1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

1321 nghiên cứu kiến thức thực hành phòng nhiễm hiv và tình hình nhiễm hiv trong nhóm gái mại dâm thị trấn sông đốc huyện trần văn thời tỉnh cà mau năm 2

71 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề 1321 Nghiên cứu Kiến thức Thực hành Phòng Nhiễm HIV Và Tình Hình Nhiễm HIV Trong Nhóm Gái Mại Dâm Ở Thị Trấn Sông Đốc, Huyện Trần Văn Thời, Tỉnh Cà Mau Năm 2013
Trường học Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành Y học, Sức khỏe cộng đồng
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2013
Thành phố Cà Mau
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 847,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ đã nêu rõ giải p háp “Tăng cường sự chỉ đạo, điều hành của chính quyền các cấp trong tổ chức thự

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những thập kỷ qua, HIV/AIDS vừa là mối hiểm họa, một đại dịch của thế kỷ, đồng thời cũng là một vấn đề hết nhạy cảm trong các qua n

hệ giao tế, xã hội, gia đình tại nhiều quốc gia trên thế giới

Ở Việt Nam, HIV/AIDS không những phát triển mạnh tại các thành phố lớn mà ngày càng có khuynh hướng phát triển ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa Kể từ khi HIV/AIDS xâm nhập, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều Chỉ thị, Nghị quyết, Luật phòng, chống HIV/AIDS chỉ đạo các cấp

uỷ, chính quyền các cấp đẩy mạnh công tác tuyên truyền phòng, chống HIV/AIDS Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến

năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ đã nêu rõ giải p háp “Tăng cường sự chỉ đạo, điều hành của chính quyền các cấp trong tổ chức thực hiện công tác phòng chống HIV/AIDS” [8]

Theo báo cáo của Bộ Y tế, tính đến 30/12/2011, cả nước ta có 197.335 trường hợp có HIV được phát hiện và còn sống, trong đó có 48.720 ca chuyển qua giai đoạn AIDS còn sống và 52.325 ca tử vong.[5]

Trong khi đối tượng nghiện chích ma túy vẫn còn là đối tượng chính trong số những người nhiễm HIV/AIDS (44%), nhóm gái mại dâm cũng có

tỉ lệ nhiễm HIV cao và đang có chiều hướng gia tăng và trẻ hóa Một số nghiên cứu về hành vi và huyết thanh học trong nhóm gái mại dâm ở một

số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đã cảnh báo nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm này cũng như từ nhóm này ra cộng đồng Nghiên cứu hành vi nguy cơ ở nhóm gái mại dâm là một phần không thể thiếu được trong việc cung cấp những bằng chứng xây dựng chiến lược dự phòng lây nhiễm HIV cũng như cho chương trình thay đổi hành vi đặc biệt là hoạt động tư vấn

Trang 2

Thị trấn Sông Đốc thuộc huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau là một thị trấn vùng sâu, người dân đa số làm nghề đánh bắt thủy sản, buôn bán nhỏ, kinh doanh vui chơi giải trí, trình độ dân trí còn hạn chế, điều kiện cơ

sở vật chất, thuốc, y dụng cụ chưa đáp ứng đủ nhu cầu của người dân Công tác phòng, nhiễm HIV/AIDS còn gặp nhiều khó khăn khi triển khai xuống các hộ dân do chưa hiểu biết nhiều về HIV/AIDS [30]

Mặt khác, tuy là thị trấn vùng sâu nhưng có cửa biển Sông Đốc là nơi quy tụ nhiều tàu ghe đánh bắt cá, mua bán thủy sản, bên cạnh đó thu hút nhiều gái mại dâm từ những nơi khác đến hành nghề, nên có nguy cơ bị nhiễm HIV/AIDS cao hơn những huyện khác Đây chính là lý do để chúng

tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu kiến thức thực hành phòng nhiễm HIV

và tình hình nhiễm HIV trong nhóm gái mại dâm ở thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau năm 2013”

Đề tài được tiến hành từ tháng 01/2013 đến tháng 3 năm 2013

Mục tiêu nghiên cứu

1 Xác định tỉ lệ gái mại dâm có kiến thức-thực hành đúng phòng lây nhiễm HIV và các yếu tố liên quan tại thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau năm 2013

2 Xác định tỉ lệ gái mại dâm nhiễm HIV tại thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau và sự phân bố nhiễm HIV

Trang 3

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Sơ lược về HIV/AIDS

HIV (Human Insuffisance Virus) là virus gây hội chứng suy giảm miễn dịch ở người HIV có dạng hình cầu, kích thước rất nhỏ (100-120 nm) Virus chỉ có thể tăng trưởng và sinh sản bên trong tế bào sống, HIV

có ái tính đặc biệt với các tế bào của hệ thống miễn dịch: lympho T giúp đỡ (T4), đại thực bào, tế bào đơn nhân và một số tế bào có thụ thể tương tự T4 như tế bào thần kinh, da và niêm mạc, hạch lympho nên khi xâm nhập cơ thể, chúng liền bám dính vào màng tế bào rồi bắt đầu xâm nhập vào trong, sản xuất ra nhiều HIV khác, cho đến khi tế bào bị hư hoàn toàn và chết đi,

hệ miễn dịch bị tiêu diệt lần hồi, cuối cùng suy kiệt, không còn đủ sức chống lại tác nhân gây bệnh xâm nhập, gọi là giai đoạn AIDS và người bệnh sẽ chết ở giai đoạn này [13]

Hiện nay, người nhiễm HIV được chia làm 4 thời kỳ:

a Thời kỳ cửa sổ (phơi nhiễm)

Thời kỳ này rất dễ lây lan cho người khác vì số lượng virus trong máu rất cao, nhưng chưa có kháng thể Người bệnh thường bị sốt, viêm họng, nổi hạch, nhức đầu, khó chịu, phát ban Do không có triệu chứng đặc hiệu nên thầy thuốc thường hay chuẩn đoán chung là nhiễm siêu vi Vì vậy, nếu sau khi quan hệ tình dục không an toàn (hay một sự cố nào gây nghi ngờ nhiễm HIV), nạn nhân cần xét nghiệm máu (kỹ thuật PCR) tìm ARN của HIV Kháng thể kháng HIV xuất hiện trong máu muộn hơn, sau 6 tuần (thông thường là 3 tháng) mới xét nghiệm tìm kháng thể [13]

b Thời kỳ nhiễm không triệu chứng

Trang 4

Số lượng tế bào T4 giảm, nhưng lượng T4 không giống nhau ở mỗi người và sự giảm lượng T4 cũng không tỉ lệ thuận với mức độ nặng của bệnh Lượng kháng nguyên tăng lên phản ánh sự nhân lên của virus mà hệ thống miễn dịch của cơ thể không khống chế được [13]

c Thời kỳ nhiễm có triệu chứng, giai đoạn sớm

Việc chuyển giai đoạn thể hiện qua các triệu chứng: sốt, vã mồ hôi về đêm, tiêu chảy mãn (do HIV xâm nhập tế bào ở niêm mạc ruột), nổi hạch

và đau đầu Có thể có sarcome Kaposi xuất hiện sớm Bắt đầu mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội như: nhiễm nấm Candida albicans ở niêm mạc miệng, nhiễm khuẩn hô hấp, viêm nha chu [13]

d Thời kỳ nhiễm có triệu chứng, giai đoạn muộn

Số lượng tế bào T4 ngày càng giảm thì khả năng mắc bệnh cơ hội ngày càng tăng Khi T4 còn 200 tế bào/µL máu thì dễ bị viêm phổi và viêm màng não do Toxoplasma gondii, khi còn 100 tế bào/µL máu thì dễ bị nhiễm nhiều loại: Mycobacterium tuberculosis, nấm Candida albicans ở thực quản, viêm phổi do Herpes virus

Các biểu hiện của AIDS bao gồm: Nhiễm trùng cơ hội, suy kiệt cơ thể, sarcome Kaposi, u lympho, bệnh về não, viêm chất trắng, viêm phổi kẽ

mô lympho HIV, một retrovirus, có liên hệ chặt chẽ với các virus gây suy

giảm miễn dịch ở khỉ (SIV, simian immunodeficiency virus) SIV là các

lentivirus, cũng như HIV, đang gây nội dịch ở nhiều loài khỉ tại Châu Phi Khảo sát tiến hành năm 1999 tại Đại học Alabama nhận thấy rằng HIV-1 rất giống SIV tinh tinh (SIVcpz) [13]

Nhiều cuộc nghiên cứu đã đưa đến giả thuyết là lúc đầu HIV lan rộng

ở Tây Phi, nhưng có thể có vài nguồn xuất phát khác, tương ứng với các chủng khác nhau của HIV (HIV-1 và HIV-2) AIDS được ghi nhận sớm

Trang 5

nhất là của Bs Grethe Rask, một nhà phẫu thuật Đan Mạch đã làm việc ở Congo trong đầu thập niên 1970

Người ta tin rằng HIV được lan rộng qua các hoạt động tình dục, có thể bao gồm giới mại dâm, trong các vùng đô thị đang phát triển nhanh chóng của Châu Phi và toàn thế giới

Trong thực tế, bệnh AIDS (Acquired Immunodeficiency Syndrome)

có tên gọi chính thức là "Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải" Chính

vì nó có thể phá hủy hệ thống miễn dịch của cơ thể cho nên mới có tên gọi như thế [13]

1.2 Điều trị và vaccine

Hiện tại không có vaccine nào để phòng ngừa lây nhiễm HIV, và cũng không có một liệu pháp nào có thể loại bỏ hoàn toàn vi-rút HIV ra khỏi cơ thể Tuy nhiên, những người sống chung với AIDS hiện nay có thể kéo dài

và cải thiện chất lượng cuộc sống bằng liệu pháp điều trị kháng vi-rút, hay còn gọi là thuốc ARV (Anti-retrovirus) Các thuốc ARV này có tác dụng làm chậm sự nhân lên của HIV trong cơ thể, do đó tăng khả năng miễn dịch

và ít mắc các nhiễm trùng cơ hội [13]

Lựa chọn điều trị lí tưởng hiện tại bao gồm các kết hợp ("cocktail") hai hay nhiều loại thuốc kháng retrovirus như hai chất ức chế reverse transcriptase giống nucleoside (nucleoside analogue reverse transcriptase inhibitor, NRTI), và một chất ức chế protease hoặc một chất thuốc ức chế reverse transcriptase non-nucleoside (non-nucleoside reverse transcriptase inhibitor, NNRTI) Với điều trị như vậy, kết quả cho thấy HIV không p hát hiện được lặp đi lặp lại nhiều lần, nhưng nếu ngưng điều trị lượng virus trong cơ thể sẽ tăng nhanh chóng Cũng có lo ngại cuối cùng sẽ xuất hiện

đề kháng thuốc với phác đồ đó Những năm gần đây thuật ngữ "điều trị

Trang 6

kháng retrovirus tích cực cao" (highly-active anti-retroviral therapy, HAART) thường được dùng để chỉ cách thức điều trị này Tuy nhiên, p hần lớn số người bệnh trên thế giới không tiếp cận được các điều trị HIV và AIDS

Hiện đang có các nghiên cứu tìm vắc-xin ngừa HIV và phát triển thuốc mới kháng retrovirus Cũng đang có một số thử nghiệm ở người Liệu pháp gene được đề nghị là biện pháp khả thi để ngăn ngừa hoặc điều trị nhiễm HIV VRX496, một thành phần di truyền có vai trò ức chế HIV (đặc biệt ở kiểu trị liệu đối mã (antisense therapy) có ở lentivirus đã bị biến đổi, đang được thử nghiệm lâm sàng pha I năm 2003—lần đầu tiên dùng vector lentivirus trên người [13]

Năm 2007, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh tật của Hoa Kì (CDC) khuyến cáo phác đồ thuốc HIV 28 ngày cho những người tin là họ

đã tiếp xúc với virus Phác đồ này đã được chứng minh có hiệu quả ngăn ngừa virus gần 100% nếu bệnh nhân áp dụng điều trị trong vòng 24 giờ sau phơi nhiễm Độ hiệu quả giảm còn 52% nếu áp dụng điều trị trong 48 giờ; phác đồ này không được khuyến cáo dùng nếu quá 48 giờ sau phơi nhiễm

1.3 Tình hình HIV/SAIDS trên thế giới và tại Việt Nam

1.3.1 Trên thế giới

Từ ca đầu tiên được phát hiện vào năm 1982 tại Mỹ, đến nay hiểm họa đại dịch HIV/AIDS vẫn còn là mối đe dọa cho nhiều quốc gia đã và đang phát triển Nhằm ngăn chặn tốc độ lây lan của HIV/AIDS, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã kêu gọi các quốc gia thành viên, các tổ chức xã hội đẩy mạnh các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS Tổ chức phòng chống

HIV/AIDS (UNAIDS) của Liên hợp quốc đã nhận định “Cuộc chiến chống lại AIDS hiện nay đang ở một ngã tư đường: hoặc là chúng ta làm từng

Trang 7

bước để đạt được các tiến bộ từ từ, hoặc là chúng ta hướng tất cả các sức mạnh về kiến thức, nguồn lực và cam kết của chúng ta chống lại dịch này

để đạt được kết quả nhanh hơn” [13]

Hội nghị thế giới về AIDS tổ chức tại Barcelona, Tây Ban Nha từ ngày 05 – 12/07/2002 với sự tham gia của 17.000 đại biểu từ 124 quốc gia

trên thế giới Với khẩu hiệu xuyên suốt là “Hiểu biết, cam kết để hành động” Hội nghị đã kêu gọi sự cam kết và hành động nhiều hơn của các nhà

lãnh đạo các quốc gia; kêu gọi sự đóng góp tiền của nhiều hơn của các nước giàu, các doanh nghiệp lớn; tổ chức tưởng niệm những người đã chết

do AIDS và kêu gọi quan tâm chăm sóc những người còn sống

Theo Tiến sỹ Peter Piot, Giám đốc điều hành UNAIDS: “Sự sỉ nhục

và phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS vẫn luôn là vật cản mênh mông đối với cuộc chiến đấu có hiệu quả chống lại HIV/AIDS - một dịch bệnh có tính huỷ diệt nhất mà nhân loại đã từng biết đến” và “Nếu không khắc phục được sự sỉ nhục và phân biệt đối xử này, AIDS sẽ gây tại hoạ cho thế kỷ 21 giống như chủ nghĩa phân biệt chủng tộc đã từng gây ra vào thế kỷ 20” [13]

Theo Báo cáo cập nhật tình hình dịch AIDS toàn cầu năm 2004 do Chương trình phối hợp về HIV/AIDS của Liên Hiệp Quốc (UNAIDS) và

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) công bố vào ngày 23/11/2004 vừa qua, cho thấy dịch HIV/AIDS đã “tấn công” và làm cho thế giới có thêm 4,9 triệu người có HIV mới (giao động từ 4,3 đến 6,4 triệu), trong đó 4,3 triệu là người lớn (giao động từ 3,7 – 5,7 triệu) và 570.000 – 750.000 là trẻ em dưới 15 tuổi Đồng thời có khoảng 3,1 triệu người chết do AIDS (giao động

từ 2,8 - 3,5 triệu) Có 103 quốc gia, lãnh thổ gởi báo cáo về tình hình HIV/AIDS về cho UNAIDS và WHO [13]

Trang 8

Nhìn chung tỷ lệ có HIV ở các châu lục rất khác nhau, từ dưới 1% (trong tổng số dân từ 15-49 tuổi) ở Mauiritania đến gần 50% ở Botswana

và Swaziland (Châu Phi) Đáng lưu ý là đến nay, khu vực Cận Sahara của Châu Phi vẫn là nơi bị HIV tấn công nặng nề nhất Đến cuối năm 2009, khu vực nầy có khoảng 22,5 triệu người có HIV/AIDS đang còn sống (dao động từ 25,9- 24,2 triệu), chiếm tỷ lệ 66,5% người có HIV/AIDS toàn thế giới Riêng trong năm 2009, số người có HIV mới ở đây khoảng 1,6 triệu đến 2 triệu người và đã có 1,3 triệu (dao động từ 1,1 – 1,5 triệu) chết do AIDS Hầu hết các quốc gia ở Châu Phi cứ 5 phụ nữ mang thai có 1 người

có HIV [13]

UNAIDS và WHO ước tính có 230.000 ca có HIV mới (giao động từ 180.000- 280.000 người và khoảng 23.000 đến 37.000 ca chết do AIDS trong năm 2003 tại các quốc gia Đông Âu và Trung Á Tổng số người có HIV/AIDS còn sống vào khoảng 1,5 triệu người (dao động từ 1,2 - 1,8 triệu người) Các vùng bị ảnh hưởng nặng nề nhất là Liên bang Nga, Ucraina, các nước vùng Ban tích (Estonia, Latvia, Lithuania), Belarus, Kazakistan, Năm 2009, khu vực Châu Đại Dương, tổng số người có HIV/AIDS còn sống ở khu vực này là 4.800 Ước tính trong năm 2009, có 36.000 người chết do AIDS tại khu vực này [13]

Riêng vùng Nam và Đông Nam Á (trong đó có Việt Nam) trong năm

2009 có từ 560.000 đến 1 triệu người có HIV mới và có khoảng từ 48.000 đến 140.000 người chết do AIDS Tổng số người có HIV/AIDS còn sống trong khu vực này vào khoảng 0,77 triệu (giao động từ 560.000 - 1 triệu)

Ở các quốc gia có thu nhập cao (Bắc Mỹ, Tây Âu, ) vẫn có khoảng 1,6 triệu người có HIV/AIDS đang còn sống trong đó có khoảng 80.000 ca

có HIV mới và gần 18.000 người chết

Trang 9

Vùng Châu Mỹ La tinh và Caribê đến nay có khoảng 1,4 triệu người

có HIV/AIDS còn sống, trong đó có khoảng 92.000 người (dao động từ 70.000 -120.000 người) có HIV mới trong năm 2009 Điều đáng lưu ý tất

cả 12 quốc gia tại đây đều có tỷ lệ có vượt mức 1% người lớn và có trên 2% phụ nữ mang thai có HIV tại các nước Dominica, Belize, Bahamas, Haiti, Guyana

Ngày 23/11/2010, Chương trình phối hợp của Liên hợp quốc về HIV/AIDS (UNAIDS) và Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã công bố Báo cáo toàn cầu năm 2010 về HIV/AIDS Báo cáo dựa trên các dữ liệu thu thập được từ 182 quốc gia, vùng lãnh thổ cùng với sự tham gia cung cấp thông tin của các tổ chức xã hội dân sự và nhiều nguồn khác Báo cáo cho thấy nhiều con số ấn tượng về ứng phó với HIV/AIDS trên p hạm vi toàn cầu tính đến năm 2009:

+ Số trường hợp nhiễm HIV bắt đầu giảm nhiều tại các nước bị dịch tấn công nặng nề nhất Cụ thể có 33 quốc gia có số người mới nhiễm HIV giảm hơn 25% trong giai đoạn từ 2001-2009, trong đó có 22 nước ở khu vực Cận Sahara, Châu Phi [13]

+ Mục tiêu loại bỏ hoàn toàn sự lây truyền HIV từ mẹ sang con vào năm 2015 là có thể đạt được Trong gần 10 năm qua, ước tính số trẻ dưới 5 tuổi mới nhiễm HIV đã giảm từ 500.000 (2001) xuống còn 370.000 (2009)

Trung Quốc

Theo một nghiên cứu điều tra của Ủy ban Kế hoạch hóa gia đình Trung Quốc phối hợp với Trung tâm phòng chống dịch tễ Mỹ (CDC) tiến hành cho thấy hiện nay còn rất nhiều người Trung Quốc không hề biết về nguyên nhân và con đường lây truyền HIV/AIDS Trong 7.000 người được phỏng vấn, bao gồm các nhóm có mức thu nhập thấp, trung bình và cao

Trang 10

Kết quả là 17% chưa bao giờ được nghe về căn bệnh này, đặc biệt là người nông dân Trong số những người biết về AIDS, 90% biết HIV có thể lây truyền từ người này qua người khác, nhưng 85% không biết HIV còn có thể lây truyền từ mẹ sang con Ngoài ra, kết quả điều tra còn cho thấy [13]:

- 85% người được phỏng vấn không biết dùng chung kim tiêm có thể lây truyền HIV

- 52% không biết truyền máu có thể lây truyền HIV

- Hơn 75% không biết bao cao su có thể phòng chống HIV

Tính đến cuối tháng 10 năm 2009, Trung Quốc có 319.877 trường hợp nhiễm HIV/AIDS, trong đó hơn 100.000 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS Tuy nhiên, theo báo cáo công bố ngày 18 tháng 5 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), một số bệnh viện đa khoa Trung Quốc từ chối chăm sóc, chữa trị cho bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS do lo ngại tác hại đến thanh danh của bệnh viện và hướng họ đến bệnh viện đặc trách bệnh truyền nhiễm [13]

Mỹ

Theo tờ Washington Post, tỷ lệ người có HIV trên 50 tuổi đã không ngừng tăng lên Năm 1997, người lớn tuổi chiếm 11% số người có phát hiện Năm 1998 – 1999, tỷ lệ tương ứng là 12,7% và 13,4%

Việc giáo dục luôn được coi là khâu then chốt trong dự phòng HIV/AIDS Tuy nhiên người cao tuổi vẫn là một bộ phận dân cư chưa được quan tâm đúng mức

Thailand

Trang 11

Theo Bộ Y tế Thailand, AIDS chứ không phải cơn đau tim hay tai nạn như người ta nghỉ trước đây là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở nứơc này Có đến 16% trong tổng số 20.000 ca tử vong năm 1998 tại 6 tỉnh là do AIDS và các biến chứng có liên quan Kể từ khi đại dịch xảy ra, gần 1 triệu trường hợp có HIV, trong đó có 300.000 người đã chết do AIDS [13]

Năm 2009, theo UNAIDS có 530.000 người (dao động từ 420.000 đến 660.000) sống với HIV, chiếm tỉ lệ 1,3% dân số cả nước Số chết do HIV/AIDS là 28.000 người (dao động từ 21.000 – 37.000) [13]

Malaisia

Số liệu do UNAIDS công bố năm 2010, cho thấy số người còn sống vơi HIV là 100.000 người (dao động từ 83.000 đến 120.000), số người chết

do HIV/AIDS là 5.800 người chỉ trong năm 2009

Số người báo cáo đã phát triển AIDS, 1.842 t rường hợp là cao nhất trong năm 2006, cũng giảm, báo cáo chỉ có 741 trường hợp mới trong năm

2009 Tỷ lệ thông báo HIV cũng tiếp tục giảm từ 23,4 trường hợp trên 100.000 năm 2005 lên 10,8 trường hợp trong năm 2009 [13]

Campuchia

Theo báo cáo của UNAIDS, năm 2009 có 630.000 người (dao động từ 42.000 đến 90.000) sống với HIV, chiếm tỉ lệ 0,5% dân số cả nước Số chết

do HIV/AIDS là 3.300 người (dao động từ 1.000 – 5.600) [13]

1.3.2 Tại Việt Nam

Theo báo cáo của Bộ Y tế, tính đến 30/12/2011, cả nước ta có 197.335 trường hợp có HIV được phát hiện và còn sống, trong đó có 48.720 ca chuyển qua giai đoạn AIDS còn sống và 52.325 ca tử vong [5]

Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác đấu tranh đại dịch nguy hiểm của thế kỷ XX và chắn chắn là trong thế kỷ XXI như triển khai

Trang 12

Chỉ thị 52/CT.TW về lãnh đạo công tác phòng chống AIDS; Luật p hòng chống AIDS ngày 29/2/2006; Chỉ thị 02/2003 ngày 24/02/2003 của Thủ tướng Chính phủ về Tăng cường công tác phòng chống HIV/AIDS [9] Thủ

tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn 2030” [8]

Theo đánh giá của Thủ tướng Chính phủ “Số người có HIV/AIDS tăng nhanh chủ yếu là do sự gia tăng của các tệ nạn xã hội, đặc biệt là mại dâm, ma tuý; sự phối hợp về phòng, chống HIV/AIDS giữa các Bộ, ngành, địa phương chưa chặt chẽ; sự nhìn nhận của cộng đồng đối với người có HIV/AIDS chưa đầy đủ; việc quản lý, chăm sóc, điều trị người bị có HIV/AIDS chưa vào nề nếp; công tác tuyên truyền về phòng, chống HIV/AIDS chưa được sâu rộng; các biện pháp phòng ngừa còn yếu, các hoạt động phòng, chống HIV/ AIDS ở cơ sở chưa thật sự hiệu quả.” [8] Nhận thức được tầm quan trọng của việc chống phân biệt đối xử với người có HIV/AIDS và hạn chế sự lan rộng của HIV/AIDS trong cộng

đồng Điều 8 của Luật phòng chống HIV/AIDS đã ghi: “Người có HIV/AIDS không bị phân biệt đối xử nhưng phải thực hiện các biện pháp phòng, chống lây truyền bệnh để bảo vệ sức khoẻ cộng đồng theo qui định của pháp luật” [10]

Mặt khác, Luật cũng qui định rõ trách nhiệm của gia đình đối với người có HIV/AIDS như: động viên tinh thần, quan tâm chăm sóc về sức khoẻ để người có HIV/AIDS vui khoẻ, sớm hoà nhập với cộng đồng

Gia đình cũng thực hiện các biện pháp phòng tránh lây có sang người khác trong gia đình và những người xung quanh (Điều 11, khoản 2 của Luật)

Trang 13

- Được sự hướng dẫn và hỗ trợ kỹ thuật của Văn p hòng thường trực phòng chống AIDS (Bộ Y tế), Trung tâm Sức khỏe công cộng và Phát triển (tổ chức phi chánh phủ của Việt Nam – CEPHAD) đã xây dựng dự án

“Thiết lập mô hình chăm sóc và hỗ trợ toàn diện cho người có HIV/AIDS ở Việt Trì, Phú Thọ” mới mục tiêu dài hạn là thành lập mô hình hỗ trợ và

chăm sóc toàn diện cho người có HIV/AIDS; giảm sự phân biệt đối xử với người có và gia đình họ; đóng góp cho công cuộc phòng, chống AIDS của Việt Nam

Tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XII, với hơn 80% đại biểu tán thành, Quốc hội đã thông qua 15 chương trình mục tiêu quốc gia, trong đó có Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống HIV/AIDS với 4 thành phần Tại lễ phát động tháng hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS, diễn ra từ ngày 10/11 đến 10/12/2010 tại thành phố Thái Nguyên, Phó thủ tướng Trương Vĩnh Trọng đã kêu gọi toàn dân tích cực tham gia các hoạt động của Tháng hành động, hướng tới hoàn thành mục tiêu thiên niên kỷ vào năm 2015

Trong vòng 5 năm trở lại đây, tỷ lệ người nhiễm HIV được báo cáo do lây nhiễm qua quan hệ tình dục không an toàn tăng dần theo từng năm Từ 12% năm 2004 lên 27% năm 2008 và tính đến ngày 31-12-2009, tỷ lệ này

là 29% Lây truyền HIV qua đường tình dục cũng có xu hướng gia tăng ở tất cả vùng, miền của Việt Nam

Trong năm 2009, tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, tỷ lệ này chiếm 68% số người nhiễm HIV Trong đó, một số tỉnh có tỷ lệ tăng cao tỉnh như Trà Vinh (98%), Kiên Giang (91%), Bạc Liêu và Cà Mau (cùng là 86%) Tỷ lệ người nhiễm HIV là trẻ em từ 0-13 tuổi cũng tăng dần từ 1,8 % năm 2008 lên 2,27% năm 2010

Trang 14

1.3.3.Tại tỉnh Cà Mau

Cho đến nay tất cả 9/9 Tp, huyện và 85% xã/phường/thị trấn thuộc thành phố đều phát hiện các trường hợp nhiễm HIV/AIDS Cao nhất là Tp

Cà Mau thứ hai là huyện Trần Văn Thời

Bảng 1.1 Tình hình nhiễm HIV/AIDS và tử vong từ 2005 – 2010 ở tỉnh Cà Mau (trong tỉnh)

Bảng 1.2: Tình hình có HIV/chết và mắc/100.000 dân tỉnh Cà Mau (năm 2010 và năm 2011) [30]

Trang 15

TT Huyện HIV/chết

31/12/2010

HIV/chết 31/12/2011

Tỷ lệ có/

100000 đến 31/12/2010

Tỷ lệ có/

100000 đến 31/12/2011

1.4 Đặc điểm kinh tế-xã hội của thị trấn Sông Đốc

Thị trấn Sông Đốc là một vùng ven biển, nước mặt quanh năm, nằm ở

phía Tây Nam của huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau Là một thị trấn

vùng sâu, sông ngồi chằng chịt, giao thông đi lại chủ yếu bằng đường thủy,

có chiều dài bờ biển 08 km, Hòn Chuối cách đất liền 18 Hải lý và cá ch

trung tâm huyện 20km trên đường giao thông chính Phần lớn người dân

nơi đây sống bằng nghề khai thác và nuôi trồng thủy sản; một số mua bán

và sản xuất nhỏ Đời sống kinh tế ở mức trung bình, trình độ dân trí có

phần hạn chế, là nơi tập trung có nhiều khách vãng lai làm thuê mướn và

đánh bắt thủy sản

Thị trấn Sông Đốc có tổng diện tích 3.349,17 ha, được chia làm 12

khóm, có 5.892 hộ với 32.118 khẩu, Phía Đông giáp Khánh Hưng, Phong

Điền, phía Tây giáp Biển Đông; phía Bắc giáp Khánh Hải; phía Nam giáp

Cái Nước Sông Đốc có nhiều điều kiện thuận lợi về địa lý và phát triển

kinh tế đi kèm theo với các dịch vụ trá hình như: Massa, quán cà p hê đèn

Trang 16

mờ, quán bia ôm… còn giới trẻ còn đua đòi ăn chơi trụy lạc, nhưng kiến thức và trí thức trong phòng chống HIV của người dân còn thấp

Tình trạng nhiễm HIV là cao nhất của huyện Trần Văn Thời có 94 người nhiễm chiếm 44,55%

Bảng 1.3 Tình hình có HIV/AIDS ở thị trấn Sông Đốc [29]

Tên khóm

lũy tích đến 31/12/2011

HIV/AIDS còn sống

Số mới phát hiện 2011

Lũy tích đến 31/12/2011

Đang quản lý

Không quản lý

- Tỷ lệ người nhiễm qua đường máu chiếm 6,3 %

- Tỷ lệ người nhiễm qua QHTD không an toàn 87,23 : %

- Tỷ lệ người nhiễm lây truyền qua đường mẹ con: 5,32 %

- Tỷ lệ nhóm tuổi ≤ 15 tuổi chiếm tỷ lệ : 5,32%

- Tỷ lệ nhóm tuổi từ 16 – 30 chiếm:34,04 %

- Tỷ lệ nhóm tuổi từ 31- 45 chiếm tỷ lệ:51,06 %

- Tỷ lệ nhóm tuổi từ >45 chiếm tỷ lệ:9,57 %

Trang 17

1.5 Một số nghiên cứu về HIV/AIDS

Một nghiên cứu của Phạm Văn Khứ tiến hành năm 2006 tại quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ cho thấy có 82,95% người dân có nghe nói về HIV/AIDS thông qua các nguồn thông tin là ti vi (39,1%), báo đài (26,9%), cán bộ y tế (23,50%) Có 3,5% biết đủ 3 đường lây của HIV/AIDS; 65,5% biết có thể phòng tránh HIV/AIDS; 64,2% biết đủ các biện pháp phòng lây nhiễm HIV/AIDS; 52% cho rằng không cần thiết phải cách ly người nhiễm HIV/AIDS; 60% đồng ý tạo điều kiện cho người nhiễm HIV/AIDS hòa nhập với cộng đồng; có 62,70% dám nói chuyện; 29,28% dám bắt tay; 13,78% dám ăn chung bàn; 11,87% dám ôm hôn, người nhiễm HIV/AIDS [15]

Nghiên cứu của Đặng Tuấn Đạt và cộng sự, Tìm hiểu kiến thức, thái

độ và hành vi về HIV/AIDS của cộng đồng dân cư ở thành p hố Buôn Ma Thuột Đắk Lắk, năm 2006 Kết quả hiểu biết đúng về tác nhân, đường lây, cách phòng HIV/AIDS: tương ứng 70,4%; 74,5%; 76,3%; Về thái độ chấp nhận, gia đình và cộng đồng không xa lánh và người sử dụng lao động không phân biệt đối với người nhiễm HIV/AIDS, tương ứng: 31,3%; 53%; 44,7%; 30,8%

Nghiên cứu về kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan t ới HIV và AIDS của Nguyễn Thị Vân Anh tại Cần Thơ, Hải Phòng năm 2003 Kết luận của cuộc nghiên cứu là cần và càng phải làm nhiều hơn nữa để đương đầu và giải quyết không chỉ những tác động mà cả những nguyên nhân gốc rễ của

sự kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan tới HIV/AIDS trong xã hội [3] Một điều tra cắt ngang được tiến hành tại tỉnh Ninh Thuận do Lê Trọng Lưu, Nguyễn Đỗ Nguyên thực hiện nhằm đánh giá mức độ kiến thức, thái độ, và thực hành về phòng chống HIV/AIDS của học sinh p hổ

Trang 18

thông trung học năm học 2003-2004 toàn tỉnh Kết quả cho thấy về p hòng chống HIV/AIDS, tỉ lệ học sinh có kiến thức đúng là 46,7%, thái độ đúng

Một khảo sát của Tổ chức Y tế thế giới về tình hình HIV/AIDS ở Cambodia (2005) cho thấy có 92,8% người có nghe nói về HIV/AIDS Nhưng chỉ có 28% biết tên vi rút gây ra HIV/AIDS [54]

Tổ chức Y tế thế giới tiến hành khảo sát về tình hình HIV/AIDS ở Laos (2005), cho thấy có 75% người có nghe nói về HIV/AIDS, trong đó 81% nhận được từ trường học

Trang 19

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Những gái hành nghề mại dâm đang sinh sống ít nhất 6 tháng tại huyện Trần Văn Thời, không phân biệt có hay không có hộ khẩu tại địa phương

Thời gian nghiên cứu từ tháng 01/2013 đến tháng 03/2013

2.1.1 Tiêu chuẩn chọn vào nghiên cứu

- Là những gái hành nghề mại dâm trên địa bàn thị trấn Sông Đốc

- Đồng ý tham gia nghiên cứu và cho lấy mẫu xét nghiệm

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Từ chối tham gia phỏng vấn

- Không làm xét nghiệm theo qui định

- Vắng mặt trong thời điểm điều tra 3 lần

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Luận văn được thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả

2

)1(z

n = 12- x /2 −

trong đó: z = là trị số phân phối chuẩn = 1,96 với α = 0,05

d = 0.05 (ngưỡng tin cậy 95%)

Trang 20

p = Tỷ lệ gái mại dâm có sử dụng bao cao su khi hành nghề chọn p=12% (0.12) theo nghiên cứu của tác giả Lại Kim Anh[1]

Ta có cở mẫu: n = 163 + 10% =180 Ở nghiên cứu này chúng tôi chọn tất cả gái mại dâm đang quản lý trên địa bàn là 200 đối tượng tham gia vào

cở mẫu tại thời điểm tiến hành nghiên cứu

2.2.3 Phương pháp và kỹ thuật chọn mẫu

Chọn đối tượng để điều tra:

Dựa vào danh sách các đối tượng gái hành nghề mại dâm độ tuổi từ 17-40 tuổi do đồng đẳng viên quản lý tại các khóm, chúng tôi chọn đưa vào danh sách phỏng vấn

2.2.4 Kiểm soát sai lệch do chọn lựa

- Nếu lần đầu đến không gặp, chiều hoặc hôm sau điều tra viên sẽ trở lại phỏng vấn, không được bỏ sót

2.2.5 Nội dung nghiên cứu

2.2.5.1 Nội dung chung

- Tuổi

Tuổi được chia thành 2 nhóm: dưới 30 tuổi và từ 30 tuổi trở lên

- Tình trạng hôn nhân, gia đình: có 3 giá trị

+ Đã lập gia đình: Là những người sống chung hợp p háp có hôn thú hoặc không có hôn thú nhưng được gia đình, họ hàng chấp nhận

+ Ly thân, ly dị, góa: Không sống chung với chồng hoặc vợ

+ Chưa lập gia đình

- Trình độ học vấn

Trình độ học vấn chia làm 2 nhóm:

+ Nhóm 1: Bao gồm những người mù chử và trình độ học vấn cấp I

Trang 21

+ Nhóm 2: Bao gồm cấp II, cấp III, cao đẳng và đại học trở lên

- Đặc điểm hành nghề: có 3 giá trị

Mại dâm đường phố; mại dâm ở quán nhậu, nhà hàng và mại dâm ở nhà, phòng trọ

- Địa điểm hành nghề: có 4 giá trị

Trong tỉnh; trong huyện; trong thị trấn và ngoài tỉnh

- Lý do hành nghề: có 6 giá trị

Thiếu tiền; Buồn do gia đình; Thất tình; Ưa thích; lý do khác và không trả lời

- Thời gian hành nghề: có 3 giá trị

Dưới 1 năm; từ 1-5 năm; trên 5 năm

Kiến thức về phòng lây nhiễm HIV/AIDS cho cộng đồng

- Có nghe nói về HIV/AIDS: Là biến số không liên tục có 2 giá trị có

hoặc không

- Biết đường lây của HIV/AIDS

+ Kiến thức đúng: Khi trả lời là quan hệ tình dục bừa bải; qua đường tiêm chích; mẹ truyền qua con

+ Sai: Khi trả lời không đầy đủ, trả lời nội dung khác hoặc không biết

- Biết dấu hiệu nghi nhiễm HIV/AIDS

+ Kiến thức đúng: Khi trả lời ít nhất 3 dấu hiệu: bị sụt cân trên 10kg; thân thể lở loét; tiêu chảy kéo dài; miệng họng có nấm

+ Sai: Khi trả lời đúng 1-2 câu, trả lời nội dung khác hoặc không biết

- Biết bệnh lây truyền qua đường tình dục

Trang 22

+ Kiến thức đúng: Khi trả lời ít nhất 3 bệnh (HIV, giang mai, mồng

gà, lậu)

+ Sai: Khi trả lời đúng < 3 bệnh, trả lời nội dung khác hoặc không biết

- Biết HIV/AIDS có thể phòng tránh được: có 2 giá trị có hoặc không

- Biết biện pháp phòng nhiễm HIV/AIDS

+ Kiến thức đúng: Khi trả lời là không quan hệ tình dục bừa bãi; không dùng bơm tiêm chung; mẹ nhiễm HIV không sinh con, quan hệ có bao cao su

+ Sai: Khi trả lời không đầy đủ, trả lời nội dung khác hoặc không biết

- Biết không sử dụng những dịch vụ công cộng

+ Kiến thức đúng: Khi trả lời là không sử dụng các dịch vụ công cộng (cắt móng tay, xâm mình, )

+ Sai: Khi trả lời có sử dụng hoặc không biết

- Biết HIV/AIDS có ảnh hưởng đến sức khỏe

+ Kiến thức đúng: Khi trả lời là có ảnh hưởng

+ Sai: Khi trả lời không có hoặc không biết

- Các nguồn truyền thông

Là biến số không liên tục có 2 giá trị có hoặc không Các nguồn truyền thông gồm: Tivi; sách, báo; Loa truyền thanh xã; Cán bộ y tế; đồng đẳng viên; Các đoàn thể; bạn bè và khác

Thực hành về dự phòng nhiễm HIV/AIDS cho cộng đồng

- Nhóm khách quen và lạ khi quan hệ tình dục

Có 2 giá trị có hoặc không

- Có sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục với khách quen

Trang 23

+ Thực hành đúng: Khi có sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục + Thực hành sai: Khi không sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục

- Có sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục với khách lạ

+ Thực hành đúng: Khi có sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục + Thực hành sai: Khi không sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục

- Sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục với chồng hay bạn tình

+ Thực hành đúng: Khi có sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục + Thực hành sai: Khi không sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục

- Có yêu cầu sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục với khách

+ Thực hành đúng: Có yêu cầu sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục

+ Thực hành sai: Không yêu cầu sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục

Thực hành khám và điều trị các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục

- Có đi khám bệnh

+ Thực hành đúng: Khi có đi khám bệnh

+ Thực hành sai: Khi không đi khám bệnh

- Có tuân thũ điều trị khi bị nhiễm HIV

+ Thực hành đúng: Khi có tuân thủ điều trị

+ Thực hành sai: Khi không tuân thủ điều trị

- Biện pháp xử trí khi bị nhiễm HIV

+ Thực hành đúng: Khi đến cơ sở y tế để tư vấn, điều trị; ngừng quan

hệ tình dục hoặc mang bao cao su khi quan hệ tình dục

Trang 24

+ Thực hành sai: Khi không thực hiện 3 công việc trên hoặc làm những công việc khác

- Tiếp tục hành nghề

Có 3 giá trị: Tiếp tục; Tìm nghề khác và không có ý kiến

Kết quả xét nghiệm HIV

Có 2 giá trị: Dương tính hay âm tính

2.2.5.2 Nhân sự tham gia điều tra

- Nhóm điều tra viên: gồm 3 người:

+ 01 người dẫn đường: đồng đẳng viên

+ 01 cộng tác viên

+ 01 xét nghiệm viên lấy máu

- Giám sát viên: 01 người chịu trách nhiệm giám sát

2.2.5.3 Công cụ thu thập số liệu

- Là bộ câu hỏi được thiết kế sẵn nhằm thu thập các biến số về kiến thức-thực hành của nhóm gái hành nghề mại dâm về phòng lây nhiễm HIV/AIDS

2.2.5.4 Phương pháp thu thập

- Phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu Những người vắng, điều tra viên sẽ quay lại vào buổi chiều Thời gian phỏng vấn trung bình 15 phút

2.2.5.5 Kiểm soát sai lệch thông tin

- Sai lệch thông tin của điều tra viên

+ Tập huấn thật kỹ lưởng, thống nhất về nội dung, kỹ thuật phỏng vấn

Trang 25

+ Tổ chức điều tra thử để rút kinh nghiệm sau khi tập huấn Sau điều tra thử sẽ hiệu chỉnh lại bộ câu hỏi trước khi in chính thức

- Sai lệch thông tin của đối tượng nghiên cứu

+ Định nghĩa rỏ ràng đối tượng cần khảo sát căn cứ tiêu chí đưa vào

và tiêu chí loại ra Để khắc phục sai lệch chọn lựa có thể xảy ra với những đối tượng vắng mặt trong khi thu thập dữ kiện, tất cả những đối tượng nghiên cứu đều được phỏng vấn, có nghĩa là nếu một đối tượng vắng mặt lúc phỏng vấn sẽ được hẹn để phỏng vấn vào ngày hôm sau

+ Cán bộ điều tra được tập huấn kỹ lưỡng, chi tiết từng nội dung, yêu cầu cần thu thập và kèm theo cẩm nang hướng dẫn cho người p hỏng vấn, đặc biệt chọn thời gian thích hợp để điều tra

+ Khi phỏng vấn nên ưu tiên chọn những thông tin do đối tượng cung cấp

+ Cần giải thích yêu cầu cần thu thập để đối tượng trả lời chính xác + Kiểm tra tính hoàn tất của từng bộ câu hỏi ngay sau khi phỏng vấn + Chất lượng thông tin được kiểm soát bởi các giám sát viên

- Điều tra thử 5 gái mại dâm để rút kinh nghiệm sau khi tập huấn

- Sau điều tra thử sẽ hiệu chỉnh lại bộ câu hỏi trước khi in chính thức

2.2.6 Xử lý và phân tích số liệu

- Mỗi phiếu điều tra sau khi p hỏng vấn xong sẽ được kiểm tra ngay về tính hoàn tất và tính phù hợp Những phiếu không hoàn tất hoặc không phù hợp sẽ được phỏng vấn lại Nếu cần thiết, sẽ loại bỏ các phiếu có nhiều thông tin bị mất Trong trường hợp này sẽ tiến hành phỏng vấn thêm để đạ t

cở mẫu

Trang 26

- Các phiếu điều tra được mả hóa và nhập vào máy vi tính Sử dụng phần mềm EPI data để nhập liệu và Stata 10 để xử lý và phân tích

Phân tích dữ kiện:

+ Đặc tính mẫu nghiên cứu: Tính tỷ lệ phần trăm các đặc tính của đối tượng được phỏng vấn là gái hành nghề mại dâm (tuổi, giới tính, trình độ học vấn, ….)

+ Tính tần số tỷ lệ những có kiến thức và thực hành phòng, chống HIV của gái hành nghề mại dâm

Khảo sát mối liên quan có ý nghĩa về mặt thống kê giữa tuổi, giới tính, trình độ học vấn, các nguồn thông tin, kiến thức và thực hành phòng, chống HIV của nhóm gái hành nghề mại dâm bằng tỉ số chênh OR (KTC 95%) với mức ý nghĩa p < 0,05

Trang 27

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc tính chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Đặc tính chung của đối tượng nghiên cứu (n= 200)

- Đối tượng nghiên cứu có tuổi dưới 30 chiếm 76%, từ 30 tuổi trở lên chiếm 24% Tuổi nhỏ nhất 18 (8 người), lớn nhất 39 (2 người), bình quân 25,6 tuổi

- Về trình độ học vấn, 14% mù chử; 51% tiểu học; 21,5% trung học cơ sở; 12,5% trung học phổ thông và 1% đại học

- Về tình trạng hôn nhân, 15,5% đã có gia đình; 31,5% góa, li dị và 53% còn độc thân

Trang 28

Bảng 3.2: Phân loại và địa điểm hành nghề (n= 200)

Phân loại hành nghề mại Mại dâm đường phố 11 5,5

Lý do hành nghề mại dâm Thiếu tiền tiêu xài 57 28,5

Buồn chuyện gia đình 83 41,5

Trang 29

3.2 Kiến thức và thực hành đúng phòng nhiễm HIV của gái mại dâm

và các yếu tố liên quan

3.2.1 Kiến thức phòng đúng nhiễm HIV/AIDS

Bảng 3.4 Biết nguyên nhân nhiễm HIV (n= 200)

Biết đường lây nhiễm HIV QHTD với nhiều người 158 79

Mẹ nhiễm HIV truyền qua 40 20 con khi sinh

Ôm, hôn, ăn, tắm chung 27 13,5

- Có 97,5% có nghe nói về HIV

- Về đường lây nhiễm HIV, 73,5% biết do quan hệ tình dục với nhiều người; 49% do dùng bơm, kim tiêm chung; 20% do mẹ nhiễm HIV truyền qua con khi sinh; 13,5% ôm, hôn, ăn, tắm chung; 1% do muỗi chích; 10% không biết Có 9,5% có kiến thức đúng và 90,5% có kiến thức sai

Trang 30

Biểu đồ 3.1 Nhận biết các dấu hiệu nghi nhiễm HIV

Trang 31

Bảng 3.6 Biết HIV có thể phòng ngừa (n= 200)

- Có 70,5% biết HIV có thể phòng tránh được

- Có 31,5% có kiến thức đúng về các biện pháp phòng tránh HIV

Biểu đồ 3.2 Biết các biện pháp phòng nhiễm HIV

Trang 32

Bảng 3.7 Biết các dịch vụ tại công cộng có nguy cơ lây nhiễm HIV (n= 200)

82% biết nhiễm HIV ảnh hưởng đến sức khỏe

Bảng 3.9 Biết quan hệ tình dục nhiều người có nguy cơ nhiễm HIV (n= 200)

Quan hệ tình dục nhiều người Có nguy cơ 166 83

Nhận xét:

Có 83% biết quan hệ tình dục nhiều người có nguy cơ lây nhiễm HIV

Trang 33

Bảng 3.10 Các nguồn thông tin về HIV

Các nguồn thông tin chính là đồng đẳng viên, ti vi, người nhà, loa, cán

bộ y tế

3.2.2 Thực hành phòng nhiễm HIV/AIDS của gái mại dâm

Bảng 3.11 Thời gian hành nghề (n= 200)

Thấp nhất 1 năm, 1- 5 năm 123 61,5

nhiều nhất 14 năm Trên 5 năm 42 21

Nhận xét:

- 18,5% hành nghề dưới 1 năm; 61,5% từ 1-5 năm và 21% trên 5 năm

- 45% thời gian hành nghề liên tục và 55% hành nghề bị ngắt hoãn

Trang 34

Bảng 3.12 Phân biệt khách làng chơi (n= 200)

Có 42% có phân biệt khách quen, khách lạ và 58% không có phân biệt

Bảng 3.13 Sử dụng bao cao su khi quan hệ với khách quen(n= 200)

Có 45,5% có thực hành đúng khi dùng BCS để QHTD với khách quen

Biểu đồ 3.3 Sử dụng BCS khi quan hệ tình dục với khách lạ

Trang 35

Bảng 3.15 Tần suất đi khách trung bình mỗi ngày (n= 200)

3.2.3 Thực hành khám điều trị các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục

Biểu đồ 3.3 Có đi khám bệnh lây qua đường sinh dục

Ngày đăng: 22/08/2023, 18:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w