1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

1562 Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng Siêu Âm Và Đánh Giá Kết Quả Sớm Điều Trị Thoát Vị Bẹn Bằng Phương Pháp Mổ Mở Kiểu Lichtenstein Tại Bv Đa Khoa Tp Cần Thơ .Pdf

111 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Điểm Lâm Sàng Siêu Âm Và Đánh Giá Kết Quả Sớm Điều Trị Thoát Vị Bẹn Bằng Phương Pháp Mổ Mở Kiểu Lichtenstein Tại Bv Đa Khoa Tp Cần Thơ
Tác giả Nguyễn Phước Lộc
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Văn Lâm, BS.CKII. La Văn Phú
Trường học Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Ngoại Khoa
Thể loại Luận án chuyên khoa cấp II
Năm xuất bản 2018
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (14)
    • 1.1. Giải phẫu học vùng bẹn (14)
    • 1.2. Nguyên nhân và cơ chế chống thoát vị tự nhiên (19)
    • 1.3. Lâm sàng, cận lâm sàng và phân loại theo Nyhus (22)
    • 1.4. Chẩn đoán, biến chứng và chỉ định điều trị (25)
    • 1.5. Các phương pháp mổ thoát vị bẹn ở người lớn (27)
    • 1.6. Nghiên cứu ngoài và trong nước (31)
  • Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (35)
    • 2.1. Đối tƣợng nghiên cứu (35)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (35)
    • 2.3. Đạo đức trong nghiên cứu (50)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (51)
    • 3.1. Đặc điểm chung (51)
    • 3.2. Đặc điểm lâm sàng và siêu âm bệnh nhân thoát vị bẹn (54)
    • 3.3. Đánh giá kết quả sớm điều trị thoát vị bẹn bằng phương pháp mổ mở kiểu (62)
  • Chương 4. BÀN LUẬN (71)
    • 4.1. Đặc điểm chung (71)
    • 4.2. Đặc điểm lâm sàng và siêu âm bệnh nhân thoát vị bẹn (73)
    • 4.3. Đánh giá kết quả sớm điều trị thoát vị bẹn bằng phương pháp mổ mở kiểu (81)
  • KẾT LUẬN (93)
  • PHỤ LỤC (0)

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y DƢỢC CẦN THƠ NGUYỄN PHƢỚC LỘC NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, SIÊU ÂM VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SỚM ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ BẸN BẰNG PHƢƠNG PHÁ[.]

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tƣợng nghiên cứu

Bệnh nhân thoát vị bẹn đến khám, đƣợc chẩn đoán thoát vị bẹn, điều trị tại Bệnh viện đa khoa Thành phố Cần Thơ

- Bệnh nhân từ 16 tuổi trở lên

- Đƣợc chẩn đoán thoát vị bẹn và có chỉ định điều trị

- Chẩn đoán dựa vào: Khai thác bệnh sử, khám lâm sàng, siêu âm

- Đồng ý tham gia nghiên cứu (mổ mở phương pháp Lichtenstein)

Bệnh nhân mắc các bệnh nội khoa nặng như Basedow chưa ổn định, tiểu đường có biến chứng, đau thắt ngực không ổn định, suy tim, suy thận, bệnh máu không đông và lao phổi tiến triển Tình trạng sức khỏe của bệnh nhân không cho phép thực hiện phẫu thuật Hiện tại, bệnh nhân mất liên lạc, gây khó khăn trong việc tiếp tục theo dõi và điều trị kịp thời.

- Bệnh nhân đang bị nhiễm trùng khu trú vùng bẹn bên bị thoát vị

2.1.4 Thời gian, địa điểm nghiên cứu

Thời gian thực hiện: Từ tháng 5 năm 2017 đến tháng 7 năm 2018 Địa điểm: Bệnh viện đa khoa Thành phố Cần Thơ.

Phương pháp nghiên cứu

Mô tả cắt ngang, tiến cứu

- Tính theo công thức sau: n: Là cỡ mẫu α: Mức ý nghĩa thống kê (α = 0,05)

Z: Trị số phân phối chuẩn = 1,96 p: Tỷ lệ thành công mong muốn là 95% (Bạch Tuấn Anh, Nguyễn Huy Tuấn (2014), Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Tĩnh) [1] d: Sai số cho phép, chọn 0,06

Thay vào công thức cỡ mẫu: n ≥ 51 Thực tế nghiên cứu trên 59 bệnh nhân thoát vị bẹn

Chọn các bệnh nhân đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về điều kiện chăm sóc và điều trị tại Bệnh viện đa khoa Thành phố Cần Thơ từ tháng 5 năm 2017 đến tháng 7 năm 2018.

Ghi nhận các biến số sau:

- Tuổi: Chia thành các nhóm nhƣ sau

- Nơi cƣ trú: Theo định nghĩa của Cục thống kê dân số, địa giới hành chính thuộc thành phố, phường, thị trấn thị xã gọi là thành thị

- Nghề nghiệp: Là nghề đối tƣợng dành nhiều thời gian nhất

+ Hết tuổi lao động: Gồm các bệnh nhân mất sức lao động do lớn tuổi + Cán bộ viên chức, học sinh, sinh viên

2.2.4.2 Đặc điểm lâm sàng, siêu âm

Tiền sử mổ thoát vị bẹn là yếu tố quan trọng cần xem xét trong quá trình chẩn đoán và điều trị Các bệnh lý kèm theo như các bệnh phổi mạn tính, bệnh tim mạch, tăng huyết áp, đái tháo đường, xơ gan, sỏi tiết niệu và phì đại lành tính tiền liệt tuyến có thể làm gia tăng áp lực ổ bụng, ảnh hưởng đến quá trình phục hồi sau phẫu thuật và tăng nguy cơ biến chứng Việc quản lý tốt các bệnh lý toàn thân này giúp giảm thiểu rủi ro và đảm bảo kết quả điều trị thành công.

Hỏi bệnh sử và khám lâm sàng ghi nhận các biến số sau:

+ Khối phồng kèm co kéo gây khó chịu

- Tiền sử bản thân về mổ thoát vị bẹn:

+ Tái phát (đã mổ thoát vị bẹn cùng bên trước đó)

- Trọng lƣợng cơ thể: Dựa trên BMI (Body Mass Index) đƣợc tính bởi công thức sau:

Bảng 2.1 Phân loại BMI (theo IDI và WPRO BMI)

Phân loại BMI Chỉ số

+ Khối thoát vị xuất hiện khi: Đi đứng, chạy nhảy, khi tăng áp lực ổ bụng hay xuất hiện thường xuyên

+ Khối thoát vị có nhỏ lại hay mất đi khi: Nằm hay phải dùng tay đẩy vào Không nhỏ lại, không mất đi khi nằm, dùng tay đẩy vào

+ Khi khối thoát vị xuất hiện: Không co kéo, không đau; Co kéo (căng tức, khó chịu) vùng bẹn – bìu; Gây đau vùng bẹn – bìu

+ Khối thoát vị còn ở vùng bẹn hay đã xuống đến bìu

+ Vị trí: Khối thoát vị bên phải, bên trái hay cả hai bên

+ Khối thoát vị có đẩy vào ổ bụng: Đƣợc, không

* Siêu âm vùng bẹn – bìu

- Thấy hình ảnh quai ruột trong khối thoát vị

- Thấy hình ảnh mạc nối trong khối thoát vị

- Thấy hình ảnh cả quai ruột và mạc nối trong khối thoát vị

- Thấy hình ảnh khác hoặc không thấy hình ảnh khối thoát vị

Phân loại thoát vị bẹn

- Phân loại theo vị trí giải phẫu

- Phân loại thoát vị bẹn theo Nyhus

+ Độ I: Thoát vị gián tiếp, lỗ bẹn sâu bình thường

+ Độ II: Thoát vị bẹn gián tiếp, lỗ bẹn sâu rộng, thành bẹn sau còn tốt

(bó mạch thượng vị dưới không bị đẩy lệch) Thoát vị chưa xuống bìu

+ Độ III: Thành bẹn sau hƣ

A: Thoát vị bẹn trực tiếp

B: Thoát vị bẹn gián tiếp, lỗ bẹn sâu dãn, mạc ngang của tam giác Hesselbach bị phá hủy hoặc thoát vị hỗn hợp

+ Độ IV: Thoát vị tái phát

* Siêu âm vùng bẹn – bìu

- Thấy hoặc không thấy hình ảnh khối thoát vị

- Thấy hình ảnh quai ruột trong khối thoát vị

- Thấy hình ảnh mạc nối trong khối thoát vị

- Thấy hình ảnh cả quai ruột và mạc nối trong khối thoát vị

- Thấy hình ảnh khác trong khối thoát vị

2.2.4.3 Đánh giá kết quả sớm điều trị thoát vị bẹn bằng phương pháp mổ mở kiểu Lichtensein

+ Gây mê nội khí quản

+ Theo đường song song và trên dây chằng bẹn

+ Theo đường phân giác bẹn

+ Mảnh ghép: Chia 2 nhóm 6 x 11 và 15 x 15

+ Cố định mảnh ghép: Khâu mũi rời hay mũi vắt

- Thời gian mổ: Tính từ lúc rạch da đến khi khâu da xong

- Dẫn lưu vết mổ: Có hay không

- Các tai biến có thể gặp nhƣ:

+ Tổn thương ống dẫn tinh

+ Khâu phạm vào động mạch, tĩnh mạch đùi

+ Tổn thương động mạch thượng vị dưới

+ Tổn thương thành phần nằm trong túi thoát vị

+ Tổn thương thần kinh chậu – bẹn và thần kinh chậu – hạ vị

+ Bí tiểu phải đặt sonde

+ Tụ máu vùng bẹn – bìu

+ Phù nề bìu và tinh hoàn

Thời gian phục hồi sinh hoạt cá nhân sớm sau phẫu thuật được xác định là khoảng thời gian từ khi bệnh nhân kết thúc phẫu thuật đến khi họ có thể tự đứng dậy, đi tiểu, và tự vệ sinh mà không cần sự giúp đỡ của người khác Thời gian này được đánh giá dựa trên phản hồi trực tiếp từ bệnh nhân, giúp xác định mức độ hồi phục nhanh chóng và hiệu quả sau phẫu thuật.

- Thời gian nằm viện sau mổ: Tính từ ngày mổ đến ngày xuất viện

Bảng 2.2 Phân loại mức độ đau Dựa vào trạng thái nét mặt, hỏi Mức độ đau

Khi gặp phải các mức độ đau khác nhau, người bệnh có thể sử dụng thuốc giảm đau phù hợp để giảm thiểu khó chịu Đối với đau nhẹ, chỉ cần dùng thuốc giảm đau dạng uống là đủ để kiểm soát triệu chứng Trong trường hợp đau vừa phải, cần sử dụng thuốc giảm đau dạng tiêm không gây nghiện để nhanh chóng giảm cảm giác khó chịu Khi đau nhiều hơn, người bệnh nên dùng thuốc tiêm loại gây nghiện để giảm đau hiệu quả hơn Tuy nhiên, nếu đau quá mức, không thể chịu đựng dù đã tiêm thuốc gây nghiện, cần tìm kiếm các phương pháp điều trị khác phù hợp hơn để đảm bảo an toàn và hiệu quả.

* Kết quả khi xuất viện Đƣợc đánh giá: Tốt, khá, trung bình, kém

-Tiêu chuẩn đánh giá: Dựa vào tiêu chuẩn đánh giá của Nguyễn Văn Liễu [18], có bổ sung:

+ Tốt: Không có tai biến trong phẫu thuật và biến chứng hậu phẫu

Vết mổ khô, không tụ máu

Vùng bẹn – bìu không phù nề, không rối loạn cảm giác

+ Khá: Vết mổ khô, còn phù nề nhẹ; bìu và tinh hoàn có thể phù nề nhẹ; đau nhẹ

+ Trung bình: Tụ máu vùng bẹn – bìu, nhiễm trùng vết mổ, đau nhẹ đến vừa + Kém: Nhiễm trùng vết mổ, mảnh ghép, đau nhiều

* Kết quả sau xuất viện

Sau khi xuất viện, bệnh nhân cần tái khám lần 1 sau 1 tuần để đánh giá tiến triển, lần 2 sau 1 tháng, và lần 3 sau 3 tháng Nếu không thể đến khám trực tiếp, chúng tôi sẽ liên hệ qua điện thoại hoặc thăm khám tại nhà nếu điều kiện thuận lợi Quá trình đánh giá kết quả sau 1 tuần giúp xác định hiệu quả điều trị ban đầu và điều chỉnh kế hoạch chăm sóc phù hợp.

- Tiêu chuẩn đánh giá: Dựa vào tiêu chuẩn đánh giá của Nguyễn Văn Liễu [18], có bổ sung:

Phẫu thuật thành công với không có tai biến hoặc biến chứng hậu phẫu, vết mổ khô, không đau, không phù nề hay tụ máu Khu vực bẹn – bìu không bị sưng tấy hoặc rối loạn cảm giác sau thủ thuật.

+ Khá: Vết mổ khô, còn phù nề nhẹ; bìu và tinh hoàn có thể phù nề nhẹ; đau nhẹ

Trung bình, các triệu chứng bao gồm tụ máu vùng bẹn – bìu, nhiễm trùng vết mổ và đau nhẹ đến vừa Trong khi đó, các tình trạng kém như nhiễm trùng vết mổ, mảnh ghép bị nhiễm trùng và đau nhiều cần được chú ý đặc biệt Việc đánh giá kết quả sau 1 tháng và 3 tháng giúp theo dõi quá trình hồi phục, phát hiện sớm các vấn đề và đảm bảo quá trình điều trị hiệu quả.

- Các thông tin cần ghi nhận khi tái khám:

+ Tình trạng vết mổ: Có đau kéo dài, có phù nề, nhiễm trùng

+ Thời gian trở lại lao động

+ Rối loạn cảm giác vùng bẹn – bìu

+ Tràn dịch màng tinh hoàn

+ Thải trừ mảnh ghép Đánh giá:

+ Tốt: Không có biến chứng, không có tái phát

+ Khá: Không có tái phát nhƣng kèm theo đau, tê vùng bẹn – bìu, sa

33 tinh hoàn, tràn dịch màng tinh hoàn

+ Trung bình: Không có tái phát nhƣng nhiễm trùng vết mổ kéo dài + Kém: Teo tinh hoàn, thải trừ mảnh ghép, tái phát

2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.2.5.1 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu

Tiến hành khai thác tiền sử bệnh nhân, các đặc điểm xã hội học Thăm khám lâm sàng, cận lâm sàng

Trong quá trình nghiên cứu, số liệu sẽ được thu thập theo một mẫu thống nhất nhằm đảm bảo tính chính xác và đồng bộ Các bước thực hiện bao gồm ghi chép cẩn thận, chụp phụ mổ và mổ, ghi lại hình ảnh bệnh nhân cùng kết quả siêu âm, sau đó lưu trữ toàn bộ dữ liệu vào máy tính cá nhân để dễ dàng quản lý và phân tích.

Chẩn đoán thoát vị bẹn chủ yếu dựa vào khai thác bệnh sử và thăm khám lâm sàng, đảm bảo việc xác định chính xác tình trạng bệnh Siêu âm đóng vai trò quan trọng trong những trường hợp không điển hình, giúp phân biệt các khối u vùng bẹn và bìu cũng như xác định thành phần trong túi thoát vị Công cụ này hỗ trợ chẩn đoán chính xác hơn, góp phần đưa ra phương pháp điều trị phù hợp và hiệu quả.

Siêu âm là kỹ thuật thăm khám và ghi hình phổ biến hiện nay, được thực hiện rộng rãi tại các cơ sở y tế Trong quá trình khám siêu âm cho bệnh nhân, bác sĩ cần chuẩn bị đầy đủ các bước để đảm bảo chẩn đoán chính xác và hiệu quả Phương pháp này giúp phát hiện các vấn đề sức khỏe nhanh chóng, an toàn và không xâm lấn Vì vậy, siêu âm đang trở thành công cụ không thể thiếu trong lĩnh vực y học hiện đại.

- Bệnh nhân đƣợc tƣ vấn, khai thác bệnh sử

- Khám siêu âm cho bệnh nhân ở tư thế nằm ngửa, trường hợp cần thiết siêu âm tƣ thế đứng, bộc lộ vùng bẹn – bìu cần thăm khám

- Sử dụng đầu dò phẳng, nông (Linear) với tần số từ 5 – 10 Mhz

- Khi khám siêu âm phải cắt theo các hướng khác nhau như: Dọc, ngang, chếch sang nhiều hướng

Trong các trường hợp thoát vị bẹn nhỏ, mới phát bệnh thường khó nhận biết rõ túi thoát vị, do đó bác sĩ thường yêu cầu bệnh nhân thực hiện các động tác gắng sức như chạy nhảy tại chỗ, ho hoặc rặn để kiểm tra Hình ảnh siêu âm có thể cho thấy sự gia tăng thể tích của túi thoát vị khi bệnh nhân gắng sức, giúp chẩn đoán chính xác hơn về tình trạng thoát vị bẹn.

34 giảm thể tích khi đè ép túi thoát vị sẽ giúp chẩn đoán

Trong các trường hợp lâm sàng rõ ràng, thành phần trong túi thoát vị bao gồm mạc nối, ruột và dịch Đặc biệt, trong trường hợp thoát vị nghẹt, có thể thấy rõ quai ruột dãn chứa dịch và khí, không còn hoạt động nhu động, kèm theo tình trạng suy giảm tưới máu.

Khi khám túi thoát vị, cần kiểm tra cả vùng bẹn để phát hiện các bệnh lý khác như hạch bẹn, u mỡ, cùng với các vấn đề liên quan đến ống bẹn, tinh hoàn Điều này giúp chẩn đoán phân biệt chính xác và đưa ra hướng điều trị phù hợp Ngoài ra, thành phần trong túi thoát vị cũng cần được đánh giá kỹ lưỡng để xác định tính chất và mức độ của tổn thương.

* Quy trình và phương tiện phẫu thuật

Nguyên tắc điều trị thoát vị bẹn:

Xử lý túi thoát vị là bước quan trọng trong phẫu thuật thoát vị bẹn Với thoát vị bẹn gián tiếp, bác sĩ thường tiến hành bóc tách túi thoát vị, cắt bỏ hoặc không, rồi thắt cao cổ túi thoát vị để làm bít kín đường đi của túi thoát vị Trong khi đó, đối với thoát vị bẹn trực tiếp và thoát vị đùi, không cần cắt bỏ túi thoát vị; chỉ cần khâu lộn túi vào trong là đủ để đảm bảo hiệu quả điều trị.

Đạo đức trong nghiên cứu

Đây là nghiên cứu không có vấn đề vi phạm y đức, khi tiến hành thu thập dữ liệu chúng tôi luôn đảm bảo vấn đề y đức

Trước khi tiến hành điều trị cho bệnh nhân chúng tôi đều giải thích cặn kẽ mục đích, ý nghĩa của nghiên cứu để bệnh nhân tự nguyện tham gia

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm chung

Bảng 3.1 Đặc điểm về tuổi (nY)

Tuổi Tần số (n) Tỷ lệ (%)

- Đa số bệnh nhân trên 70 tuổi chiếm 39,0%

- Thấp nhất là 20 tuổi, cao nhất là 93

Bảng 3.2 Đặc điểm về giới tính

Giới tính Tần số (n) Tỷ lệ (%)

- Tất cả bệnh nhân là nam giới chiếm 100%

3.1.3 Phân bố bệnh nhân theo nơi cƣ trú

Nơi cƣ trú Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Nhận xét: Đa số bệnh nhân sống ở nông thôn chiếm 59,3% Thành thị chiếm 40,7%

Bảng 3.4 Đặc điểm nghề nghiệp

Nghề nghiệp Số BN Tỉ lệ %

Nông dân (làm ruộng, rẫy) 17 28,8

Nghề khác (làm thuê, chạy xe ôm) 11 18,6

Công nhân viên chức, học sinh, sinh viên 2 3,4

- Tỷ lệ cao nhất là hết tuổi lao động chiếm 39,0%

- Thấp nhất là cán bộ nhân viên chức/sinh viên chiếm 3,4%

Biểu đồ 3.1 Dân tộc Nhận xét: Dân tộc Kinh chiếm 93,2%; dân tộc khác chiếm 6,8%

Đặc điểm lâm sàng và siêu âm bệnh nhân thoát vị bẹn

Bảng 3.5 Lý do vào viện

Lý do vào viện Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Khối phồng vùng bẹn-bìu co kéo khó chịu 7 11,9

Khối phồng vùng bẹn-bìu kèm đau 10 16,9

- Bệnh nhân vào viện do khối phồng vùng bẹn chiếm 30,5%

- Bệnh nhân vào viện do khối phồng vùng bìu chiếm 30,7%

- Khối phồng vùng - bìu kèm co kéo khó chịu 11,9%

- Khối phồng vùng bẹn-bìu kèm đau chiếm 16,9%

Biểu đồ 3.2 Thoát vị bẹn nguyên phát, tái phát (nY)

Nhận xét: Có 98,3% thoát vị bẹn nguyên phát, 1,7% tái phát

Biểu đồ 3.3 Tình trạng dinh dƣỡng (nY) Nhận xét:

- Bệnh nhân có cân nặng bình thường chiếm đa số tỷ lệ 84,7%

- Bệnh nhân béo phì chiếm 1,7%

- Suy dinh dƣỡng chỉ có 1 bệnh nhân chiếm 1,7%

Bảng 3.6 Thời gian mắc bệnh Thời gian mắc bệnh Tần số (n) Tỷ lệ (%)

- Có 32,9% bệnh nhân thời gian mắc bệnh từ dưới 3 tháng

- Bệnh nhân mắc bệnh trên 3 tháng đến 1 năm: 35,6%

- Bệnh nhân mắc bệnh trên 1 năm đến 5 năm: 22%

- Mắc bệnh trên 5 năm có ít nhất chiếm 8,5%

Bảng 3.7 Hoàn cảnh khối thoát vị xuất hiện Hoàn cảnh khối thoát vị xuất hiện Tần số (n) Tỷ lệ (%) Đứng, đi 27 45,8

Khi ho, rặn, làm việc nặng 12 20,3

- Có 45,8% khối thoát vị xuất hiện khi đứng hoặc đi

- Xuất hiện thường xuyên chiếm 32,2%

- Khối phồng xuất hiện khi ho/rặn/làm việc nặng 20,3%

- Chỉ 1,7% xuất hiện khi chạy nhảy

Bảng 3.8 Khối thoát vị nhỏ lại, mất đi Khối thoát vị nhỏ lại, mất đi Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Khi nằm và dùng tay đẩy vào 6 10,2

Không nhỏ lại/mất đi khi nằm/đẩy vào 2 3,4

- Có 66,1% khối thoát vị bẹn nhỏ lại hoặc mất đi khi nằm

- Nhỏ lại, mất đi khi dùng tay đẩy vào chiếm 20,3%

- Kết hợp nằm và dùng tay đẩy vào 10,2%

- Chỉ 3,4% không nhỏ lại/mất đi

Bảng 3.9 Khi khối thoát vị xuất hiện Khi khối thoát vị xuất hiện Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Không co kéo, không đau 24 40,7

Co kéo (căng, tức, khó chịu) vùng bẹn-bìu 24 40,7 Đau vùng bẹn-bìu 11 18,6

Nhận xét: Có 40,7% khi khối thoát vị xuất hiện không đau/co kéo; 40,7% co kéo vùng bẹn-bìu; 18,6% đau vùng bẹn bìu

Biểu đồ 3.4 Khối thoát vị ở bẹn, bìu

- Có 45,8% khám thấy khối thoát vị còn ở vùng bẹn

- Phần lớn khối thoát vị xuống đến bìu 54,2%

Biểu đồ 3.5 Vị trí thoát vị bẹn Nhận xét:

- Thoát vị bẹn bên phải 62,7%

- Thoát vị bẹn bên trái 37,3%

Bảng 3.10 Đẩy khối thoát vị vào ổ bụng

Khám Tần số (n) Tỷ lệ (%) Đƣợc 45 76,3

- Khám bẹn-bìu ghi nhận có 76,3% có thể đẩy khối thoát vị vào ổ bụng,

- Khối thoát vị đẩy không vào đƣợc ổ bụng chỉ chiếm 23,7%

Bảng 3.11 Siêu âm thấy khối thoát vị Kết quả siêu âm Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Không thấy thấy thoát vị 0 0

Để xác định hình ảnh của khối thoát vị nằm trong ống bẹn và đánh giá thành phần trong túi thoát vị, tất cả các bệnh nhân đều được yêu cầu thực hiện siêu âm khi gắng sức Việc này giúp cải thiện khả năng phát hiện chính xác các tổn thương và xác định đặc điểm của khối thoát vị, từ đó hỗ trợ chẩn đoán đúng bệnh và lên kế hoạch điều trị phù hợp.

Kết quả siêu âm thấy đƣợc khối thoát vị 100%

Bảng 3.12 Tạng thoát vị (nY)

Tạng thoát vị Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Quai ruột và mạc nối 9 15,3

- Có 37,3% tạng thoát vị là quai ruột

- Tạng thoát vị là mạc nối 47,5%

- Quai ruột và mạc nối và 15,3%

3.2.4 Tiền sử bệnh kèm theo

Bảng 3.13 Tiền sử bệnh kèm theo (nY)

Bệnh kèm theo Tần số (n) Tỉ lệ %

Bệnh lý hô hấp 3 5,1 Đái tháo đường 2 3,4

Tăng sản lành tính tiền liệt tuyến 1 1,7

- Bệnh kèm theo tăng huyết áp chiếm cao nhất với 20,3%

- Bệnh lý hô hấp chiếm 5,1%

- Các bệnh như đái tháo đường: 3,4%

- Ít nhất là sỏi tiết niệu: 1,7%

- Tăng sản lành tinh tiền liệt tuyến: 1,7%

Bảng 3.14 Phân loại thoát vị bẹn theo vị trí giải phẫu Loại thoát vị Tần số (n) Tỷ lệ (%)

- Có 74,6% thoát vị bẹn gián tiếp

- Ít nhất là loại hỗn hợp 11,9%

Biểu đồ 3.6 Phân loại thoát vị bẹn theo Nyhus Nhận xét:

- Có 86,4% thoát vị bẹn loại IIIB

- Loại IVB ít nhất chiếm 1,7%

Đánh giá kết quả sớm điều trị thoát vị bẹn bằng phương pháp mổ mở kiểu

Biểu đồ 3.7 Phương pháp vô cảm Nhận xét:

- Phương pháp vô cảm gây tê tủy sống là chủ yếu chiếm 93,2%

- Gây mê nội khí quản chiếm 6,8%

Bảng 3.15 Đường mổ Đường mổ Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Theo đường song song và trên dây chằng bẹn 35 59,3

Theo đường phân giác bẹn 24 40,7

- Có 59,3% được mổ theo đường song song và trên dây chằng bẹn

- Mổ đường phân giác bẹn chiếm 40,7%

Bảng 3.16 Kích thước mảnh ghép Kích thước mảnh ghép Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Nhận xét: Tất cả 59 bệnh nhân đều dùng một loại mảnh ghép có kích thước

3.3.4 Cách cố định mảnh ghép

Biểu đồ 3.8 Cách cố định mảnh ghép Nhận xét:

- Có 93,2% cố định mảnh ghép bằng mũi khâu vắt

- Cố định mảnh ghép bằng mũi khâu rời 6,8%

Biểu đồ 3.9 Thời gian mổ (phút) Nhận xét:

- Đa số trường hợp thời gian mổ trên 45 đến 60 phút chiếm 69,5%;

- Thời gian phẫu thuật trên 61 đến 90 phút 22,0%

* Không có bệnh nhân nào phải dẫn lưu vết mổ và cũng không có trường hợp nào bị tai biến khi mổ

Bảng 3.17 Bí tiểu sau mổ (nY)

Nhận xét: Bí tiểu sau mổ chiếm 1,7%, không biến chứng khác

- Có 01 bệnh nhân bí tiểu đƣợc đặt sonde tiểu 24-48 giờ

3.3.6.2 Thời gian phục hồi sinh hoạt cá nhân sau mổ

Biểu đồ 3.10 Thời gian phục hồi sinh hoạt cá nhân sau mổ

- Thời gian phục hồi sinh hoạt sau 13-24 giờ chiếm 66,1%

- Thời gian phục hồi từ dưới 12 giờ chiếm 23,7%

- Phục hồi sau 24 giờ chiếm 10,2%

Thời gian phục hồi sinh hoạt cá nhân sau mổ được xác định từ khi bệnh nhân hoàn thành phẫu thuật đến khi tự đứng dậy, tự đi tiểu và vệ sinh cá nhân mà không cần sự giúp đỡ của người khác Thời gian này dựa trên khả năng tự lập của bệnh nhân, được đánh giá bằng chính ý kiến và phản hồi của họ sau phẫu thuật.

Bảng 3.18 Thời gian nằm viện Thời gian nằm viện Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Khoảng 42,4% bệnh nhân có thời gian nằm viện từ 3 ngày trở xuống, cho thấy nhiều bệnh nhân có thời gian điều trị ngắn Tiếp đó, 20,3% nằm viện trong vòng 4 ngày, và 18,6% nằm viện 5 ngày, phản ánh sự biến đổi về thời gian nằm viện của bệnh nhân Thực tế, tỷ lệ bệnh nhân nằm viện 6 ngày là 8,5% và 10,2% nằm viện 7 ngày, mức thấp nhất là 2 ngày và cao nhất là 7 ngày Thời gian nằm viện trung bình là 4,00 ± 1,44 ngày, thể hiện sự đa dạng trong thời gian điều trị của bệnh nhân, phù hợp với các tiêu chí chăm sóc y tế.

3.3.6.4 Theo dõi đau sau mổ

Bảng 3.19 Mức độ đau sau mổ (nY) Ngày Đau nhẹ Đau vừa

Tần số (n) Tỷ lệ (%) Tần số (n) Tỷ lệ (%)

- Mức độ đau hầu hết là đau nhẹ và đau vừa

- Ngày 1 có 100% bệnh nhân cảm giác đau vừa

- Sau 5 ngày 100% bệnh nhân cảm giác đau nhẹ

3.3.7 Đánh giá kết quả sau tái khám 1 tuần

Biểu đồ 3.11 Kết quả tái khám sau 1 tuần (nY) Nhận xét:

- Sau tái khám 1 tuần đau nhẹ chỉ 1,7%

- Vết mổ rỉ dịch và vết mổ phù nề nhẹ đều chiếm 1,7%

Bảng 3.20 Đánh giá tái khám sau 1 tuần

Kết quả Tần số (n) Tỷ lệ (%)

- Có 94,9% bệnh nhân có kết quả điều trị tốt

- Không có trường hợp kết quả trung bình và kém

3.3.8 Đánh giá kết quả sau 1 tháng

Biểu đồ 3.12 Nơi tái khám 1 tháng (nY) Nhận xét:

- Có 86,4% bệnh nhân tái khám tại Bệnh viện

- Tái khám qua điện thoại 8,5%

- Ít nhất là tái khám tại nhà 5,1%

Bảng 3.21 Biến chứng tái khám sau 1 tháng (nY)

Biến chứng Tần số (n) Tỉ lệ % Đau vết mổ (đau nhẹ) 1 1,7

Nhận xét: Chỉ có 1 trường hợp đau nhẹ sau tái khám 1 tháng chiếm 1,7%

Bảng 3.22 Thời gian trở lại lao động Thời gian trở lại lao động (ngày) Tần số (n) Tỉ lệ %

Nhận xét: Có 66,1% có thể lao động trở lại sau 15 ngày

Bảng 3.23 Đánh giá sau tái khám 1 tháng

Kết quả Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Nhận xét: Có 1 trường hợp kết quả điều trị khá, chiếm 1,7%

3.3.9 Đánh giá kết quả sau 3 tháng

Bảng 3.24 Nơi tái khám 3 tháng

Nơi tái khám Tần số (n) Tỷ lệ (%)

- Bệnh nhân tái khám tại bệnh viện sau 3 tháng chiếm 76,3%

- Tái khám qua điện thoại 23,7%

Bảng 3.25 Đánh giá kết quả tái khám 3 tháng

Kết quả Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Nhận xét: Sau tái khám 3 tháng, 100% trường hợp có kết quả điều trị tốt

BÀN LUẬN

Đặc điểm chung

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có tổng cộng 59 bệnh nhân bị thoát vị bẹn, chủ yếu tập trung ở nhóm tuổi trên 70 tuổi chiếm 39,0%, tiếp đó là nhóm từ 61-70 tuổi chiếm 20,3% Nhóm tuổi thấp nhất là 20 tuổi và cao nhất là 93 tuổi, với tuổi trung bình xấp xỉ 62,9 ± 18,2.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với các nghiên cứu trước đây, như của Nguyễn Thanh Tùng với tuổi trung bình 65,2 ± 10,9 và Bùi Trường Tèo với tuổi trung bình 63,9 ± 11,8 Các dữ liệu này cho thấy xu hướng tuổi trung bình trong các nghiên cứu liên quan, thấp hơn so với nghiên cứu của Lê Quốc Phong.

Trong nghiên cứu năm 2013, có 115 trường hợp thoát vị bẹn với tuổi trung bình là 69,4 ± 11,6 tuổi, trong đó nhóm trên 70 tuổi chiếm tỷ lệ cao do bệnh nhân trẻ tuổi thường chọn phương pháp điều trị bằng mổ nội soi Tuy nhiên, do mẫu nghiên cứu hạn chế và chủ yếu tập trung vào nhóm trên 40 tuổi, kết quả này cần được xem xét kỹ lưỡng Trong cùng thời gian, tại Bệnh viện đa khoa Thành phố Cần Thơ, đã có 119 bệnh nhân thực hiện phẫu thuật thoát vị bẹn bằng phương pháp nội soi.

Theo các nghiên cứu của: Dikshit V (2018), nhóm tuổi 61 - 70 chiếm 36,67% [51] và Jaiswal D (2018), nhóm 61-70 tuổi chiếm 32,3% [55]

Theo nhiều nghiên cứu, tuổi càng cao thì cân mạc yếu, làm tăng nguy cơ thoát vị bẹn Người lớn tuổi thường mắc các bệnh kèm theo như viêm phế quản mạn, bệnh phổi tắc nghẽn hay bệnh lý tiền liệt tuyến, gây tăng áp lực ổ bụng thường xuyên Những yếu tố này tạo điều kiện thuận lợi cho sự xuất hiện của thoát vị bẹn.

Thoát vị bẹn có thể gặp ở cả nam và nữ, tuy nhiên, theo nhiều nghiên cứu, bệnh lý này phổ biến hơn ở nam giới do đặc điểm nghề nghiệp thường xuyên phải lao động nặng nhọc để duy trì cuộc sống gia đình.

Nam giới thường đối mặt với các yếu tố nguy cơ cao như hút thuốc lá, ảnh hưởng đến quá trình phân hủy collagen vùng bẹn, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý ở khu vực này Trong khi đó, nữ giới chủ yếu gặp phải thoát vị đùi, đặc biệt ở người lớn tuổi, do sinh nhiều lần làm thành bụng yếu đi Quá trình sinh nở kéo dài và co giãn khung chậu cũng làm suy yếu các cơ, dây chằng ở vùng đáy tam giác Scarpa, góp phần làm tăng nguy cơ thoát vị đùi.

Theo cấu trúc giải phẫu, ống bẹn ở nữ giới hầu như không có khe hở, chỉ có dây chằng tròn là một dây chằng xơ hóa giúp giữ cố định vùng bụng dưới Ngược lại, cấu trúc ống bẹn ở nam giới chứa các thành phần của thừng tinh như động tĩnh, tĩnh mạch và đám rối thần kinh, khiến cho ống bẹn ở nam dễ lỏng lẻo hơn so với nữ.

Nghiên cứu cho thấy hầu hết bệnh nhân thoát vị bẹn đều là nam giới, chiếm tỷ lệ gần như tuyệt đối trong các số liệu: Nguyễn Văn Lâm xác định 100% là nam, Vương Thừa Đức áp dụng phương pháp phẫu thuật Lichtenstein với 98% bệnh nhân là nam và chỉ 2% là nữ, Trần Hồng Dũng ghi nhận 96,47% nam giới, Nguyễn Thanh Tùng cho biết tất cả 95 bệnh nhân đều là nam, và Ahmed E.A thống kê tỷ lệ nam giới lên tới 96,9%, chỉ có 3,1% là nữ.

4.1.3 Nghề nghiệp, dân tộc Đặc điểm nghề nghiệp

Tỷ lệ người trong độ tuổi lao động chiếm 39,0%, trong đó người già từ 61 tuổi trở lên chiếm đa số, chủ yếu sống ở nông thôn và vẫn tham gia lao động do thói quen Nông dân, thợ hồ, chạy xe ôm là những nghề nghiệp phổ biến, thường xuyên phải làm việc nặng, gắng sức trong tư thế không thuận lợi Các hoạt động nặng này gây áp lực ổ bụng liên tục, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thoát vị bẹn Trong nghiên cứu, tỷ lệ người tham gia lao động cao làm tăng nguy cơ mắc bệnh thoát vị bẹn ở nhóm người lớn tuổi.

Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra tỷ lệ công nhân viên chức rất thấp, tương tự như kết quả của Nguyễn Văn Lâm và cộng sự, với tỷ lệ công nhân viên chức chỉ 4,8%.

62 công nhân 11,9% [17] Bùi Trường Tèo, hết tuổi lao động chiếm 50%, công nhân viên chức 9,38% [31]

Bệnh lý thoát vị bẹn có liên quan mật thiết đến yếu tố nghề nghiệp, đặc biệt là các công việc nặng nhọc và gắng sức, làm tăng áp lực trong ổ bụng và gây co cơ vùng bụng và bẹn, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho thoát vị hình thành Ngoài ra, ở người lớn tuổi, các thay đổi về cấu trúc của cân mạc như giảm đàn hồi và mô cơ lỏng lẻo khiến cơ bụng yếu đi, làm tăng nguy cơ bị thoát vị bẹn.

Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện đa khoa Thành phố Cần Thơ, trung tâm của khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, chủ yếu tập trung vào cộng đồng dân tộc Kinh, chiếm đến 93,2% trong tổng số dân tham gia nghiên cứu Tỷ lệ dân tộc Kinh trong nghiên cứu phù hợp với các nghiên cứu trước như của Trần Hồng Dũng, khi dân tộc Kinh chiếm 96,47%, còn các dân tộc khác chỉ chiếm 3,53% Điều này phản ánh đặc điểm dân cư chủ yếu của khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long là người Kinh.

4.1.4 Phân bố bệnh nhân theo nơi cƣ trú

Trong tổng số bệnh nhân, tỷ lệ sống ở thành phố là 40,7%, trong khi đó, tỷ lệ bệnh nhân sống ở nông thôn chiếm 59,3% Các nghiên cứu của Bùi Trường Tèo cho thấy, tỷ lệ bệnh nhân tại thành phố là 26,56%, còn tại nông thôn là 73,44%, phản ánh rõ sự phân bổ không đồng đều giữa các khu vực Nguyễn Văn Lâm thống kê, có 71,4% bệnh nhân sống ở vùng nông thôn, trong khi chỉ có 28,6% cư trú tại khu vực thành phố, cho thấy đa số bệnh nhân đến từ các khu vực nông thôn.

Một yếu tố nguy cơ chính gây thoát vị bẹn là làm việc gắng sức, đặc biệt phổ biến ở đối tượng lao động chân tay nặng như nông dân làm ruộng, làm rẫy hoặc làm thuê Do tác động của công việc nặng nhọc, tỷ lệ mắc bệnh tại khu vực nông thôn cao hơn so với thành phố, phù hợp với đặc điểm nghề nghiệp của dân cư nơi đây.

Đặc điểm lâm sàng và siêu âm bệnh nhân thoát vị bẹn

Lý do khiến bệnh nhân vào viện tùy thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ: Ý

Bệnh nhân thường có nhận thức rõ về bệnh tật của mình cũng như điều kiện kinh tế gia đình Triệu chứng đặc trưng của thoát vị bẹn là có thể nhìn thấy hoặc sờ thấy khối phồng ở vùng bẹn khi bệnh nhân đứng hoặc ho, rặn, giúp chẩn đoán chính xác Trong trường hợp thoát vị nghẹt, bệnh nhân thường phát hiện được khối phồng trước đó hoặc mới mắc, và khối phồng gây đau đớn là lý do khiến họ đến khám ngay lập tức.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân nhập viện chủ yếu gặp các dạng khối phồng vùng bẹn và bìu, chiếm lần lượt 30,5% và 40,7% Ngoài ra, 11,9% bệnh nhân có khối phồng kèm cảm giác co kéo khó chịu, trong khi 16,9% mắc khối phồng vùng bẹn-bìu kèm đau Tất cả các bệnh nhân đều có khối phồng ở vùng bẹn – bìu, cho thấy đây là vị trí chủ yếu liên quan đến các vấn đề về phồng vùng bẹn-bìu trong nhóm bệnh này.

Theo nghiên cứu của Lê Phước Thành có 95,65% bệnh vào viện có khối u vùng bẹn; 2,17% đau vùng bẹn và 2,17% có triệu chứng tắc ruột [32]

Nghiên cứu của Trần Hồng Dũng cho thấy, 77,65% bệnh nhân vào viện do có khối phồng vùng bẹn-bìu, trong đó 14,12% gặp hiện tượng khối phồng đau, còn 7,06% bị đau vùng bẹn-bìu mà không có khối phồng rõ ràng Ngoài ra, có 1,18% bệnh nhân có lý do khác khi nhập viện Trương Thanh Sơn cũng ghi nhận rằng, đến 91,5% bệnh nhân nhập viện vì có khối phồng vùng bẹn, phản ánh tần suất cao của triệu chứng này trong các trường hợp phải điều trị.

Các nghiên cứu đa phần chỉ ra rằng, lý do chính khiến bệnh nhân nhập viện là tự phát hiện ra khối phồng vùng bẹn-bìu, đây là dấu hiệu dễ nhận biết của bệnh.

4.2.1.2 Tiền sử bệnh kèm theo, tình trạng dinh dƣỡng

Tiền sử bệnh kèm theo

Các bệnh mắc kèm có thể ảnh hưởng hoặc không đến nguy cơ thoát vị bẹn, trong đó bệnh lý hô hấp chiếm tỷ lệ 5,1% Ngoài ra, các bệnh như đái tháo đường và xơ gan đều chiếm 3,4%, trong khi sỏi tiết niệu và bệnh tuyến tiền liệt lần lượt chiếm 1,7% Các nghiên cứu cho thấy, bệnh tăng huyết áp, các bệnh hô hấp và tiểu đường là các yếu tố phổ biến liên quan đến thoát vị bẹn.

Nghiên cứu Huỳnh Tuấn Vũ, bệnh lý bệnh hô hấp nhiều nhất chiếm 14,29%, bệnh tiền liệt tuyến 4,76% [40]

Bùi Trường Tèo ghi nhận có 21 bệnh nhân mắc các bệnh nội khoa, chiếm tỷ lệ 32,81% Trong đó, bệnh lý tim mạch chiếm tỷ lệ cao nhất với 18,75%, tiếp đến là các bệnh về hô hấp chiếm 10,94% Ngoài ra, còn có một bệnh nhân bị tiểu đường và một bệnh nhân bị viêm gan, mỗi loại chiếm 1,56% Bên cạnh đó, có 3 bệnh nhân mắc sỏi tiết niệu, chiếm tỷ lệ 4,69%.

Trương Thanh Sơn ghi nhận các bệnh kèm theo phổ biến như bệnh phổi và tiền liệt tuyến, chiếm lần lượt 4,3% và 10,5% các trường hợp Ngoài ra, theo nghiên cứu của Neogi P., bệnh hô hấp chiếm 2,1%, trong khi có 5 bệnh nhân mắc tiểu đường, chiếm tỷ lệ 10,6%.

Các bệnh lý liên quan gây ra các triệu chứng như ho, tiểu nhiều lần, rặn, bụng sưng phù, làm tăng áp lực ổ bụng liên tục Những yếu tố này thường gặp ở người lớn tuổi, người có cơ yếu, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thoát vị bẹn.

Giảm nhanh trọng lượng cơ thể gây mất mỡ và tạo khoảng trống ở vùng bẹn, làm tăng nguy cơ thoát vị bẹn, đặc biệt ở bệnh nhân suy kiệt hoặc những người ăn kiêng quá mức Tình trạng thừa cân, béo phì và ít vận động làm yếu các nhóm cơ vùng bụng, trong khi áp lực bụng tăng thường xuyên cũng là yếu tố dễ gây thoát vị bẹn.

Trong 59 bệnh nhân của nghiên cứu, có 1 bệnh nhân suy dinh dƣỡng chiếm 1,7%; 7 bệnh nhân thừa cân chiếm 11,9%; 1 bệnh nhân béo phì chiếm 1,7%; 50 bệnh nhân trong giới hạn bình thường chiếm 84,7%

Trong nghiên cứu của chúng tôi, thể trạng bệnh nhân tương tự với các nghiên cứu trước đó, như Bùi Trường Tèo ghi nhận rằng 81,25% bệnh nhân có trọng lượng cơ thể bình thường, trong khi tỷ lệ gầy chiếm 14,06% và thừa cân chiếm 4,69% Ngoài ra, nghiên cứu của Saleh A Bin Tayair cho thấy thừa cân chiếm 10,4%, còn bệnh gầy chiếm 13,4%, phản ánh xu hướng về phân bố thể trạng bệnh nhân trong các nghiên cứu liên quan.

4.2.1.3 Thời gian mắc bệnh và vị trí thoát vị bẹn

Trong 59 bệnh nhân nghiên cứu, có 33,9% bệnh nhân có thời gian mắc bệnh từ dưới 3 tháng, cao nhất là 35,6% bệnh nhân mắc bệnh trên 3 tháng đến

1 năm; 22% bệnh nhân mắc bệnh trên 1 năm đến 5 năm; 8,5% mắc bệnh trên

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy thời gian mắc bệnh trước khi bắt đầu điều trị ngắn hơn so với các nghiên cứu khác, điều này phản ánh việc bệnh nhân được phát hiện và điều trị sớm hơn Khác với các kết quả trước đó, việc phát hiện bệnh sớm giúp giảm thiểu thời gian bệnh tiến triển và cải thiện khả năng điều trị thành công Việc bắt đầu điều trị nhanh chóng sau khi chẩn đoán đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả điều trị và giảm thiểu các biến chứng liên quan đến bệnh.

Nghiên cứu của Bùi Trường Tèo, thời gian mắc bệnh ≤ 3 tháng chiếm 19,70%, trên 3 tháng đến 1 năm chiếm 31,82%, trên 1 năm đến 5 năm chiếm 40,91%, trên 5 năm chiếm 7,58% [31]

Từ tháng 11 năm 2011 đến tháng 10 năm 2014, Nguyễn Đoàn Văn Phú đã tiến hành nghiên cứu 135 bệnh nhân mắc bệnh thoát vị bẹn Kết quả cho thấy, 38,5% bệnh nhân mắc bệnh dưới 1 năm, trong khi đó, phần lớn các ca bệnh (45,9%) có thời gian mắc bệnh từ 1 đến 5 năm.

Chậm trễ trong việc điều trị bệnh có thể gây nhiều khó khăn trong quá trình phẫu thuật, do cân mạc vùng bẹn suy yếu nghiêm trọng Điều này làm tăng nguy cơ biến chứng bất cứ lúc nào, đặc biệt đối với những bệnh nhân mắc bệnh trong thời gian dài Việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu rủi ro và đảm bảo hiệu quả sau phẫu thuật.

Thời gian mắc bệnh dưới một năm chiếm tỷ lệ cao trong nghiên cứu của chúng tôi phản ánh sự nâng cao ý thức và nhận thức của người bệnh, nhờ sự phát triển kinh tế xã hội Các nghiên cứu trước đây cách đây hơn 3 năm cho thấy còn nhiều hạn chế trong tiếp cận dịch vụ y tế và nhận thức của bệnh nhân, đặc biệt là tại các vùng nông thôn Số lượng bệnh nhân sống ở nông thôn trong các nghiên cứu cũ đông hơn so với nghiên cứu hiện tại, do điều kiện kinh tế, khó khăn trong đi lại và ý thức phòng bệnh còn hạn chế.

Vị trí thoát vị bẹn

Chúng tôi có 62,7% bệnh nhân thoát vị bẹn bên phải, 37,3% thoát vị bẹn bên trái

Đánh giá kết quả sớm điều trị thoát vị bẹn bằng phương pháp mổ mở kiểu

Kỹ thuật mổ mở kiểu Lichtenstein là phương pháp điều trị thoát vị bẹn nổi bật nhờ tính đơn giản, ít đau sau mổ và ít biến chứng Phương pháp này giúp bệnh nhân nhanh chóng phục hồi sinh hoạt cá nhân và lao động sau phẫu thuật Đặc biệt, phương pháp này còn giúp giảm thiểu rủi ro biến chứng, nâng cao hiệu quả điều trị.

Phương pháp vô cảm bằng gây tê tủy sống thường được sử dụng trong phẫu thuật điều trị thoát vị bẹn nhờ vào hiệu quả giảm đau, giãn cơ tốt và thời gian vô cảm kéo dài Khi thực hiện gây tê tủy sống, bệnh nhân vẫn tỉnh táo, giúp phẫu thuật viên dễ dàng yêu cầu bệnh nhân thực hiện các động tác gắng sức hoặc tăng áp lực ổ bụng để xác định vị trí túi thoát vị hoặc kiểm tra sau khi đóng túi thoát vị Trong khi đó, gây mê toàn thân là kỹ thuật phức tạp hơn, đòi hỏi trình độ cao của người thực hiện, trang thiết bị đắt tiền và thường không phù hợp cho một số bệnh lý đặc biệt.

Trong các nghiên cứu của Vương Thứa Đức cũng sử dụng phương pháp vô cảm là gây tê tủy sống để mổ thoát vị bẹn [9], [11]

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 55 bệnh nhân được sử dụng phương pháp vô cảm, trong đó chiếm tỷ lệ cao là gây tê tủy sống với 93,2% Phương pháp vô cảm còn lại là gây mê nội khí quản, chiếm 6,8% số bệnh nhân Kết quả này cho thấy sự ưu tiên sử dụng gây tê tủy sống trong quá trình điều trị Việc lựa chọn phương pháp vô cảm phù hợp sẽ giúp nâng cao hiệu quả và an toàn cho bệnh nhân.

Các nghiên cứu đều cho thấy tỷ lệ sử dụng tê tủy sống chiếm đa số, trong đó nghiên cứu của Nguyễn Văn Lâm ghi nhận 37 trường hợp chiếm 88,1%, trong khi chỉ có 11,9% là mê nội khí quản Tương tự, nghiên cứu của Lê Quốc Phong cũng xác định rằng 112 trường hợp (chiếm 89,6%) được gây tê tủy sống, còn lại 10,4% là mê nội khí quản, cho thấy phương pháp gây tê tủy sống phổ biến và an toàn trong thực hành lâm sàng.

Với 4 trường hợp phải gây mê nội khí quản trong nghiên cứu của chúng tôi, có 01 bệnh nhân bị xơ gan, 01 bệnh nhân bị thoát vị bẹn tái phát và 02 bệnh nhân chỉ định mổ nội soi đặt lưới hoàn toàn ngoài phúc mạc nhưng do dính không thực hiện đƣợc nên chuyển mổ mở kiểu Lichtenstein

Tùy thuộc vào thói quen và kinh nghiệm của phẫu thuật viên, lựa chọn đường mổ phù hợp để đảm bảo quá trình phẫu thuật diễn ra thuận lợi Dù chọn đường mổ nào, vết mổ vẫn cần đủ rộng để dễ dàng xác định các lớp mô, bóc tách bảo tồn thần kinh, mạch máu và các thành phần của thừng tinh Việc này giúp giảm thiểu tổn thương và đảm bảo an toàn cho bệnh nhân trong quá trình phẫu thuật.

Việc sử dụng dao điện cầm máu trong phẫu thuật thoát vị bẹn là điều cần thiết do vùng này chứa nhiều mạch máu quan trọng Lớp dưới da tại vùng bẹn gồm có ba động mạch chính là động mạch mũ chậu nông, động mạch thượng vị nông và động mạch thẹn ngoài, đều cần kiểm soát cẩn thận để tránh mất máu Thừng tinh chứa các mạch máu quan trọng như động tĩnh mạch của ống dẫn tinh, động mạch cơ bìu, động mạch tinh hoàn cùng đám rối tĩnh mạch hình dây leo, đều dễ chảy máu khi phẫu tích và thoát vị ra khỏi thừng tinh.

Trong 59 trường hợp nghiên cứu có 59,3% bệnh nhân dùng đường mổ theo đường song song và trên nếp lằn bẹn; 40,7% dùng đường mổ theo đường phân giác bẹn

Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Lâm, đường mổ chủ yếu là đường song song với nếp lằn bẹn, chiếm tỷ lệ 85,8% (36 trường hợp), trong khi đó, đường phân giác bẹn được thực hiện trong 7,1% (3 trường hợp) và đường mổ cũ cũng chiếm tỷ lệ 7,1% (3 trường hợp).

Sau khi rạch da, lớp mở dưới da và cân cơ chéo bụng ngoài được tách ra để tiếp cận vùng phẫu thuật Quá trình này giúp bộc lộ các thần kinh quan trọng như thần kinh chậu – bẹn và châu – hạ vị, nhưng đồng thời cũng làm gia tăng nguy cơ tổn thương thần kinh, đặc biệt là thần kinh chậu – bẹn trong quá trình tách cơ Tổn thương các thần kinh này có thể dẫn đến rối loạn cảm giác ở vùng bẹn – bìu, gốc dương vật và khu vực trên xương mu, ảnh hưởng đến chức năng và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

Thừng tinh được bóc tách ra khỏi sàn bẹn, thường dễ thao tác nhưng có những trường hợp dính chặt, dễ chảy máu khi tách Do đó, cần thực hiện quá trình tách nhẹ nhàng, tránh gây tổn thương thừng tinh Quá trình này giúp làm gọn thừng tinh và bộc lộ túi thoát vị để tiến hành xử lý, đảm bảo an toàn và hiệu quả trong phẫu thuật.

Chọn mảnh ghép phù hợp dựa trên 11 tiêu chuẩn là yếu tố quan trọng để đảm bảo không gây phản ứng viêm hoặc phản ứng loại bỏ mảnh ghép Mảnh ghép cần trơ về mặt hóa học, không gây ung thư, dị ứng hoặc quá mẫn để đảm bảo tính an toàn Ngoài ra, vật liệu còn phải giữ nguyên đặc tính vật lý, không bị biến đổi trong quá trình sử dụng, giúp đảm bảo độ bền và hiệu quả của phương pháp điều trị.

Vật liệu này có khả năng dịch mô, chịu đựng lực căng cơ học, và có thể định hình theo mong muốn Nó được thiết kế để dễ dàng tiệt trùng, có đề kháng cao với sự nhiễm trùng, tạo thành một lớp rào cản chống dính tại bề mặt tiếp xúc với nội tạng Ngoài ra, vật liệu còn có khả năng nhất thể với mô để cố định chắc chắn mà không bị co lại hay bọc nang hóa, đảm bảo hiệu quả trong các ứng dụng y học.

Kích thước tấm lưới khi ứng dụng thực tế phải phù hợp với từng trường hợp cụ thể của bệnh nhân Để đảm bảo hiệu quả, chúng ta cần xác định chiều rộng của tấm lưới dựa trên khoảng cách từ bờ dưới của liềm bẹn đến dây chằng bẹn Ngoài ra, chiều dài của tấm lưới còn phải phù hợp từ lỗ bẹn sâu đến củ mu, giúp tối ưu khả năng hỗ trợ và giảm thiểu biến chứng sau mổ.

Chỉ có thể xác định chính xác kích thước sau khi mở cân cơ chéo bụng ngoài, bộc lộ thừng tinh, gân cơ kết hợp, dây chằng bẹn, củ mu và lỗ bẹn sâu Trong thực tế, các tấm lưới nhân tạo do các hãng sản xuất thường lớn hơn nhu cầu thực tế, đòi hỏi phải phẫu tích rộng sàn bẹn hoặc cắt bớt mảnh ghép để phù hợp với vùng cần che phủ.

Chiều rộng phải được xác định ngay từ đầu để lựa chọn kích thước mảnh ghép phù hợp Sau đó, xác định chiều rộng lớn nhất cần thiết và có thể cắt bớt để phù hợp với kích thước đã chọn, đảm bảo tính chính xác và thuận tiện trong quá trình thi công.

Ngày đăng: 22/08/2023, 18:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bạch Tuấn Anh, Nguyễn Huy Tuấn (2014), Kết quả sớm điều trị thoát vị bẹn phương pháp Lichtenstein tại BVĐK tỉnh Hà Tĩnh, Thông tin Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Tĩnh, [Internet], 05/05/2016. [trích dẫn ngày 17/6/2018], lấy từ URL: http://soyte.hatinh.gov.vn/read/de-tai-nghien-cuu-khoa-hoc/tintuc/ket-qua-som-dieu-tri-thoat-vi-ben-phuong-phap-lichtenstein-tai-bvk-tinh-1.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả sớm điều trị thoát vị bẹn phương pháp Lichtenstein tại BVĐK tỉnh Hà Tĩnh
Tác giả: Bạch Tuấn Anh, Nguyễn Huy Tuấn
Nhà XB: Thông tin Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Tĩnh
Năm: 2014
2. Trần Thụy Anh (2007), Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật Bassini trong điều trị thoát vị bẹn ở người cao tuổi tại Bệnh Viện Saint Paul, Luận văn Thạc sĩ Y học, Học viện Quân Y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật Bassini trong điều trị thoát vị bẹn ở người cao tuổi tại Bệnh Viện Saint Paul
Tác giả: Trần Thụy Anh
Nhà XB: Học viện Quân Y
Năm: 2007
3. Nguyễn Hoàng Bắc, Lê Quang Anh Tuấn, Phạm Minh Hải, Vũ Quang Hƣng, Võ Tuấn Kiệt, Trần Thái Ngọc, Nguyễn Viết Hải (2015), “Kết quả của phẫu thuật nội soi đặt lưới tiền phúc mạc điều trị thoát vị bẹn”, Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 19 (1), tr. 193-196 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả của phẫu thuật nội soi đặt lưới tiền phúc mạc điều trị thoát vị bẹn
Tác giả: Nguyễn Hoàng Bắc, Lê Quang Anh Tuấn, Phạm Minh Hải, Vũ Quang Hƣng, Võ Tuấn Kiệt, Trần Thái Ngọc, Nguyễn Viết Hải
Nhà XB: Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2015
4. Phan Văn Bé, Nguyễn Tấn Nguyên, Nguyễn Trọng Nghĩa, Nguyễn Thị Nhiệm (2013), “Đánh giá kết quả điều trị kháng sinh dự phòng trong mổ thoát vị bẹn tại Bệnh viện đa khoa Trung tâm An Giang”, Kỷ yếu Hội nghị Khoa học Bệnh viện An giang, tr 36-41, An Giang, Việt Nam, tháng 10 năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả điều trị kháng sinh dự phòng trong mổ thoát vị bẹn tại Bệnh viện đa khoa Trung tâm An Giang
Tác giả: Phan Văn Bé, Nguyễn Tấn Nguyên, Nguyễn Trọng Nghĩa, Nguyễn Thị Nhiệm
Nhà XB: Kỷ yếu Hội nghị Khoa học Bệnh viện An giang
Năm: 2013
5. Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh (2017), Đánh giá kết quả điều trị thoát vị bẹn bằng phương pháp nội soi trước phúc mạc đặt mesh (TEP) tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh, [Internet], 30/11/2017, [trích dẫn ngày 17/6/2018], lấy từ URL: http://benhviendktinhquangninh.vn/nghien-cuu-khcn/de-tai-danh-gia-ket-qua-dieu-tri-thoat-vi-ben-bang-phuong- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả điều trị thoát vị bẹn bằng phương pháp nội soi trước phúc mạc đặt mesh (TEP) tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh
Tác giả: Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh
Nhà XB: Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh
Năm: 2017
6. Lê Huy Cường, Nguyễn Thành Phúc, Hồ Nguyễn Hoàng, Trần Nguyễn Quang Trung (2015), “Kết quả sớm điều trị thoát vị bẹn bằng phẫu thuật nội soi theo phương pháp hoàn toàn ngoài phúc mạc”, Kỷ yếu Hội Nghị Khoa học Bệnh viện An giang, tr 36-43, An Giang, Việt Nam, tháng 10 năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả sớm điều trị thoát vị bẹn bằng phẫu thuật nội soi theo phương pháp hoàn toàn ngoài phúc mạc
Tác giả: Lê Huy Cường, Nguyễn Thành Phúc, Hồ Nguyễn Hoàng, Trần Nguyễn Quang Trung
Nhà XB: Kỷ yếu Hội Nghị Khoa học Bệnh viện An giang
Năm: 2015
7. Trần Hồng Dũng (2012), Nghiên cứu đặc điểm thoát vị bẹn theo phân loại của Nyhus và kết quả điều trị sớm ở người lớn bằng phương pháp mổ nội soi đặt mảnh ghép ngoài phúc mạc tại Cần Thơ, Luận án chuyên khoa cấp II, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm thoát vị bẹn theo phân loại của Nyhus và kết quả điều trị sớm ở người lớn bằng phương pháp mổ nội soi đặt mảnh ghép ngoài phúc mạc tại Cần Thơ
Tác giả: Trần Hồng Dũng
Nhà XB: Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Năm: 2012
8. Nguyễn Lan Đình (2013), Nghiên cứu kết quả sớm điều trị thoát vị bẹn bằng phương pháp đặt mảnh ghép ngoài phúc mạc qua nội soi tại Bệnh viện đa khoa Thành phố Cần Thơ, Luận văn Bác sĩ đa khoa, Trường Đại học Y Dƣợc Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu kết quả sớm điều trị thoát vị bẹn bằng phương pháp đặt mảnh ghép ngoài phúc mạc qua nội soi tại Bệnh viện đa khoa Thành phố Cần Thơ
Tác giả: Nguyễn Lan Đình
Nhà XB: Trường Đại học Y Dƣợc Cần Thơ
Năm: 2013
9. Vương Thừa Đức (2003), “Nhận xét về kỹ thuật Lichtenstein trong điều trị thoát vị bẹn”, Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 7 (1), tr. 174- 180 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận xét về kỹ thuật Lichtenstein trong điều trị thoát vị bẹn
Tác giả: Vương Thừa Đức
Nhà XB: Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2003
10. Vương Thừa Đức (2003), “Kết quả lâu dài của kỹ thuật Shouldice trong điều trị thoát vị bẹn”, Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 7 (1), tr.181-186 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả lâu dài của kỹ thuật Shouldice trong điều trị thoát vị bẹn
Tác giả: Vương Thừa Đức
Nhà XB: Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2003
11. Vương Thừa Đức, Vũ Trí Thanh (2004), “So sánh Lichtenstein và Bassini trong phẫu thuật thoát vị bẹn”, Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 8 (1), tr. 30-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh Lichtenstein và Bassini trong phẫu thuật thoát vị bẹn
Tác giả: Vương Thừa Đức, Vũ Trí Thanh
Nhà XB: Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2004
12. Vương Thừa Đức, Nguyễn Phúc Minh (2011), “Đánh giá kết quả lâu dài của kỹ thuật Lichtenstein trong điều trị thoát vị bẹn”, Nghiên cứu Y học, Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 15 (1), tr. 108-114 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả lâu dài của kỹ thuật Lichtenstein trong điều trị thoát vị bẹn
Tác giả: Vương Thừa Đức, Nguyễn Phúc Minh
Nhà XB: Nghiên cứu Y học
Năm: 2011
13. Vương Thừa Đức, Dương Ngọc Thành (2011), “Đau mạn tính vùng bẹn đùi sau mổ thoát vị bẹn”, Tạp chí y học TP. Hồ Chí Minh, 15 (1), tr. 115- 123 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đau mạn tính vùng bẹn đùi sau mổ thoát vị bẹn
Tác giả: Vương Thừa Đức, Dương Ngọc Thành
Nhà XB: Tạp chí y học TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2011
14. Phan Sỹ Thanh Hà (2015), Kết quả điều trị thoát vị bẹn theo phương pháp Lichtenstein tại Bệnh viện 19-8, Bệnh viện 19-8, [25/9/2015], [ trích dẫn ngày 15/03/2017], lấy từ URL: http://benhvien198.vn/ket-qua-dieu-tri-thoat-vi-ben-theo-phuong-phap-Lichtenstien-tai-benh-vien-19-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều trị thoát vị bẹn theo phương pháp Lichtenstein tại Bệnh viện 19-8
Tác giả: Phan Sỹ Thanh Hà
Nhà XB: Bệnh viện 19-8
Năm: 2015
15. Vũ Hoàng Hà, Ngô Mạnh Hùng, Trương Quốc Cường, Đỗ Văn Liêm, Giang Kim Hùng (2017), “Đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị thoát vị bẹn bằng mảnh ghép theo Lichtenstein với tê tại chỗ”, Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 21 (2), tr. 99-103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị thoát vị bẹn bằng mảnh ghép theo Lichtenstein với tê tại chỗ
Tác giả: Vũ Hoàng Hà, Ngô Mạnh Hùng, Trương Quốc Cường, Đỗ Văn Liêm, Giang Kim Hùng
Nhà XB: Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2017
16. Phan Thanh Hồng (2015), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và đánh giá kết quả sớm điều trị thoát vị bẹn bằng mổ hở đặt mảnh ghép theo Lichtenstein tại Bệnh viện Đại học Y Dược Cần Thơ và Bệnh viện đa khoa Trung Ương Cần Thơ năm 2014-2015, Luận văn Bác sĩ đa khoa, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và đánh giá kết quả sớm điều trị thoát vị bẹn bằng mổ hở đặt mảnh ghép theo Lichtenstein tại Bệnh viện Đại học Y Dược Cần Thơ và Bệnh viện đa khoa Trung Ương Cần Thơ năm 2014-2015
Tác giả: Phan Thanh Hồng
Nhà XB: Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Năm: 2015
17. Nguyễn Văn Lâm (2015), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả mổ mở điều trị thoát vị bẹn theo phương pháp Lichtenstein tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả mổ mở điều trị thoát vị bẹn theo phương pháp Lichtenstein tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Tác giả: Nguyễn Văn Lâm
Nhà XB: Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Năm: 2015
18. Nguyễn Văn Liễu (2004), Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật Shouldice trong điều trị thoát vị bẹn, Luận án Tiến sĩ Y học, Học Viện Quân Y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật Shouldice trong điều trị thoát vị bẹn
Tác giả: Nguyễn Văn Liễu
Nhà XB: Học Viện Quân Y
Năm: 2004
21. Phạm Văn Năng, Phạm Văn Lình (2014), “Thoát vị bẹn”, Bệnh học ngoại khoa tiêu hóa - gan mật, Tr. 155-163 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh học ngoại khoa tiêu hóa - gan mật
Tác giả: Phạm Văn Năng, Phạm Văn Lình
Năm: 2014
22. Lê Quang Nghĩa (2011), “Mảnh ghép dùng điều trị thoát vị”, Hội thảo chuyên đề. Hội nghị khoa học sàn chậu học TP.Hồ Chí Minh, chuyên đề phẫu thuật đặt mảnh ghép trong điều trị sa sàn chậu nữ, Tr 1-12, TPHCM, Việt Nam, tháng 01 năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mảnh ghép dùng điều trị thoát vị
Tác giả: Lê Quang Nghĩa
Nhà XB: Hội thảo chuyên đề
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w