu đồ 3.8:Tỉ lệ mức độ suy timtheo NYHA
Bệnh nhân suy tim có mức độ suy tim là độ III chiếm tỉ lệ cao nhất 48,7% và thấp nhất là độIV với tỉlệlà 11,5%.
* Liên quan giữa nồng độ NT-proBNP trung vị với mức độ suy tim theo NYHA
Bảng 3.9:Liên quan giữa nồng độ NT-proBNP trung vị vớimức độ suy tim theo NYHA
Nồng độ NT-proBNP trung vị (pg/mL)
Mức độ suy tim càng nặng thì nồng độ NT-proBNP trung vị càng cao và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p0,05), cho thấy mức độ NT-proBNP không phản ánh rõ ràng sự thay đổi chất lượng cuộc sống của bệnh nhân suy tim.
Bảng 3.24:Phân bố sự thay đổi thang điểm chất lượng cuộc sống theo nhóm tuổi
Sự thay đổi thang điểm chất lượng cuộc sống KCCQ Tổng n(%)
Không có sự khác biệt về sự thay đổi thang điểm chất lượng cuộc sống theo nhóm tuổi.
Bảng 3.25:Phân bố sự thay đổi thang điểm chất lượng cuộc sống theo giới tính
Sự thay đổi thang điểm chất lượng cuộc sống KCCQ Tổng n(%)
Nữ giới có tỷ lệ thay đổi thang điểm chất lượng cuộc sống cao hơn so với nam giới, lần lượt là 84,3% và 75,9% Tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê với p > 0,05, cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về chất lượng cuộc sống giữa hai giới trong nghiên cứu này.
Bảng 3.26:Phân bố sự thay đổi thang điểm chất lượng cuộc sống theo phân suất tống máu
Sự thay đổi thang điểm chất lượng cuộc sống KCCQ Tổng n(%)
Bệnh nhân suy tim phân suất tống máu 0,05.
Bảng 3.27:Phân bố sự thay đổi thang điểm chất lượng cuộc sống theomức độ suy tim
Sự thay đổi thể thang điểm chất lượng cuộc sống KCCQ Tổng n(%)
Mức độ suy tim càng thấp thì tỉ lệ sự thay đổi thang điểm chất lượng cuộc sống càng cao.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 113 bệnh nhân suy tim được điều trị nội trú tại Khoa Nội Tim mạch – Khớp Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ, từ tháng 4/2017 đến tháng 5/2018, phù hợp tiêu chuẩn chọn mẫu để đưa vào nghiên cứu.
4.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
4.1.1 Đặc điểm phân bố tuổi
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân ở nhóm tuổi ≥60 chiếm đến 85,0%, trong khi nhóm dưới 60 tuổi chỉ chiếm 15,0%, cho thấy người cao tuổi dễ mắc bệnh hơn Tuổi trung bình của bệnh nhân là 72,55 ± 14,93 tuổi, với độ tuổi cao nhất là 100 và thấp nhất là 22 tuổi Kết quả này cao hơn so với một số nghiên cứu trước đó của các tác giả khác.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thúy Minh và Châu Ngọc Hoa trên 285 bệnh nhân suy tim sau xuất viện cho thấy tuổi trung bình là 61,36 tuổi, trong đó dưới 60 tuổi chiếm 44,2% và trên 60 tuổi chiếm 55,8% Vũ Hoàng Vũ và Đặng Vạn Phước nghiên cứu 152 bệnh nhân suy tim với tuổi trung bình là 59,1±18,5 tuổi, trong khi Hà Thị Anh và Nguyễn Thị Thu Trà ghi nhận tuổi trung bình của 112 bệnh nhân tại Bệnh viện Chợ Rẫy là 60,56 ± 18,90 tuổi Nguyễn Duy Toàn và cộng sự phát hiện tỷ lệ rung nhĩ ở bệnh nhân suy tim là 27,2%, trong đó nhóm suy tim có rung nhĩ có tuổi trung bình cao hơn (68,6 ± 12,9 tuổi) so với nhóm không rung nhĩ (66,5 ± 12,8 tuổi).
62,17±18,45 tuổi, tuổi trung bình ở bệnh nhân nữ là 68,92±15,18 tuổi, tuổi trung bìnhở nhóm đối tượng nghiên cứu là 66,22±16,75 tuổi [3].
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân suy tim là 72,8 ± 13,8 tuổi, tương tự như các nghiên cứu trước đó như PRIDE với trung bình 72,8 tuổi và ICON với trung bình 68,3 tuổi Các nghiên cứu của Nguyễn Hữu Nghĩa cho thấy tuổi trung bình của bệnh nhân nam là 71,04 ± 13,81 tuổi, nữ là 69,03 ± 12,95 tuổi, và tổng thể nhóm nghiên cứu là 69,81 ± 13,22 tuổi Nguyễn Phạm Cao Minh báo cáo tuổi trung bình của nhóm suy tim là 70,0 ± 14,96 tuổi, với nam là 69,94 ± 13,18 tuổi và nữ là 70,88 ± 16,55 tuổi Nghiên cứu của Oremus M, Don-Wauchope A cùng cộng sự khảo sát 241 bệnh nhân suy tim, trung bình 67 tuổi, trong khi Hamaguchi S và các cộng sự ghi nhận tuổi trung bình là 70,7 tuổi trên 1.677 bệnh nhân suy tim cấp.
Với sự phát triển của nền kinh tế và xã hội cùng tiến bộ trong chăm sóc y tế, tuổi thọ trung bình của người Việt Nam ngày càng tăng, đặc biệt là tuổi trung bình của bệnh nhân suy tim cũng cao hơn Tuy nhiên, người cao tuổi vẫn dễ mắc suy tim hơn người trẻ do nhiều biến đổi về cấu trúc và chức năng của tim và mạch máu như tăng mô liên kết trong cơ và thành mạch, giảm oxy hoá cơ tim, rối loạn hệ thần kinh tự chủ Ngoài ra, thể tích dịch trong cơ thể thấp, chức năng gan thận giảm theo tuổi, và chế độ ăn ít hơn làm giảm lượng calo và protein nạp vào cơ thể người cao tuổi, góp phần làm tăng nguy cơ suy tim Các yếu tố nguy cơ như thiếu máu cục bộ cơ tim, tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh khớp, bệnh phổi và bệnh thận cũng làm tăng khả năng mắc suy tim do ảnh hưởng đến cấu trúc cơ tim Nghiên cứu của chúng tôi, với tuổi trung bình cao hơn so với các tác giả khác, có thể phản ánh sự khác biệt về địa điểm và thời gian nghiên cứu.
4.1.2 Đặc điểm phân bố giới tính
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân nam và nữ gần như bằng nhau, với tỷ lệ lần lượt là 51,3% và 48,7%, phản ánh tỷ lệ nam/nữ là 1,05 Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đó của các tác giả khác, khẳng định tính phổ biến của bệnh trên cả hai giới.