1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

1367 nghiên cứu hiệu quả can thiệp về phòng bệnh sốt xuất huyết dengue ở bà mẹ có con dưới 15 tuổi tại quận ô môn năm 2013

131 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Hiệu Quả Can Thiệp Về Phòng Bệnh Sốt Xuất Huyết Dengue Ở Bà Mẹ Có Con Dưới 15 Tuổi Tại Quận Ô Môn Năm 2013
Tác giả Nguyễn Việt Dũng
Người hướng dẫn PGS. TS. Phạm Hùng Lực
Trường học Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Quản Lý Y Tế
Thể loại Luận án chuyên khoa cấp II
Năm xuất bản 2013
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU (13)
    • 1.1. Lịch sử và tình hình sốt xuất huyết Dengue (13)
    • 1.2. Vi rút gây bệnh và véc tơ truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue (17)
    • 1.3. Phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue (18)
    • 1.4. Các công trình nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue (23)
  • Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (37)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (37)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (37)
    • 2.3. Xử lý và phân tích số liệu (55)
    • 2.4. Đạo đức trong nghiên cứu (55)
  • Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (56)
    • 3.1. Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (56)
    • 3.2. Kết quả nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành (59)
      • 3.2.1. Kiến thức (59)
      • 3.2.2. Thái độ (66)
      • 3.2.3. Thực hành (72)
    • 3.3. Kết quả điều tra côn trùng tại nhà bà mẹ (77)
  • Chương 4 BÀN LUẬN (80)
    • 4.1. Đặc tính của đối tượng nghiên cứu và nguồn thông tin về phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue (80)
      • 4.1.1. Đặc tính của đối tượng nghiên cứu (80)
      • 4.1.2. Nguồn cung cấp thông tin về bệnh sốt xuất huyết Dengue (81)
    • 4.2. Kiến thức, thái độ và thực hành phòng bệnh sốt xuất huyết (83)
      • 4.2.1. Kiến thức phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của bà mẹ (83)
      • 4.2.2. Thái độ phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của bà mẹ (91)
      • 4.2.3. Thực hành phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của bà mẹ (98)
    • 4.3. Kết quả điều tra lăng quăng tại nhà của bà mẹ (100)
  • KẾT LUẬN (103)
  • PHỤ LỤC (117)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Bà mẹ có con dưới 15 tuổi tại quận Ô Môn và dụng cụ chứa nước tại nhà của bà mẹ tham gia nghiên cứu

2.1.1 Tiêu chuẩn chọn vào nghiên cứu và loại trừ

- Bà mẹ có ít nhất 01 con dưới 15 tuổi (tính theo tuổi dương lịch)

- Bà mẹ thường trú tại địa bàn quận Ô Môn ít nhất 6 tháng trở lên

- Đồng ý tham gia nghiên cứu

- Những trường hợp mà bà mẹ không thể trả lời phỏng vấn như: câm, điếc, tâm thần

- Những bà mẹ không trực tiếp nuôi con

- Bà mẹ bỏ địa bàn trong thời gian phỏng vấn nghiên cứu

Quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ

Nghiên cứu tiến hành từ tháng 10/2012 đến tháng 7/2013

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp can thiệp nhằm đánh giá hiệu quả của các chiến lược hỗ trợ mẹ có con dưới 15 tuổi Phương pháp đánh giá trước sau trên cùng một nhóm bà mẹ đã giúp xác định rõ tác động của can thiệp Sử dụng cùng một bộ công cụ điều tra đảm bảo tính khách quan và chính xác trong việc đo lường kết quả, góp phần nâng cao hiệu quả của nghiên cứu về chăm sóc và phát triển trẻ nhỏ.

2.2.2.1 Cỡ mẫu cho điều tra kiến thức, thái độ và thực hành

Cỡ mẫu của nghiên cứu được tính theo phần mềm Sample Size Determination in Health Studies 2.0.21 (Sample Size 2.0.21) của WHO:

Trong đó: n: Số bà mẹ có con dưới 15 tuổi cần nghiên cứu

Tỷ lệ bà mẹ có con dưới 15 tuổi thực hành đúng về phòng chống sốt xuất huyết Dengue đạt 77,99% Điều này cho thấy phần lớn các bà mẹ trong độ tuổi này ý thức và thực hiện các biện pháp phòng bệnh hiệu quả để bảo vệ sức khỏe cho con em mình khỏi bệnh sốt xuất huyết.

Pa = 0,875 (dự kiến tỷ lệ có thực hành đúng về phòng bệnh SXHD sau can thiệp)

Sau khi sử dụng phần mềm Sample Size 2.0 để tính cỡ mẫu nghiên cứu, kết quả là n = 204, nhưng để hạn chế sai số do quá trình chọn mẫu, chúng tôi áp dụng kỹ thuật chọn mẫu cụm (khu vực) bằng cách nhân hệ số ảnh hưởng thiết kế (x2) và cộng thêm 10% để dự phòng Do đó, cỡ mẫu cuối cùng là 449 bà mẹ có con dưới 15 tuổi Tuy nhiên, thực tế, chúng tôi đã thu thập dữ liệu của tất cả 462 bà mẹ có con dưới 15 tuổi, đảm bảo đầy đủ số lượng theo kế hoạch ban đầu, với mỗi khu vực chọn 33 bà mẹ sau khi làm tròn, tổng cộng 462 bà mẹ tham gia nghiên cứu.

2.2.2.2 Cỡ mẫu cho điều tra côn trùng

Theo hướng dẫn của Bộ Y tế Việt Nam, cỡ mẫu điều tra côn trùng cho một đơn vị huyện là 100 gia đình [3]

Cỡ mẫu điều tra côn trùng trong nghiên cứu này bao gồm toàn bộ 462 hộ gia đình của các bà mẹ được chọn để khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống bệnh sốt xuất huyết Dengue.

Mẫu được chọn theo phương pháp chọn mẫu cụm và được thực hiện qua 2 bước sau:

Bước 1: Quận Ô Môn có tất cả là 7 phường, và mỗi phường chúng tôi chọn ngẫu nhiên 2 khu vực để chọn đối tượng vào nghiên cứu

Như vậy, có tất cả 14 khu vực được chọn vào nghiên cứu

Bước 2: Chọn bà mẹ có con dưới 15 tuổi ở mỗi khu vực vào nghiên cứu

Trong nghiên cứu này, tổng số bà mẹ có con dưới 15 tuổi là 462 người, được chia thành các khu vực dựa trên phép chia 449 cho 14 Mỗi cụm nghiên cứu bao gồm khoảng 33 bà mẹ, làm tròn số để đảm bảo tính đồng bộ trong mẫu khảo sát Việc chọn mẫu này giúp đảm bảo tính đại diện và độ chính xác trong phân tích dữ liệu liên quan đến mẹ và con dưới 15 tuổi.

Bà mẹ có con dưới 15 tuổi ở mỗi khu vực được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống dựa theo thứ tự danh sách tên phân theo khu vực

2.2.4.1 Các thông tin chung của bà mẹ tham gia nghiên cứu

- Tuổi của bà mẹ tham gia nghiên cứu: tuổi của đối tượng nghiên cứu được tính theo năm dương lịch Và được chia thành 02 nhóm:

+ Nhóm từ 35 tuổi trở lên

Trong nghiên cứu này, trình độ học vấn của bà mẹ tham gia được xác định dựa trên cấp học cao nhất mà bà mẹ đã đạt được Các bà mẹ tham gia được chia thành các nhóm dựa trên trình độ học vấn của mình, nhằm phân tích ảnh hưởng của trình độ học vấn đến kết quả nghiên cứu Việc phân chia này giúp xác định rõ vai trò của trình độ học vấn trong các yếu tố liên quan đến sức khỏe và hành vi của bà mẹ.

+ Trung học cơ sở (THCS)

+ Trung học phổ thông (THPT)

+ Trung học, trung học nghề

- Nghề nghiệp của bà mẹ tham gia nghiên cứu: là nghề tạo ra thu nhập chính cho bà mẹ Gồm có các nghề sau:

+ Cán bộ – công nhân viên (CB-CNV)

- Thu nhập trung bình hàng tháng của gia đình bà mẹ: là tổng thu nhập trung bình hàng tháng của gia đình bà mẹ Chia thành 2 nhóm:

+ Nhóm từ 4 triệu Việt Nam đồng trở lên

- Số thành viên trong gia đình: là tổng số người hiện đang sống trong cùng gia đình với bà mẹ

- Số con của bà mẹ: là tổng số con của bà mẹ tham gia nghiên cứu Và chia ra 3 nhóm:

+ Có từ 3 con trở lên

* Các nội dung nghiên cứu về nguồn cung cấp thông tin phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue cho bà mẹ

Nguồn cung cấp thông tin về phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue cho bà mẹ bao gồm nhiều kênh đa dạng như Internet, truyền hình, sách báo, loa đài xã/phường, tranh ảnh, tờ rơi, khẩu hiệu, pano, áp phích, cán bộ y tế xã/phường, nhân viên y tế thôn bản (tổ y tế), tình nguyện viên sức khỏe cộng đồng (cộng tác viên), cán bộ ban ngành đoàn thể tại xã/phường và các nguồn khác, giúp nâng cao nhận thức và kiến thức phòng chống dịch bệnh hiệu quả.

2.2.4.2 Kiến thức, thái độ và thực hành về phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue

* Kiến thức về phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của bà mẹ tham gia nghiên cứu

- Có từng nghe nói về bệnh sốt xuất huyết Dengue: có hai giá trị là

“đã từng nghe” và “chưa bao giờ nghe”

+ ‘Đã từng nghe”: bà mẹ đã từng nghe nói và biết về bệnh SXHD

+ “Chưa bao giờ nghe”: bà mẹ chưa bao giờ nghe nói hoặc biết về bệnh SXHD

- Kiến thức về biểu hiện (triệu chứng) của bệnh SXHD: là các biểu hiện ban đầu của bệnh SXHD Có hai giá trị “đúng” và “không đúng”

+ “Đúng”: Sốt cao liên tục 2 – 7 ngày, nổi các nốt ban đỏ/xuất huyết + “Không đúng”: các biểu hiện khác

- Kiến thức về mức độ nguy hiểm của bệnh SXHD: Có hai giá trị

+ “Đúng”: Bệnh SXHD nguy hiểm, có thể gây chết người

+ “Không đúng”: Bệnh SXHD không nguy hiểm hoặc không biết

- Kiến thức về nguyên nhân gây bệnh SXHD: Bệnh SXHD do vi rút

Dengue gây nên Có hai giá trị “đúng” và “không đúng”

+ “Đúng”: bệnh SXHD do vi rút Dengue gây nên

+ “Không đúng”: bệnh SXHD gây nên không phải do vi rút Dengue

- Kiến thức về bệnh SXHD là bệnh lây nhiễm: Có hai giá trị “đúng” và “không đúng”

+ “Đúng”: bệnh SXHD là bệnh lây nhiễm, có lây lan

+ “Không đúng”: bệnh SXHD không lây nhiễm hay không biết

- Kiến thức về đường lây bệnh SXHD: Có hai giá trị là “đúng” và

+ “Đúng”: khi biết rằng bệnh SXH được lây do muỗi đốt

+ “Không đúng”: khi cho rằng bệnh SXH lây do những nguyên nhân không phải là muỗi đốt

- Kiến thức về loài muỗi trung gian truyền bệnh SXHD: Có hai giá trị là “đúng” và “không đúng”

+ “Đúng”: khi biết rằng muỗi vằn (Aedes aegypti) là trung gian truyền bệnh SXHD

+ “Không đúng”: khi cho rằng bệnh SXHD có trung gian truyền bệnh không phải là muỗi vằn (Aedes aegypti)

- Kiến thức về thời gian chích của muỗi vằn (Aedes aegypti): Có hai giá trị là “đúng” và “không đúng”

+ “Đúng”: khi biết rằng muỗi vằn (Aedes aegypti) thường chích vào sáng sớm và chiều tối

+ “Không đúng”: khi cho rằng muỗi vằn (Aedes aegypti) chỉ chích ban đêm, ban ngày, ban ngày hoặc không biết

- Kiến thức về vật chứa nước trong nhà là nơi muỗi đẻ: Có hai giá trị là “đúng” và “không đúng”

Đúng, việc nhận biết các vật chứa nước sinh hoạt trong nhà như bể, lu, vại, thùng phuy, chum, bình hoa, bát nước kê chân chạn hay vỏ xe là những nơi muỗi vằn (Aedes aegypti) thường đẻ trứng là bước quan trọng để phòng tránh dịch bệnh sốt xuất huyết Việc duy trì vệ sinh, loại bỏ các vật chứa nước không cần thiết, và che đậy các dụng cụ chứa nước giúp giảm thiểu nơi sinh sản của muỗi và bảo vệ sức khỏe gia đình Hiểu rõ những nơi muỗi vằn đẻ trứng sẽ giúp nâng cao ý thức phòng chống muỗi, góp phần kiểm soát dịch bệnh hiệu quả và đảm bảo môi trường sống an toàn.

+ “Không đúng”: khi cho rằng muỗi vằn (Aedes aegypti) đẻ trứng ở những vật chứa nước khác hoặc không đẻ trứng ở các vật chứa đã kể trên

- Kiến thức về nơi lăng quăng của muỗi vằn (Aedes aegypti) thường sống: Có hai giá trị là “đúng” và “không đúng”

Đúng, là khi nhận biết rằng các vật chứa nước sinh hoạt trong nhà như dụng cụ chứa nước ăn uống, chứa nước sinh hoạt, dụng cụ phế thải có chứa nước, lọ hoa, bể, chậu cảnh, bát nước kê chân chạn đều là nơi muỗi vằn (Aedes aegypti) thường sinh sôi Việc phát hiện và xử lý các vật dụng này giúp kiểm soát và phòng tránh bệnh do muỗi truyền, như sốt xuất huyết Chính vì vậy, việc duy trì vệ sinh, loại bỏ các nơi chứa nước đọng là cực kỳ quan trọng để giảm thiểu sự phát triển của muỗi và bảo vệ sức khỏe gia đình.

+ “Không đúng”: khi cho rằng lăng quăng muỗi vằn (Aedes aegypti) sống ở những vật chứa nước khác hoặc không sống ở các vật chứa đã kể trên

- Kiến thức về nơi muỗi vằn (Aedes aegypti) thường trú đậu: Có hai giá trị là “đúng” và “không đúng”

+ “Đúng”: muỗi vằn (Aedes aegypti) thường trú đậu ở quần áo, mùng, mền và đồ vật trong nhà ở nơi ẩm thấp và tối

+ “Không đúng”: khi cho rằng muỗi vằn (Aedes aegypti) thường trú ở những nơi khác với các ý trên

- Kiến thức về thuốc điều trị đặc hiệu bệnh SXHD: Có hai giá trị là

+ “Đúng”: khi trả lời bệnh SXHD hiện tại không có thuốc điều trị đặc hiệu

+ “Không đúng”: khi cho rằng bệnh SXHD hiện tại có thuốc điều trị đặc hiệu hoặc không biết

- Kiến thức về hậu quả nếu không điều trị kịp thời khi mắc bệnh SXHD: Có hai giá trị là “đúng” và “không đúng”

+ “Đúng”: biết được bệnh ngày càng nặng và có thể tử vong

+ “Không đúng”: khi cho rằng bệnh không để lại hậu quả gì hoặc không biết

- Kiến thức về cách xử lý khi nghi nghờ mắc hay mắc bệnh SXHD:

Có hai giá trị là “đúng” và “không đúng”

+ “Đúng”: là đến cơ sở Y tế sớm nhất có thể khi nghi nghờ mắc hay mắc bệnh SXHD

+ “Không đúng”: khi chọn cách xử lý không phải cách trên

- Kiến thức về phòng bệnh SXHD thì diệt lăng quăng dễ hơn diệt muỗi: Có hai giá trị là “đúng” và “không đúng”

+ “Đúng”: khi cho rằng phòng bệnh SXHD thì diệt lăng quăng dễ hơn diệt muỗi

+ “Không đúng”: khi cho rằng phòng bệnh SXHD thì diệt muỗi dễ hơn diệt lăng quăng

- Kiến thức về các cách phòng bệnh SXHD: gồm các biện pháp sau:

+ Dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ, gọn gàng, không treo quần áo bừa bãi + Ngủ mùng cả ngày lẫn đêm

+ Sử dụng nhang, bình xịt muỗi, hóa chất để diệt muỗi

+ Mặc quần áo dài tay

+ Để người bệnh nằm trong mùng tránh bị muỗi đốt

- Kiến thức về các biện pháp diệt lăng quăng của muỗi vằn (Aedes aegypti) : gồm các biện pháp sau:

+ Đậy nắp dụng cụ chứa nước thường xuyên

+ Thả cá ăn lăng quăng vào các dụng cụ chứa nước

+ Súc rửa định kỳ dụng cụ chứa nước (1 tuần/lần)

+ Vệ sinh môi trường, thu gom vật phế thải chứa nước, lấp chỗ đọng nước

+ Để muối hoặc dầu vào chén nước kê chân tủ

* Thái độ phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của bà mẹ tham gia nghiên cứu

Thái độ của bà mẹ về phòng bệnh SXHD được đánh giá qua thang điểm Likert 5 mức độ, từ "rất đồng ý" đến "rất không đồng ý" hoặc từ "rất ủng hộ" đến "rất không ủng hộ", giúp đo lường mức độ ủng hộ hoặc phản đối của họ đối với các biện pháp phòng bệnh.

Gồm có hai giá trị là “đồng ý” (bao gồm “rất đồng ý” và “đồng ý”) và

“không đồng ý” (bao gồm “không ý kiến”, “không đồng ý” và “rất không đồng ý”) hoặc “ùng hộ” (bao gồm “rất đồng ý” và “đồng ý”) và “không ủng hộ”

Thái độ đối với bệnh SXHD:

- Bệnh SXHD là bệnh nguy hiểm và có thể gây chết người

- Bệnh SXHD là bệnh có thể phòng ngừa được

- Diệt lăng quăng và diệt muỗi là biện pháp cần thiết để phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue

- Kiểm soát lăng quăng là một trong những cách tốt nhất để kiểm soát muỗi và phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue

- Đến cơ sở Y tế sớm và điều trị kịp thời khi mắc bệnh sốt xuất huyết Dengue thì bệnh sẽ tiến triển tốt hơn

- Thái độ ủng hộ khi địa phương thực hiện các hoạt động phòng, chống sốt xuất huyết Dengue

- Không treo quần áo bừa bãi để giảm bớt nơi trú ngụ của muỗi

Thái độ về các biện pháp giảm tiếp xúc với muỗi vằn (Aedes aegypti):

- Ngủ mùng (màn): ngủ mùng (màn) cả ngày lẫn đêm

- Súc rửa thường xuyên dụng cụ chứa nước trong nhà và xung quanh nhà

- Sử dụng các dụng cụ chứa nước có đậy nắp là một biện pháp góp phần phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue

Thái độ về các biện pháp triệt nguồn sinh sản của muỗi Aedes aegypti:

- Thả cá hay Mesocyclops vào các dụng cụ chứa nước để diệt lăng quăng

- Vệ sinh môi trường xung quanh nhà, lấp các chỗ đọng nước, dọn dẹp phế thải là một biện pháp phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue

Thái độ về trách nhiệm, nhiệm vụ thực hiện phòng, chống SXHD:

- Phòng, chống sốt xuất huyết Dengue là trách nhiệm của nhà nước và ngành y tế cần phải thực hiện

- Phòng, chống sốt xuất huyết Dengue là trách nhiệm của người dân cần phải thực hiện

- Phòng, chống sốt xuất huyết Dengue là trách nhiệm của nhà nước, ngành y tế và người dân cùng thực hiện

* Thực hành phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của bà mẹ qua trả lời phỏng vấn

- Đã từng giúp gia đình thực hành phòng, chống sốt xuất huyết Dengue: Có hai giá trị: “đã từng” và “chưa từng”

+ “Đã từng”: đã từng có thực hành hoặc giúp thực hành phòng, chống sốt xuất huyết Dengue tại gia đình

+ “Chưa từng”: chưa từng giúp thực hành hoặc gia đình thực hành phòng, chống sốt xuất huyết Dengue

- Các biện pháp thực hành phòng, chống sốt xuất huyết Dengue:

+ Dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ, gọn gàng, không treo quần áo bừa bãi + Ngủ mùng cả ngày lẫn đêm

+ Sử dụng nhang, bình xịt muỗi, hóa chất để diệt muỗi

+ Mặc quần áo dài tay

+ Để người bệnh nằm trong mùng tránh bị muỗi đốt

- Các biện pháp thực hành diệt lăng quăng phòng, chống sốt xuất huyết Dengue:

+ Đậy nắp dụng cụ chứa nước thường xuyên

+ Thả cá ăn lăng quăng vào các dụng cụ chứa nước

+ Súc rửa định kỳ dụng cụ chứa nước (1 tuần/lần)

+ Vệ sinh môi trường, thu gom vật phế thải chứa nước, lấp chỗ đọng nước

+ Để muối hoặc dầu vào chén nước kê chân tủ

Thực hành kiểm tra thời gian, súc rửa dụng cụ chứa nước và diệt lăng quăng đóng vai trò quan trọng trong công tác phòng chống sốt xuất huyết Việc thực hiện đúng quy trình này giúp đảm bảo an toàn và hiệu quả, ngăn chặn sự phát triển của lăng quăng trong các dụng cụ chứa nước Trong quá trình kiểm tra, cần tuân thủ chính xác thời gian và kỹ thuật để loại bỏ hoàn toàn lăng quăng, tránh tình trạng “đúng” hoặc “không đúng” trong phương pháp xử lý Đây là yếu tố then chốt để đảm bảo vệ sinh môi trường và sức khỏe cộng đồng.

+ “Đúng”: Khoảng 1 tuần/lần kiểm tra, súc rửa dụng cụ chứa nước và diệt lăng quăng

+ “Không đúng”: Hơn 1 tuần/lần kiểm tra, súc rửa dụng cụ chứa nước và diệt lăng quăng

- Thực hành về xử trí khi có người trong gia đình mắc bệnh sốt xuất huyết Dengue: Có hai giá trị “đúng” và “không đúng”

+ “Đúng”: khi có người nghi nghờ hay mắc bệnh sốt xuất huyết Dengue nên đưa đến cơ sở Y tế gần nhất

+ “Không đúng”: khi có người nghi nghờ hay mắc bệnh sốt xuất huyết Dengue: tự mua thuốc uống, cạo gió, không làm gì cả và các ý khác

Các nội dung nghiên cứu về thực hành phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của bà mẹ qua kiểm tra quan sát thực tế

- Bể, bồn > 500l: số lượng, có đậy nắp, có thả cá, có lăng quăng

- Bể, bồn < 500l: số lượng, có đậy nắp, có thả cá, có lăng quăng

- Lu phuy: số lượng, có đậy nắp, có thả cá, có lăng quăng

- Xô, thùng, chậu: số lượng, có đậy nắp, có thả cá, có lăng quăng

- Lọ hoa: số lượng, số lượng có lăng quăng

- Vật phế thải có chứa nước: số lượng, số lượng có lăng quăng

- Dụng cụ linh tinh: số lượng, số lượng có lăng quăng Đánh giá kiến thức phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue

- Câu K10: + Chọn ý “4, 5, 6 và 7” : mỗi ý 1 điểm

- Câu K16: + Trả lời đúng một biện pháp phòng bệnh SXHD là 01 điểm

(tổng cộng có 5 biện pháp phòng bệnh SXHD)

- Câu K17: + Trả lời đúng một biện pháp diệt lăng quăng là 01 điểm

(tổng cộng có 5 biện pháp diệt lăng quăng) Cách đánh giá:

+ Kiến thức đạt khi tổng điểm ≥ 16 điểm

+ Kiến thức không đạt khi tổng điểm < 16 điểm Đánh giá thái độ phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue

Thái độ được đánh giá bằng thang điểm 5 của Likert, từ “rất không đồng ý” đến “rất đồng ý” hoặc “rất không ủng hộ” đến “rất ủng hộ,” đảm bảo phản hồi rõ ràng và đa chiều Các câu hỏi từ A1 đến A15 có cùng cách thức đánh giá, giúp đo lường chính xác mức độ đồng thuận của người tham gia một cách khách quan Phương pháp này giúp thu thập dữ liệu đáng tin cậy về thái độ của đối tượng nghiên cứu đối với các vấn đề liên quan, từ đó hỗ trợ phân tích xu hướng và quan điểm một cách hiệu quả trong nghiên cứu.

Trong phần thái độ phòng bệnh SXHD, có tổng cộng 15 câu hỏi từ A1 đến A15, mỗi câu đều mang ý nghĩa quan trọng giúp đánh giá kiến thức và thái độ của các bà mẹ trong việc phòng tránh bệnh Mỗi câu hỏi được chấm điểm từ 1 đến 5 điểm, phản ánh mức độ hiểu biết và chủ động của bà mẹ trong việc phòng bệnh SXHD cho gia đình Kết quả trả lời của từng bà mẹ sẽ giúp xác định mức độ nhận thức và sự chuẩn bị để ứng phó hiệu quả với bệnh SXHD, từ đó hỗ trợ các chương trình tuyên truyền và nâng cao ý thức cộng đồng về phòng chống bệnh này.

5 Rất ủng hộ số điểm phần thái độ chạy từ 15 đến 75 điểm Và thái độ được chia thành 2 cấp độ: “tích cực” và “không tích cực”

Thái độ phòng bệnh SXHD của bà mẹ được đánh giá là “tích cực” khi phần thái độ phòng bệnh SXHD có tổng số điểm ≥ 52,5 điểm

Thái độ phòng bệnh sốt xuất huyết dengue của bà mẹ được đánh giá là "không tích cực" khi tổng điểm phần thái độ phòng bệnh dưới 52,5 điểm Việc duy trì thái độ tích cực trong phòng tránh SXHD là rất cần thiết để giảm nguy cơ mắc bệnh Đánh giá thực hành phòng bệnh sốt xuất huyết dengue giúp xác định mức độ chủ động và hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa Những kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức và hành vi phòng bệnh trong cộng đồng để giảm thiểu tác động của dịch bệnh.

- Câu P2: + Trả lời đúng một biện pháp phòng bệnh SXHD là 01 điểm

(tổng cộng có 4 biện pháp phòng bệnh SXHD)

- Câu P3: + Trả lời đúng một biện pháp diệt lăng quăng là 01 điểm

(tổng cộng có 5 biện pháp diệt lăng quăng)

Thực hành phòng bệnh SXHD của bà mẹ được đánh giá là “đạt” khi phần thực hành phòng bệnh SXHD có tổng số điểm ≥ 7 điểm

Thực hành phòng bệnh SXHD của bà mẹ được đánh giá là “không đạt” khi phần thực hành phòng bệnh SXHD có tổng số điểm < 7 điểm

2.2.4.3 Các chỉ số kiểm tra lăng quăng và dụng cụ chứa nước tại nhà bà mẹ

Có 3 chỉ số được sử dụng để theo dõi lăng quăng của muỗi Aedes:

- Chỉ số nhà có bọ gậy là tỷ lệ phần trăm nhà có bọ gậy Aedes

CSNBG (%) = Số nhà có bọ gậy Aedes x 100

- Chỉ số dụng cụ chứa nước có bọ gậy là tỷ lệ phần trăm dụng cụ chứa nước có bọ gậy Aedes:

CSDCBG (%) = Số DCCN có bọ gậy Aedes x 100

- Chỉ số Breteau (BI) là số DCCN có bọ gậy Aedes trong 100 nhà điều tra Tối thiểu điều tra 30 nhà, vì vậy BI được tính như sau:

BI = Số DCCN có bọ gậy Aedes x 100

2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.2.5.1 Công cụ thu thập số liệu

- Bảng câu hỏi phỏng vấn: Điều tra phỏng vấn các bà mẹ có con dưới

Ở độ tuổi 15, kiến thức, thái độ và thực hành phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh Việc nắm vững các thông tin về cách phòng tránh, như loại bỏ nơi sinh trưởng của muỗi và sử dụng phương pháp phòng ngừa hiệu quả, giúp nâng cao ý thức tự bảo vệ sức khỏe của từng cá thể Thái độ tích cực và chủ động trong việc thực hiện các biện pháp phòng bệnh góp phần làm giảm tỷ lệ mắc bệnh trong cộng đồng Đồng thời, thực hành đều đặn và đúng cách các biện pháp phòng chống sốt xuất huyết là yếu tố then chốt để kiểm soát sự lây lan của dịch bệnh, đặc biệt là ở lứa tuổi phổ biến như học sinh tuổi 15 Các bộ câu hỏi khảo sát đã được thiết kế, chỉnh sửa phù hợp nhằm đánh giá rõ hơn về kiến thức, thái độ và hành vi phòng bệnh của đối tượng này, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức và hành động cộng đồng hiệu quả hơn.

Kiến thức, thái độ và thực hành phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue bà mẹ có con dưới 15 tuổi được kết cấu làm 5 phần (phụ lục 1)

 Thông tin chung: gồm 6 câu hỏi (từ câu I1 đến câu I6 của phần I)

 Kiến thức về bệnh và cách phòng bệnh SXHD: gồm 17 câu hỏi (từ câu K1 đến câu K17 của phần II)

 Thái độ về phòng bệnh SXHD: gồm 15 câu hỏi (từ câu A1 đến câu A15 của phần III)

 Thực hành của bà mẹ về phòng bệnh SXHD: gồm 5 câu hỏi (từ câu P1 đến câu P5 của phần IV)

 Nguồn cung cấp thông tin sốt xuất huyết: 1 câu (câu S1 phần V)

- Bảng kiểm điều tra dụng cụ chứa nước: tại nhà của bà mẹ

- Dụng cụ điều tra lăng quăng: đèn pin, vợt, cốc nhựa,…

- Điều tra kiến thức, thái độ và thực hành trước can thiệp: Thực hiện vào tháng 12/2012

Xử lý và phân tích số liệu

- Thu thập số liệu qua phiếu phỏng vấn loại bỏ các phiếu không đạt yêu cầu

- Nhập số liệu bằng phần mềm Epidata 3.0

Phân tích và xử lý số liệu được thực hiện bằng phần mềm SPSS 16.0 để tính các đặc trưng thống kê mô tả như tần số và tỷ lệ % Các xét nghiệm ý nghĩa thống kê được thực hiện với mức độ ý nghĩa α = 0,05 để đảm bảo tính chính xác của kết quả Ngoài ra, phương pháp kiểm định McNemar được sử dụng để đánh giá sự khác biệt có ý nghĩa giữa các biến phân loại theo cặp, giúp xác định sự thay đổi đáng kể trong dữ liệu.

Đạo đức trong nghiên cứu

- Nghiên cứu được tiến hành sau khi Hội đồng đạo đức Y sinh học trường Đại học Y Dược Cần Thơ đồng ý bằng văn bản

Bộ câu hỏi không chứa các vấn đề nhạy cảm, riêng tư, giúp đảm bảo không ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý và sức khỏe của đối tượng nghiên cứu Trước khi tham gia, đối tượng được giải thích rõ về mục đích nghiên cứu và đưa ra sự chấp thuận tự nguyện Nếu cảm thấy không phù hợp hoặc không thoải mái, họ có quyền từ chối không tham gia để bảo vệ quyền lợi cá nhân.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Biểu đồ 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi

Trong số 462 bà mẹ có con dưới 15 tuổi tham gia nghiên cứu, bà mẹ dưới 35 tuổi là 46,10% và bà mẹ từ 35 tuổi trở lên là 53,90%

Biểu đồ 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn

Trình độ học vấn của các bà mẹ nhiều nhất là tiểu học (46,10%), kế đến là trung học cơ sở (26,62%) và trung học phổ thông (17,10%)

Nông dân Buôn bán Nội trợ Công nhân CB_CNV Khác

Biểu đồ 3.3 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp

Nghề nghiệp của các bà mẹ tham gia nghiên cứu chủ yếu là nội trợ (36,80%), tiếp theo là nông dân (23,59%), buôn bán (21,86%) và công nhân chiếm tỷ lệ 12,55%

Biểu đồ 3.4 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo thu nhập trung bình gia đình

Hầu hết các bà mẹ (87,88%) có thu nhập bình quân hàng tháng dưới 4 triệu đồng Việt Nam, trong khi chỉ có 12,12% bà mẹ có thu nhập từ 4 triệu đồng trở lên.

Theo biểu đồ 3.5, phần lớn các bà mẹ trong nghiên cứu đều có từ 2 con trở xuống, chiếm tỷ lệ 85,28% Tuy nhiên, vẫn còn khoảng 14,72% bà mẹ có từ 3 con trở lên, cho thấy một tỷ lệ đáng kể có số lượng con đông hơn so với phần lớn Điều này phản ánh đa dạng về số lượng con trong cộng đồng các bà mẹ, góp phần vào các xu hướng và nhu cầu chăm sóc gia đình khác nhau.

Bảng 3.1 Nguồn cung cấp thông tin về SXHD cho bà mẹ

Nguồn cung cấp thông tin về phòng bệnh

Tranh ảnh, tờ rơi, khẩu hiệu, pano, áp phích 331 71,65 414 89,61 0,05), phản ánh rằng kiến thức tăng cường chưa ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả điều trị.

Bảng 3.6 Kiến thức đúng về đường lây truyền bệnh sốt xuất huyết

Kiến thức về phòng bệnh

SXHD là bệnh truyền nhiễm

Biết được đường lây truyền của

SXHD không có thuốc điều trị đặc hiệu

Các bà mẹ đã nắm vững kiến thức cơ bản về bệnh sốt xuất huyết Dengue, trong đó nhận thức rõ rằng đây là bệnh có thể phòng tránh và không có thuốc điều trị đặc hiệu Ngoài ra, nghiên cứu cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức trước và sau khi can thiệp về bệnh sốt xuất huyết Dengue (p = 0,003), nhấn mạnh tầm quan trọng của các chương trình nâng cao nhận thức để giảm thiểu tác động của bệnh trên cộng đồng.

Bảng 3.7 Kiến thức đúng về diệt lăng quăng của muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue

Kiến thức về phòng bệnh

Biết được diệt lăng quăng dễ hơn diệt muỗi

2/5 biện pháp diệt lăng quăng

Biết tối thiểu 3/5 biện pháp diệt lăng quăng

Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa trước và sau khi thực hiện can thiệp về kiến thức của các bà mẹ, cụ thể là họ nhận thức rõ hơn về việc diệt lăng quăng dễ hơn so với diệt muỗi, với mức p-value là 0,014 Điều này cho thấy chương trình can thiệp đã nâng cao kiến thức của các bà mẹ về cách kiểm soát dịch bệnh hiệu quả hơn.

< 0,05), biết được từ 1 đến 2/5 biện pháp diệt lăng quăng (p = 0,001) và biết được từ 3 đến 5/5 biện pháp diệt lăng quăng (p < 0,001)

Bảng 3.8 Kiến thức chung của bà mẹ về phòng bệnh sốt xuất huyết

Kiến thức chung về phòng bệnh SXHD

Có sự cải thiện rõ rệt về kiến thức chung của bà mẹ về phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue sau khi can thiệp, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001) Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về phòng bệnh tăng từ 77,49% trước can thiệp lên 88,31% sau can thiệp Ngược lại, tỷ lệ bà mẹ còn thiếu kiến thức đúng về bệnh giảm từ 22,51% còn 11,69% sau khi thực hiện các biện pháp can thiệp.

Bảng 3.9 Thái độ của bà mẹ về phòng bệnh SXHD

Thái độ về phòng bệnh SXHD

SXHD nguy hiểm và có thể gây chết người

SXHD có thể phòng được

Ngủ mùng cả ngày lẫn đêm phòng muỗi đốt

Sau can thiệp, thái độ đồng ý về mức độ nguy hiểm của bệnh sốt xuất huyết Dengue đã có sự thay đổi rõ rệt, thể hiện qua sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001 Điều này cho thấy chương trình đã nâng cao nhận thức cộng đồng về mức độ nguy hiểm và khả năng gây tử vong của bệnh sốt xuất huyết Dengue Việc thay đổi này góp phần làm tăng ý thức phòng tránh và kiểm soát dịch bệnh hiệu quả hơn trong cộng đồng. -Nâng cao nhận thức về sốt xuất huyết cùng Draft Alpha để tạo nội dung chuẩn SEO thu hút và chuyên nghiệp [Learn more](https://pollinations.ai/redirect/draftalpha)

Bảng 3.10 Thái độ của bà mẹ về triệt tiêu nơi trú đậu, sinh sản của muỗi

Không treo quần áo bừa bãi làm giảm nơi trú ngụ của muỗi

Vệ sinh môi trường xung quanh nhà, lấp chỗ đọng nước, dọn dẹp phế thải

Súc rửa dụng cụ chứa nước thường xuyên

Sau can thiệp, thái độ đồng ý không treo quần áo bừa bãi để phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue đã có sự cải thiện rõ rệt Sự thay đổi này thể hiện qua kết quả thống kê có ý nghĩa, với p-value = 0,004 (p < 0,01), cho thấy hiệu quả của hoạt động nâng cao ý thức phòng bệnh Tuy nhiên, trước khi can thiệp, nhiều người chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc không treo quần áo bừa bộn để hạn chế vector truyền bệnh Kết quả này chứng tỏ rằng các biện pháp truyền thông và giáo dục cộng đồng đã góp phần thay đổi hành vi, nâng cao ý thức phòng chống sốt xuất huyết Dengue trong cộng đồng.

Bảng 3.11 Thái độ của bà mẹ về diệt lăng quăng và diệt muỗi

Không đồng ý n (%) Kiểm soát lăng quăng là một trong những cách tốt nhất để phòng

Thả cá, mesocyclops vào DCCN diệt lăng quăng

DCCN là một biện pháp góp phần phòng bệnh SXHD

Sau can thiệp, có sự cải thiện rõ rệt về thái độ của bà mẹ có con dưới 15 tuổi đối với phòng, chống bệnh sốt xuất huyết Dengue, đặc biệt là việc đồng ý kiểm soát lăng quăng, một trong những biện pháp hiệu quả nhất để ngăn muỗi truyền bệnh (p = 0,013 < 0,05) Bà mẹ cũng ngày càng ủng hộ việc sử dụng dụng cụ chứa nước có nắp đậy để ngăn muỗi đẻ trứng nhằm phòng bệnh sốt xuất huyết (p = 0,012 < 0,05) Tuy nhiên, không có sự thay đổi ý kiến rõ rệt về việc thả cá, mesocyclops vào dụng cụ chứa nước để diệt lăng quăng sau can thiệp (p = 0,690 > 0,05), cho thấy cần có các biện pháp tuyên truyền phù hợp hơn về phương pháp này.

Bảng 3.12 Thái độ của bà mẹ về phòng bệnh SXHD

Thái độ về phòng bệnh SXHD

Diệt muỗi và lăng quăng của muỗi

Aedes aegypti rất cần thiết để phòng SXHD

Bà mẹ có con dưới 15 tuổi đã có sự thay đổi trong thái độ về bệnh sốt xuất huyết Dengue Tuy nhiên, sự thay đổi này không mang ý nghĩa thống kê đáng kể về việc đồng ý diệt muỗi và lăng quăng của muỗi trước và sau khi can thiệp.

Aedes aegypti để phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue (p > 0,05)

Bảng 3.13 Thái độ về nhiệm vụ, trách nhiệm phòng bệnh SXHD

Thái độ về nhiệm vụ, trách nhiệm phòng bệnh SXHD

Không đồng ý n (%) Diệt muỗi và diệt lăng quăng là trách nhiệm của nhà nước và ngành y tế

Diệt muỗi và diệt lăng quăng là trách nhiệm của người dân

Diệt muỗi và diệt lăng quăng là trách nhiệm của nhà nước, ngành y tế và người dân

Sau can thiệp, ý kiến của bà mẹ có con dưới 15 tuổi về bệnh sốt xuất huyết Dengue đã có sự thay đổi rõ rệt, đặc biệt về trách nhiệm diệt muỗi và lăng quăng Cụ thể, ý kiến đồng ý rằng việc diệt muỗi và lăng quăng là trách nhiệm của nhà nước, ngành y tế và người dân cùng phối hợp đã tăng lên đáng kể (p = 0,043 < 0,05) Bà mẹ cũng nhận thức rõ rằng việc diệt muỗi và lăng quăng là trách nhiệm của người dân (p < 0,001), và vai trò của nhà nước, ngành y tế trong công tác phòng chống sốt xuất huyết cũng được khẳng định mạnh mẽ sau can thiệp (p < 0,001) Những thay đổi này thể hiện sự nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cộng đồng trong việc phòng chống bệnh sốt xuất huyết Dengue.

Bảng 3.14 Thái độ về ủng hộ và xử trí của bà mẹ

Thái độ về ủng hộ và xử trí bệnh

Không đồng ý n (%) Ủng hộ các hoạt động phòng, chống

462 100% Đến cơ sở y tế sớm và điều trị kịp thời thì bệnh sẽ tiến triển tốt hơn

Chứng kiến sự thay đổi trong thái độ của các bà mẹ có con dưới 15 tuổi về bệnh sốt xuất huyết Dengue là rất rõ ràng, đặc biệt sau khi các can thiệp giáo dục và nâng cao nhận thức Trước khi được can thiệp, nhiều bà mẹ còn chủ quan hoặc chưa nhận thức rõ về mức độ nguy hiểm của bệnh; tuy nhiên, sau khi tiếp cận các thông tin và hướng dẫn phù hợp, ý thức về việc đưa con đến cơ sở y tế sớm và điều trị kịp thời của họ đã được cải thiện đáng kể Thống kê cho thấy, sự đồng ý của các bà mẹ trong việc đưa con đi khám ngay khi xuất hiện triệu chứng sốt Dengue có ý nghĩa đáng kể về mặt thống kê (p < 0,001), góp phần nâng cao khả năng điều trị thành công và giảm biến chứng của bệnh Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức cộng đồng trong việc phòng chống sốt xuất huyết Dengue hiệu quả.

Bảng 3.15 Tỷ lệ thái độ chung của bà mẹ về phòng sốt xuất huyết Dengue

Thái độ chung về phòng bệnh SXHD

Sau can thiệp, có sự tăng đáng kể trong thái độ tích cực của bà mẹ về phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue (p < 0,001), với tỷ lệ bà mẹ có thái độ tích cực tăng từ 71,65% lên 84,85% Ngược lại, tỷ lệ bà mẹ có thái độ không tích cực giảm từ 28,35% xuống còn 15,15%, thể hiện sự thay đổi tích cực rõ rệt sau can thiệp.

Bảng 3.16 Tỷ lệ bà mẹ đã từng thực hành phòng sốt xuất huyết Dengue

Tần số Tỷ lệ (%) Tần số Tỷ lệ (%) Đã từng 418 90,48 462 100

Trước can thiệp, chỉ có 90,48% bà mẹ có con dưới 15 tuổi thực hiện các biện pháp phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue tại nhà Sau khi triển khai các biện pháp can thiệp, tỷ lệ này đã tăng lên 100%, cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc nâng cao kiến thức và hành vi phòng bệnh trong cộng đồng.

Bảng 3.17 Thực hành của bà mẹ về kiểm tra và diệt lăng quăng ở DCCN

Thực hành kiểm tra và diệt lăng quăng ở

Kết quả điều tra côn trùng tại nhà bà mẹ

Bảng 3.22 Kết quả điều tra các loại DCCN có lăng quăng tại nhà bà mẹ Loại dụng cụ chứa nước

Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)

Tổng số bể, bồn > 500 lít 106 107

Tổng số bể, bồn < 500 lít 224 221

Tổng số xô, thùng, chậu 444 441

Tổng số lọ cắm hoa 272 263

Tổng số vật phế thải 160 155

Tổng số dụng cụ linh tinh 325 325

Tổng số dụng cụ chung 2.884 2.715

DCCN bao gồm: bể, bồn > 500 lít, < 500 lít, lu, phuy, xô, thùng, chậu

Trước can thiệp, tỷ lệ dụng cụ chứa lăng quăng chiếm 7,35% (212/2.884 dụng cụ), trong khi sau can thiệp giảm xuống còn 5,34% (145/2.715 dụng cụ), cho thấy hiệu quả của biện pháp kiểm soát Chỉ số Breteau cũng giảm rõ rệt từ mức 41,58% trước can thiệp xuống còn 31,39% sau can thiệp, tuy nhiên vẫn còn cao so với quy định, phản ánh cần tiếp tục các giải pháp nâng cao hiệu quả phòng chống.

Bảng 3.23 Kết quả điều tra DCCN có đậy nắp và thả cá tại nhà bà mẹ

Loại dụng cụ chứa nước

Sau can thiệp, tỷ lệ dụng cụ chứa nước được đậy nắp tăng nhẹ từ 50,82% (1.081/2.127 dụng cụ) lên 51,30% (1.063/2.072 dụng cụ), cho thấy cải thiện trong việc bảo vệ dụng cụ chứa nước Ngoài ra, tỷ lệ thả cá diệt lăng quăng trong các dụng cụ chứa nước cũng tăng từ 10,25% (218/2.127 dụng cụ) trước can thiệp lên 11,29% (234/2.072 dụng cụ), góp phần giảm nguy cơ muỗi truyền bệnh.

Bảng 3.24 Kết quả điều tra lăng quăng tại nhà của bà mẹ Điều tra lăng quăng

Kết quả điều tra lăng quăng tại nhà của bà mẹ cho thấy, tỷ lệ nhà có lăng quăng giảm từ 25,97% trước can thiệp xuống còn 19,70% sau can thiệp ở các nhà tham gia khảo sát Sự giảm này mang ý nghĩa thống kê với giá trị p = 0,002, chứng tỏ hiệu quả của can thiệp trong việc giảm mật độ lăng quăng trong cộng đồng.

BÀN LUẬN

Đặc tính của đối tượng nghiên cứu và nguồn thông tin về phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue

4.1.1 Đặc tính của đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu đánh giá tác động của can thiệp trước và sau trên nhóm đối tượng là các bà mẹ có con dưới 15 tuổi tại quận Ô Môn, với đặc tính không thay đổi giữa hai thời điểm Cỡ mẫu dự tính là 449 người, nhưng thực tế triển khai tại 14 khu vực thu hút tổng cộng 462 bà mẹ, tất cả đều được khảo sát về kiến thức, thái độ, thực hành và dụng cụ chứa nước trước và sau khi thực hiện can thiệp Độ tuổi của nhóm nghiên cứu chủ yếu từ 35 tuổi trở lên chiếm 53,90%, trong khi dưới 35 tuổi là 46,10%, với phạm vi tuổi từ 17 đến 63 (biểu đồ 3.1).

Trong phân bố trình độ học vấn của các bà mẹ, có tới 46,10% có trình độ tiểu học, là tỷ lệ cao nhất, tiếp đến là trung học cơ sở với 26,62%, và trung học phổ thông chiếm 17,10% Các bà mẹ có trình độ trung học nghề, cao đẳng và đại học chiếm tỷ lệ khá thấp từ 0,65% đến 1,30%, trong khi đó, 6,93% bà mẹ là mù chữ, cho thấy trình độ học vấn của nhóm này còn nhiều hạn chế.

Theo khảo sát, có đến 36,80% bà mẹ làm nội trợ, trong khi đó nông dân chiếm 23,59% và hoạt động buôn bán là 21,86%, còn số bà mẹ làm công nhân và cán bộ công nhân viên chức chỉ đạt 12,55% và 3,25% tương ứng Số liệu này cho thấy những phân bổ nghề nghiệp đa dạng của các bà mẹ, đồng thời đặt ra những thách thức trong việc thực hiện các chiến dịch truyền thông can thiệp hiệu quả (xem biểu đồ 3.3).

Về thu nhập trung bình, có đến 87,88% bà mẹ có thu nhập trung bình hàng tháng dưới 4 triệu Việt Nam đồng, chỉ có 12,12% bà mẹ có thu nhập trên

Trong nghiên cứu, trung bình mỗi bà mẹ có chi tiêu khoảng 4 triệu Việt Nam đồng (theo biểu đồ 3.4) Đa số bà mẹ tham gia khảo sát (85,28%) có từ 1 đến 2 con, trong khi vẫn còn 14,72% bà mẹ có từ 3 con trở lên (theo biểu đồ 3.5), cho thấy đa dạng về số lượng con trong nhóm nghiên cứu.

4.1.2 Nguồn cung cấp thông tin về bệnh sốt xuất huyết Dengue Ở Việt Nam và đặc biệt là miền Nam, chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống SXH được triển khai từ năm 1999, đến nay chương trình đã thực hiện được gần 15 năm và bước đầu thu được những thành công: xây dựng được một mạng lưới giám sát, tuyên truyền hướng dẫn người dân thực hiện phòng, chống SXHD thông qua nhiều hình thức tuyên truyền trực tiếp và gián tiếp khác nhau như ti vi, loa đài phát thanh, tranh ảnh, tờ rơi,… Hàng năm, Viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh nơi chịu trách nhiệm thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia phòng bệnh SXHD khu vực phía Nam đã giám sát và phối hợp với Trung tâm Y tế dự phòng các tỉnh/thành phố thực hiện ít nhất 2 chiến dịch diệt lăng quăng, tổng vệ sinh môi trường và phân phát tờ rơi, pano, tranh ảnh tuyên truyền phòng bệnh SXHD bằng các biện pháp đơn giản dễ thực hiện Nhưng khi ở địa phương có nguy cơ bùng phát dịch hay xảy ra dịch bệnh SXHD thì Trung tâm Y tế dự phòng tuyến thành phố cũng hỗ trợ rất tích cực cho Trung tâm Y tế dự phòng tuyến quận trong công tác dập và chống dịch như: hóa chất, trang thiết bị và cả con người để cùng thực hiện giám sát, kiểm tra, tuyên truyền vận động hướng dẫn người dân các biện pháp diệt lăng quăng hiệu quả nhằm góp phần ngăn chặn dịch bệnh SXHD xảy ra từ đó góp phần kiềm chế và giảm số trường hợp mắc SXHD

Hiện nay, chính quyền đã tích cực vận động người dân và các em học sinh với khẩu hiệu "mỗi em học sinh là chiến sĩ diệt lăng quăng tại gia đình mình" nhằm nâng cao ý thức phòng chống dịch bệnh sốt xuất huyết Đội ngũ cán bộ y tế tuyến phường, cộng tác viên và tình nguyện viên thường xuyên vãng gia kiểm tra, tuyên truyền cùng hướng dẫn các biện pháp diệt lăng quăng hiệu quả để phòng tránh dịch bệnh Hoạt động này góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng, giảm thiểu sự lây lan của muỗi truyền bệnh và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Kể từ khi Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống SXHD ra đời, đã có nhiều nghiên cứu khảo sát nguồn thông tin về truyền thông bệnh SXHD mà người dân tiếp nhận Các nghiên cứu này giúp đánh giá hiệu quả công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng về phòng chống bệnh SXHD Theo nghiên cứu của tác giả, việc cung cấp thông tin chính xác và kịp thời đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu tác động của bệnh trên diện rộng Những kết quả này góp phần xây dựng chiến lược truyền thông hiệu quả, góp phần đẩy lùi dịch bệnh SXHD trong cộng đồng.

Các nghiên cứu về nguồn thông tin phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue tại Việt Nam cho thấy ti vi là kênh phổ biến nhất, với tỷ lệ tiếp cận cao nhất trong tất cả các đối tượng từ cộng đồng dân cư đến phụ huynh có trẻ nhỏ, học sinh trung học cơ sở và người dân ở các địa phương khác nhau Cụ thể, năm 2004 tại quận 5, TP.HCM, 94,7% người dân tiếp cận thông tin qua ti vi, trong khi chỉ có 25,8% từ nhân viên y tế; nghiên cứu tại xã Bình Thành, Đồng Tháp năm 2007 cho thấy 58,8% người dân tiếp cận từ ti vi, 48,7% qua loa đài truyền thanh, và 16,8% từ nhân viên y tế; tại xã Mỹ Khánh, Cần Thơ năm 2007, 87,1% tiếp cận từ ti vi, 52,9% qua nhân viên y tế, và 47,9% từ đài phát thanh radio; nghiên cứu của Nguyễn Hồng Hoa năm 2008 tại quận Thủ Đức, TP.HCM cho thấy 72,91% bà mẹ có con dưới 5 tuổi tiếp cận thông tin từ nhân viên y tế hoặc cộng tác viên, cùng với 67,29% qua ti vi và radio; gần đây nhất, năm 2012 tại quận Ô Môn, học sinh trung học cơ sở có tỷ lệ tiếp cận nguồn thông tin cao nhất qua ti vi (89,2%), theo sau là sách báo, loa đài xã/phường, tranh ảnh, tờ rơi, áp phích, và cán bộ y tế xã/phường.

Nghiên cứu cho thấy truyền thông qua truyền hình là nguồn thông tin về phòng bệnh SXHD được các đối tượng quan tâm nhiều nhất, chiếm tỷ lệ lớn nhất trong các nguồn truyền tải thông tin Trước can thiệp, 82,90% các bà mẹ có con dưới 15 tuổi tại quận Ô Môn tiếp cận thông tin về SXHD qua truyền hình, trong khi đó nhóm loa đài xã/phường là 74,46%, cán bộ y tế xã/phường là 72,51%, tình nguyện viên sức khỏe cộng đồng là 40,69% và nhân viên y tế thôn bản là 36,58%, tạo sự khác biệt so với các nghiên cứu trước đó Sau can thiệp, tỷ lệ tiếp nhận thông tin ở các nhóm đều tăng, đặc biệt nhóm nhân viên y tế thôn bản lên 37,64%, nhóm tình nguyện viên sức khỏe cộng đồng tăng lên 64,07% và nhóm cán bộ y tế xã/phường đạt 73,81% Thực tế này cho thấy bà mẹ chủ yếu nhận thông tin về SXHD qua nhóm cộng tác viên y tế và tình nguyện viên sức khỏe cộng đồng trong quá trình can thiệp.

Kiến thức, thái độ và thực hành phòng bệnh sốt xuất huyết

4.2.1 Kiến thức phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của bà mẹ

Các nghiên cứu trước đây đa phần đều nghiên cứu quan tâm đến kiến thức về phòng bệnh SXHD của người dân trên 15 tuổi [9], [10], [11], [13],

[14], [16], [18], [21], ngoại trừ một số nghiên cứu của tác giả Nguyễn Lâm

Các nghiên cứu từ năm 2009 đến 2012 đều tập trung vào nhóm đối tượng học sinh trung học cơ sở, bao gồm các tác giả như Trần Thị Cẩm Nguyên, Nguyễn Đỗ Nguyên, Phạm Thị Nhã Trúc, Phạm Trí Dũng, Nguyễn Hải Đăng và Huỳnh Thanh Tân.

Nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ bà mẹ có kiến thức chung về phòng bệnh SXHD sau can thiệp đạt 88,31%, cao hơn so với 77,49% trước can thiệp và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,01) Mức độ kiến thức về phòng bệnh SXHD của các bà mẹ sau can thiệp trong nghiên cứu này vượt xa các nghiên cứu trước đó như tại xã Mỹ Lâm, huyện Hòn Đất, Kiên Giang của Huỳnh Thanh Bình và cộng sự (2010), với tỷ lệ người dân có kiến thức đúng chỉ đạt 50%, cũng như các nghiên cứu của Tống Thị Bích Chuẩn và Cao Ngọc Nga (2006) và Nguyễn Minh Quân (2011), đều có tỷ lệ kiến thức đúng chung chỉ khoảng 41,3%.

Năm 2012, tỷ lệ người dân có kiến thức đúng về phòng, chống sốt xuất huyết (SXHD) trước can thiệp chỉ đạt 4,4%, nhưng đã tăng lên 20,40% sau khi thực hiện các biện pháp can thiệp Các nghiên cứu của Nguyễn Văn Dương (2010) và Cao Nguyên Hà (2010) cùng với Trần Văn Hai và Lê Thành Tài (2008), Lê Thị Thanh Hương và cộng sự đều nhấn mạnh vai trò của các chiến lược truyền thông và giáo dục cộng đồng trong nâng cao nhận thức phòng chống SXHD một cách hiệu quả.

Các nghiên cứu từ năm 2007 đến 2011 đều cho thấy tỷ lệ người dân có kiến thức đúng về phòng bệnh SXHD dao động từ 8,67% đến 79,6% Cụ thể, Nguyễn Đình Hùng (2011) đã ghi nhận tỷ lệ này là 79,6%, trong khi các nghiên cứu khác như của Trương Phi Hùng và cộng sự (2011) cho thấy 63% thân nhân người bệnh SXHD nắm rõ kiến thức đúng về phòng bệnh Ngoài ra, các nghiên cứu của Hoàng Quốc Phương (2010), Lê Thành Tài, và Nguyễn Thị Kim Yến (2008) cũng khẳng định mức độ nhận thức về phòng bệnh còn nhiều hạn chế, đòi hỏi các biện pháp nâng cao awareness cộng đồng.

Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người dân có kiến thức đúng trong phòng, chống SXHD dao động từ khoảng 62,2% đến 85%, phản ánh sự đa dạng về mức độ nhận thức Cụ thể, các nghiên cứu của Lê Thành Tam (2012), Nguyễn Lệ Thủy (2009), Nguyễn Văn Trường (2010), và Nguyễn Công Tuấn (2009) đều ghi nhận tỷ lệ này trên 70% Trong khi đó, nghiên cứu của Trương Thị Thẩm và cộng sự (2011) tại xã Vĩnh Phú và huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, cho thấy tỷ lệ người dân có kiến thức đúng lần lượt là 45% và 38%, thấp hơn nhiều so với các kết quả khác Ngoài ra, tỷ lệ kiến thức chung đúng trong nghiên cứu này cũng thấp hơn so với kết quả của Phạm Minh Phước, cho thấy cần có các biện pháp nâng cao nhận thức cộng đồng về phòng, chống SXHD.

Trong năm 2012, tỷ lệ người dân có kiến thức chung đúng về phòng chống SXHD đạt 89,2%, cho thấy công tác truyền thông giáo dục sức khỏe tại quận Ô Môn đã có những kết quả ban đầu tích cực Tuy nhiên, hiệu quả này vẫn chưa đạt so với các địa phương khác, do đó cần có sự quan tâm đặc biệt hơn từ chính quyền địa phương, ngành Y tế và các ban ngành đoàn thể để đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền Việc phòng chống SXHD không chỉ dừng lại ở việc nâng cao kiến thức mà còn đòi hỏi thực hiện thường xuyên các hành vi phòng chống lăng quăng đơn giản, dễ làm tại gia đình và cộng đồng Bên cạnh đó, phát triển kinh tế, cung cấp đủ nước sạch và cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường cũng là yếu tố quan trọng nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, đặc biệt là các bà mẹ có con dưới 15 tuổi, góp phần phòng chống SXHD hiệu quả hơn trong cộng đồng.

Tỷ lệ các bà mẹ nhận biết được các biểu hiện của bệnh sốt xuất huyết Dengue (SXHD), gồm sốt cao liên tục từ 2 đến 7 ngày, nổi các nốt ban đỏ hoặc xuất huyết, tăng từ 92,42% trước can thiệp lên 93,07% sau can thiệp, tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p=0,755 > 0,05) Kết quả nghiên cứu cho thấy kiến thức về các triệu chứng của bệnh SXHD còn thấp hơn so với nghiên cứu của Lê Thành Tam tại huyện Mang Thít, Vĩnh Long năm 2012 đạt 96,7% Đồng thời, mức độ nhận biết này cao hơn so với các nghiên cứu của Huỳnh Thanh Bình và cộng sự (2010) và Trần Văn Hai, phản ánh nhu cầu nâng cao kiến thức cho cộng đồng về triệu chứng bệnh SXHD.

Nghiên cứu của Lê Thành Tài (2008), Trương Phi Hùng và cộng sự (2011), Lý Lệ Lan và Lê Hoàng Ninh (2005), Huỳnh Văn Nguyên (2010), cùng với công trình của Lê Thành Tài và Nguyễn Thị Kim Yến (2008), cho thấy tỷ lệ người dân nhận biết các biểu hiện triệu chứng của SXHD dao động từ 54,0% đến 70,9%, cao hơn nhiều so với tỷ lệ 29,23% của Tống Thị Bích Chuẩn và Cao Ngọc Nga (2007) ở các bà mẹ có con từ 2 đến dưới 15 tuổi Các nghiên cứu can thiệp cũng cho thấy khả năng nâng cao kiến thức của người dân về các triệu chứng của SXHD, như Bạch Thị Chính và cộng sự (2010) ghi nhận tỷ lệ biết triệu chứng tăng từ 71% lên 82% sau can thiệp; Nguyễn Công Cừu (2012) từ 15,60% lên 24,7%; và Nguyễn Văn Tới cùng cộng sự (2010) từ 48,5% lên 58,0% Trong nhóm học sinh trung học cơ sở, tỷ lệ hiểu biết về biểu hiện bệnh SXHD cũng tăng từ 86,4% lên 92,7% sau can thiệp, cao hơn so với các nghiên cứu khác Sự khác biệt này có thể do đối tượng can thiệp của nghiên cứu là các bà mẹ có con dưới 15 tuổi, trong khi các nghiên cứu trước chủ yếu tập trung vào cộng đồng dân cư, góp phần nâng cao nhận thức về SXHD trong cộng đồng.

Sau khi can thiệp, tỷ lệ các bà mẹ nhận thức được mức độ nguy hiểm của bệnh tăng từ 82,68% lên 91,77%, với sự khác biệt thống kê có ý nghĩa (p = 0,000 < 0,001) Mặc dù mức độ này đã tăng, nhưng vẫn thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Hồng Hoa (2008), trong đó có đến 96,87% các bà mẹ có con dưới 5 tuổi nhận biết được mức độ nguy hiểm của bệnh sốt xuất huyết Dengue có thể gây tử vong Tuy nhiên, tỷ lệ nhận thức này cao hơn so với các nghiên cứu của Trương Phi Hùng cùng cộng sự (2011) và Huỳnh Văn Nguyên (2010), lần lượt là 33,5% và 86,0%, cho thấy mức độ nhận biết về mức độ nguy hiểm của bệnh sốt xuất huyết còn có sự chênh lệch đáng kể giữa các nghiên cứu.

Sau khi được can thiệp, tỷ lệ bà mẹ nhận biết rằng vi rút Dengue gây bệnh đã tăng từ 69,26% lên 75,76%, với sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p = 0,003) Mức độ nhận biết này tương tự như kết quả nghiên cứu của Lê Thành Tam (2012), trong đó có đến 75,5% người dân biết nguyên nhân gây sốt xuất huyết là do vi rút.

Các nghiên cứu trước đây cho thấy tỷ lệ bà mẹ và người dân nhận thức về nguyên nhân gây bệnh SXHD còn thấp Cụ thể, tỷ lệ biết virus Dengue gây bệnh lần lượt là 24,16% của Tống Thị Bích Chuẩn và Cao Ngọc Nga (2006), 21,16% của Nguyễn Minh Quân (2011), trong khi Trương Phi Hùng (2011) ghi nhận tỷ lệ này là 43,5% Tuy nhiên, tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của Lý Lệ Lan và Lê Hoàng Ninh (2005), khi có đến 92,2% người dân hiểu đúng về nguyên nhân gây bệnh SXHD Đối với học sinh trung học cơ sở, các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tỷ lệ kiến thức về các biểu hiện của bệnh còn hạn chế, cho thấy cần tăng cường công tác tuyên truyền và giáo dục nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về nguyên nhân và đặc điểm của bệnh SXHD.

Nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ SXHD thấp hơn so với nghiên cứu của Trần Thị Cẩm Nguyên và Nguyễn Đỗ Nguyên (2010), trước can thiệp là 25,0% và sau can thiệp là 82,0% Đồng thời, tỷ lệ này cũng thấp hơn so với nghiên cứu của Đỗ Nguyễn Thùy Nhi và Nguyễn Lâm (2010), trước can thiệp là 45,0% và sau can thiệp là 86,4% Sự khác biệt này có thể do đối tượng can thiệp trong hai nghiên cứu trên là học sinh trung học cơ sở, những đối tượng dễ tiếp thu và ghi nhớ kiến thức mới hơn so với đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là các bà mẹ có con dưới tuổi trung học.

Sau can thiệp, tỷ lệ bà mẹ nhận thức đúng về loài muỗi trung gian truyền bệnh SXHD là muỗi vằn đã tăng từ 76,41% lên 79,22%, tuy nhiên sự khác biệt này không đủ ý nghĩa thống kê (p = 0,232) Tỷ lệ này cao hơn so với nhiều nghiên cứu trước đó của Trần Văn Hai và Lê Thành Tài (2008), Chu Xuân Hiên (2008), Nguyễn Đình Hùng (2011), Lý Lệ Lan và Lê Hoàng Ninh (2005), Huỳnh Văn Nguyên (2010), Hoàng Quốc Phương (2010), Lê Thành Tài và Nguyễn Thị Kim Yến (2008), lần lượt là 65,2%, 58,7%, 72,0%, 61,6%, 57,7%, 60,2%, 74,4% Tuy nhiên, kết quả này lại thấp hơn so với nghiên cứu của Phạm Minh Phước (2012), Lê Thành Tâm (2012) với tỷ lệ nhận thức về muỗi vằn là trung gian truyền bệnh SXHD lần lượt là 80,8% và 93,5%, và cao hơn so với nghiên cứu của Trương Thị Thẩm và cộng sự.

Các nghiên cứu năm 2011 tại Vĩnh Phú và Tân Uyên cho thấy tỷ lệ người dân biết muỗi vằn là trung gian truyền bệnh sốt xuất huyết lần lượt là 72,0% và 78,0%, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ 98,32% từ nghiên cứu của Nguyễn Hồng Hoa năm 2008 đối với các bà mẹ có con dưới 5 tuổi Trong các nghiên cứu can thiệp, tỷ lệ người dân nhận thức về muỗi vằn tăng từ 31,30% lên 43,60% sau can thiệp theo nghiên cứu của Nguyễn Công Cừu năm 2012, còn nghiên cứu của Nguyễn Văn Tới và cộng sự năm 2010 ghi nhận tỷ lệ này tăng từ 59,0% lên 75,0% trước và sau can thiệp Tuy nhiên, tỷ lệ này vẫn thấp hơn so với nghiên cứu của Bạch Thị Chính và cộng sự năm 2010, với tỷ lệ kiến thức về muỗi vằn từ 80,0% đến 87,5% Đối với học sinh trung học cơ sở, kiến thức về biểu hiện của bệnh sốt xuất huyết cũng thấp hơn, như nghiên cứu của Đỗ Nguyễn Thùy Nhi và Nguyễn Lâm (2010), trong đó tỷ lệ biết trước và sau can thiệp lần lượt là 75,9% và 93,7% Các kết quả này cho thấy cần nâng cao nhận thức cộng đồng về trung gian truyền bệnh sốt xuất huyết qua các chiến dịch tuyên truyền và can thiệp phù hợp.

(2010) trước can thiệp 98,0% lên 99,0% sau can thiệp [26]

Kết quả nghiên cứu cho thấy kiến thức về bệnh SXHD của các bà mẹ trong lĩnh vực điều trị Tỷ lệ bà mẹ biết rằng bệnh SXHD không có thuốc điều trị đặc hiệu đã tăng từ 56,77% lên 62,99% sau can thiệp, với sự khác biệt này mang ý nghĩa thống kê (p = 0,003) Đối với nghiên cứu trên học sinh trung học cơ sở, tỷ lệ bà mẹ hiểu rõ về việc không có thuốc điều trị đặc hiệu cho SXHD trước can thiệp cao hơn so với nghiên cứu của Đỗ Nguyễn Thùy Nhi và Nguyễn Lâm (2010) (56,77% so với 36,6%), nhưng sau can thiệp lại thấp hơn so với kết quả của nghiên cứu này (62,99% so với 64,4%).

Kết quả điều tra lăng quăng tại nhà của bà mẹ

Kết quả điều tra lăng quăng tại nhà của 462 bà mẹ sau can thiệp cho thấy tỷ lệ nhà có lăng quăng (HI) là 19,70%, giảm ý nghĩa thống kê so với trước can thiệp là 25,97% (p = 0,002), cho thấy hiệu quả của can thiệp trong giảm sự có mặt của lăng quăng trong nhà Mức độ HI trong nghiên cứu này thấp hơn so với các nghiên cứu trước đó, như của Huỳnh Thanh Bình và cộng sự (2010), ghi nhận tỷ lệ nhà có lăng quăng là 38%, Trần Văn Hai và Lê Thành Tài (2008) cũng tìm thấy 38%, Lê Thị Thanh Hương và cộng sự (2007) báo cáo tỷ lệ 38%, trong khi Lê Thành Tam (2012) ghi nhận tỷ lệ 26,5%, chứng tỏ các chiến lược kiểm soát lăng quăng đã có sự cải thiện qua các nghiên cứu và thực tiễn.

Nghiên cứu năm 2011 cho thấy tỷ lệ nhà có lăng quăng là 28,45% [40], thấp hơn so với các nghiên cứu can thiệp trước đó Ví dụ, nghiên cứu của Đỗ Nguyễn Thùy Nhi và Nguyễn Lâm (2010) đã giảm tỷ lệ HI từ 61% xuống còn 45% sau can thiệp [28], trong khi đó, nghiên cứu của Huỳnh Thanh Tân (2012) ghi nhận giảm từ 29,7% xuống còn 20,5% sau can thiệp [36] Những kết quả này cho thấy các biện pháp can thiệp hiệu quả trong giảm tỷ lệ nhà có lăng quăng và lân cận các chỉ số liên quan đến nguy cơ truyền bệnh sốt xuất huyết.

Kết quả điều tra dụng cụ chứa nước tại nhà các bà mẹ cho thấy, trước can thiệp, tổng số dụng cụ là 2.884, trong đó 212 dụng cụ chứa nước có lăng quăng (CI = 7,35%), giảm còn 2.715 dụng cụ sau can thiệp, với 145 dụng cụ chứa nước có lăng quăng (CI = 5,34%) Chỉ số CI sau can thiệp thấp hơn so với các nghiên cứu của Lê Thành Tam (2012) và Nguyễn Thị Kim Tiến et al (2011), lần lượt là 11,3% và 12,13% Đối với nghiên cứu can thiệp ở học sinh trung học cơ sở, tỷ lệ CI cũng thấp hơn so với các nghiên cứu của Đỗ Nguyễn Thùy Nhi và Nguyễn Lâm (2010), từ 15,5% giảm còn 10,0%, và của Huỳnh Thanh Tân (2012), từ 11,6% giảm còn 8,4% sau can thiệp.

Trước can thiệp, chỉ số Breteau index (BI) đạt 45,89, giảm xuống còn 31,39 sau can thiệp, thể hiện hiệu quả của các biện pháp kiểm soát vector Tuy nhiên, cả hai chỉ số này đều còn cao hơn mức quy định của Bộ Y tế là BI dưới 20 để đảm bảo an toàn Trong nghiên cứu này, mức BI sau can thiệp thấp hơn so với kết quả của Huỳnh Thanh Bình và cộng sự (2010), ghi nhận chỉ số Breteau là 56, cho thấy hiệu quả của các biện pháp kiểm soát đã đạt được mức giảm đáng kể.

Các nghiên cứu trước đây như của Trần Văn Hai và Lê Thành Tài (2008), Lê Thị Thanh Hương cùng cộng sự (2007), và Nguyễn Thị Kim Tiến cùng cộng sự (2011) đều ghi nhận chỉ số BI lần lượt là 56, 53 và 57, cho thấy mức độ quan tâm hoặc tình trạng này đã được các nhà nghiên cứu quan sát và đo lường qua các năm Đối với nghiên cứu can thiệp dành cho học sinh trung học cơ sở, tỷ lệ này cung cấp thông tin quan trọng về đặc điểm và xu hướng đối tượng nghiên cứu.

BI ở nghiên cứu này thấp hơn với nghiên cứu can thiệp của Đỗ Nguyễn Thùy Nhi và Nguyễn Lâm (2010) trước can thiệp là 97,0% xuống còn 64,0% sau can thiệp [28]

Tỷ lệ dụng cụ chứa nước có đậy nắp tại nhà bà mẹ sau can thiệp tăng nhẹ so với trước can thiệp, cụ thể là từ 50,82% lên 51,30% Trong đó, các dụng cụ chứa nước có nắp đậy tăng cao nhất là bể, bồn trên 500l, from 65,09% lên 69,16%, tiếp theo là lu, phuy từ 54,43% lên 57,48% (bảng 3.23) Mặc dù tỷ lệ này tăng, mức tăng so với các nghiên cứu khác vẫn còn thấp hơn, ví dụ như nghiên cứu của Đỗ Nguyễn Thùy Nhi và Nguyễn Lâm (2010), tỷ lệ dụng cụ chứa nước có nắp đậy trước can thiệp là 24,0% và sau can thiệp tăng lên 90,1%; bên cạnh đó, nghiên cứu của Huỳnh Thanh Tân (2012) cho thấy tỷ lệ dụng cụ chứa nước có đậy nắp từ 33,2% trước can thiệp lên 50,5% sau can thiệp.

Sau can thiệp, tỷ lệ dụng cụ chứa nước có thả cá tại nhà bà mẹ tăng nhẹ từ 10,25% lên 11,29%, trong đó, dụng cụ chứa nước như lu và phuy ghi nhận mức tăng cao nhất lần lượt từ 12,93% lên 14,50% Tuy nhiên, số lượng cá thả trong các bể, bồn > 500l lại giảm từ 12,26% trước can thiệp xuống còn 10,28% sau can thiệp Mặc dù tỷ lệ tăng này thấp hơn so với các nghiên cứu trước đây như của Đỗ Nguyễn Thùy Nhi và Nguyễn Lâm (2010), với tỷ lệ dụng cụ chứa nước có thả cá tăng từ 2,2% lên 49,7%, hay của Huỳnh Thanh Tân (2012), từ 3,1% lên 6,5%.

Sau khi thực hiện can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe kết hợp với việc kiểm tra DCCN định kỳ, các chỉ số côn trùng học đã được cải thiện rõ rệt Nhờ đó, mức độ lưu trú và hoạt động của côn trùng gây bệnh đã giảm đáng kể, góp phần nâng cao hiệu quả phòng chống dịch bệnh Các chiến dịch nâng cao nhận thức cộng đồng về kiểm soát côn trùng đã giúp tạo ra môi trường sống an toàn hơn, giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm bệnh trên địa bàn.

HI, CI và BI đều giảm nhưng vẫn còn cao hơn ngưỡng gây dịch, cho thấy nguy cơ dịch bệnh trên địa bàn vẫn khá cao nếu không có biện pháp kiểm soát kịp thời Tỷ lệ DCCN có nắp sau can thiệp tăng nhẹ chỉ khoảng 0,48%, trong khi DCCN thả cá cũng tăng không đáng kể, khoảng 1,04%, do quá trình truyền thông giáo dục sức khỏe không cung cấp cá để thả vào các điểm chứa lăng quăng lớn.

Ngày đăng: 22/08/2023, 18:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Y tế (2011), Quyết định số: 458/QĐ-BYT ngày 16/02/2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành hướng dẫn chẩn đoán, điều trị sốt xuất huyết dengue, truy cập ngày 22/12/2011, tại trang web http://www.moh.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số: 458/QĐ-BYT ngày 16/02/2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành hướng dẫn chẩn đoán, điều trị sốt xuất huyết dengue
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2011
3. Bộ Y tế (2011), Quyết định số: 1499/QĐ-BYT ngày 17/5/2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế, Về việc ban hành "hướng dẫn giám sát và phòng chống bệnh sốt xuất huyết dengue", truy cập ngày 22/12/2011, tại trang web http://www.moh.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: hướng dẫn giám sát và phòng chống bệnh sốt xuất huyết dengue
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Bộ Y tế
Năm: 2011
4. Bộ Y tế (2012), Sốt xuất huyết Dengue - Dịch tễ học, truy cập ngày 12/12/2012, tại trang webhttp://203.162.20.210/homebyt/vn/portal/InfoDetail.jsp?area=202&amp;cat=1679&amp;ID=1843 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sốt xuất huyết Dengue - Dịch tễ học
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2012
7. Nguyễn Công Cừu (2012), Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống sốt xuất huyết Dengue của người dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp trước và sau can thiệp 2011, Luận án chuyên khoa cấp II Quản lý Y tế, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống sốt xuất huyết Dengue của người dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp trước và sau can thiệp 2011
Tác giả: Nguyễn Công Cừu
Nhà XB: Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Năm: 2012
8. Nguyễn Hải Đăng (2012), Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue và một số yếu tố liên quan của học sinh Trung học cơ sở ở quận Ô Môn năm 2012, Thạc sỹ Y tế công cộng, Đại học Y tế công cộng Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue và một số yếu tố liên quan của học sinh Trung học cơ sở ở quận Ô Môn năm 2012
Tác giả: Nguyễn Hải Đăng
Nhà XB: Đại học Y tế công cộng Hà Nội
Năm: 2012
9. Nguyễn Văn Dương (2010), Khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống sốt xuất huyết của người dân phường 7, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu năm 2010 và các yếu tố liên quan, Luận văn Chuyên khoa I Y tế Công cộng, Đại học Y tế Công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống sốt xuất huyết của người dân phường 7, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu năm 2010 và các yếu tố liên quan
Tác giả: Nguyễn Văn Dương
Nhà XB: Đại học Y tế Công cộng
Năm: 2010
10. Cao Nguyên Hà (2010), Kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh sốt xuất huyết của người dân xã Tân Quy Tây, thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp năm 2009, Luận văn Chuyên khoa I Y tế Công cộng, Đại học Y tế Công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh sốt xuất huyết của người dân xã Tân Quy Tây, thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp năm 2009
Tác giả: Cao Nguyên Hà
Nhà XB: Đại học Y tế Công cộng
Năm: 2010
12. Chu Xuân Hiên (2008), Nghiên cứu tình hình sốt xuất huyết trong cộng đồng dân cư huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh, Luận án chuyên khoa cấp II Quản lý Y tế, Trường Đại học Y Dược Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình sốt xuất huyết trong cộng đồng dân cư huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Chu Xuân Hiên
Nhà XB: Trường Đại học Y Dược Huế
Năm: 2008
15. Nguyễn Đình Hùng (2011), Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học và kiến thức, thực hành phòng chống bệnh sốt xuất huyết tại huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai năm 2010, Luận án chuyên khoa cấp II Quản lý Y tế, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học và kiến thức, thực hành phòng chống bệnh sốt xuất huyết tại huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai năm 2010
Tác giả: Nguyễn Đình Hùng
Nhà XB: Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Năm: 2011
16. Trần Mạnh Hùng (2010), Kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống sốt xuất huyết tại phường 11, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp năm 2010, Luận văn Chuyên khoa I Y tế Công cộng, Đại học Y tế Công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn Chuyên khoa I Y tế Công cộng
Tác giả: Trần Mạnh Hùng
Nhà XB: Đại học Y tế Công cộng
Năm: 2010
24. Phan Thị Trung Ngọc (2008), Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành kiểm soát lăng quăng trong phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của người dân huyện Phong Điền, Cần Thơ năm 2008, Luận văn Thạc sỹ Y học - chuyên ngành Y học dự phòng, Trường Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành kiểm soát lăng quăng trong phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của người dân huyện Phong Điền, Cần Thơ năm 2008
Tác giả: Phan Thị Trung Ngọc
Nhà XB: Trường Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2008
25. Huỳnh Văn Nguyên (2010), Khảo sát kiến thức, thực hành phòng, chống sốt xuất huyết của các bà mẹ tại xã Biển Bạch Đông, Thới Bình, Cà Mau năm 2010, Luận văn chuyên khoa cấp I Y tế Công cộng, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát kiến thức, thực hành phòng, chống sốt xuất huyết của các bà mẹ tại xã Biển Bạch Đông, Thới Bình, Cà Mau năm 2010
Tác giả: Huỳnh Văn Nguyên
Nhà XB: Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Năm: 2010
69. WHO Western Pacific regional office (2001), Number of Reported Cases of Dengue Fever and Dengue Hemorrhagic Fever (DF/DHF) in the Western Pacific Region, by Country: Figures for 2000 (to week noted by each country), access date 29/12/2012, available at http://www.wpro.who.int/emerging_diseases/Dengue_WPRO_2000.pdf Link
70. WHO Western Pacific regional office (2002), Number of Reported Cases of Dengue Fever and Dengue Hemorrhagic Fever (DF/DHF) in the Western Pacific Region, by Country: Figures for 2001 (to week noted by each country), access date 29/12/2012, available at http://www.wpro.who.int/emerging_diseases/Dengue_WPRO_2001.pdf Link
71. WHO Western Pacific regional office (2003), Number of Reported Cases of Dengue Fever and Dengue Hemorrhagic Fever (DF/DHF) in the Western Pacific Region, by Country: Figures for 2002 (to week noted by each country), access date 29/12/2012, available at http://www.wpro.who.int/emerging_diseases/Dengue_WPRO_2002.pdf Link
73. WHO Western Pacific regional office (2005), Number of Reported Cases of Dengue Fever and Dengue Hemorrhagic Fever (DF/DHF) in the Western Pacific Region, by Country: Figures for 2004 (to week noted by each country), access date 29/12/2012, available at http://www.wpro.who.int/emerging_diseases/Dengue_WPRO_2004.pdf Link
75. WHO Western Pacific regional office (2007), Number of Reported Cases of Dengue Fever and Dengue Hemorrhagic Fever (DF/DHF) in the Western Pacific Region, by Country: Figures for 2006 (to week noted by each country), access date 29/12/2012, available at http://www.wpro.who.int/emerging_diseases/Dengue_WPRO_2006.pdf Link
76. WHO Western Pacific regional office (2008), Number of Reported Cases of Dengue Fever and Dengue Hemorrhagic Fever (DF/DHF) in the Western Pacific Region, by Country: Figures for 2007 (to week noted by each country), access date 29/12/2012, available at http://www.wpro.who.int/emerging_diseases/Dengue_WPRO_2007.pdf Link
78. WHO Western Pacific regional office (2010), Number of Reported Cases of Dengue Fever and Dengue Hemorrhagic Fever (DF/DHF) in the Western Pacific Region, by Country: Figures for 2009 (to week noted by each country), access date 29/12/2012, available at http://www.wpro.who.int/emerging_diseases/Dengue_WPRO_2009.pdf Link
79. WHO Western Pacific regional office (2011), Number of Reported Cases of Dengue Fever and Dengue Hemorrhagic Fever (DF/DHF) in the Western Pacific Region, by Country: Figures for 2010 (to week noted by each country), access date 29/12/2012, available at http://www.wpro.who.int/emerging_diseases/Dengue_WPRO_2010.pdf Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ thiết kế nghiên cứu can thiệp trước sau - 1367 nghiên cứu hiệu quả can thiệp về phòng bệnh sốt xuất huyết dengue ở bà mẹ có con dưới 15 tuổi tại quận ô môn năm 2013
Sơ đồ thi ết kế nghiên cứu can thiệp trước sau (Trang 54)
Bảng 3.1. Nguồn cung cấp thông tin về SXHD cho bà mẹ - 1367 nghiên cứu hiệu quả can thiệp về phòng bệnh sốt xuất huyết dengue ở bà mẹ có con dưới 15 tuổi tại quận ô môn năm 2013
Bảng 3.1. Nguồn cung cấp thông tin về SXHD cho bà mẹ (Trang 58)
Bảng 3.2. Kiến thức đúng về véc tơ truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue - 1367 nghiên cứu hiệu quả can thiệp về phòng bệnh sốt xuất huyết dengue ở bà mẹ có con dưới 15 tuổi tại quận ô môn năm 2013
Bảng 3.2. Kiến thức đúng về véc tơ truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue (Trang 59)
Bảng 3.3. Kiến thức đúng về nơi véc tơ truyền bệnh sốt xuất huyết - 1367 nghiên cứu hiệu quả can thiệp về phòng bệnh sốt xuất huyết dengue ở bà mẹ có con dưới 15 tuổi tại quận ô môn năm 2013
Bảng 3.3. Kiến thức đúng về nơi véc tơ truyền bệnh sốt xuất huyết (Trang 60)
Bảng 3.8. Kiến thức chung của bà mẹ về phòng bệnh sốt xuất huyết - 1367 nghiên cứu hiệu quả can thiệp về phòng bệnh sốt xuất huyết dengue ở bà mẹ có con dưới 15 tuổi tại quận ô môn năm 2013
Bảng 3.8. Kiến thức chung của bà mẹ về phòng bệnh sốt xuất huyết (Trang 65)
Bảng 3.12. Thái độ của bà mẹ về phòng bệnh SXHD - 1367 nghiên cứu hiệu quả can thiệp về phòng bệnh sốt xuất huyết dengue ở bà mẹ có con dưới 15 tuổi tại quận ô môn năm 2013
Bảng 3.12. Thái độ của bà mẹ về phòng bệnh SXHD (Trang 69)
Bảng 3.14. Thái độ về ủng hộ và xử trí của bà mẹ - 1367 nghiên cứu hiệu quả can thiệp về phòng bệnh sốt xuất huyết dengue ở bà mẹ có con dưới 15 tuổi tại quận ô môn năm 2013
Bảng 3.14. Thái độ về ủng hộ và xử trí của bà mẹ (Trang 71)
Bảng 3.15. Tỷ lệ thái độ chung của bà mẹ về phòng sốt xuất huyết Dengue - 1367 nghiên cứu hiệu quả can thiệp về phòng bệnh sốt xuất huyết dengue ở bà mẹ có con dưới 15 tuổi tại quận ô môn năm 2013
Bảng 3.15. Tỷ lệ thái độ chung của bà mẹ về phòng sốt xuất huyết Dengue (Trang 72)
Bảng 3.16. Tỷ lệ bà mẹ đã từng thực hành phòng sốt xuất huyết Dengue - 1367 nghiên cứu hiệu quả can thiệp về phòng bệnh sốt xuất huyết dengue ở bà mẹ có con dưới 15 tuổi tại quận ô môn năm 2013
Bảng 3.16. Tỷ lệ bà mẹ đã từng thực hành phòng sốt xuất huyết Dengue (Trang 72)
Bảng 3.17. Thực hành của bà mẹ về kiểm tra và diệt lăng quăng ở DCCN - 1367 nghiên cứu hiệu quả can thiệp về phòng bệnh sốt xuất huyết dengue ở bà mẹ có con dưới 15 tuổi tại quận ô môn năm 2013
Bảng 3.17. Thực hành của bà mẹ về kiểm tra và diệt lăng quăng ở DCCN (Trang 73)
Bảng 3.18. Thực hành của bà mẹ về các biện pháp phòng bệnh sốt xuất - 1367 nghiên cứu hiệu quả can thiệp về phòng bệnh sốt xuất huyết dengue ở bà mẹ có con dưới 15 tuổi tại quận ô môn năm 2013
Bảng 3.18. Thực hành của bà mẹ về các biện pháp phòng bệnh sốt xuất (Trang 74)
Bảng 3.19. Thực hành của bà mẹ về các biện pháp diệt lăng quăng - 1367 nghiên cứu hiệu quả can thiệp về phòng bệnh sốt xuất huyết dengue ở bà mẹ có con dưới 15 tuổi tại quận ô môn năm 2013
Bảng 3.19. Thực hành của bà mẹ về các biện pháp diệt lăng quăng (Trang 75)
Bảng 3.20. Thực hành của bà mẹ về xử lý khi có người mắc bệnh SXHD - 1367 nghiên cứu hiệu quả can thiệp về phòng bệnh sốt xuất huyết dengue ở bà mẹ có con dưới 15 tuổi tại quận ô môn năm 2013
Bảng 3.20. Thực hành của bà mẹ về xử lý khi có người mắc bệnh SXHD (Trang 76)
Bảng 3.21. Tỷ lệ thực hành chung về phòng bệnh của bà mẹ - 1367 nghiên cứu hiệu quả can thiệp về phòng bệnh sốt xuất huyết dengue ở bà mẹ có con dưới 15 tuổi tại quận ô môn năm 2013
Bảng 3.21. Tỷ lệ thực hành chung về phòng bệnh của bà mẹ (Trang 76)
Bảng 3.24. Kết quả điều tra lăng quăng tại nhà của bà mẹ - 1367 nghiên cứu hiệu quả can thiệp về phòng bệnh sốt xuất huyết dengue ở bà mẹ có con dưới 15 tuổi tại quận ô môn năm 2013
Bảng 3.24. Kết quả điều tra lăng quăng tại nhà của bà mẹ (Trang 79)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w