BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ HỒ THANH PHONG NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, SIÊU ÂM VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT BỆNH LÝ ỐNG PHÚC TINH MẠC Ở TRẺ EM KHÔNG SỬ DỤNG KH[.]
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
HỒ THANH PHONG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, SIÊU ÂM VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT BỆNH LÝ ỐNG PHÚC TINH MẠC Ở TRẺ EM KHÔNG
SỬ DỤNG KHÁNG SINH TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG
CẦN THƠ NĂM 2017-2018
Chuyên ngành: Ngoại khoa
Mã số: 62.72.01.23.CK
LUẬN ÁN CHUYÊN KHOA CẤP II
Người hướng dẫn khoa học
GS.TS PHẠM VĂN LÌNH
BS.CKII TRẦN VĂN DỄ
CẦN THƠ – 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, tất cả các số liệu trong luận án là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Hồ Thanh Phong
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn!
- Ban Giám hiệu - Trường Đại học Y Dược Cần Thơ;
- Ban Giám đốc Bệnh viện Nhi Đồng thành phố Cần Thơ;
- Phòng Đào tạo Sau đại học - Trường Đại học Y Dược Cần Thơ;
- Khoa Y - Trường Đại học Y Dược Cần Thơ;
- Thầy, cô Bộ môn Ngoại - Trường Đại học Y Dược Cần Thơ;
- Lãnh đạo, cán bộ, nhân viên Khoa Ngoại Tổng Quát - Bệnh viện Nhi Đồng thành phố Cần Thơ;
- Thư viện - Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Phạm Văn Lình, thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
và hoàn thành luận án
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sỹ trong Hội đồng Chấm luận án Tốt nghiệp đã chỉ bảo, đóng góp những ý kiến quý báu cho luận án của tôi
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, vợ con, bạn bè thân thiết
đã động viên, khuyến khích tôi cả về vật chất lẫn tinh thần để tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình
Cần Thơ, ngày 25 tháng 10 năm 2018
Hồ Thanh Phong
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục bảng
Danh mục biểu đồ
Danh mục hình
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Sơ lược lịch sử điều trị bệnh lý ống phúc tinh mạc 3
1.2 Giải phẫu và phôi thai học vùng bẹn 4
1.3 Đặc điểm lâm sàng và hình ảnh siêu âm 11
1.4.Các phương pháp điều trị thoát vị bẹn ở trẻ em 15
1.5 Tình hình bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc ở trẻ em 21
2.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.2 Phương pháp nghiên cứu 25
2.3 Đạo đức trong nghiên cứu 40
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42
3.1 Đặc điểm chung của bệnh do tồn tại ống phúc tinh mạc ở trẻ em 42
3.2 Đặc điểm lâm sàng, siêu âm 45
3.3 Đánh giá kết quả điều trị: 52
Chương 4: BÀN LUẬN 61
4.1 Đặc điểm chung của bệnh do tồn tại ống phúc tinh mạc ở trẻ em 61
4.2 Đặc điểm lâm sàng và siêu âm 64
4.3 Kết quả điều trị: 69
Trang 6KẾT LUẬN 83 KIẾN NGHỊ 85PHỤ LỤC:
Tài liệu tham khảo
Phiếu thu thập số liệu
Danh sách bệnh nhân
Giấy xác nhận chỉnh sửa luận án
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Đánh giá đau sau mổ……… 37
Bảng 3.1: Phân bố nhóm tuổi 42
Bảng 3.2: Lý do vào viện của bệnh nhi 43
Bảng 3.3: Tiền sử gia đình bị thoát vị bẹn 43
Bảng 3.4: Tiền sử bản thân bị thoát vị bẹn 44
Bảng 3.5: Bệnh phối hợp 44
Bảng 3.6: Thời gian mắc bệnh 45
Bảng 3.7: Thời điểm xuất hiện khối phồng của trẻ 45
Bảng 3.8: Ảnh hưởng đến sinh hoạt 46
Bảng 3.9: Tần suất đau của khối phồng 46
Bảng 3.10: Bên bị bệnh 47
Bảng 3.11: Vị trí khối phồng lúc khám 47
Bảng 3.12: Sờ được tinh hoàn 48
Bảng 3.13: Mức độ di động khối phồng khi khám 49
Bảng 3.14: Tình trạng lỗ bẹn nông 49
Bảng 3.15: Nghiệm pháp thấu quang 50
Bảng 3.16: Phân loại bệnh trong nghiên cứu 51
Bảng 3.17: Kết quả siêu âm 51
Bảng 3.18: Phương pháp vô cảm 52
Bảng 3.19: Chiều dài vết mổ 52
Bảng 3.20: Thời gian mổ 53
Bảng 3.21: Đau sau mổ theo phân loại bệnh 54
Bảng 3.22: Thời gian phục hồi sau mổ 54
Bảng 3.23: Bầm tím vết mổ 55
Bảng 3.24: Phân loại vết mổ 56
Bảng 3.25: Nhiễm trùng vết mổ 56
Bảng 3.26: Đánh giá kết quả nhiễm trùng vết mổ theo tuổi 57
Trang 9Bảng 3.27: Nhiễm trùng theo chiều dài vết mổ 57
Bảng 3.28: Nhiễm trùng vết mổ theo thời gian mổ 58
Bảng 3.29: Sử dụng kháng sinh khi nhiễm trùng vết mổ 58
Bảng 3.30: Kết quả khác khi tái khám sau mổ 1 tuần 59
Bảng 3.31: Kết quả tái khám sau mổ 1 tháng 59
Bảng 3.32: Kết quả tái khám sau mổ 3 tháng 60
Bảng 3.33: Đánh giá kết quả nghiên cứu 60
Bảng 3.34: Sự hài lòng của người nhà 60
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Kích thước khối phồng khi khám 48
Biểu đồ 3.2: Nghiệm pháp chạm ngón 50
Biểu đồ 3.3: Nội dung trong túi thoát vị 53
Biểu đồ 3.4: Sưng nề vết mổ 55
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Cấu trúc của ống bẹn 5
Hình 1.2: Các mạch máu vùng bẹn 8
Hình 1.3: Sự đi xuống của tinh hoàn hình thành ống phúc tinh mạc 10
Hình 1.4: Sơ đồ bệnh lý ống phúc tinh mạc trẻ em trẻ em 10
Hình 1.5: Khối phồng ở bé nam 12
Hình 1.6: Thoát vị bẹn trên siêu âm 14
Hình 1.7: Băng đeo điều trị bảo tồn thoát vị bẹn 15
Hình 1.8: Vết mổ nếp bẹn bụng 17
Hình 1.9: Cắt cân cơ chéo ngoài 17
Hình 1.10: Bộc lộ ống phúc tinh mạc 18
Hình 1.11: Khâu cột ống phúc tinh mạc lên cao đến lỗ bẹn sâu 18
Hình 1.12: Khâu cân và mô dưới da 19
Hình 2.1: Đường mổ 35
Hình 2.2: Bộc lộ thừng tinh, tìm ống phúc tinh mạc 35
Hình 2.3: Cắt đôi ống phúc tinh mạc 36
Hình 2.4: Phẫu tích cổ túi thoát vị cao đến lỗ bẹn sâu 36
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc gồm: thoát vị bẹn, nang thừng tinh
và tràn dịch màng tinh hoàn ở trẻ em với biến chứng nguy hiểm hay gặp của thoát vị bẹn là thoát vị bẹn nghẹt và nếu khối thoát vị lên xuống nhiều lần gây chèn ép bó mạch thừng tinh có thể gây biến chứng teo tinh hoàn Đây là những bệnh lý hay gặp nhất trong các bệnh lý ngoại khoa ở trẻ em [17]
Theo nhiều nghiên cứu, tỉ lệ thoát vị bẹn xảy ra chiếm 4-5% trẻ em sinh
ra khỏe mạnh và lên đến 30% ở trẻ đẻ non, nang thừng tinh và tràn dịch màng tinh hoàn cũng chiếm tỉ lệ tương đương [22] Làm thế nào để giảm thiểu việc
sử dụng kháng sinh, rút ngắn thời gian điều trị, giảm chi phí, đem lại thuận lợi cho bệnh nhân và gia đình là chìa khóa quan trọng trong việc điều trị
Tại Việt Nam việc sử dụng kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật còn rất hạn chế và chỉ thực hiện với số lượng rất khiêm tốn ở một vài bệnh viện lớn như Bình Dân, Chợ Rẫy và Bệnh viện Nhi Đồng I [29] Kháng sinh điều trị ngoài yếu tố làm tăng chi phí cho bệnh nhân còn làm tăng nguy cơ xuất hiện sự
đề kháng kháng sinh của vi trùng [12] Việc sử dụng kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật được Miles và Burke thực hiện năm 1967 và đã dần chứng minh được tính ưu việt của phương pháp này so với phương pháp dùng kháng sinh điều trị ở những phẫu thuật sạch và sạch nhiễm [12] Do vậy, cho đến nay phương pháp này đã được sử dụng khá rộng rãi trên lâm sàng
Theo bảng phân loại phẫu thuật Altermeier, phẫu thuật thoát vị bẹn không nghẹt ở trẻ em được phân vào nhóm phẫu thuật sạch với tỉ lệ nhiễm trùng
là 1- 5 % [29] Việc không sử dụng kháng sinh trong phẫu thuật thoát vị bẹn đã được ứng dụng khắp nơi trên thế giới và một số tỉnh thành tại Việt Nam như
An Giang, Bình Định [9], với nhiều ưu điểm: giảm chi phí, giảm sự đề kháng kháng sinh của vi trùng
Trang 13Xuất phát từ thực tế đó, với mong muốn đánh giá tính hiệu quả của việc không dùng kháng sinh trong phẫu thuật bệnh lý ống bẹn ở trẻ em tại Bệnh Viện Nhi Đồng Cần Thơ Từ đó có thể đề xuất các chiến lược không sử dụng kháng sinh cụ thể và hợp lý đối với từng bệnh nhân, giảm chi phí và góp phần nâng cao chất lượng điều trị cũng như đem lại sự chăm sóc y tế tốt hơn cho
bệnh nhi nên chúng tôi thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, siêu âm và đánh giá kết quả sớm phẫu thuật bệnh lý tồn tại ống phúc tinh mạc ở trẻ em không sử dụng kháng sinh tại Bệnh Viện Nhi Đồng Cần Thơ năm 2017 – 2018” Với các mục tiêu cụ thể sau:
1 Khảo sát đặc điểm lâm sàng, hình ảnh siêu âm bệnh lý ống phúc tinh mạc ở trẻ em dưới 16 tuổi tại bệnh viện Nhi Đồng thành phố Cần Thơ năm
2017 – 2018
2 Đánh giá kết quả phẫu thuật bệnh lý ống phúc tinh mạc không sử dụng kháng sinh ở trẻ em dưới 16 tuổi tại bệnh viện Nhi Đồng thành phố Cần Thơ năm 2017 – 2018
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Sơ lược lịch sử điều trị bệnh lý ống phúc tinh mạc
Thoát vị bẹn được biết như là chỗ phồng lên của vùng bẹn, được ghi nhận
từ thời kỳ đồ đá Ai Cập cổ đại và được lưu lại trong bản viết tay của người Ai Cập [33] Năm 1552 trước công nguyên, người Ai Cập đã mô tả cách điều trị thoát vị bẹn bằng áp lực bên ngoài [33] Nguyên tắc cơ bản và kinh nghiệm trong điều trị thoát vị bẹn, dải đeo được áp dụng rộng rãi với mục đích chẹn và làm giảm khối thoát vị được Celsus ghi lại [33] Hồ sơ sớm nhất về điều trị thoát vị bẹn bằng phẫu thuật được ghi bởi Susruta ở thế kỉ XVI, đã có một số tiến bộ trong điều trị thoát vị bẹn, đó là: Năm 1556, Franco mở lỗ bẹn sâu giải phóng ruột trong thoát vị bẹn nghẹt và đóng lại chỗ mở bằng các mũi chỉ khâu Năm 1559, Stromayr cắt bỏ túi thoát vị, thừng tinh và cả tinh hoàn khi mổ thoát
vị gián tiếp [55] Thời kỳ Phục Hưng, việc phẫu tích xác ở Châu Âu đã cho phép hiểu thêm về thoát vị bẹn Năm 1721, William Cheselden mổ thành công một trường hợp thoát vị bẹn nghẹt, quai ruột được giải phóng, mạc nối lớn dính vào túi thoát vị được buộc và cắt.[55]
Trong phẫu thuật thoát vị bẹn, người có công lớn nhất là Eduado Bassini người Ý với kiến thức sâu về giải phẫu và sinh lý vùng bẹn, thấy được những thiếu sót của các loại phẫu thuật trước đó, ông đã mổ thành công một trường hợp thoát vị bẹn vào năm 1884, và sau này phương pháp mổ này mang tên ông Bassini có lý do cá nhân giải thích tại sao ông quan tâm đặc biệt đến giải phẫu vùng bẹn [55]
Năm 1914, Mac Lennan đã nhấn mạnh về phẫu thuật có chọn lọc như là một phương pháp điều trị dứt khoát, và thúc đẩy việc chuyển tiếp từ dùng dải đeo thoát vị sang phẫu thuật Ông cũng là người có vai trò chính trong việc cho
Trang 15bệnh nhi xuất viện sớm sau mổ chữa thoát vị bẹn [55]
Ambroise Pare là người đầu tiên mô tả thoát vị bẹn ở trẻ em vào đầu những năm 1600 Các tác giả Potts, Riker và Lewis ủng hộ phương pháp bộc
lộ của Ferguson thắt cao đơn giản và di chuyển túi thoát vị trong điều trị thoát
vị bẹn ở trẻ em và điều này cho đến nay vẫn là kỹ thuật cơ bản trong điều trị phẫu thuật thoát vị bẹn ở trẻ em [36]
1.2 Giải phẫu và phôi thai học vùng bẹn
1.2.1 Giải phẫu vùng bẹn
Vùng bẹn được quy ước là khu vực gồm phần thấp của hố chậu và hạ vị của mỗi bên Cấu trúc giải phẫu chủ yếu ở vùng bẹn là ống bẹn Ống bẹn là một khe nằm giữa các lớp cân cơ của thành bụng, đi từ lỗ bẹn sâu đến lỗ bẹn nông dài khoảng 4–6cm, chạy chếch từ trên xuống dưới vào trong và ra trước, gần như song song với nửa trong của nếp lằn bẹn Được cấu tạo bởi 4 thành: trước, sau, trên, dưới và 2 đầu là lỗ bẹn sâu và lỗ bẹn nông [53]
- Thành trên: là bờ dưới của cơ chéo bụng trong và cơ ngang bụng Khi hai bờ của hai cơ này dính vào nhau thì tạo thành một cấu trúc gọi là liềm bẹn hay gân kết hợp Các sợi cơ ở bờ dưới hai cơ chéo bụng trong và cơ ngang bụng bám vào dây chằng bẹn Cơ ngang bụng bám vào 1/3 ngoài, cơ chéo bụng bám
ở 1/2 ngoài Ở giữa ống bẹn, bờ dưới hai cơ này vòng lên ôm lấy thừng tinh và dính vào nhau tạo nên liềm bẹn Ở phía trong, liềm bẹn đi sau thừng tinh và cuối cùng bám vào đường lược xương mu [20]
- Thành trước: Thành trước ống bẹn được tạo nên bởi cân cơ chéo bụng ngoài và một phần nhỏ phía ngoài được tăng cường bởi cơ chéo bụng trọng, ở chỗ này cơ bám vào dây chằng bẹn
- Thành dưới: Được tạo nên bởi dây chằng bẹn Dây chằng bẹn chỗ dầy lên của bờ dưới cân cơ chéo bụng ngoài, đi từ gai chậu trước trên đến củ mu
Trang 16Hình 1.1: Cấu trúc của ống bẹn
Nguồn: “ Gray’s Anatomy for Students” [39]
- Thành sau: Thành sau ống bẹn được tạo nên chủ yếu bởi mạc ngang Đây là lớp mạc bao phủ khắp ổ bụng nằm ngay dưới cơ ngang bụng Dưới mạc ngang lớp mỡ ngoài phúc mạc rồi đến phúc mạc và các tạng trong ổ bụng Cũng như tất cả các vùng của bụng, thành bụng vùng ống bẹn gồm các lớp từ nông đến sâu: da, mỡ dưới da, lớp mạc sâu, cân và cơ chéo ngoài, cân và cơ chéo trong, cân và cơ ngang bụng, mạc ngang, lớp mỡ trước phúc mạc, cuối cùng là phúc mạc thành Các cơ này liên tục với các lớp tương ứng ở bìu
- Nếp lằn da vùng bẹn bụng: Trong phẫu thuật, nếu rạch da ở vùng này
Trang 17thì vết mổ sẽ không bị căng vì vậy sẽ dễ liền và ít để lại sẹo như khi mổ vết dọc trên vùng bẹn, liền sẹo chậm, dễ bị sẹo lồi ở trẻ em [20]
- Lớp dưới da: Vùng bẹn có tổ chức dưới da lỏng lẻo, có 2 lá: Một lớp nông gọi là mạc nông và một lớp sâu, vững hơn có nhiều sợi đàn hồi gọi là mạc sâu Mạc sâu xuống dưới tạo thành một dải từ xương mu đến bao quanh dương vật, gọi là dây treo dương vật [20]
- Cơ chéo ngoài (cơ chéo lớn): Là một cơ rộng, có tổ chức cơ ở phía sau
và cân ở phía trước Nguyên ủy bám vào bảy xương sườn dưới bởi bảy trẽ cân, các trẽ này xen kẽ như răng cưa với các trẽ của cơ răng to Các thớ ở trên chạy ngang vào trong, các thớ ở giữa đi chếch xuống dưới để hợp thành một cái quạt xòe từ trên xuống dưới [20]
- Cơ gồm hai phần: Phần cơ ở sau trên, tận hết cách gai chậu trước trên 3cm, phần còn lại là một mảng cân rất rộng tỏa tới đường trắng giữa Dọc theo
bờ dưới của cân tạo nên dây chằng bẹn (cung đùi) Khi bám tận vào xương mu, cân cơ chéo lớn tạo nên ba dải cân, chính là ba cột trụ của lỗ bẹn ngoài [20]
+ Cột trụ ngoài bám vào gai mu, một phần cột trụ ngoài lan xuống tận đùi và xen vào cân của cơ thẳng đùi
+ Cột trụ trong chạy ra trước cơ thẳng to và cơ tháp, bắt chéo với đường trắng giữa để bám vào mặt trước gai mu bên đối diện
+ Cột trụ sau (cột trụ Colles) chạy ở phía sau cột trụ trong, cũng bắt chéo qua đường trắng để bám vào gai mu bên đối diện
+ Dây chằng bẹn (cung đùi): Dây chằng bẹn được tạo nên bởi bờ dưới của cân cơ chéo ngoài, gồm các sợi cân rất căng, song song với nhau nên rất dễ rách Dây chằng bẹn đi từ gai chậu trước trên đến củ mu, ở phía đùi bề mặt của dây chằng bẹn cuộn lại vào trong, ra sau và lên trên để tạo nên bờ xoắn Khi bám vào củ mu dây chằng bẹn chạy ngang vào trong, ra sau và hơi chếch lên trên tạo nên dây chằng khuyết (còn gọi là dây chằng Gimbernat) bám vào mào
Trang 18lược rồi tiếp tục đi ra phía ngoài tới lồi chậu mu Ở đây, nó hòa lẫn với cân cơ lược và lớp cốt mạc của xương mu tạo nên một dây chằng rất chắc gọi là dây chằng lược (dây chằng Cooper) [20]
- Cơ chéo trong: Từ chỗ xuất phát các thớ cơ chạy lên trên, vào trong Ở phía dưới, các thớ tách ra từ dây chằng bẹn, cong xuống dưới và vào trong để
ôm phía trên sau thừng tinh Tại vùng bẹn, về giải phẫu cơ chéo bé rất thay đổi: các thớ cơ đôi khi hợp với các thớ cơ ngang bụng tạo nên gân kết hợp bám vào mào lược xương mu (khoảng 3% các thớ cơ chéo bé uốn cong xuống dưới hợp với cân cơ ngang bụng để tạo nên gân kết hợp) [20]
- Cơ ngang bụng: Cơ ngang bụng là lớp cơ nằm sâu nhất trong ba lớp cơ thành bụng Hầu hết các sợi cơ chạy ngang, khi xuống dưới các thớ cơ ngang bụng hướng xuống dưới và uốn cong vào phía trong tạo thành một vòng cung
ôm lấy ống bẹn Cơ ngang bụng ít sợi cơ và nhiều sợi cân hơn cơ chéo bé và
cơ chéo to [20]
- Mạc ngang: Mạc ngang nằm sâu dưới cơ ngang bụng, mạc ngang được mô tả lần đầu tiên bởi Cooper (1807) [20] ở vùng bẹn nó gồm hai lớp: lớp vững chắc bao phủ phía trong cơ ngang bụng, lớp sâu nằm ngay trên phúc mạc,
bó mạch thượng vị dưới chạy giữa hai lá của mạc ngang Tại vùng bụng dưới, mạc ngang là một màng liên tục, chỉ bị gián đoạn bởi thừng tinh đi qua lỗ bẹn sâu
- Mạch máu và thần kinh vùng bẹn
* Động mạch:
Ở lớp nông, vùng bẹn có ba động mạch, xuất phát từ động mạch đùi, gồm có: Động mạch mũ chậu nông đi ra phía ngoài lên trên qua ống bẹn; Động mạch thượng vị nông chạy lên trên và vào trong; Động mạch thẹn ngoài nông chạy vào trong cấp máu cho da dương vật và bìu và nối với mạch thừng tinh trong bìu
Trang 19Hình 1.2: Các mạch máu vùng bẹn
(Nguồn: Atlas giải phẫu người, Nguyễn Quang Quyền, 2012 [20]
Ở lớp sâu, động mạch thượng vị dưới xuất phát từ động mạch chậu ngoài sát dây cung đùi nối với nhánh tận của động mạch thượng vị trên Động mạch thượng vị dưới tạo nên bờ ngoài của tam giác bẹn
* Tĩnh mạch: đi kèm với các động mạch
Nội dung của ống bẹn
Ở nam giới là thừng tinh được bọc bởi mặt sâu, thừng tinh nằm nép sát vào phía dưới và phía ngoài cân cơ chéo to
Trang 20- Thừng tinh bao gồm: Di tích của ống phúc tinh mạc (dây xơ Cloquet)
ở trước và giữa, ống dẫn tinh ở sau và trong, các mạch máu tinh hoàn nằm ở sau và ngoài, các hạch bạch huyết, nhánh sinh dục của thần kinh sinh dục đùi
Sự tồn tại ống phúc tinh mạc là yếu tố cơ bản gây nên thoát vị bẹn ở trẻ
em và một số bệnh lý khác ở vùng bẹn bìu trẻ em như: tràn dịch màng tinh hoàn
và nang thừng tinh nếu ống nhỏ hẹp chỉ cho nước xuống, khi nó đủ rộng và chứa một phần tạng của ổ bụng thì trở thành thoát vị bẹn thực sự [13]
Tuy nhiên, một số không nhỏ trẻ còn tồn tại ống phúc tinh mạc mà không
bị thoát vị bẹn Sachs (1885) cho rằng ống phúc tinh mạc vẫn mở hoàn toàn trong 57% số trẻ từ 04 tháng đến 01 năm tuổi [22] Trong những cơ thể bình thường, ống phúc tinh mạc vẫn còn thông trong nhiều tháng sau khi sinh và trong số đó thì 20% sự tồn tại này không được phát hiện và không có triệu chứng gì trong suốt cuộc đời [22]
Trang 21Hình 1.3 Sự đi xuống của tinh hoàn hình thành ống phúc tinh mạc
Nguồn: “ Gray’s Anatomy for Students” [39]
Hình 1.4: Sơ đồ bệnh lý ống phúc tinh mạc trẻ em trẻ em
(Nguồn “Ngoại nhi lâm sàng đại học y được TPHCM 2018” [17]
Trang 221.3 Đặc điểm lâm sàng và hình ảnh siêu âm
1.3.1 Lâm sàng:
Thoát vị bẹn trẻ em có tỉ lệ cao nhất trong năm đầu tiên của cuộc đời với đỉnh cao trong những tháng đầu Tỉ lệ cao nhất gặp ở trẻ sơ sinh non tháng khoảng 30% [22] Trong một nghiên cứu tại bệnh viện Trung Ương Huế thoát
vị bẹn ở trẻ em ≤ 6 tuổi thì độ tuổi thoát vị bẹn cao nhất là <2 tuổi (61,2%) [15]
Giới tính: Con trai bị thoát vị bẹn nhiều gấp 06 lần so với con gái Tỉ lệ thoát vị bẹn giữa nam thay đổi từ 3/1 đến 10/1, tùy theo từng báo cáo Nguy cơ thoát vị bẹn ở trẻ đẻ non cao hơn nhưng không có bằng chứng rõ ràng về sự khác biệt tỉ lệ giữa nam ở những đứa trẻ này Tại Việt Nam, một nghiên cứu về đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị thoát vị bẹn trẻ em tại bệnh viện Việt Đức của Nguyễn Ngọc Hà (2006) cho thấy tỉ lệ trẻ nam được phẫu thuật là 84,3% cao gấp khoảng 6 lần so với trẻ nữ được phẫu thuật vì thoát vị bẹn 15,7% [8] Bệnh nhi là nam nhưng trông như nữ và thường được đặt tên con gái Nếu không có điều kiện làm xét nghiệm xác định nhiễm sắc thể giới tính, thì khi mổ chữa thoát vị bẹn, bắt buộc phải kiểm tra tuyến sinh dục là tinh hoàn hay buồng trứng [22]
Triệu chứng: Một túi phồng khác thường ở vùng bẹn, là lí do gia đình đưa con đi khám (có thể xuất hiện ngay sau khi sinh hoặc vài tuần, vài tháng thậm chí sau vài năm) Khối phồng to lên khi có tăng áp lực ổ bụng (như khi khóc, ho…), giảm hoặc mất đi khi trẻ ngủ Khi khám sẽ thấy khối phồng ở vùng bẹn bìu, khối phồng xuất hiện tự nhiên, không đau, bóp xẹp dễ dàng là triệu chứng lâm sàng chủ yếu [22] Trong trường hợp không thấy khối thoát vị, có thể làm một số biện pháp làm tăng áp lực ổ bụng để làm xuất hiện nó: Ở trẻ nhỏ thì kích thích cho khóc, ở trẻ lớn hướng dẫn cho chạy tại chỗ, ho hoặc thổi vào một quả bóng khi đứng (nghiệm pháp Valsalva) [17]
Trang 23Hình 1.5: Khối phồng ở bé nam
(Nguồn: Phạm Văn Lình 2007 [18]) Chẩn đoán : Chủ yếu dựa vào lâm sàng, thấy khối phồng tự nhiên ở vùng bẹn bìu Có thể khối thoát vị được xác định trước đó bởi gia đình hoặc các thầy thuốc nhi khoa, nhưng phẫu thuật viên nên cố gắng thấy được khối thoát vị để
có chẩn đoán xác định trước khi quyết định mổ
Chẩn đoán phân biệt:
- Hạch bẹn do nhiễm trùng, lao, ung thư
- U máu thể hang
- Phồng hoặc phồng giả động mạch đùi
- Bướu mở vùng bẹn
- Áp xe cơ thăn đổ vào vùng bẹn
- Tụ máu sau chấn thương
- Tinh hoàn lạc chỗ
- Dãn tĩnh mạch thừng tinh
- Viêm mào tinh hoàn
- Xoắn thừng tinh
Trang 24Biến chứng của bệnh:
Thoát vị bẹn nghẹt: Khối phồng vùng bẹn bìu là dấu hiệu chung của tất
cả các bệnh nhân thoát vị bẹn Giai đoạn đầu khối phồng có thể tự lên xuống được hoặc chỉ lên khi nằm Về sau càng muộn thường khối phồng chỉ lên được khi đẩy lên, nếu đẩy không lên thì đã có biến chứng nghẹt Khối thoát vị điển hình, căng, đau, ấn không nhỏ đi và có hội chứng tắc ruột rõ Nếu bệnh nhân đến muộn thì đau trở nên dữ dội, nôn ra nước mật và có thể ỉa ra ít máu Khối thoát vị sưng nề, da phía trên màu đỏ, đau dữ dội khi sờ nắn Tinh hoàn có thể
bị sưng, chắc do tĩnh mạch và bạch huyết bị chèn ép Thoát vị bẹn trẻ em nghẹt cần chẩn đoán phân biệt với: xoắn tinh hoàn và phần phụ tinh hoàn, viêm hạch vùng bẹn bìu [17]
1.3.2 Siêu âm:
Hầu hết các bệnh do tồn tại ống phúc tinh mạc có thể chẩn đoán được trên lâm sàng dựa vào triệu chứng cơ năng và thăm khám sờ thấy khối phồng trên vùng bẹn Để xác định về mặt chẩn đoán, đánh giá mức độ và thành phần trong ống phúc tinh mạc cần phải nhờ đến phương tiện chẩn đoán hình ảnh, những thông tin này rất hữu ích cho kế hoạch điều trị như:
+ Gia tăng thể tích túi thoát vị khi làm nghiệm pháp gắng sức
+ Giảm thể tích túi thoát vị khi đè ép túi vào phía trong ổ bụng
- Nang thừng tinh và tràn dịch màng tinh hoàn: nang nước ở bẹn hoặc bìu hay là hình ảnh dịch thay đổi ở tràn dịch màng tinh hoàn
Trang 25Ngoài ra, còn giúp phát hiện các bệnh lý khác ở ống bẹn như: giãn tĩnh mạch thừng tinh hoặc các khối ở vùng bẹn như: hạch bẹn, u mỡ.[71]
Hình 1.6: Thoát vị bẹn trên siêu âm
(Nguồn: Syed H.Z., J Ayub Med Coll Abbottabad [71])
Các nội dung siêu âm khảo sát:
+ Ghi nhận được có bệnh lý: Có bệnh và không có bệnh
+ Nội dung của ống phúc tinh mạc: Không ghi nhận đươc, có mạc nối lớn và ruột, nang thừng tinh, tràn dịch màng tinh hoàn
+ Kết luận dạng bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc ở trẻ em
Trang 261.4 Các phương pháp điều trị thoát vị bẹn ở trẻ em
1.4.1 Điều trị bảo tồn bằng phương pháp đeo băng:
Đây là một phương pháp tạm thời, không thể điều trị hết được thoát vị bẹn Gần đây không có chỉ định trong điều trị thoát vị bẹn ở trẻ em Nếu như chưa can thiệp phẫu thuật vì một lý do gì đó (tuổi, bệnh lý kèm theo ) thì chỉ nên theo dõi
Hình 1.7: Băng đeo điều trị bảo tồn thoát vị bẹn
(Nguồn: Nguyễn Văn Liễu, Điều trị thoát vị bẹn ,2007 [16]) Việc băng treo bìu hay băng ép vùng bẹn sẽ ảnh hưởng đến sự trưởng
thành cũng như chức năng của tinh hoàn sau này[16]
1.4.2 Điều trị phẫu thuật:
Chỉ định phẫu thuật:
Thoát vị bẹn không tự khỏi và cần mổ sớm vì nguy cơ nghẹt Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện cơ sở và nhất là điều kiện gây mê Nang thừng tinh hay tràn dịch màng tinh hoàn: OPTM có thể đóng trong vòng 12 tháng
Trang 27Kỹ thuật mổ mở:
Nguyên tắc cơ bản trong điều trị bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc ở trẻ em là cột cắt cao ống phúc tinh mạc Phẫu thuật bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc ở trẻ em mới được phát triển hơn ở những năm gần đây Và các phương pháp phẫu thuật này điều dựa trên nền tảng các phương pháp điều trị phẫu thuật thoát vị bẹn ở người lớn đã được phát triển trước đó Trên thế giới
hiện nay, phẫu thuật thoát vị bẹn chủ yếu dựa trên phương pháp:
+ Với phương pháp Bassini, phương pháp Shouldice và phương pháp
McVay Sau khi tái tạo thành sau ống bẹn thừng tinh được đặt nằm giữa cân cơ chéo bụng ngoài và gân kết hợp [55]
+ Với phương pháp Halsted I (1889) Thừng tinh được đặt phía trước cân
cơ chéo bụng ngoài (nằm ngay tổ chức dưới da) [55]
+ Với phương pháp Lucas-Championière, Andrews (1895) (1892) Thừng
tinh nằm giữa 2 lớp của cân cơ chéo bụng ngoài Khâu theo kiểu chéo áo [55]
+ Với phương pháp Ferguson (1899) Halsted II (1903) Thừng tinh nằm
lớp sâu so với gân kết hợp [33]
Trong phương pháp Ferguson, cân cơ chéo bụng ngoài được rạch và tái tạo ống bẹn được thực hiện mà không làm thay đổi giải phẫu của thưng tinh và ống bẹn Sau đây là các bước thực hiện [33]
- B1: Đường rạch da nếp bẹn bụng thấp
- B2: Vào vùng bẹn, cắt lớp mỡ dưới da và cân Scarpa bằng kéo hay bằng dao điện Bộc lộ lớp cân cơ chéo ngoài và lỗ bẹn sâu
Trang 28Hình 1.8: Vết mổ nếp bẹn bụng
(Nguồn: Atlas pediatric surgery 2006 [33])
- B3: Mở cân cơ chéo ngoài dọc theo chiều dài ống bẹn bằng kéo
Hình 1.9: Cắt cân cơ chéo ngoài
(Nguồn: Atlas pediatric surgery, 2006 [33])
- B4: Tìm thừng tinh và túi thoát vị (thừng tinh thường nằm ở phía dưới ngoài cân cơ chéo lớn), đẩy nội dung thoát vị vào ổ bụng, dùng kẹp đặt phía trên và tách túi thoát vị khỏi bó mạch tinh hoàn, ống dẫn tinh
Trang 29Hình 1.10: Bộc lộ ống phúc tinh mạc
(Nguồn: Atlas pediatric surgery 2006 [33])
- B5: Dùng 2 kẹp kẹp túi thoát vị, cắt ngang túi và xoắn để đẩy tạng thoát
vị vào trong ổ bụng trước khi khâu
- B6: Túi thoát vị được khâu ngay mức lỗ bẹn sâu bằng chỉ tan 4.0 (nhận
ra vị trí này khi thấy mỡ tiền phúc mạc), cắt phần còn lại của túi thoát vị sau khâu Trong trường hợp nang thừng tinh hay tràn dịch màn tinh hoàn, nên mở rộng phần dưới túi thoát vị để thoát nước ở bìu
Hình 1.11: Khâu cột ống phúc tinh mạc lên cao đến lỗ bẹn sâu
(Nguồn: Atlas pediatric surgery 2006 [33])
- B7: Đóng cân và mô dưới da 2-3 mũi bằng chỉ 4.0 Da được khâu bằng chỉ tan 5.0 mũi trong da liên tục
Chú ý trước khi đóng vết mổ phải kéo tinh hoàn trở lại bìu tránh trường hợp xuất hiện tinh hoàn ẩn sau mổ
Trang 30Hình 1.12: Khâu cân và mô dưới da
(Nguồn: Atlas pediatric surgery 2006 [33]) Phẫu thuật nội soi:
Phẫu thuật nộ soi ổ bụng điều trị thoát vị bẹn ở người lớn tương đối phổ biến trong những năm gần đây Ưu điểm ít đau, sớm được hồi phục, chữa được thoát vị hai bên qua cùng một vị trí phẫu thuật và dễ dàng thực hiện do thoát vị bẹn tái phát Nhược điểm bao gồm: chi phí cao, thời gian phẫu thuật lâu hơn là kinh nghiệm của phẫu thuật viên [17]
Đối với nhi khoa trong những năm đầu thập niên 1990 nội soi được giới thiệu như một phương tiện để thăm dò vùng bẹn đối bên Nội soi có lợi thế là
kỹ thuật đơn giản và cho phép quan sát trực tiếp lỗ bẹn sâu đối bên và cho thấy
tỷ lệ tồn tại ống phúc tinh mạc đối bên từ 30 – 45%[17] Ở Việt Nam một số tác giả cũng có thực hiện phẫu thuật nội soi điều trị bệnh lý do tồn ống phúc tinh mạc được báo cáo như Nguyễn Việt Hoa (2017) hay Trần Ngọc Sơn (2017) [9],[24] Tuy nhiên đa số các phẫu thuật viên nhi cho rằng phẫu thuật nội soi điều trị bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc ở trẻ em là không cần thiết vì mổ
mở có đường rạch da ngắn và dễ thực hiện hơn so với người lớn, cũng như đau rất ít sau mổ so với khi phải vào bụng của mổ nội soi và trẻ có thể nhanh chóng trở lại sinh hoạt bình thường [17]
Trang 311.4.3 Tai biến và biến chứng phẫu thuật bệnh lý ống phúc tinh mạc trẻ em Các tai biến trong mổ
- Tổn thương các nhánh thần kinh: thần kinh chậu - bẹn, chậu - hạ vị, sinh dục - đùi rất thường bị cắt đứt trong khi mổ, mà trên thực tế không phải khi nào cũng tránh được, và hậu quả là mất cảm giác hoặc tê bì vùng vốn nhạy cảm này Điều may mắn là có hiện tượng đang chéo giữa các nhánh thần kinh này nên hậu quả cũng khó nhận biết [13]
- Tổn thương ống dẫn tinh: Có thể xảy ra đặc biệt mổ thoát vị bẹn tái phát vì giải phẫu vùng bẹn đã bị thay đổi, nói chung rất khó nhận biết cấu trúc này trong mổ Hay tổn thương bó mạch thừng tinh, thường do phẫu tích thô bạo [13]
- Thương tổn nội dung thoát vị: Có thể gặp khi mở bao thoát vị, nhất là
ở thoát vị bẹn nghẹt Trong một nghiên cứu thoát vị bẹn ở trẻ em thì đa số (65,4%) là không có tạng thoát vị, 19,2% nội dung tạng thoát vị là mạc nối lớn
và 13,5% là ruột non
- Tổn thương bàng quang: Có thể gặp khi phẫu tích bao thoát vị quá to hoặc một phần bàng quang trượt vào túi thoát vị
- Trong các nghiên cứu gần đây tại Việt Nam về kết quả phẫu thuật thoát
vị bẹn ở trẻ em thì không có biến chứng lớn nào xảy ra trong lúc mổ
Các biến chứng sớm
- Biến chứng sớm sau điều trị phẫu thuật thoát vị bẹn được đề cập đến ở các nghiên cứu gồm: tụ dịch, sưng nề, nhiễm khuẩn vết mổ, tổn thương bìu và cấu trúc của bìu, tổn thương cấu trúc thừng tinh (ống dẫn tinh hoặc tinh hoàn
có thể bị tổn thương 1% - 3%), chảy máu và khối máu tụ bìu, tổn thương thần kinh chậu bẹn và thần kinh sinh dục đùi
- Tại Việt Nam, trong kết quả nghiên cứu của Bun Liêng Chăn Sila cho thấy biến chứng sớm sau mổ hay gặp nhất là sưng bìu nhẹ 4,1%; không có
Trang 32trường hợp nào chảy máu, viêm phúc mạc hay biến chứng về hô hấp; biến chứng nhiễm khuẩn vết mổ có 1,9% các trường hợp [21]
Các biến chứng muộn
- Các biến chứng muộn sau phẫu thuật điều trị thoát vị bẹn trẻ em là:
- Sẹo xấu, đau tê vùng bẹn bìu: theo nhiều tác giả, đau tê vùng này là do thần kinh chậu bẹn, sinh dục, chậu hạ vị bị thương tổn hay chèn ép
- Trong nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Hà thì 1,8% bị đau tê vùng bẹn từ
1 đến 5 tháng [8]
- Teo tinh hoàn: thường do tổn thương mạch máu nuôi tinh hoàn hoặc do khâu hẹp ống bẹn quá mức cần thiết, nhất là trong trường hợp có phục hồi thành bụng gây chẹn vào mạch tinh hoàn
- Tái phát thoát vị bẹn: Hầu hết thoát vị bẹn trẻ em tái phát là kết quả của
sự xé một bao thoát vị bở, thất bại trong việc phẫu tích bao thoát vị, việc thắt
cổ bao thoát vị không tại vị trí lỗ bẹn sâu, tuột chỉ buộc cổ bao thoát vị Trong một nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Hà cho kết quả tỉ lệ tái phát thoát vị bẹn ở trẻ em sau phẫu thuật là 0,4% [8]
- Ngoài ra còn một số biến chứng muộn khác: sa tinh hoàn, tinh hoàn không xuống bìu, tràn dịch màng tinh hoàn
1.5 Tình hình bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc ở trẻ em
Phẫu thuật tồn tại ống phúc tinh mạc phẫu thuật sạch, ở các nước tiên tiến trên thế giới với điều kiện phòng mổ hiện đại, vô trùng tốt bệnh nhân không cần sử dụng kháng sinh sau mổ hoặc chỉ dùng kháng sinh một liều duy nhất trong mổ với tỉ lệ nhiễm trùng vết mổ khoảng 2% và bệnh nhân được xuất viện sớm ngay sau mổ [1]
Tại Việt Nam một số bệnh viện Nhi Đồng tại thành phố Hồ Chí Minh thực hiện phẫu thuật trong ngày với bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc vẫn không sử dụng kháng sinh
Trang 331.5.1 Thế giới:
Năm 2008 tác giả U E Usang [73] có báo cáo tại Nigieria về việc sử dụng kháng sinh dự phòng tại ở hai nhóm có sử dụng kháng sinh dự phòng và không kháng sinh dự phòng đối với phẫu thuật thoát vị bẹn ở trẻ em cho thấy
tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ chung cho nhóm không sử dụng kháng sinh là 4,8% Sau đó năm 2012, Sanchez-Manuel FJ báo cáo một tổng quan về kháng sinh
dự phòng trong mổ thoát vị bẹn, thì tỷ lệ nhiễm trùng chung là 3,1% [66] Trong
đó, tỷ lệ nhiễm trùng ở nhóm bệnh nhân mổ thoát vị đơn thuần là 3,5% và nhóm bệnh nhân mổ thoát vị với phục hồi mảnh ghép có tỉ lệ nhiễm trùng là 2,4%
Năm 2016 tác giả Ali E.Joda [51] phân hai nhóm trẻ được chỉ định phẫu thuật thoát vị bẹn với nhóm có sử đụng kháng sinh dự phòng và nhóm còn lại thì không được sử dụng với kết quả thu được khi tỷ lệ nhiễm khuẩn chung của hai nhóm là 3,3% và nhóm có kiểm soát bằng kháng sinh dự phòng trước phẫu thuật là 2,67% và nhóm không sử dụng kháng sinh là 4%
1.5.2 Tại Việt Nam
Việc không sử dụng kháng sinh hoặc sử dụng kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật còn rất hạn chế và chỉ thực hiện với số lượng rất khiêm tốn ở một vài bệnh viện lớn như Nhi đồng 1 và bệnh viện Đa Khoa Trung Tâm An Giang
Vũ Bảo Châu [5] năm 2008 với tỉ lệ nhiễm trùng vêt mổ bệnh lý thoát
vị bẹn tại bệnh viện 175 TPHCM là 26,67% và tỉ lệ nhiễm trùng vết mổ sạch là 17,11%
Phạm Thúy Trinh (2009) tỉ lệ nhiễm trùng vết mổ trong sử dụng kháng sinh dự phòng tỉ lệ nhiễm trùng vết mổ 3% [27]
Phạm Văn Phú (2009) báo cáo tỉ lệ nhiễm trùng vết mổ 0% bệnh lý TTOPTM ở trẻ em với liều kháng sinh dự phòng duy nhất là 0% [19]
Nguyễn Văn Kính (2010) tỉ lệ này ở một số bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh
Trang 34ở miền Bắc giai đoạn tháng 11/2009 đến tháng 02/2010 là 7,5% [12]
Phan Văn Bé (2013) Tỉ lệ nhiễm trùng vết mổ trong sử dụng kháng sinh
Trang 35Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Trẻ nam mắc bệnh lý ống phúc tinh mạc được điều trị tại bệnh viện Nhi Đồng thành phố Cần Thơ từ tháng 5 năm 2017 đến tháng 7 năm 2018
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn mẫu
Đáp ứng yêu cầu gây mê: ASA ≤ III
Không có sử dụng kháng sinh trước đó
- Có chỉ định phẫu thuật cắt cột cao cổ túi theo lịch mổ chương trình
- Cha mẹ đồng ý hợp tác trong nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân tự ý dùng kháng sinh sau mổ
- Bệnh nhân phẫu thuật các bệnh lý khác ở vùng bẹn bìu như hạch, u bạch huyết… (Chẩn đoán sau PT không phải là bệnh lý ống phúc tinh mạc)
- Tinh hoàn ẩn
- Bệnh lý toàn thân kèm theo: tim bẩm sinh, dị tật lồng ngực
- Bệnh nhân đến trong tình trạng phải phẫu thuật cấp cứu do thoát vị bẹn nghẹt hoặc xoắn tinh hoàn
Trang 362.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 05 năm 2017 đến tháng 7 năm 2018
Địa điểm nghiên cứu: Khoa ngoại Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ
Tất cả bệnh nhân được tiếp nhận, chẩn đoán và thực hiện kỹ thuật thống nhất bởi các bác sĩ Khoa ngoại Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến cứu
2.2.2 Mẫu nghiên cứu
Z: với mong muốn mức tin cậy là 95% thì Z=1,96
p: kết quả phẫu thuật thoát vị bẹn ở trẻ em không dùng kháng sinh thành công là 98% của tác giả Hồ Nguyễn Hoàng [10], do đó p = 0,98
c: Sai số cho phép trong nghiên cứu 3%, c=0,03
Trong nghiên cứu này chúng tôi thu thập được n = 96
2.2.2.2 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu thuận tiện toàn bộ trẻ nam bị bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc được điều trị phẫu thuật tại Khoa ngoại Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ từ tháng 05 năm 2017 đến tháng 7 năm 2018, phù hợp các tiêu chuẩn chọn mẫu
2.2.3 Nội dung nghiên cứu
2.2.3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
- Tuổi trung bình
Trang 37- Phân chia nhóm tuổi:
+ To khi tăng áp lực ổ bụng (khi ho, chạy nhảy)
Ảnh hưởng đến sinh hoạt của trẻ:
+ Có:
Thỉnh thoảng Thường xuyên
Trang 38+ Không
- Đau khối phồng
+ Có:
Thỉnh thoảng Thường xuyên + Không
+ Sa xuống dễ
+ Không đẩy lên được
- Tình trạng lỗ bẹn nông:
Trang 39+ Thoát vị bẹn
+ Nang thừng tinh
+ Tràn dịch màng tinh hoàn Bệnh bên trái
Tái phát là bệnh xuất hiện sau phẫu thuật các bệnh lý do TTOPTM
Trang 402.2.3.3 Đánh giá kết quả điều trị
* Phương pháp phẫu thuật: là cắt cột ống phúc tinh mạc ở nam và thoát dịch
dưới bìu (nếu có nang thừng tinh hoặc tràn dịch màng tinh hoàn)
* Theo dõi và phục hồi sau phẫu thuật
- Tình trạng đau sau mổ của bệnh nhi dựa vào thang điểm Wong-Baker FACES Pain Rating Scale [6]
+ Có
Đau rất nhẹ Đau nhẹ