BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y DƢỢC CẦN THƠ NGUYỄN PHƢỚC LAN ANH NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, HÌNH ẢNH TỔN THƢƠNG CỦA VIÊM XOANG MẠN TRÊN PHIM X QUANG CẮT LỚP VI TÍNH TẠI BỆNH VIỆN Đ[.]
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu
Các bệnh nhân đến khám và được chẩn đoán lâm sàng VXM theo tiêu chuẩn chẩn đoán của Hội Tai Mũi Họng và Phẫu Thuật Đầu Mặt Cổ Hoa Kỳ (TFR 1997) tại Bệnh viện ĐHYDCT trong năm 2014-2015.
Bệnh nhân đến khám và được chẩn đoán lâm sàng là VXM dựa theo tiêu chuẩn chẩn đoán VXM của Hội Tai Mũi Họng và Phẫu Thuật Đầu Mặt Cổ Hoa Kỳ (TFR 1997) Tại phòng khám tai mũi họng, tất cả bệnh nhân đều đã thực hiện chụp XQCLVT xoang để hỗ trợ chẩn đoán chính xác.
- Các bệnh nhân có dị dạng vùng đầu mặt, tiền sử chấn thương hoặc đang chấn thương mũi xoang, có tiền sử phẫu thuật xoang
- Có các bệnh lý ác tính vùng đầu mặt.
Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: tiền cứu mô tả cắt ngang
2.2.2 Cỡ mẫu: Tất cả các bệnh nhân đủ tiêu chuẩn đƣợc chọn vào mẫu n= 𝑍1− 𝛼 2
Lấy p= 86% (theo nghiên cứu Huỳnh Bá Tân và Nguyễn Hữu Khôi năm 2005 độ chính xác của XQCLVT trong chẩn đoán VXM 86% [16])
Chọn mẫu thuận tiện: toàn bộ bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu và tiêu chuẩn loại trừ từ ngày 15 tháng 08 năm 2014 đến ngày 15 tháng 04 năm 2015
Sinh viên tiến hành phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân để ghi nhận kết quả XQCLVT dưới sự hướng dẫn của giảng viên hoặc các bác sĩ chuyên ngành chẩn đoán hình ảnh tại Khoa Chẩn đoán hình ảnh - BVĐHYDCT.
2.2.4.1 Nghiên cứu một số đặc điểm chung
2.2.4.2 Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng viêm xoang mạn
- Thời gian mắc bệnh: là thời gian bắt đầu có triệu chứng của bệnh
- Lý do vào viện: triệu chứng cơ năng khiến bệnh nhân khó chịu nhất và khiến bệnh nhân nhập viện
- Các triệu chứng cơ năng:
+ Nghẹt, tắc mũi: BN nói giọng mũi nếu tắc mũi hoàn toàn, các phụ âm m đọc thành b, n đọc thành c
+ Rối loạn về khứu: giảm khứu hoặc mất khứu
+ Chảy mũi: thanh dịch, nhầy, mủ, máu, mùi dịch mũi
+ Nhức đầu: vùng má, trán-thái dương, đỉnh chẩm
+ Đau răng: răng hàm trên
- Triệu chứng thực thể: Soi mũi trước có đọng mủ/dịch ở khe giữa
2.2.4.3 Nghiên cứu một số hình ảnh tổn thương của viêm xoang mạn trên phim
X quang cắt lớp vi tính
- Đánh giá các tổn thương trên phim XQCLVT xoang bao gồm:
+ Vị trí tổn thương: một bên (phải, trái) hoặc hai bên
+ Xoang bị tổn thương: xoang trán, xoang hàm, xoang sàng trước, xoang sàng sau, xoang bướm
+ Viêm một nhóm xoang hay kết hợp nhiều nhóm xoang
+ Hình ảnh tổn thương xoang: mờ một phần xoang, mờ toàn bộ xoang, dày niêm mạc xoang khu trú, dày niêm mạc xoang toàn bộ
+ Hình ảnh dày xương do viêm xương
Các hình ảnh bất thường giải phẫu mũi cần được ghi nhận bao gồm lệch vách ngăn mũi, túi khí cuốn mũi giữa, cuốn mũi giữa cong ngược, bóng sàng phồng lớn, mỏm móc cong ngược, cùng với các cấu trúc bất thường như tế bào Haller, tế bào đê mũi quá phát và tế bào Onodi Nhận diện chính xác các đặc điểm này giúp chuẩn đoán chính xác và lập kế hoạch phẫu thuật phù hợp Việc phát hiện các bất thường về giải phẫu mũi như lệch vách, tế bào Haller và tế bào Onodi có ảnh hưởng lớn đến quá trình điều trị và giảm thiểu biến chứng sau phẫu thuật.
- Một số hình ảnh tổn thương của VXM trên XQCLVT:
Hình 2.1 (A) cho thấy hình ảnh mờ toàn bộ xoang hàm hai bên và niêm mạc dày toàn bộ xoang sàng phía trước hai bên, biểu hiện viêm nhiễm lan rộng Trong khi đó, hình ảnh (B) ghi nhận tình trạng mờ toàn bộ xoang hàm, xoang sàng trước và xoang trán bên phải, kèm theo tắc nghẽn ống dẫn lưu phía bên phải Đặc biệt, lỗ thông xoang hàm (mũi tên) bị chít hẹp do viêm nhiễm, gây ảnh hưởng đến chức năng xoang và hệ thống dẫn khí mũi.
Nguồn:Nafi Aygun và David M Yousem (2009),Ballenger's Otorhinolaryngology
Hình 2.2 Dày niêm mạc toàn bộ xoang hàm hai bên và mờ một phần xoang sàng hai bên
Nguồn: D Chandrika (2012), Study of etiological factors in chronic sinusitis [45]
Hình 2.3 Mờ toàn bộ xoang hàm phải và dày niêm mạc khu trú xoang hàm trái
Nguồn: Trương Hồ Việt (2005), “Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh chụp cắt lớp vi tính trong chẩn đoán viêm xoang mạn tính” [19]
Hình 2.4 Dày bản xương do viêm xoang hàm hai bên
Nguồn: Nguồn:Nafi Aygun và David M Yousem (2009),Ballenger's
Otorhinolaryngology 17 Head and Neck Surgery [36]
- Thang điểm Lund-Mackay trên phim XQCLVT xoang:
Bảng 2.1 Thang điểm Lund-Mackay trên phim XQCLVT xoang
Vị trí Bình thường Mờ một phần Mờ toàn bộ
Nguồn:Nafi Aygun và David M Yousem (2009), Ballenger's Otorhinolaryngology
Chú thích: bảng điểm cho từ 0-2 điểm cho mỗi xoang
0: không có bất thường trong xoang
2: mờ toàn bộ xoang Đối với PHLN: 0: không tắc nghẽn; 2: tắc nghẽn
2.2.4.4 Tìm hiểu các mối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng và hình ảnh tổn thương của VXM trên XQCLVT
Liên quan giữa triệu chứng cơ năng và hình ảnh tổn thương của VXM trên phim XQCLVT
Liên quan giữa triệu chứng thực thể và hình ảnh tổn thương của VXM trên phim XQCLVT
2.2.5 Dụng cụ và phương tiện nghiên cứu
- Phiếu thu thập số liệu
- Hệ thống máy chụp XQCLVT: hệ thống máy nhãn hiệu Philips phiên bản Brilliance 16 lát, sản xuất năm 2012
- Máy in phim XQCLVT khô nhãn hiệu Fujifilm phiên bản Drypix Plus, sản xuất năm 2011
- Hình ảnh trên phim chụp XQCLVT xoang
- Tiếp cận bệnh nhân đƣợc chẩn đoán lâm sàng VXM và đƣợc chụp XQCLVT xoang
- Hỏi bệnh sử, tiền sử và thăm khám lâm sàng và thu thập số liệu theo phiếu thu thập số liệu từng bệnh nhân
- Tiến hành chụp XQCLVT trên BN
Kết quả XQCLVT xoang được ghi nhận dựa trên phiếu thu thập số liệu của từng bệnh nhân, do giảng viên hướng dẫn hoặc các bác sĩ chuyên ngành chẩn đoán hình ảnh đọc và phân tích tại khoa Chẩn đoán hình ảnh – Bệnh viện Đại Học Y Dược Cần Thơ.
- Theo dõi, kết hợp với bác sỹ phẫu thuật viên chuyên khoa tai mũi họng để đối chiếu với kết quả chẩn đoán và PTNSMX
- Ghi nhận kết quả PTNSMX
- Thống kê số liệu và xử lí số liệu
- Tư thế chụp: BN nằm ngửa, cổ ngửa tối đa Hướng mặt cắt vuông góc với vòm khẩu cái cứng
- Các yếu tố kỹ thuật: 120 KVp, 282 mA, thời gian chụp mỗi 0,9 giây
- Mỗi lát cắt dày 1 mm
- Cửa sổ rộng tối ƣu: 2000 HU
- Cửa sổ ở mức 380 HU để khảo sát chi tiết xương
2.2.8 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS 18.0 để phân tích thống kê dữ liệu nghiên cứu, bao gồm thống kê mô tả cắt ngang các biến số bằng tần số và tỷ lệ phần trăm, nhằm cung cấp cái nhìn tổng quan về dữ liệu Ngoài ra, chúng tôi còn thực hiện kiểm định Chi bình phương để xác định mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa các biến lâm sàng và các biến hình ảnh y học.
Các số liệu sau khi xử lí và phân tích đƣợc trình bày theo dạng bảng và biểu đồ có kèm nhận xét
Bệnh nhân đến khám và điều trị tại BVĐHYDCT
BN đƣợc chẩn đoán lâm sàng VXM
Loại Đƣợc chụp XQCLVT xoang bỏ
BN đƣợc chẩn đoán VXM theo EPOS
Trẻ em dưới 15 tuổi có thể gặp các vấn đề về dị dạng vùng đầu mặt hoặc có tiền sử chấn thương hoặc đang bị chấn thương mũi xoang Ngoài ra, các bệnh lý ác tính vùng đầu mặt, đợt cấp của viêm xoang mạn hoặc tiền sử phẫu thuật xoang cũng cần được xem xét để chẩn đoán và điều trị chính xác.
Chọn đƣa vào mẫu nghiên cứu
Hỏi bệnh sử, khám lâm sàng, ghi nhận kết quả chụp XQCLVT vào phiếu thu thập số liệu
Nhập và phân tích số liệu
Vấn đề y đức trong nghiên cứu
Đề tài này nhằm góp phần cải thiện công tác chẩn đoán và điều trị bệnh lý VXM, giúp giảm thiểu chi phí điều trị và phòng ngừa các biến chứng nguy hiểm của bệnh.
Tất cả bệnh nhân đều được giải thích rõ ràng về mục đích của nghiên cứu trước khi tham gia phỏng vấn, bảo đảm sự minh bạch và tạo sự tin tưởng Quá trình phỏng vấn chỉ diễn ra khi bệnh nhân đang trong tình trạng sức khỏe ổn định, đảm bảo khả năng cung cấp thông tin chính xác Thông tin thu thập được trong quá trình nghiên cứu chỉ nhằm mục đích nghiên cứu khoa học và hoàn toàn được bảo mật chặt chẽ để bảo vệ quyền riêng tư của bệnh nhân.
Với những lý do trên, chúng tôi tin rằng việc thực hiện đề tài là không vi phạm vấn đề y đức trong nghiên cứu.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm chung
Trong nhóm 85 bệnh nhân được nghiên cứu, độ tuổi dao động từ 19 đến 65 tuổi, với nhóm tuổi 31-50 chiếm tỷ lệ cao nhất đạt 48,2% Trung bình, tuổi của các bệnh nhân là 39,22 tuổi, cho thấy phần lớn người bệnh nằm trong độ tuổi trung niên.
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ bệnh theo giới (n) Nhận xét: Trong 85 BN nghiên cứu, tỷ lệ BN nam chiếm 41,2%, tỷ lệ BN nữ chiếm 58,8%
Đặc điểm lâm sàng của viêm xoang mạn
Trong biểu đồ 3.3 về lý do nhập viện, nhức đầu là nguyên nhân chính khiến bệnh nhân phải nhập viện, chiếm tỷ lệ 71,8% với 61 trên 85 bệnh nhân Trong khi đó, các lý do khác như chảy mũi kèm máu là rất ít, chỉ chiếm khoảng 3,5% Các số liệu này cho thấy rằng triệu chứng nhức đầu là yếu tố phổ biến nhất dẫn đến nhập viện trong nhóm bệnh nhân được khảo sát.
Thời gian mắc bệnh ngắn nhất là 3 tháng, thời gian mắc bệnh dài nhất là 360 tháng, thời gian mắc bệnh trung bình là 52,21 tháng
3.2.3 Các triệu chứng cơ năng
Bảng 3.1 Tỷ lệ các triệu chứng cơ năng n Tỷ lệ %
Nghẹt, tắc mũi 50 58,8 Đau, căng, nặng mặt 28 32,9
Hơi thở có mùi hôi 20 23,5
Nhận xét: Triệu chứng chiếm tỷ lệ cao nhất là nhức đầu (88,2%), kế đó là mệt mỏi (81,2%) và chiếm tỷ lệ thấp nhất là đau răng (12,9%)
Bảng 3.2 Vị trí và tính chất nghẹt mũi
Từng lúc Liên tục Tổng
Trong số 50 bệnh nhân, có tỷ lệ nghẹt mũi hai bên cao nhất, chiếm 82,9%, trong khi nghẹt mũi một bên gặp ít hơn Ngược lại, chỉ có 17,1% bệnh nhân bị nghẹt mũi hai bên liên tục, thể hiện mức độ phổ biến của triệu chứng này trong nhóm bệnh.
Bảng 3.3 Vị trí chảy mũi
Nhận xét: Có 42,4% BN không chảy mũi, chảy mũi hai bên gặp nhiều nhất (54,1%), chảy mũi một bên gặp ít nhất (3,5%)
Bảng 3.4 Tính chất dịch tiết ở bệnh nhân có chảy mũi
Tính chất dịch tiết n Tỷ lệ %
Trong số 49 bệnh nhân bị chảy mũi, tỷ lệ cao nhất là chảy mũi thanh dịch chiếm 53,1%, tiếp theo là dịch mủ với 24,5%, còn nhầy chiếm 16,3%, và dịch lẫn máu chiếm 4,1% Không ghi nhận trường hợp nào có chảy dịch bã đậu.
Nhận xét: Trong 49 BN có chảy mũi, dịch mũi có mùi hôi chiếm 10,2% trong các
BN có chảy mũi, nhiều nhất là dịch mũi không mùi 89,8%
Bảng 3.6 Vị trí nhức đầu
Trán-thái dương 20 26,7 Đỉnh chẩm 9 12
Trán-thái dương-đỉnh chẩm 7 9,3
Má-trán-thái dương-đỉnh chẩm 33 44
Trong các bệnh nhân có triệu chứng nhức đầu, triệu chứng nhức đầu vùng má, trán, thái dương, đỉnh, chẩm chiếm tỷ lệ cao nhất với 44%, cho thấy sự phổ biến của các cơn đau nhức đầu khu vực này Ngược lại, triệu chứng nhức đầu vùng má có tỷ lệ thấp nhất, chỉ 1,3%, phản ánh sự đa dạng trong kiểu hình các triệu chứng nhức đầu ở các bệnh nhân.
Bảng 3.7 Triệu chứng giảm/mất khứu
Nhận xét: Có 31,8% BN có triệu chứng giảm/mất khứu và 68,2% BN không giảm/mất khứu
Bảng 3.8 Đọng mủ/dịch ở khe giữa khi khám n %
Nhận xét: Tỷ lệ BN có đọng mủ/dịch ở mũi là 58,8% cao hơn tỷ lệ BN không đọng mủ/dịch ở mũi (41,2%)
3.3 Hình ảnh tổn thương của viêm xoang mạn trên phim X quang cắt lớp vi tính
3.3.1 Các dấu hiệu hình ảnh tổn thương của viêm xoang mạn trên XQCLVT
Bảng 3.9 Các hình ảnh tổn thương XQCLVT trong viêm xoang mạn n %
Mờ một phần hoặc toàn bộ xoang 50 58,8
Dày niêm mạc khu trú hoặc toàn bộ xoang 71 83,5
Dày niêm mạc xoang là tổn thương phổ biến nhất, chiếm tỷ lệ lên đến 83,5% Tiếp theo là hình ảnh mờ xoang với tỷ lệ 58,8%, phản ánh sự tăng tiết hoặc phù nề trong xoang Hẹp hoặc tắc PHLN xuất hiện ở 52,9% các trường hợp, gây ảnh hưởng đến thông khí và dẫn lưu xoang Các tổn thương xương chiếm tỷ lệ 38,8%, cho thấy mức độ tổn thương lan rộng hơn Ngoài ra, bọc ứ đọng xoang hàm cũng gặp phải ở khoảng 15,3% các bệnh nhân, góp phần vào các triệu chứng viêm xoang mạn tính.
3.3.2 Vị trí, số lượng và đặc điểm hình ảnh tổn thương XQCLVT các xoang viêm
3.3.2.1 Vị trí các xoang viêm trên hình XQCLVT
Bảng 3.10 Vị trí các xoang viêm trên XQCLVT
Bất thường niêm mạc xoang n %
Nhận xét: Chiếm tỷ lệ cao nhất là viêm xoang sàng trước (87,1%), kế đến là viêm xoang hàm (77,6%), thấp nhất là viêm xoang trán (14,1%)
Bảng 3.11 Tỷ lệ vị trí tổn thương các xoang trên phim XQCLVT
Một bên Hai bên Tổng n % n % n %
Trong các trường hợp viêm xoang, viêm xoang một bên thường gặp nhất ở xoang hàm, chiếm tỷ lệ 30,6% Đối với viêm xoang hai bên, xoang sàng trước là vị trí thường gặp nhất, chiếm đến 62,4% Tỷ lệ hẹp PHLN gần như tương đương giữa hai bên, lần lượt là 29,4% và 23,5%, cho thấy sự phân bố phân số này đều nhau trên cả hai bên.
3.3.2.2 Số lƣợng các xoang viêm trên hình XQCLVT
Bảng 3.12 Tỷ lệ các nhóm xoang viêm trên XQCLVT
Bệnh nhân viêm cả hai nhóm xoang chiếm tỷ lệ cao nhất lên đến 50,6%, cho thấy sự phổ biến của tình trạng này Tiếp theo, tỷ lệ viêm một nhóm xoang và ba nhóm xoang lần lượt là 23,5% và 17,6%, phản ánh mức độ đa dạng trong các dạng viêm xoang Trong khi đó, viêm cả bốn nhóm xoang chiếm tỷ lệ thấp nhất là 8,2%, cho thấy ít gặp hơn trong tổng số các trường hợp.
3.3.2.3 Đặc điểm hình ảnh tổn thương XQCLVT của từng nhóm xoang viêm
Bảng 3.13 Hình ảnh viêm xoang hàm trên phim XQCLVT
Dày niêm mạc khu trú 13 15,3 12 14,1
Dày niêm mạc toàn bộ 30 35,3 22 25,9
Xoang hàm bên trái có tỷ lệ xung huyết niêm mạc toàn bộ là cao nhất (35,3%), lớn hơn so với các dấu hiệu khác như dày niêm mạc khu trú (15,3%), hình ảnh mờ một phần (5,9%) và mờ toàn bộ xoang (8,2%) Trong khi đó, xoang hàm bên phải thể hiện tỷ lệ dày niêm mạc toàn bộ là 25,9%, cao hơn các dấu hiệu khác như dày niêm mạc khu trú (14,1%), hình ảnh mờ một phần (7,1%) và mờ toàn bộ xoang (11,8%) Nhận xét này cho thấy các bất thường niêm mạc xoang hàm có xu hướng tập trung nhiều hơn ở bên trái so với bên phải.
Bảng 3.14 Hình ảnh viêm xoang sàng trước trên phim XQCLVT
Dày niêm mạc khu trú 7 8,2 8 9,4
Dày niêm mạc toàn bộ 30 35,3 26 30,6
Viêm xoang sàng trước bên trái có tỷ lệ dày niêm mạc toàn bộ chiếm 35,5%, cao hơn so với hình ảnh mờ một phần xoang (27,1%), mờ toàn bộ xoang (9,4%) và dày niêm mạc khu trú (8,2%) Tương tự, viêm xoang sàng trước bên phải có tỷ lệ dày niêm mạc toàn bộ là 30,6%, cao hơn so với hình ảnh mờ một phần xoang (24,7%), mờ toàn bộ xoang (7,1%) và dày niêm mạc khu trú (9,4%) Các kết quả này phản ánh mức độ viêm và tổn thương niêm mạc các xoang sàng trước bên trái và bên phải.
Bảng 3.15 Hình ảnh viêm xoang sàng sau trên phim XQCLVT
Dày niêm mạc khu trú 5 5,9 6 7,1
Dày niêm mạc toàn bộ 22 25,9 21 24,7
Viêm xoang sàng sau bên trái có tỷ lệ dày niêm mạc toàn bộ chiếm 25,9%, cao hơn so với các hình ảnh khác như mờ một phần xoang (24,7%), mờ toàn bộ xoang (5,9%) và dày niêm mạc khu trú (5,9%) Trong khi đó, viêm xoang sàng sau bên phải có tỷ lệ dày niêm mạc toàn bộ bằng 24,7%, tỷ lệ mờ toàn bộ xoang là 7,1%, và dày niêm mạc khu trú chiếm 9,4% Các số liệu này cho thấy sự khác biệt rõ rệt về mức độ tổn thương niêm mạc giữa hai bên xoang sàng sau.
Bảng 3.16 Hình ảnh viêm xoang trán trên phim XQCLVT
Dày niêm mạc khu trú 1 1,2 1 1,2
Dày niêm mạc toàn bộ 1 1,2 1 1,2
Viêm xoang trán bên trái mờ toàn bộ chiếm tỷ lệ cao nhất với 4,7%, trong khi dày niêm mạc khu trú và dày niêm mạc toàn bộ đều chiếm tỷ lệ 1,2%, và không có bệnh nhân nào có hình ảnh mờ một phần xoang trán bên trái Đối với xoang trán bên phải, mờ một phần chiếm tỷ lệ cao nhất là 5,9%, tiếp theo là mờ toàn bộ với 3,5%, còn dày niêm mạc khu trú và dày niêm mạc toàn bộ đều chiếm tỷ lệ 1,2%.
Bảng 3.17 Hình ảnh viêm xoang bướm trên phim XQCLVT
Dày niêm mạc khu trú 2 2,4 0 0
Dày niêm mạc toàn bộ 1 1,2 3 3,5
Viêm xoang bướm bên trái có tỷ lệ mờ một phần (7,1%) và mờ toàn bộ xoang (7,1%) cao hơn so với dày niêm mạc khu trú (2,4%) và dày niêm mạc toàn bộ (1,2%) Trong khi đó, viêm xoang bướm bên phải cũng ghi nhận tỷ lệ mờ một phần (10,6%) và mờ toàn bộ xoang (4,7%) đều cao hơn so với dày niêm mạc toàn bộ (1,2%) Không có trường hợp nào trong số bệnh nhân có hình ảnh dày niêm mạc khu trú, cho thấy các dạng viêm xoang này thường gặp ở dạng mờ toàn bộ hoặc mờ một phần.
3.3.3 Thang điểm XQCLVT trong chẩn đoán VXM của Lund-Mackay
Bảng 3.18 Thang điểm XQCLVT của Lund-Mackay Điểm Tổng (lớn nhất) Tỷ lệ %
Nhận xét: Điểm cao nhất là của xoang sàng trước 140 (41,2%), kế đến là PHLN 130 (38,2%) Xoang bướm và xoang trán thấp điểm nhất, tương ứng là 41 (12,1%) và 23 điểm (6,8%)
3.3.4 Các bất thường cấu trúc giải phẫu phát hiện qua XQCLVT trong VXM
3.3.4.1 Tần suất các bất thường cấu trúc giải phẫu của VXM trên XQCLVT
Bảng 3.19 Tần suất các bất thường giải phẫu của VXM trên phim XQCLVT n %
Túi khí cuốn mũi giữa 40 47,1
Cuốn mũi giữa cong ngƣợc 14 16,5
Tế bào đê mũi quá phát 25 29,4
Lệch vách ngăn mũi là bất thường phổ biến nhất, chiếm tỷ lệ 55,3%, tiếp theo là túi khí cuốn mũi giữa với tỷ lệ 47,1%, và tế bào Onodi chiếm 43,5% Các bất thường giải phẫu hiếm gặp hơn gồm bóng sàng phồng lớn, chiếm 17,6%, cuốn giữa cong ngược 16,5%, và mỏm móc cong ngược 14,1% Những kết quả này cho thấy tần suất cao của các lệch vách và bất thường giải phẫu liên quan đến cấu trúc mũi và xoang thoái hóa, ảnh hưởng đến quá trình chẩn đoán và phẫu thuật.
3.3.4.2 Vị trí các bất thường cấu trúc giải phẫu trên XQCLVT
Bảng 3.20 Vị trí các bất thường cấu trúc giải phẫu trên XQCLVT
Một bên Hai bên Tổng n % n % n %
Túi khí cuốn mũi giữa 29 34,2 11 12,9 40 47,1 Cuốn mũi giữa cong ngƣợc 12 14,1 2 2,4 14 16,5
Tế bào đê mũi quá phát 22 25,9 3 3,5 25 29,4
Nhận xét: Lệch vách ngăn mũi một bên chiếm tỷ lệ cao nhất 48,2% Vị trí của các bất thường giải phẫu gặp một bên nhiều hơn hai bên
3.4 Mối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng và hình ảnh tổn thương của viêm xoang mạn trên X quang cắt lớp vi tính
3.4.1 Liên quan giữa triệu chứng cơ năng và hình ảnh tổn thương trên XQCLVT
Bảng 3.21 Liên quan giữa viêm nhóm xoang sau và nhức đầu vùng đỉnh chẩm
Nhức đầu vùng đỉnh chẩm p
Có viêm nhóm xoang sau 38 (62,3%) 23 (37,7%) 0,167 Không viêm nhóm xoang sau 11 (45,8%) 13 (54,2%)
Nhận xét: Có 62,3% BN viêm nhóm xoang sau có nhức đầu vùng đỉnh chẩm Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p=0,167
Bảng 3.22 Liên quan giữa viêm xoang trán và nhức đầu vùng trán-thái dương
Nhức đầu vùng trán-thái dương p
Có viêm xoang trán 7 (58,3%) 5 (41,7%) 0,143 Không viêm xoang trán 58 (79,5%) 15 (20,5%)
Nhận xét: Có 58,3% BN viêm xoang trán có nhức đầu vùng trán Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p=0,143
Bảng 3.23 Liên quan giữa triệu chứng giảm/mất khứu và hình ảnh hẹp/tắc PHLN
Có hẹp/tắc PHLN 20 (44,4%) 25 (55,6%) 0,008 Không hẹp/tắc PHLN 7 (17,5%) 33 (82,5%)
Kết quả nhận xét cho thấy, có 44,4% bệnh nhân giảm hoặc mất khứu có hình ảnh chụp X-quang cho thấy hẹp hoặc tắc phần hang mốc hàm trên (PHLN), trong khi đó 82,5% bệnh nhân không giảm hoặc mất khứu lại không có hình ảnh hẹp hoặc tắc PHLN Sự khác biệt giữa lĩnh vực giảm hoặc mất khứu và hình ảnh hẹp hoặc tắc PHLN có ý nghĩa thống kê với giá trị p=0,008.
3.4.2 Liên quan giữa triệu chứng thực thể và hình ảnh tổn thương trên XQCLVT
Bảng 3.24 Liên quan giữa đọng mủ/dịch ở khe giữa khi khám và viêm xoang hàm Đọng mủ/dịch
Có viêm xoang hàm 44 (66,7%) 22 (33,3%) 0,006 Không viêm xoang hàm 6 (31,6%) 13 (68,4%)
Tỷ lệ bệnh nhân viêm xoang hàm có đọng mủ hoặc dịch ở khe giữa đạt 66,7%, cho thấy tình trạng phổ biến trong nhóm bệnh nhân này Nghiên cứu cho thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa viêm xoang hàm và hiện tượng đọng mủ hoặc dịch ở khe giữa, với giá trị p=0,006, xác nhận sự gắn kết đáng kể giữa các yếu tố này Những phát hiện này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm tra đọng mủ/dịch trong chẩn đoán và điều trị viêm xoang hàm hiệu quả.
Mối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng và hình ảnh tổn thương của viêm
3.4.1 Liên quan giữa triệu chứng cơ năng và hình ảnh tổn thương trên XQCLVT
Bảng 3.21 Liên quan giữa viêm nhóm xoang sau và nhức đầu vùng đỉnh chẩm
Nhức đầu vùng đỉnh chẩm p
Có viêm nhóm xoang sau 38 (62,3%) 23 (37,7%) 0,167 Không viêm nhóm xoang sau 11 (45,8%) 13 (54,2%)
Nhận xét: Có 62,3% BN viêm nhóm xoang sau có nhức đầu vùng đỉnh chẩm Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p=0,167
Bảng 3.22 Liên quan giữa viêm xoang trán và nhức đầu vùng trán-thái dương
Nhức đầu vùng trán-thái dương p
Có viêm xoang trán 7 (58,3%) 5 (41,7%) 0,143 Không viêm xoang trán 58 (79,5%) 15 (20,5%)
Nhận xét: Có 58,3% BN viêm xoang trán có nhức đầu vùng trán Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p=0,143
Bảng 3.23 Liên quan giữa triệu chứng giảm/mất khứu và hình ảnh hẹp/tắc PHLN
Có hẹp/tắc PHLN 20 (44,4%) 25 (55,6%) 0,008 Không hẹp/tắc PHLN 7 (17,5%) 33 (82,5%)
Trong nghiên cứu, có 44,4% bệnh nhân giảm hoặc mất khứu kèm theo hẹp hoặc tắc phần hold trên phim X-quang cùng lượng khí phế quản rộng tối đa (XQCLVT), trong khi đó 82,5% bệnh nhân không giảm hoặc mất khứu không có hẹp hoặc tắc PHLN Sự khác biệt giữa triệu chứng giảm hoặc mất khứu và hình thái hẹp hoặc tắc PHLN có ý nghĩa thống kê với p=0,008, cho thấy mối liên hệ có ý nghĩa giữa rối loạn khứu và hình thái giải phẫu của PHLN trên XQ.
3.4.2 Liên quan giữa triệu chứng thực thể và hình ảnh tổn thương trên XQCLVT
Bảng 3.24 Liên quan giữa đọng mủ/dịch ở khe giữa khi khám và viêm xoang hàm Đọng mủ/dịch
Có viêm xoang hàm 44 (66,7%) 22 (33,3%) 0,006 Không viêm xoang hàm 6 (31,6%) 13 (68,4%)
Tỷ lệ bệnh nhân viêm xoang hàm có đọng mủ hoặc dịch ở khe giữa đạt 66,7%, cho thấy tình trạng phổ biến trong nhóm này Nghiên cứu còn xác nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa viêm xoang hàm và hiện tượng đọng mủ hoặc dịch ở khe giữa với giá trị p=0,006 Điều này cho thấy tình trạng đọng mủ hoặc dịch không phải là ngẫu nhiên mà có liên hệ chặt chẽ với bệnh viêm xoang hàm, góp phần nâng cao nhận thức và hướng xử lý chính xác trong chẩn đoán và điều trị.
BÀN LUẬN
Đặc điểm chung
Nghiên cứu của chúng tôi chọn mẫu từ 15 tuổi trở lên, vì vào độ tuổi này các cấu trúc xoang đã hoàn chỉnh về mặt giải phẫu, đảm bảo tính chính xác của kết quả Chúng tôi chia nhóm đối tượng thành 3 nhóm tuổi để phân tích rõ hơn sự biến đổi của cấu trúc xoang theo từng giai đoạn phát triển Việc lựa chọn mẫu từ 15 tuổi trở lên giúp đảm bảo các số liệu thu thập phản ánh đặc điểm thực tế của các cấu trúc xoang trưởng thành.
Các nghiên cứu liên quan đều chỉ ra rằng độ tuổi trung bình của các đối tượng tham khảo dao động khoảng 37 tuổi, như nghiên cứu của Phạm Kiên Hữu với trung bình 37,25 tuổi, của Huỳnh Bá Tân và Nguyễn Hữu Khôi với trung bình 37 tuổi, cũng như nghiên cứu của Ngô Vương Mỹ Nhân.
[10] tuổi trung bình 35± 12 Nghiên cứu của Nguyễn Lưu Trình [17], nhóm tuổi 16
- 45 chiếm đa số (87,3%), tuổi trung bình 31,21 ± 10,59 Nghiên cứu của Phạm Kiên Hữu và Nguyễn Phạm Trung Nghĩa [9], tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 37,25 tuổi
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nữ chiếm tỷ lệ 58,8%, cao hơn nam giới là 41,2%, với tỷ lệ nam/nữ = 1/1,43, phù hợp với các nghiên cứu khác như của Ngô Vương Mỹ Nhân (70,3% nữ) và Huỳnh Bá Tân cùng Nguyễn Hữu Khôi (56% nữ) Tuy nhiên, tỷ lệ này có sự khác biệt so với các nghiên cứu của Nguyễn Lưu Trình (nam/nữ = 1,6/1) và Phan Kim Huệ (nam/nữ = 1,04/1), cho thấy tỷ lệ giới tính thay đổi trong các nghiên cứu về VXM, nhưng không có nghiên cứu nào ghi nhận sự khác biệt rõ ràng giữa giới tính và VXM.
Đặc điểm lâm sàng của viêm xoang mạn
Chủ yếu BN trong nghiên cứu này vào viện vì nhức đầu chiếm 71,8%, kế đó là chảy mũi 15,3%, nghẹt mũi 9,4% và ít nhất là chảy mũi lẫn máu 3,5%
Theo nghiên cứu của Phan Kim Huệ [6], nhức đầu chiếm tỷ lệ cao nhất, khoảng 60%, trong các lý do nhập viện, cho thấy đây là triệu chứng ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống và khả năng làm việc của bệnh nhân Tuy nhiên, triệu chứng khiến bệnh nhân phải nhập viện đôi khi không phải là triệu chứng phổ biến nhất của Virus X (VXM), cho thấy sự đa dạng trong các biểu hiện lâm sàng của bệnh.
Thời gian mắc bệnh trung bình của VXM là 52,21 tháng, với khoảng thời gian ngắn nhất là 3 tháng và dài nhất lên đến 360 tháng, phản ánh tính chất mãn tính của bệnh Vì là bệnh mãn tính, thời gian mắc bệnh của bệnh nhân rất thay đổi đáng kể So với nghiên cứu của Phan Kim Huệ [6], thời gian mắc bệnh trung bình của VXM dài hơn 75,94 tháng, cho thấy sự khác biệt về đặc điểm dịch tễ học của bệnh.
4.2.3 Triệu chứng cơ năng của VXM
Nghiên cứu chỉ ra rằng triệu chứng phổ biến nhất là nhức đầu, chiếm tỷ lệ 88,2%, tiếp theo là mệt mỏi với 81,2%, nghẹt mũi 58,8%, chảy mũi 57,6%, và giảm hoặc mất khả năng khứu giác với 31,8% Mặc dù nhức đầu và mệt mỏi không phải là triệu chứng chính của viêm xoang mạn tính (VXM), nhưng dựa trên hình ảnh X quang có dày niêm mạc các xoang, theo tiêu chuẩn EPOS 2012, các triệu chứng này vẫn có thể được chẩn đoán là viêm xoang.
Nghiên cứu của Ngô Vương Mỹ Nhân cho thấy nhức đầu chiếm tỷ lệ cao nhất (91,9%), kế đến là nghẹt mũi (70,3%), phù hợp với một số nghiên cứu khác Tuy nhiên, có sự khác biệt đáng kể so với nghiên cứu của Nguyễn Lưu Trình, ghi nhận các triệu chứng cơ năng phổ biến nhất là nghẹt mũi và chảy mũi (97,9%), đau nhức đầu mặt (89,4%), giảm khứu (78,7%) Nghiên cứu của Phan Kim Huệ lại cho thấy chảy mũi chiếm tỷ lệ cao nhất (94%), tiếp đến là nghẹt tắc mũi (87%) và giảm/mất khứu (22%) Sự khác biệt này có thể do cỡ mẫu nhỏ của các nghiên cứu Dù triệu chứng nhức đầu có thể không xuất phát từ viêm xoang, lâm sàng vẫn cần loại trừ viêm xoang và XQCLVT hình ảnh dày niêm mạc xoang chính là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán viêm xoang.
4.2.3.1 Về triệu chứng nghẹt mũi
Nghiên cứu cho thấy rằng số bệnh nhân bị nghẹt mũi hai bên chiếm tỷ lệ cao nhất, với 70% (35/50 BN), trong khi đó nghẹt mũi một bên chiếm 30% (15/50 BN) Ngoài ra, triệu chứng nghẹt mũi từng lúc gặp nhiều hơn, chiếm 74% (37/50 BN), so với nghẹt mũi liên tục chỉ chiếm 26% (13/50 BN).
Về vị trí nghẹt mũi, nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết quả của Nguyễn Văn Hòa [4], trong đó nghẹt mũi hai bên chiếm tỷ lệ cao hơn (71,4%) so với nghẹt mũi một bên (28,6%) Về tính chất nghẹt mũi, kết quả của chúng tôi cho thấy nghẹt mũi liên tục chiếm đa số (53,6%), trong khi đó Nguyễn Văn Hòa [4] ghi nhận phần lớn bệnh nhân gặp nghẹt mũi từng lúc (46,4%).
Nghẹt mũi một bên thường là dấu hiệu của viêm xoang bên, nguyên nhân chính là do nấm, vấn đề về răng hoặc dị hình giải phẫu Trong khi đó, nghẹt mũi hai bên mức độ tạm thời thường xảy ra do dị ứng khi thời tiết thay đổi Khi triệu chứng nghẹt mũi hai bên kéo dài, có thể là dấu hiệu của viêm xoang nặng hơn, viêm đa xoang hoặc tắc nghẽn các phần dịch mũi phía sau hai bên.
4.2.3.2 Về triệu chứng giảm hoặc mất khứu
Giảm hoặc mất khứu là dấu hiệu khó đánh giá do phụ thuộc vào cảm giác chủ quan của người bệnh, thường là hậu quả của viêm xoang gây phù nề niêm mạc mũi, khiến luồng không khí không thể tiếp cận tầng khứu giác Nghiên cứu cho thấy có đến 31,8% bệnh nhân gặp phải triệu chứng này, tương tự như các nghiên cứu của Ngô Vương Mỹ Nhân và cộng sự (24,3%) và Phan Kim Huệ (22%) Tuy nhiên, tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Văn Hòa, ghi nhận đến 53,3% bệnh nhân bị rối loạn khứu giác.
4.2.3.3 Về tính chất dịch tiết và mùi
Kết quả nghiên cứu cho thấy, dịch mũi là thanh dịch chiếm đa số trong các
BN có chảy mũi (53,1%), kế đến là dịch mủ (24,5%), nhầy (16,3%), dịch lẫn máu chiếm 4,1% Dịch tiết đa số không mùi 89,8% và có mùi hôi chiếm 10,2%
Dựa trên nghiên cứu của Nguyễn Văn Hòa, dịch nhầy đặc là loại dịch phổ biến nhất, xuất hiện ở 55,2% các bệnh nhân (32/58), tiếp theo là dịch mủ với tỷ lệ 31% (18/58), trong khi thanh dịch ít gặp hơn, chiếm 13,8% (8/58).
Theo chúng tôi những trường hợp có chảy dịch lẫn máu cần chụp XQCLVT xoang để phân biệt với khối u, từ đó đưa ra hướng điều trị thích hợp
4.2.3.4 Về vị trí nhức đầu
Nhức toàn bộ đầu chiếm tỷ lệ cao nhất, chiếm đến 44%, tiếp theo là nhức vùng trán-thái dương với 26,7%, đỉnh chẩm 12%, má-trán-thái dương 6,7%, và trán-thái dương-đỉnh chẩm 9,3%, trong khi nhức đầu vùng má có tỷ lệ thấp nhất chỉ 1,3% So với nghiên cứu của Nguyễn Văn Hòa [4], tỷ lệ nhức đầu vùng trán-thái dương cao nhất là 47,4%, tiếp đến là vùng đỉnh chẩm với 26,3%, còn vùng má chiếm tỷ lệ thấp nhất là 10,5% Tuy nhiên, trong thực tế lâm sàng, việc phân biệt nguyên nhân gây nhức đầu do viêm nhiễm, ứ đọng trong xoang, căng thẳng, lo âu hoặc phản ứng thần kinh khác còn gặp nhiều khó khăn [33].
Trong phân tích lâm sàng bằng soi mũi trước ở các bệnh nhân, chúng tôi ghi nhận có 58,8% bệnh nhân có hiện tượng ứ đọng mủ hoặc dịch ở khe giữa, là nơi dẫn lưu của các xoang như xoang trán, xoang hàm và xoang sàng trước Tình trạng này thường phản ánh viêm xoang và là triệu chứng có giá trị trong chẩn đoán viêm xoang mạn Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Văn Hòa (93,3%) nhưng cao hơn so với các nghiên cứu trước đó.
4.3 Hình ảnh tổn thương của viêm xoang mạn trên phim X quang cắt lớp vi tính
4.3.1 Các hình ảnh tổn thương của viêm xoang mạn trên XQCLVT
Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận rằng hình ảnh dày niêm mạc xoang là tổn thương phổ biến nhất, chiếm tỷ lệ 83,5%, tiếp theo là hình ảnh mờ xoang with 58,8% Hẹp hoặc tắc PHLN xuất hiện ở 52,9% các ca, trong khi tổn thương xương chiếm 38,8% Bọc ứ đọng trong xoang hàm cũng được ghi nhận với tỷ lệ 15,3%.
Tỷ lệ hẹp/tắc phức hợp phần lớn của phổi (PHLN) chiếm tới 52,9%, phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Trường Giang và cộng sự (52,5%), nhưng thấp hơn so với các nghiên cứu của K Dua (88%) và G.L.Fadda (75,7%).
Hình ảnh tổn thương xương (dày xương) do phản ứng viêm xương gây ra chiếm tỷ lệ 38,8%, phù hợp với các nghiên cứu của Trương Hồ Việt ghi nhận là 30,8% Đây là biểu hiện của phản ứng viêm mạn tính niêm mạc xoang gây tổn thương xương, ảnh hưởng đến quá trình điều trị và phục hồi của bệnh nhân Việc nhận biết chính xác mức độ dày xương do viêm giúp các bác sĩ đưa ra phương án điều trị phù hợp, giảm thiểu các biến chứng liên quan đến tổn thương xương trong các bệnh lý về xoang.
Bọc ứ đọng xoang hàm là một bất thường của xoang, trên CLVT có hình ảnh
Mặc dù "mặt trời mọc" do sự tắc nghẽn dẫn lưu chất nhầy trong các tuyến nhầy của niêm mạc xoang gây ra, nghiên cứu đã ghi nhận tỷ lệ bệnh nhân có bọc xoang hàm chiếm đến 15,3% với 13 trên 85 bệnh nhân, cao hơn so với các nghiên cứu trước đó của Huỳnh Bá Tân và Nguyễn Hữu Khôi (7%) [16], cũng như của G.L Fadda (5,7%) [31], cho thấy mức độ phổ biến của tình trạng này có thể cao hơn trong một số nhóm bệnh nhân.
4.3.2 Vị trí, số lƣợng và đặc điểm hình ảnh XQCLVT các xoang viêm
4.3.2.1 Bất thường niêm mạc các xoang
Bất thường niêm mạc xoang sàng trước chiếm tỷ lệ cao nhất 87,1% Giống với nghiên cứu của K Dua và cộng sự (88%) [27], Bolger và cộng sự (84,3%) [23] Cao hơn G.L.Fadda (54,3%) [31]
Tỷ lệ bất thường niêm mạc xoang hàm trong nghiên cứu này là 77,6%, tỷ lệ này giống với nghiên cứu của Bolger và cộng sự (77,7%) [23], G.L.Fadda (67,1%)
[31] Cao hơn K Dua và cộng sự (50%) [27], thấp hơn Trương Hồ Việt (100%)
Bất thường niêm mạc xoang sàng sau chiếm 68,2% Tỷ lệ này phù hợp với nghiên cứu của K Dua và cộng sự (66%) [27] Cao hơn Bolger và cộng sự (38,6%)
Bất thường niêm mạc xoang bướm chiếm 25,9% Phù hợp với nghiên cứu của Bolger và cộng sự (25,4%) [23] Cao hơn K Dua và cộng sự (18%) [27], G.L.Fadda (10%) [31], thấp hơn Trương Hồ Việt (59%) [19]
Mối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng và hình ảnh tổn thương của viêm
4.4.1 Liên quan giữa triệu chứng cơ năng và hình ảnh tổn thương của viêm xoang mạn trên XQCLVT
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ nhức đầu vùng đỉnh chẩm ở bệnh nhân có viêm nhóm xoang sau là 62,3%, tuy nhiên sự khác biệt này chưa có ý nghĩa thống kê với p=0,167 Đồng thời, không phát hiện mối liên quan giữa viêm xoang trán và nhức đầu vùng trán-thái dương với p=0,143 Trái ngược với các nghiên cứu của Howard L Levine và Phạm Khánh Hòa cho rằng viêm xoang trán và các xoang sàng, xoang bướm thường gây nhức đầu vùng trán hoặc đỉnh chẩm, sự khác biệt có thể do mẫu nghiên cứu của chúng tôi còn hạn chế về quy mô Chúng tôi hy vọng các nghiên cứu lớn hơn sẽ cung cấp kết quả chính xác hơn về mối liên quan giữa viêm xoang và các loại nhức đầu khác nhau.
Kết quả từ bảng 3.27 cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các bệnh nhân giảm/mất khứu có hẹp hoặc tắc các phản ứng đường thở trên XQCLVT và những bệnh nhân không giảm/mất khứu và không có hẹp/tắc Cụ thể, 44,4% bệnh nhân giảm/mất khứu có hẹp/tắc PHLN, trong khi 82,5% bệnh nhân không giảm/mất khứu không có hẹp/tắc PHLN, với giá trị p=0,008 Điều này cho thấy, ở những bệnh nhân viêm xoang mạn có triệu chứng giảm hoặc mất khứu, cần xem xét tổn thương vùng khe giữa và thực hiện chụp XQCLVT để xác định nguyên nhân như u, polyp, lệch vách ngăn hoặc quá phát cuốn mũi, giúp bác sĩ lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.
4.4.2 Liên quan giữa triệu chứng thực thể và hình ảnh tổn thương của viêm xoang mạn trên XQCLVT
Tỷ lệ bệnh nhân viêm xoang hàm có đọng mủ hoặc dịch ở khe giữa chiếm 66,7% Có mối liên quan rõ ràng giữa viêm xoang hàm và tình trạng đọng mủ hoặc dịch tại khe giữa, với giá trị p=0,006, cho thấy sự có ý nghĩa thống kê Do đó, khi soi mũi phát hiện dấu hiệu đọng mủ hoặc dịch tại khe giữa, khả năng cao là bệnh nhân đang mắc viêm xoang hàm.