VÕ VIỆT XUÂN NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC, HÀNH VI VỀ DỰ PHÒNG CẬN THỊ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ QUẬN THỐT NỐT LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP I Hướng dẫn khoa học PGs... Ở các địa p
Trang 1VÕ VIỆT XUÂN
NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC, HÀNH VI
VỀ DỰ PHÒNG CẬN THỊ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
QUẬN THỐT NỐT
Trang 2VÕ VIỆT XUÂN
NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC, HÀNH VI
VỀ DỰ PHÒNG CẬN THỊ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
QUẬN THỐT NỐT
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP I
Hướng dẫn khoa học PGs Ts ĐÀM VĂN CƯƠNG
CẦN THƠ, 2012
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 4MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG iv
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tật cận thị 3
1.1.1 Định nghĩa tật cận thị 3
1.1.2 Nguyên nhân của cận thị 3
1.1.3 Triệu chứng lâm sàng của cận thị 5
1.1.4 Phân loại cận thị 6
1.1.5 Điều chỉnh cận thị 7
1.2 Tổng quan tình hình cận thị 7
1.2.1 Tình hình cận thị trên thế giới 7
1.2.2 Tình hình cận thị tại Việt Nam 8
1.3 Các nghiên cứu về cận thị 10
1.3.1 Các nghiên cứu về cận thị trên thế giới 10
1.3.2 Các nghiên cứu về cận thị ở Việt Nam 18
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.1.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 27
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 27
2.1.3 Tiêu chuẩn chọn vào 27
2.2 Phương pháp nghiên cứu 27
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 27
2.2.2 Cỡ mẫu 27
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu 28
Trang 52.3 Xử lý và phân tích số liệu 32
2.4 Đạo đức trong nghiên cứu 33
Chương 3 DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
3.1 Đặc tính mẫu nghiên cứu 34
3.1.1 Đặc tính chung 34
3.1.2 Tình hình mắc cận thị 36
3.2 Kiến thức về các yếu tố nguy cơ chính của cận thị 40
3.2.1 Biết về các yếu tố nguy cơ chính của cận thị 40
3.2.2 Các nguồn cung cấp kiến thức về phòng ngừa cận thị 41
3.2.3 Kiến thức về phòng ngừa cận thị 41
3.4 Thực hành về phòng ngừa mắc cận thị 42
Chương 4 BÀN LUẬN 49
4.1 Những đặc tính chung của mẫu nghiên cứu 49
4.2 Tình hình cận thị 50
4.3 Kiến thức, thái độ và hành vi về dự phòng cận thị ở học sinh trung học cơ sở quận Thốt Nốt 55
4.4 Mối liên quan 61
4.4.1 Mối liên quan giữa cận thị với các đặc tính của mẫu 61
4.4.2 Mối liên quan thực hành dự phòng cận thị với bị cận thị 61
KẾT LUẬN 65
KIẾN NGHỊ 67
Phụ lục 1: Bảng câu hỏi 7
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Trang Bảng 1: Phân loại về tật khúc xạ (cận thị) của Tổ chức Y tế thế giới áp dụng ở
Bảng 3.2 Nghề nghiệp của cha mẹ đối tượng nghiên cứu (n = 427) 35
Bảng 3.8 Học sinh bị cận thị phân theo địa dư nơi trường học 38
Bảng 3.14 Tỷ lệ học sinh được cha mẹ nhắc nhở phòng ngừa cận thị 41
Bảng 3.18 Có chú ý giữ khoảng cách giữa mắt và sách vở không quá gần khi
Bảng 3.19 Có chú ý giữ khoảng cách giữa mắt và tivi, màn hình vi tính 43Bảng 3.20 Thời gian đọc sách, truyện, sử dụng vi tính liên tục không nghỉ 44Bảng 3.21 Học sinh bị mắc cận thị phải đeo kính những lúc nào 44Bảng 3.22 Học sinh đã bị cận thị mới khám mắt < 1 năm 45
Trang 7Bảng 3.25 Mối liên quan giữa cận thị với các đặc tính của mẫu 46Bảng 3.26 Mối liên quan giữa thực hành phòng ngừa với cận thị 47
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách về chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân nói chung, học sinh, sinh viên nói riêng; đã đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho sức khoẻ cộng đồng
Tình trạng sức khoẻ, bệnh tật của trẻ em cũng chịu ảnh hưởng bởi sự phát triển kinh tế xã hội Tình hình sức khoẻ của trẻ em luôn có ý nghĩa quan trọng trong việc hoạch định các kế hoạch, lựa chọn các giải pháp thiết thực nhằm nâng cao sức khoẻ học sinh, đặc biệt tật khúc xạ ngày càng gia tăng, trên thực tế đó từ năm 2000 Bộ Y tế có ban hành các chính sách, văn bản hướng dẫn thực hiện việc phòng, chống các bệnh tật học đường, nhưng việc thực hiện không theo kịp diễn biến phức tạp của bệnh tật học đường [2]
Lê Thị Thanh Xuyên và cộng sự (2009) qua nghiên cứu cho thấy có 39,35% học sinh ở thành phố Hồ Chí Minh mắc tật khúc xạ, trong đó cận thị chiếm 96,5%; tỷ lệ cận thị theo cấp lớp là 29,86% (tiểu học), 46,11% (trung học
cơ sở) và 43,63% (trung học phổ thông), qua đó cho thấy tỷ lệ cận thị tăng dần theo cấp học [31]
Tại lễ mít-tinh chào mừng Ngày Thị giác thế giới 13/10 với chủ đề
“Mắt sáng cho em” tổ chức sáng 4/10/2011 tại Hà Nội, bà Vũ Thị Thanh - Giám đốc BV Mắt Hà Nội cho biết, tình trạng cận thị học đường tập trung ở khu vực nội đô đang trở thành một vấn đề đáng báo động của Hà Nội với khoảng 500.000 học sinh thủ đô mắc tật khúc xạ, chủ yếu mắc tật cận thị
Trong thời gian 10 năm (từ năm 1998 đến 2009), tỷ lệ học sinh mắc tật khúc xạ ở các bậc học tăng khoảng 2 lần Ở các địa phương khác, tỷ lệ học sinh bị cận thị cũng rất cao Nghiên cứu của BV Mắt Tp HCM năm 2006 cho thấy, tỷ lệ mắc tật khúc xạ của học sinh thành phố là 38,8% Nghiên cứu của Đại học Y Thái Nguyên năm 2007 cho thấy tỷ lệ mắc là 11,52% Năm 2008,
Trang 9BV Mắt TƯ đã điều tra về tật khúc xạ ở học sinh phổ thông ở 3 tỉnh Hà Tĩnh, Hải Phòng, Đà Nẵng cho thấy, tỷ lệ mắc ở học sinh là 26,4% Trong đó, tiểu học là 18,67%, THCS là 23,47%, THPT là 32,68%, tỷ lệ tật khúc xạ ở học sinh thành thị là 26,9%, nông thôn là 14,4%
Vì vậy, chúng tôi đặt câu hỏi tỷ lệ thực tế bị cận thị của học sinh THCS tại quận Thốt Nốt như thế nào? Và các yếu tố nào liên quan đến kiến thức của học sinh về cận thị? Và hiện tại chưa có một nghiên cứu nào về mức độ hiểu biết của học sinh đối với cận thị tại quận Thốt Nốt
Do đó, tôi chọn vấn đề sức khoẻ của địa phương: “Nghiên cứu kiến
thức, hành vi về dự phòng cận thị của học sinh trung học cơ sở quận Thốt Nốt” nhằm các mục tiêu:
1 Xác định tỷ lệ học sinh trung học cơ sở bị cận thị tại quận Thốt Nốt;
2 Xác định tỷ lệ kiến thức, hành vi về phòng ngừa cận thị ở học sinh trung học cơ sở quận Thốt Nốt;
3 Xác định một số yếu tố liên quan về phòng ngừa cận thị ở học sinh
trung học cơ sở quận Thốt Nốt
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tật cận thị
1.1.1 Định nghĩa tật cận thị
Là mắt có hội tụ quá mạnh đối với chiều dài của mắt, vì thế các tia sáng song song vào mắt sẽ hội tụ trước võng mạc Hay nói cách khác mắt cận thị có tiêu điểm sau ở trước võng mạc [11] Mắt cận thị có thể nhìn rõ các vật ở gần nhưng lại không nhìn rõ các vật ở xa [5]
Mắt cận thị có viễn điểm (R) ở một cự ly trước mắt (gần hơn +), cận thị càng nặng viễn điểm càng gần mắt 1/R = độ cận thị [11]
Cận điểm (P) của mắt cận thị cũng gần hơn so với mắt chính thị
Biên độ điều tiết : A = 1/P – 1/R [11]
1.1.2 Nguyên nhân của cận thị
- Cận thị trục: Nguyên nhân thông thường nhất là mất quân bình giữa
chiều dài mắt và công suất hội tụ của mắt Nhưng hai chỉ số này vẫn còn trong giới hạn bình thường Loại này gọi là cận thị đơn thuần Thường hay bắt đầu ở tuổi bắt đầu đi học và thường cận dưới -6D, không có tổn thương thực thể mắt [11]
- Cận thị bệnh lý: Chiều dài mắt dài quá giới hạn bình thường Cận
nặng trên -6D thường là -20D đến -30D, kèm tổn thương thực thể ở mắt Thường ở nữ nhiều hơn nam, có tính di truyền (thể lặn) và thường ở một vài sắc tộc như Trung Quốc, Do Thái, Ả Rập, Trung Âu, Đông Âu [11]
- Cận thị độ cong: Thường hiếm gặp, thể do giác mạc quá cong như
trong bệnh giác mạc hình chóp hoặc do thủy tinh thể quá cong như thủy tinh thể chóp trước và chóp sau [11]
Trang 11- Cận thị do chỉ số khúc xạ: Trên thực tế sự thay đổi chỉ số khúc xạ
thủy dịch và dịch kính không đủ gây thay đổi khúc xạ mắt Sự thay đổi chỉ số khúc xạ thủy tinh thể gây cận thị rõ rệt như trong tình trạng giảm chỉ số khúc xạ lớp vỏ thủy tinh thể ở bệnh tiểu đường, tăng chỉ số khúc xạ thủy tinh thể trong giai đoạn khởi đầu bệnh đục thủy tinh thể [10]
Cận thị có thể là do di truyền hoặc mắc phải do mắt phải làm việc ở khoảng cách gần quá nhiều Cận thị di truyền thường phát hiện ở trẻ em khi chúng từ 8 đến 12 tuổi Quãng tuổi từ 10 đến 20, khi cơ thể phát triển nhanh chóng thì mắt cũng ngày càng dài ra và cận thị cũng tiến triển nhanh Từ 20 đến 40 tuổi, thường thì độ cận thị ít thay đổi [5]
Ngoài ra, còn có một số yếu tố liên quan đến vệ sinh học đường cũng có thể dẫn đến tình trạng mắc tật cận thị ở học sinh như:
- Ánh sáng: Ánh sáng thiếu hoặc chiếu sáng không hợp lý trong quá trình
học cũng gây nên tình trạng mệt mõi thị lực, từ đó có thể dẫn đến cận thị [15]
Đối với chiếu sáng tự nhiên: Phòng học phải được chiếu sáng tự nhiên đầy đủ, tổng số diện tích các cửa được chiếu sang không dưới 1/5 diện tích phòng học Đối với chiếu sáng nhân tạo: bóng đèn neon thì treo 6 – 8 bóng, mỗi bóng dài 1,2m Các bóng đèn treo ở độ cao cách mặt bàn học 2,8m [2]
- Bàn ghế: Bàn ghế có kích thước không phù hợp với tầm vóc của học
sinh, cách sắp xếp bàn ghế ở lớp học sai qui cách cũng có thể dẫn đến tình trạng mắc cận thị ở học sinh
Chỉ số bàn ghế phù hợp như sau :
Các chỉ số (cm) Cỡ bàn và ghế
Hiệu số chiều cao giữa
+ Loại I giành cho học sinh có chiều cao cơ thể từ 1,00m đến 1,09m
Trang 12+ Loại II giành cho học sinh có chiều cao cơ thể từ 1,10m đến 1,19m + Loại III giành cho học sinh có chiều cao cơ thể từ 1,20m đến 1,29m + Loại IV giành cho học sinh có chiều cao cơ thể từ 1,30m đến 1,39m + Loại V giành cho học sinh có chiều cao cơ thể từ 1,40m đến 1,54m + Loại VI giành cho học sinh có chiều cao cơ thể từ 1,55m trở lên Bàn học thích hợp nhất là loại bàn 2 chỗ ngồi, mỗi chỗ ngồi rộng không dưới 0,5m Ghế học phải rời với bàn và có thành tựa Cách kê bàn ghế trong phòng học: Bàn đầu đặt cách bảng từ 1,7m đến 2m Bàn cuối cùng cách bảng không quá 8m [2]
- Tư thế sai khi học: Cúi gầm sát sách vở, nhìn gần, quỳ hay nằm học
bài ở nhà,…
1.1.3 Triệu chứng lâm sàng của cận thị
Triệu chứng chính là giảm thị lực nhìn xa Người cận thị thường nheo mắt để nhìn rõ hơn Do thường nheo mắt nên dễ gây mệt mõi mắt, nhức đầu Khi không mang kính điều chỉnh thì người cận thị thường đọc sách với cự ly rất gần nếu cận thị cao độ [11]
Khi nhìn gần, mắt ta phải điều tiết để nhìn vật cho rõ Khi đó, thể thuỷ tinh của mắt căng phồng lên để đưa ảnh của vật hội tụ trên võng mạc Khi nhìn xa, mắt giảm điều tiết, thể thuỷ tinh lại xẹp xuống Bình thường, khoảng cách thích hợp khi làm việc gần từ mắt đến sách vở hoặc máy vi tính là 33 đến 40 cm Nếu mắt phải làm việc ở khoảng cách gần liên tục nhiều giờ trong ngày, nhiều ngày liền trong tháng, đặc biệt là trong điều kiện thiếu ánh sáng thì thể thuỷ tinh của mẳt luôn luôn ở trong tình trạng phải điều tiết, luôn bị căng phồng gây nên tình trạng mệt mõi, căng cứng điều tiết Nếu mắt không được nghỉ ngơi, đến một lúc nào đó thể thuỷ tinh bị căng cứng không thể xẹp xuống được nữa, lực điều tiết của con mắt luôn duy trì ở mức quá mạnh, lúc
Trang 13đó mắt đã trở thành cận thị Đó chính là tật cận thị mắc phải hay ta thường gọi là cận thị học đường [5]
Đối với cận thị bệnh lý thì ngoài các triệu chứng trên bệnh nhân còn có những tổn thương thực thể ở nhãn cầu và khi điều chỉnh kính thị lực vẫn không đạt được tối đa Gai thi to, hình bầu dục, phai màu Có liềm cận thị màu trắng đục ở bờ thái dương Teo hắc võng mạc tọa những đốm sắc tố rải rác khắp đáy mắt Đôi khi đốm sắc tố ở vùng hoàng điểm (đốm Fuch) gây giảm thị lực trầm trọng Củng mạc dãn tạo thành u lồi Thủy tinh dịch bị thoái hóa sợi, bong thủy tinh dịch sau [11]
Những tổn thương này có thể gây những biến chứng nặng như huyết khối hắc mạc, xuất huyết thủy tinh dịch, bong võng mạc, đục thủy tinh thể [11] Cận thị không chỉ gây khó khăn cho việc học tập, làm việc mà khi bị cận thị nặng sẽ có nguy cơ mắc nhiều biến chứng như vẩn đục dịch kính (mắt nhìn thấy nhiều vật lơ lửng như ruồi bay trước mắt) hoặc bong võng mạc gây mù
Do vậy, người bị cận thị cần đi khám bác sỹ mắt định kỳ để theo dõi các thay đổi ở võng mạc mắt cận Nếu đã bị bong võng mạc, cần phải được điều trị càng sớm càng tốt bằng phẫu thuật ở các trung tâm nhãn khoa lớn trong nước [5]
1.1.4 Phân loại cận thị
Bảng 1: Phân loại về tật khúc xạ (cận thị, viễn thị, loạn thị) của Tổ chức
Y tế thế giới áp dụng ở cộng đồng [5]
Trang 141.1.5 Điều chỉnh cận thị
Mắt cận thị phải dùng kính cầu phân kỳ có công suất thích hợp Thấu kính được đặt trước mắt với điều kiện để cho tiêu điểm của kính trùng với viễn điểm của mắt được điều chỉnh [12]
1.2 Tổng quan tình hình cận thị
1.2.1 Tình hình cận thị trên thế giới
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, hiện nay có khoảng 2,3 tỷ người trên thế giới có tật khúc xạ ( tỷ lệ cân thị trên 96% ), trong đó chỉ 1,8 tỷ người trong số này được chỉnh kính Số còn lại, khoảng 153 triệu người đang bị mù hoặc loà
do cận thị, chủ yếu sống ở các nước đang phát triển (1/3 ở châu Phi) và nhiều trẻ em cũng không được chỉnh kính [5]
Châu Á là nơi có tỷ lệ mắc tật khúc xạ cao nhất thế giới và có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây Ước tính riêng ở Trung Quốc có đến 300 triệu người có tật khúc xạ [5]
Tỷ trọng gây mù do tật khúc xạ rất khác nhau ở các nước, cao tới 8,2% ở Hàn Quốc, 14% ở Đài Loan, 12,1% ở Hồng Kông, 22,4% ở Phi-lip-pin, nhưng lại thấp chỉ 1- 4% như ở Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Malaysia [5]
Mới đây, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Tổ chức Quốc tế về Phòng chống mù lòa (IAPB) đã nhất trí xác định tật khúc xạ chưa được chỉnh kính đã và đang là một nguyên nhân đáng kể gây mù và là nguyên nhân chủ yếu gây giảm thị lực Do đó, vấn đề cận thị chưa được chỉnh kính đã được nghiên cứu xem xét nghiêm túc để đưa vào chương trình Phòng chống mù lòa nhằm hướng tới mục tiêu “Thị giác 2020: Quyền được nhìn thấy” Tổ chức Y tế thế giới đã xây dựng những chiến lược cụ thể để loại trừ căn nguyên gây mù lòa có thể phòng tránh này bằng một can thiệp rất đơn giản là chỉnh, cấp kính cho bệnh nhân Để giúp các quốc gia giải quyết vấn đề mù loà và giảm thị lực do cận thị gây ra, các tổ chức quốc tế này đang hợp tác với các tổ chức phi chính phủ
Trang 15quốc tế (INGO) có kinh nghiệm hoặc đang có chương trình phòng chống mù lòa do tật khúc xạ như Trung tâm quốc tế về đào tạo Chăm sóc mắt (ICEE), Tổ chức Bảo vệ thị giác quốc tế (SSI), Hội bảo trợ người mù của đạo Tin lành (CBM), Tổ chức ORBIS và Hội đồng Thế giới về Chỉnh quang (WCO)
Bàn luận về tầm quan trọng của vấn đề tật khúc xạ chưa được chỉnh kính, Bác sỹ Catherine Le Gales Camus, trợ lý Tổng giám đốc Tổ chức Y tế
thế giới đã nói: “Những kết quả này đã nêu rõ sự nguy hại của vấn đề Loại
tổn thương thị lực thường gặp này không thể bị lãng quên lâu hơn nữa mà cần được coi là một nhiệm vụ cấp bách… Thiếu sự chỉnh và cấp kính thích hợp, hàng triệu trẻ em đang bị mất cơ hội học tập và nhiều người lớn bị mất khả năng lao động cùng với những hậu quả trầm trọng về kinh tế và xã hội Nhiều cá nhân và gia đình sẽ bị đẩy vào vòng xoáy đói nghèo hơn bởi vì họ không thể nhìn rõ” Số lượng những người bị mù và tổn thương thị lực do tật
khúc xạ chưa được chỉnh kính đã làm tăng gấp đôi gánh nặng mù lòa trên toàn thế giới [6]
Theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới vào năm 2002 có trên 161 triệu người trên thế giới có tổn hại thị giác, trong đó có 124 triệu người có thị lực thấp và 37 triệu người bị mù Con số trên chưa tính đến như những trường hợp tổn hại thị giác do tật khúc xạ Nếu tính cả những trường hợp tổn hại thị giác do tật khúc xạ không được điều chỉnh, con số trên toàn thế giới sẽ là 314 triệu người có tổn hại thị giác, trong đó có 45 triệu người bị mù Có tới 13 triệu trẻ em và 45 triệu người lớn bị tổn hại thị giác do tật khúc xạ [13]
1.2.2 Tình hình cận thị tại Việt Nam
Tại Việt Nam, nhu cầu sử dụng thị lực nhìn gần trong học tập và sinh hoạt trong cuộc sống hiện đại ngày càng tăng cao nên tỷ lệ cận thị cũng có chiều hướng tăng theo Một số nghiên cứu tại Ninh Bình (1997), Nam Định (1998),
Trang 16TPHCM (2003), Hà Nội (2008) cho thấy tỷ lệ cận thị ở học sinh các cấp học ở nông thôn khoảng từ 8,0 đến 15,1%, ở thành phố khoảng 25 – 35%
Nói đến trường học là nghĩ ngay đến vấn đề vệ sinh trường học Vệ sinh trường học là một môn khoa học, người ta đã quan tâm từ lâu Ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, vấn đề vệ sinh trường học lại càng được quan tâm tới nhiều khía cạnh khác nhau Yếu tố vệ sinh trường học có thể kể đến là: ánh sáng, kích thước bàn ghế, tư thế ngồi học và một số yếu tố bất lợi khác như: thời gian học, sử dụng máy vi tính, đọc truyện, …
Càng lên các lớp trên, số học sinh bị cận thị càng tăng, trong đó thành thị nhiều hơn nông thôn (theo điều tra của Viện Mắt Trung ương năm 2009, vùng nông thôn là 10 – 15%, ở thành thị là 25 – 35%) Cận thị đang có xu hướng gia tăng do chế độ học tập không hợp lý, thời gian làm việc của mắt quá nhiều: như đọc nhiều sách, truyện, xem ti vi, chơi game,… Đặc biệt kiến thức về tật khúc xạ của học sinh còn nhiều hạn chế, chế độ dinh dưỡng của các em chưa thật sự hợp lý làm ảnh hưởng đến cận thị
Cận thị ảnh hưởng đến kết quả học tập của các em, ảnh hưởng đến sinh hoạt thể dục thể thao, đặc biệt các em cận thị nhẹ có thị lực từ 6/10 đến 8/10 không chịu mang kính điều chỉnh góp phần làm cho tỷ lệ cận thị tăng lên
Trong điều kiện học tập thiếu thốn, không đảm bảo vệ sinh thị giác đều có thể tác động gây nên tật cận thị, các yếu tố môi trường như: học tập trong không gian chật hẹp, thiếu ánh sáng, thường xuyên tiếp xúc với màn hình vi tính, ti vi, sự thiếu hiểu biết về cận thị,… cũng góp phần tích cực đến việc phát sinh cận thị
Theo hội thảo “Mắt sáng học đường” do báo điện tử Giáo dục Việt Nam tổ chức vào sáng nay (24 – 12), tại Hà Nội báo cáo có 70% học sinh phát hiện mắc các bệnh về mắt, trong đó có 53% học sinh bị mắc cận thị, 17% học sinh bị loạn thị và tình trạng cận thị có chiều hướng gia tăng Nguyên
Trang 17nhân là do học tập căng thẳng, sự tiếp cận các phương tiện thông tin đại chúng chưa đúng cách như sử dụng internet và truyện tranh,…
Lê Thị Thanh Xuyên và cộng sự (2009) qua nghiên cứu cho thấy: tỷ lệ cận thị gia tăng theo cấp học; vùng trung tâm có tỷ lệ cận thị cao hơn so với vùng cận trung tâm, ven và ngoại thành; tỷ lệ cận thị ở nữ cao hơn nam [31]
Trong thời gian 10 năm (từ năm 1998 đến 2009), tỷ lệ học sinh mắc tật khúc xạ ở các bậc học tăng khoảng 2 lần Ở các địa phương khác, tỷ lệ học sinh bị cận thị cũng rất cao Nghiên cứu của Bệnh viện Mắt Tp Hồ Chí Minh năm 2006 cho thấy, tỷ lệ mắc tật khúc xạ của học sinh thành phố là 38,8% Nghiên cứu của Đại học Y Thái Nguyên năm 2007 trên 8.527 học sinh tại 16 trường học các cấp từ tiểu học đến trung học cho thấy, tỷ lệ mắc tật khúc xạ là 11,52% Năm 2008, Bệnh viện Mắt TƯ đã điều tra về tật khúc xạ ở học sinh phổ thông ở 3 tỉnh Hà Tĩnh, Hải Phòng, Đà Nẵng trên tổng số 2.280 học sinh cho thấy, tỷ lệ mắc tật khúc xạ ở học sinh là 26,4% Trong đó, tiểu học là 18,67%, trung học cơ sở là 23,47%, trung học phổ thông là 32,68%, tỷ
lệ tật khúc xạ ở học sinh thành thị là 26,9%, nông thôn là 14,4%
Cận thị khiến bệnh nhân nhìn mờ, mỏi mắt, co quắp mi ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ của trẻ và chất lượng cuộc sống, ngoài ra cọn có thể gây lác mất sự phối hợp thị giác 2 mắt dẫn đến nhược thị một mắt Cận thị nặng có thể gây biến chứng bong võng mạc dẫn đến mù loà Và cận thị có thể chữa được Phương pháp đơn giản nhất là đeo kính thuốc, vừa an toàn, hiệu quả đem lại sự cải thiện to lớn về chức năng thị giác, vừa kinh tế, thuận tiện Bệnh nhân cần đến các trung tâm lớn, có uy tín để được khám, phát hiện kịp thời các giai đoạn cận thị và cấp đơn kính đúng số
1.3 Các nghiên cứu về cận thị
1.3.1 Các nghiên cứu về cận thị trên thế giới
Trang 18Matthew Wensor và cộng sự (1999) qua nghiên cứu ở tiểu bang Victoria, Úc cho thấy: Tỷ lệ cận thị giảm từ 24% ở những người tuổi từ 40 –
49 xuống còn 12% ở những người độ tuổi 70 – 79, và sau đó tăng lên 17% ở những người lớn tuổi hơn 80 tuổi Cận thị có mối liên quan có ý nghĩa với trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi sinh, và độ mờ đục hạt nhân [48]
Pik Pin Goh và cộng sự (2004) qua nghiên cứu tật khúc xạ ở trẻ em của quận Gombak, Malaysia cho thấy: Vấn đề giảm thị lực ở mắt, thì nguyên nhân do tật khúc xạ chiếm 87%, giảm thị lực 2,0%, nguyên nhân khác 0,6%, nguyên nhân không giải thích được là 10,4%, chủ yếu nghi nghờ là giảm thị lực Cận thị (hình cầu tương đương ít nhất – 0,50 diop ở cả 2 mắt) tìm thấy ở 9,8% trẻ em 7 tuổi và tăng lên 34,4% ở trẻ em 15 tuổi Cận thị có liên quan với giới tính nữ, tuổi, trình độ học vấn của cha mẹ, dân tộc ở Trung Quốc Loạn thị (0,75 diop) tìm thấy ở 15,7% trẻ em Qua đó kết luận, thị giác suy giảm trong tuổi đi học ở trẻ em ở quận Gombak là yếu tố gây ra cận thị, với tỷ
lệ đặc biệt cao ở trẻ em là dân tộc Trung Quốc Giáo dục sức khỏe mắt và khám sàng lọc có thể giúp giải quyết tình trạng tật khúc xạ [36]
Theo nghiên cứu tỷ lệ bệnh mắt của nhóm nghiên cứu (2004) qua nghiên cứu “Tỷ lệ lỗi khúc xạ của người lớn ở Hoa Kỳ, Tây Âu và Úc” cho thấy: 1/3 số người từ 40 tuổi trở lên ở Hoa Kỳ và Tây Âu bị ảnh hưởng bởi tật khúc xạ, và tỷ lệ là 1/5 cho cùng nhóm đối tượng này ở Úc [37]
S-M Saw và cộng sự (2004) qua nghiên cứu tật khúc xạ ở trẻ nhỏ với việc hút thuốc của cha mẹ cho thấy: Có 434 người cha (33,3%) và 23 bà mẹ (1,7%), người hút thuốc trong suốt cuộc đời của con em mình Không có xu hướng quan trọng giữa hút thuốc nội và tật khúc xạ hoặc có chiều dài trục Sau khi kiểm soát tuổi tác, giới tính, trường học, trình độ học vấn của mẹ, và mẹ cận thị, trẻ em với các bà mẹ những người đã từng hút thuốc trong suốt cuộc đời của họ đã "tích cực hơn" khúc xạ (điều chỉnh có nghĩa là – 0,28 D v –1,38
Trang 19D) so với trẻ em có mẹ không hút thuốc (p = 0,012) Qua đó rút ra kết luận, các nghiên cứu cho thấy không có bằng chứng nhất quán của mối liên quan giữa hút thuốc của cha mẹ và tật khúc xạ Có một gợi ý rằng trẻ em có mẹ hút thuốc
lá có khúc xạ hyperopic hơn, nhưng không có mối quan hệ giữa hút thuốc và số lượng nhỏ của những bà mẹ hút thuốc trong mẫu này ngăn cản kết luận rõ ràng về một liên kết giữa phơi nhiễm hút thuốc lá thụ động và cận thị [45]
Dorothy S.P Fan và cộng sự (2004) với nghiên cứu tỷ lệ mắc, tỷ lệ hiện nhiễm và sự tiến triển của cận thị của trẻ em ở Hồng Kông cho thấy: Tổng cộng có 1.560 trẻ em tham gia vào nghiên cứu, tuổi trung bình là 9,33 (CI 95%: 9,11 9,45; tuổi dao động từ 5 – 16 tuổi) Trung bình hình cầu khúc xạ tương đương (SER) là – 0,33 D (SD = 11,56; phạm vi: 13,13 – 14,25 D) Cận thị (SER < – 0,50 D) là các lỗi khúc xạ phổ biến nhất và được tìm thấy trong 36,11% ± 2,87% (SD) của trẻ em Tỷ lệ cận thị tương quan tích cực với tuổi lớn hơn.Trẻ em từ 11 năm là gần 15 lần nhiều khả năng để có cận thị hơn
là trẻ em trẻ hơn 1 năm (OR = 14,81; CI 95%: 14,11 – 15,48) Tỷ lệ cận thị là 144,1 ± 2,31 (SD) trên 1.000 học sinh tiểu học mỗi năm Tuổi tăng tương quan với tỷ lệ tăng của tật cận thị, với nguy cơ cao nhất ở trẻ em độ tuổi từ 11 tuổi (OR = 2,21; CI 95%: 2,11 – 2,44) Trung bình hàng năm thay đổi trong SER cho trẻ em bị cận thị (SER < – 0,50 D) là – 0,63 D (SD = 3,44) so với – 0,29 D (SD = 2,96) cho những người không cận thị bắt đầu nghiên cứu (p < 0,001) Rút ra kết luận, kết quả cho thấy rằng sự phổ biến và tiến triển của cận thị ở trẻ em Hồng Kông cao hơn nhiều so với những báo cáo trước đây ở các nước phương Tây Kinh tế xã hội tác động lâu dài của những phát hiện này bảo đảm nghiên cứu sâu hơn [35]
Seang-Mei Saw và cộng sự (2005) qua nghiên cứu tỷ lệ mắc bệnh và tiến triển của cận thị của trẻ em ở Singapore cho thấy: tỷ lệ tích lũy của 3 năm
là 47,7% (CI 95%: 42,2 – 53,3), 38,4% (CI 95%: 31,4 – 45,4), và 32,4% (CI
Trang 2095%: 21,8 – 43,1) tương ứng với trẻ 7, 8 và 9 tuổi Ở Trung Quốc tỷ lệ tích lũy 3 năm là (49,5% so với 27,2%), và so sánh trẻ 7 tuổi và trẻ 9 tuổi lúc ban đầu (47,7% so với 32,4%), tuy nhiên mối quan hệ sau này có ý nghĩa sau khi điều chỉnh giới tính, chủng tộc, số lượng đọc sách (sách/tuần), và cha mẹ cận thị (p = 0,057) Trẻ em với độ dài lớn hơn trục, độ sâu khoang thủy tinh thể, và ống kính mỏng hơn dễ bị sự phát triển của cận thị, sau khi kiểm soát tuổi, giới tính, chủng tộc, đọc sách, và cha mẹ cận thị 3 năm có nghĩa là tỷ lệ cận thị tiến triển tích lũy là – ,40 D (CI 95%: – 2,57 đến – 2,22) ở trẻ em 7 tuổi bị cận thị, – 1,97 (CI 95%: – 2,16 đến – 1,78) ở trẻ em 8 tuổi, và – 1,71 (CI 95%: – 1,98 đến –1,44) ở trẻ em 9 tuổi Từ đó rút ra kết luận, cả hai tỷ lệ mắc và tỷ lệ tiến triển của cận thị ở trẻ em Singapore là cao [46]
Aaron M Castanon Holguin và cộng sự (2006) qua nghiên cứu với đối tượng là trẻ em 5 đến 18 tuổi người Mêhicô cho thấy: Tuân thủ sử dụng thấu kính có thể là rất thấp, ngay cả khi kính được cung cấp miễn phí, đặc biệt ở lứa lớn tuổi, trẻ em thành thị và những người ở trong quần thể có tỷ lệ mắc tật cận thị cao nhất.Khi chương trình sàng lọc tật khúc xạ ngày càng trở nên phổ biến trên toàn thế giới, chiến lược mới là điều cần thiết để cải thiện sự tuân thủ nếu nguồn lực của chương trình là tối đa [38]
Ishfaq Ahmed và cộng sự (2008) qua nghiên cứu tỷ lệ mắc cận thị ở học sinh ở thành phố Srinaga, bang Kashmir, Ấn Độ cho thấy: Tổng cộng có 4.360 học sinh tham gia vào nghiên cứu, độ tuổi trung bình 12,11 tuổi (CI 95%: 11,99 – 12,22; khoảng tuổi dao động trong khoảng 7 – 18 tuổi) Cận thị đã được tìm thấy ở 4,74% học sinh Tuổi tác có liên quan với nguy cơ tăng mắc cận thị Học sinh nữ có nguy cơ mắc cận thị cao hơn các học sinh nam (OR = 1,52) Tỷ lệ cận thị ở nữ cao hơn so với nam Học sinh có các điều kiện kinh tế xã hội thấp có tỷ lệ cận thị cao hơn hơn so với học sinh có điều kiện kinh tế – xã hội cao
Từ đó, nhóm nghiên cứu rút ra kết luận, giảm thị lực vì cận thị là một vấn đề
Trang 21sức khỏe quan trọng trong học sinh ở thành phố Srinagar Hầu hết những học sinh này không cần phải có kính điều chỉnh Cần thiết có chiến lược hiệu quả
để loại bỏ nguyên nhân của vấn suy giảm thị lực [33]
Liping Li và cộng sự (2008) qua nghiên cứu lỗi khúc xạ nhi khoa của học sinh trung học ở Trung Quốc: Trong số 674 (35,6%) trẻ em cần kính đeo mắt (tuổi trung bình, 14,7 ± 0,8 tuổi), 597 (88,6%) đã được theo dõi Trong số
339 trẻ em không cần kính ở điều tra cơ bản, 30,7% mua kính đeo mắt, trong khi 43,2% của 258 trẻ em cần thay thế kính của họ do kính không đạt Hầu hết (70%) đối tượng đã trả từ 13 đến 26 đôla Trong số trẻ em và tầm nhìn song phương < 6/18, có 45,6% mua kính Trong các mô hình đa biến, thị giác
< 6/12 (p < 0,009), tật khúc xạ < – 2.0D (p < 0,001), và số tiền sẵn sàng trả tiền cho kính (p = 0,01) là yếu tố dự đoán của mua hàng Lý do không mua kính bao gồm sự hài lòng với thị giác hiện tại (78% của những người đeo kính lúc ban đầu, 49% những người không có), những lo ngại về giá cả hoặc từ chối của cha mẹ (18%), và sợ kính sẽ làm suy yếu đôi mắt (13%) Chỉ có 26% trẻ em nói rằng họ thường đeo kính mới của họ Qua nghiên cứu nhóm tác giả
đã rút ra kết luận, nhiều gia đình ở nông thôn Trung Quốc sẽ trả tiền cho kính, mặc dù chấp nhận là 50%, thậm chí ở trẻ em với thị lực kém Sự chấp nhận có thể được cải thiện bằng cách giảm giá, giáo dục cho thấy rằng kính sẽ không làm tổn hại đến mắt, và tập trung can thiệp cha mẹ [41]
Jeffrey J Walline và cộng sự (2008) qua nghiên cứu thử nghiệm ngẫu nhiên ảnh hưởng của kính áp tròng mềm với sự tiến triển cận thị ở trẻ em, cho thấy: Có một sự tương tác có ý nghĩa thống kê được giữa thời gian và điều trị cho sự tiến triển cận thị (p = 0,002); tỷ lệ trung bình của sự thay đổi là 0,06 D/năm Sau 3 năm, điều chỉnh sự khác biệt giữa những người đeo kính áp tròng và những người đeo kính không có ý nghĩa thống kê Không có sự khác biệt giữa hai nhóm điều trị đối với thay đổi trong chiều dài trục (ANCOVA, p
Trang 22= 0,37) hoặc thay đổi độ cong giác mạc (ANCOVA, p = 0,72) Rút ra kết luận, những dữ liệu này cung cấp bảo đảm với các học viên chăm sóc mắt có liên quan với hiện tượng hao mòn thấu kính "gia tăng cận thị" ở trẻ em Không gây ra một sự gia tăng chiều dài trục, độ cong giác mạc, cận thị so với mặc ống kính cảnh lâm sàng có liên quan [47]
Jenny M Ip và cộng sự (2008) với nghiên cứu ở trẻ em ở Úc cho thấy: Mặc dù cận thị không liên quan đáng kể với thời gian trong công việc gần sau khi điều chỉnh các yếu tố khác, có những hiệp hội có ý nghĩa độc lập với khoảng cách đọc và đọc sách chặt chẽ liên tục Các hiệp hội này có thể chỉ ra rằng cường độ chứ không phải là tổng thời gian của gần công việc là một yếu tố quan trọng [39]
Sotiris Plainis và cộng sự (2009) với nghiên cứu so sánh tỷ lệ cận thị và suy giảm thị lực của trẻ em ở Hy Lạp và Bulgari cho thấy: Tỷ lệ trẻ em, thử nghiệm với điều chỉnh khúc xạ thường xuyên của mình, với số thập phân VA
< 0,5 trong ít nhất một mắt là 11,7% (CI 95%: 9,1 – 14,3%) cho Hy Lạp và 5,2% (CI 95%: 2,7 – 7,6%) cho học sinh của Bulgari Tỷ lệ trẻ em cận thị cũng khác nhau giữa hai nước với tỷ lệ tật khúc xạ cận thị ≤ – 0,75 D và số thập phân VA < 0,8 ở cấp tiểu học là 14,1% và 28,9% ở Stara Zagora và ở Heraklion tương ứng là 13,0% và 46,9% (CI 95%: 18,2 – 29,2%, p < 0,0001) ở cấp trung học Trong số học sinh cận thị chỉ có 35,8% đã sử dụng kính hiệu chỉnh ở Stara Zagora, so với 70,7% trẻ em ở Heraklion Cuối cùng, cận thị xuất hiện phổ biến ở thanh thiếu niên nữ với các ảnh hưởng có ý nghĩa thống
kê đối với trẻ em Hy Lạp (55% so với 40% của nam giới, p = 0,015) Qua đó nhóm nghiên cứu rút ra kết luận, tỷ lệ trẻ em cận thị ở Heraklion tăng so với Stara Zagora, có thể phát sinh từ một số yếu tố môi trường và kinh tế - xã hội, mà cần phải được tiếp tục điều tra để hiểu được sự khác biệt quan sát thấy trong dân số châu Âu [43]
Trang 23Lian Hong Pi và cộng sự (2010) qua nghiên cứu tình trạng tật khúc xạ và tỷ lệ hiện mắc tật khúc xạ của trẻ em độ tuổi đi học ở ngoại ô Suburban cho thấy: tình trạng tật khúc xạ của các em bắt đầu gia tăng từ độ tuổi 6 – 8 tuổi đến 9 – 12 và 13 – 15 tuổi Tỷ lệ hiện mắc như sau: cận thị (≥ + 2,00 diop), cận thị (≤ – 0,5 diop) và loạn thị (≥ 1,00 diop) với tỷ lệ tướng ứng 3,26%, 13,75% và 3,75% Có mối liên quan giữa độ tuổi và cận thị ở trẻ em tuổi học đường (p < 0,001) Trẻ em trong các trường chuyên có nguy cơ bị cận thị cao hơn (p <0,001) và loạn thị (≥ 1,00 diop, p = 0,04) so với các em ở học sinh ở các trường không chuyên Qua đó tác giả đưa ra kết luận: Tình trạng mắc tật khúc xạ tăng dần theo độ tuổi, đặc biệt là ở 9 tuổi có sự thay đổi rất quan trọng; yếu tố môi trường và cường độ học tập có ảnh hưởng đến sự sự xuất hiện và phát triển của cận thị [42]
Li Deng, Jane Gwiazda và Frank Thorn (2010) qua nghiên cứu cận thị của trẻ em và các hoạt động ở trường học và mùa hè cho thấy: Trong năm học, những người cận thị đã mất nhiều giờ ít hơn đáng kể (8,25 ± 6,25 giờ/tuần) so với những người không bị cận thị (10,95 ± 5,95 giờ/tuần) trong thể thao/hoạt động ngoài trời (p < 0,05) Ngoài ra, những người cận thị (12,78 ± 9,28 giờ/tuần) xem truyền hình nhiều hơn những người không bị cận thị (8,91 ± 5,95 giờ/tuần) (p = 0,02) Không có sự khác biệt đáng kể nhóm khúc xạ đã được tìm thấy cho các hoạt động khác Trong thời gian nghỉ hè, không có sự khác biệt đáng kể nào được tìm thấy giữa các nhóm khúc xạ trong bất kỳ thời gian hoạt động thị giác Không có tương quan đáng kể giữa thể thao/hoạt động ngoài trời và thời gian truyền hình đã được tìm thấy Nhìn chung, sự khác biệt lớn nhất giữa mùa hè và hoạt động ở trường là trong hoạt động ngoài trời (21,76 ± 13,80 vs 10,34 ± 6,10 giờ/tuần; p < 0,001) và nghiên cứu (1,69 ± 3,71
so với 9,51 ± 6,96 giờ/tuần; p < 0,001) Qua đó nhóm nghiên cứu rút ra kết luận sau, trong thỏa thuận với các nghiên cứu khác, những người cận thị không
Trang 24có nhiều giờ hơn các môn thể thao/hoạt động ngoài trời trong suốt năm học, có thể bảo vệ chống lại sự phát triển của cận thị Một phát hiện mới là số lượng cao của thể thao/giờ hoạt động ngoài trời cho cả hai những người cận thị và những người không cận thị trong thời gian nghỉ hè, có thể đóng góp vào tăng trưởng mắt chậm lại trong tất cả trẻ em trong thời gian ba tháng [34]
Robert N Kleinstein và cộng sự (2012) qua nghiên cứu các trường hợp cận thị mới ở trẻ em, cho thấy: Trong số 4.556 trẻ em không bị mắc cận thị khi tham gia vào nghiên cứu, 749 (16,4%) trẻ em nhận được một chẩn đoán mắc cận thị sau khi nghiên cứu Trong số 749 trẻ em, tuổi dao động trong khoảng 7 – 16 tuổi với số lượng lớn nhất được chẩn đoán mắc cận thị là 11 tuổi (136 người tham gia [18,2%]) Trong số các trường hợp mới mắc của cận thị thì người Châu Á chiếm 27,3%, người gốc Tây Ban Nha chiếm 21,4%, người Mỹ bản xứ chiếm 14,5%, người Mỹ gốc Phi chiếm 13,9%, và người da trắng là 11% Nữ giới tham gia nghiên cứu có số trường hợp mới mắc cận thị cao hơn so với nam giới (18,5% so với 14,5%) Trẻ em có trọng lượng khi sinh bình thường có nhiều trường hợp mới mắc hơn so với trẻ em có trọng lượng khi sinh nhẹ cân (16,9% so với 15,5%) Qua đó nhóm nghiên cứu rút ra kết luận sau, mười sáu phần trăm trẻ em hợp tác tham gia vào các đánh giá theo chiều dọc của dân tộc và nghiên cứu tật khúc xạ đã mắc cận thị trong những năm học ở độ tuổi của họ Tỷ lệ tăng hàng năm cho đến khi 11 tuổi và sau đó giảm Các trường hợp mới của tật cận thị khác nhau theo nhóm dân tộc/chủng tộc [40]
Trang 251.3.2 Các nghiên cứu về cận thị ở Việt Nam
Đặng Đức Nhu (2001) qua nghiên cứu tình hình cận thị và cong vẹo cột sống với đối tượng là học sinh ở quận Hoàn Kiếm, Hà Nội cho thấy: tỷ lệ cận thị của học sinh ở quận Hoàn Kiếm là 29,9% [18]
Trần Văn Dần và Nguyễn Bích Liên (2002) với nghiên cứu bệnh cận thị ở học sinh tại Hà Nội, Nam Định và Thái Nguyên cho thấy: tỷ lệ cận thị của học sinh THCS ở quận Hoàn Kiếm là 29,0%, huyện Sóc Sơn là 17,9%, nội thành Nam Định là 23,7%, huyện Mỹ Lộc là 4,0%, nội thành Thái Nguyên là 13,4%, huyện Đồng Hỷ là 3,0% [4]
Nhóm tác giả Phan Hồng Mai, Trần Hoài Long và Trần Thị Phương Thu (2003) qua nghiên cứu cho thấy: độ nhạy của các phương pháp đo khúc xạ tự động không liệt điều tiết, khúc xạ tự động có liệt điều tiết và khúc xạ chủ quan lần lượt là 0,97; 0,97 và 0,92 Độ đặc hiệu của các phương pháp đo khúc xạ tự động không liệt điều tiết, khúc xạ tự động có liệt điều tiết và khúc xạ chủ quan lần lượt là: 0,78; 0,98 và 0,94 Hệ số tương quan các phương pháp đo khúc xạ tự động không liệt điều tiết, khúc xạ tự động có liệt điều tiết và khúc xạ chủ quan lần lượt là 0,979; 0,991 và 0,988 tất cả đều có p < 0,01 Qau đó rút ra kết luận sau, phương pháp đo khúc xạ tự động có liệt điều tiết có thể được áp dụng vào khảo sát khúc xạ trong cộng đồng Bên cạnh đó, khi
sử dụng tropicamide 1% để liệt điều tiết có thể dùng thêm pilocarpine 2% sau khi kết thúc khảo sát để rút ngắn thời gian hồi phục điều tiết [10]
Lê Minh Thông, Trần Thị Phương Thu và Ngô Thị Thúy Phượng (2004) qua nghiên cứu tật khúc xạ học đường ở quận Tân Bình, Tp Hồ Chí Minh cho thấy: tỷ lệ chung của tật khúc xạ là 24,8%, cận thị (≤ – 0,5 diop) là 19,43%, viễn thị (≥ + 2,00 diop) là 5,36%, tỷ lệ cận thị ở nam là 16,93%, nữ là 21,88% Đưa ra kết luận, tần xuất cận thị ở lứa tuổi đi học ở quận Tân Bình
Trang 26rất cao Phần lớn có thể chỉnh kính cho thị lực tốt Cần có những nghiên cứu thêm để xác định tỷ lệ cận thị trên toàn quốc [24]
Trần Văn Nhật (2004) với đối tượng là học sinh ở Đà Nẵng cho thấy: tỷ
lệ cận thị của học sinh ở khu vực nông thôn là 5,2%, thành thị là 15,3% Phân theo cấp học, tỷ lệ cận thị của học sinh tiểu học là 11,08%, học sinh THCS gần bằng 10%, học sinh trung học phổ thông là 22,58% Tỷ lệ cận thị ở học sinh nữ cao hơn học sinh nam với tỷ lệ lần lượt là 15,3% và 10%, nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê [17]
Đặng Anh Ngọc (2004) qua nghiên cứu ở Hà Nội và (2006) tại Hải Phòng, Thái Nguyên, Lai Châu và thành phố Hồ Chí Minh cho thấy: tỷ lệ cận thị của học sinh có liên quan đến việc đi học thêm, thói quen, tư thế ngồi học, đọc ở nhà, thời gian đi học thêm và tìm thấy có sự khác biệt giữa khu vực nội và ngoại thành Tỷ lệ cận thị ở học sinh tiểu học 5,5% thấp hơn học sinh trung học cơ sở 14,8% Học sinh có thói quen nằm hoặc tư thế tùy tiện khi học và đọc có tỷ lệ mắc tật cận thị là 9,57% cao hơn so với nhóm học sinh có thói quen ngồi ngay ngắn khi học (p < 0,01) và học sinh có thói quen sinh hoạt ít khi ra khỏi nhà có nguy cơ bị cận thị coa gấp 9 lần so với nhóm học sinh có thường có thời gian sinh hoạt ngoài trời [15], [16]
Trần Anh Tuấn (2005) với nghiên cứu “đánh giá kết quả điều trị cận thị và loạn thị bằng Laser Excimer” rút ra được kết luận sau: Phẫu thuật khúc xạ bằng Laser Excimer với kỹ thuật Lasik cho kết quả thị lực cao, chính xác, thời gian phục hồi nhanh, với kết quả ổn định sớm sau mổ Các biến cố và biến chứng trong và sau mổ ít, phù hợp với yêu cầu thẩm mỹ của bệnh nhân Kết quả tốt, ổn định với những trường hợp cận thị nhẹ và trung bình Tỷ lệ thoái triển cao với những trường hợp cận thị nặng Với những trường hợp cận thị nặng, cần theo dõi mức độ tiến triển của cận thị để đề ra chỉ định đúng, hạn chế tỷ lệ tái phát [28]
Trang 27Lý Văn Vân và cộng sự (2006) qua nghiên cứu tình hình tật khúc xạ ở học sinh THCS Xuân Diệu, Mỹ Tho, Tiền Giang đã cho thấy: có 14,95% học sinh có tật khúc xạ, trong đó 8,35% học sinh nữ và 6,59% học sinh nam có tật khúc xạ 91,87% học sinh bị tật khúc xạ sau khi đeo kính điều chỉnh đã đạt thị lực tối đa Phân bố theo độ cận: <3D: có 60 em khối 6 (19,48%) và 93 em khối 7 (30,19%), 3D – 6D có 19 em khối 6 (17,92%) và 34 em khối 9 (32,07%) > 6D có 1 em khối 7 (12,50%) và 3 em khối 8 (37,50%) Theo độ viễn, 2D - 5D có 11 em (73,3%) và > 5D có 4 em (26,67%) Tật khúc xạ được phân loại theo loạn có 43 em: 0,75D – 2D có 34 em đạt tỉ lệ 79,06%, > 2D có 9 em đạt tỉ lệ 20,93% Qua đó kết luận, tỷ lệ cận thị tăng dần theo lứa tuổi (khối lớp) Nữ giới có tỉ lệ tật khúc xạ cao hơn nam giới Vấn đề chiếu sáng, qui cách bàn ghế, sử dụng máy vi tính, trò chơi điện tử là những yếu tố ảnh hưởng đến tật khúc xạ mà chúng ta cần phải quan tâm [30]
Tác giả Trần Minh Tâm và Đỗ Văn Dũng (2007) qua nghiên cứu tình hình tật cận thị học đường ở học sinh cấp II tại quận 9, thành phố Hồ Chí Minh cho thấy: tỷ lệ cận thị của học sinh cấp II trên địa bàn quận 9 là 16,11% Tỷ lệ cận thị ở học sinh nam là 10,94% và nữ sinh là 21,39% Có mối liên quan giữa thời gian học với cận thị với OR = 1,09; và mối liên quan giữa cận thị với giới tính, với OR = 0,45 Từ đó rút ra kết luận sau, tỷ lệ cận thị của học sinh cấp II trên địa bàn quận 9 là khá cao, thời gian học càng nhiều càng có nguy cơ bị cận thị; quận 9 cần triển khai “chương trình chăm sóc mắt” để ngăn chặn, khống chế tình trạng cận thị học đường và cải thiện điều kiện lớp học [22]
Trần Thị Phương Thu và Phạm Thị Bích Thủy (2007) qua nghiên cứu
“Hiệu quả và tính an toàn của phẫu thuật phaco điều trị cận thị nặng” cho kết quả sau: Khúc xạ trước mổ trung bình là – 17,41 4,05D và sau mổ là + 0,39
0,81D Tỉ lệ độ cầu tương đương trong phạm vi 0,5 D là 45,45%, 1D là 78,18%, và 2D là 97,27% Thị lực có kính trước mổ trung bình là 0,57
Trang 280,27 Sau mổ, thị lực không kính trung bình là 0,58 ± 0,25, thị lực có kính trung bình 0,84 0,23 So với trước mổ, 33,94% mắt có thị lực có kính không thay đổi, 62,38% tăng ít nhất một hàng và 3,67% giảm ít nhất một hàng Bong võng mạc xảy ra ở 2 mắt (1,8%) Trong 11 trường hợp đục bao sau (9,6%), có
3 mắt cần thủ thuật laser capsulotomy (2,6%) Một mắt (0,9%) xuất hiện viêm màng bồ đào sau mổ 3 tháng và 2 mắt (1,8%) tăng nhãn áp sau mổ 1 tuần Qua đó rút ra kết luận, phẫu thuật phaco lấy thể thủy tinh trong và đặt kính nội nhãn ở bệnh nhân cận thị nặng cho kết quả khúc xạ và thị lực tốt, tỉ lệ biến chứng nặng thấp Đây là phương pháp hiệu quả và an toàn cho người cận thị nặng ở độ tuổi lão thị không có chỉ định phẫu thuật LASIK [26]
Tác giả Trương Thị Thu Hằng (2008) qua nghiên cứu với đối tượng là học sinh tại Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai cho thấy: tỷ lệ cận thị ở học sinh trung học cơ sở thành phố Biên Hòa là 20,87% Theo giới tính thì tỷ lệ cận thị ở học sinh nam là 15,03% và học sinh nữ là 16% [8]
Huỳnh Ngọc Tròn và Nguyễn Phước Thiện (2008) với nghiên cứu khảo sát tậ khúc xạ ở học sinh tiểu học và trung học cơ sở tại thành phố Cần Thơ năm
2008 cho thấy: học sinh THCS có tỷ lệ mắc tật khúc xạ là 16,3%, trong đó: cận thị từ – 0,5D đến – 3D chiếm 14,62%; – 3D đến – 6D là 1,48%; – 6D đến – 10D là 0,14%; viễn thị: + 0,5D đến + 3D là 0,03%; + 3D đến + 6D là 0,02% và + 6D đến + 10D là 0,01% Các em lớp càng lớn thì bệnh xuất hiện ngày càng nhiều; nữ sinh có nguy cơ mắc tật khúc xạ cao hơn nam sinh; học sinh nội thành có nguy cơ mắc tật cận thị cao hơn học sinh vùng nông thôn [27]
Trần Văn Thiện và Nguyễn Tùng Linh (2009) qua nghiên cứu học sinh THCS trường Phan Chu Trinh, quận Ba Đình, Hà Nội cho thấy: tỷ lệ mắc tật cận thị ở học sinh THCS trường Phan Chu Trinh là 57,3% và tỷ lệ này tăng dần theo khối lớp với tỷ lệ tương ứng như sau: khối lớp 6 là 46,8%, khối lớp 7 là 54,55%, khối lớp 8 là 60,4%, khối lớp 9 là 62,7% [23]
Trang 29Trần Thị Phương Thu và cộng sự (2009) với nghiên cứu “Đánh giá kết quả phẫu thuật phaco tại khoa bán công, bệnh viện Mắt thành phố Hồ Chí Minh” cho thấy: 1.000 mắt của 876 bệnh nhân mổ 1 mắt và 62 bệnh nhân mổ
2 mắt Biến chứng trong mổ: bỏng vết mổ 3 mắt, rách bao sau 5 mắt Biến chứng sớm sau mổ: tăng áp 2 mắt, phù giác mạc 3 mắt, xuất huyết tiền phòng
1 mắt, lệch IOL 1 mắt và xẹp tiền phòng 4 mắt Thị lực sau mổ không kính: 86,6% đạt thị lực ≥ 3/10, 12,1% thị lực 1 – 2/10 và 1,3% thị lực < 1/10 Thị lực sau mổ có kính: 98,2% đạt thị lực ≥ 3/10, 1,8% thị lực 1 – 2/10 và không có trường hợp thị lực < 1/10 Rút ra kết luận, kết quả thị lực sau mổ tốt, đạt được yêu cầu thị lực sau mổ đục TTT của WHO năm 1998, tỉ lệ biến chứng trong mổ và biến chứng sớm sau mổ thấp [25]
Lê Thị Thanh Xuyên và cộng sự (2009) qua nghiên cứu đánh giá hiệu quả chương trình sàng lọc tật khúc xạ trên 618 học sinh ở thành phố Hồ Chí Minh cho thấy: dựa vào bảng phân loại mù và thị lực thấp của WHO có 2,1% học sinh bị mù và 15,2% có thị lực thấp độ 2, 44,66% có thị lực thấp độ 1 do nguyên nhân khúc xạ Sau khi được cấp kính, tình hình thị lực đã chỉnh quang cải thiện rất rõ rệt Hiệu quả cải thiện thị lực > 6/10 đạt 98,38% Không còn học sinh có thị lực < 1/10 Tỷ lệ thoát mù và thị lực thấp mức độ 2 là 100% Kết luận, chương trình sàng lọc tật khúc xạ và cấp kính miễn phí cho học sinh nghèo tại Tp Hồ Chí Minh rất hữu ích vì hiệu quả cải thiện chất lượng thị lực cho học sinh, giảm đáng kể tỷ lệ mù và thị lực thấp do tật khúc xạ 618 học sinh nghèo được hưởng chương trình cấp kính miễn phí có 98,38% học sinh có thị lực từ > 6/10 đến 10/10 Chỉ có 1,62% học sinh có thị lực < 6/10, và 0,32 học sinh có thị lực 1/10 đến 3/10 Tỷ lệ thành công thoát mù và thị lực thấp độ 1 là 99,37%, không còn học sinh có thị lực < 1/10 Tỷ lệ thoát mù và thị lực thấp mức độ 2 là 100% Chương trình cần có sự phối hợp hoạt động của mạng lưới chăm sóc mắt học đường và chăm sóc mắt ban đầu tại tuyến cơ sở [32]
Trang 30Lê Thị Thanh Xuyên và cộng sự (2009) qua nghiên cứu cho thấy: tỷ lệ tật khúc xạ chung 39,35%, cận thị (SE ≤– 0,50D) là 38,88%, viễn thị (SE ≥ + 2,0D) là 0,47%, loạn thị (cylinder > 0.75D) là 30,4% Tỷ lệ bất đồng khúc xạ (SE 2 mắt chênh nhau >1D) là 6%; SE 2 mắt chênh > 3D là 3,64% Tỷ lệ cận thị theo cấp lớp là 29,86% (cấp 1), 46,11%(cấp 2), 43,63% (cấp 3) cho thấy tỷ
lệ cận thị tăng dần theo cấp học Ngược lại, tỷ lệ viễn thị theo cấp lớp: 0,74% (cấp 1), 0,27% (cấp 2), 0,18% (cấp 3) Tỷ lệ cận thị theo giới là 36,04% (nam), 41,55% (nữ) Tỷ lệ cận thị theo vùng là 56,67% (trung tâm), 36,93% (cận trung tâm), 38,88% (ven) và 15,48% (ngoại thành) Đặc điểm kiến thức – thái độ – hành vi: Đối với học sinh: 2052 HS tỷ lệ chung về phân loại kiến thức:16,6% tốt, 35,9% khá, 34,3% trung bình, 13,3% yếu.Tỉ lệ chung phân loại thái độ- hành vi:tốt 0%, khá: 1,3%, trung bình:64,4%, yếu: 34,4% Đối với phụ huynh học sinh: khảo sát 1967 cha mẹ học sinh 10% có iến thức tốt, 34,7% khá, 44% trung bình, 11,4% yếu.Thái độ hành vi: tốt 2,6%, khá: 27%, trung bình: 62%, yếu: 8,3.% Đối với giáo viên: khảo sát 752 giáo viên: 23,8% có kiến thức tốt, 43,6% khá, 27,4% trung bình, 5,2 % yếu Thái độ – hành vi: tốt 10,8%, khá: 34%, trung bình: 43,4%, yếu: 11,8% Tác giả đưa ra kết luận, tỷ lệ tật khúc xạ ở học sinh khá cao, đến 39,35% Trong đó hầu hết là cận thị, chiếm 96,5%; tỷ lệ này tương đương với tỷ lệ TKX ở HS các nước Châu Á như Đài loan, Hồng Kông, Singapore nhưng cao hơn ở các tỉnh khác của Việt Nam và một số nước như Chilê, Nepan, Ấn độ Tỉ lệ cận thị gia tăng theo cấp học Vùng trung tâm có tỉ lệ cận thị cao hơn so với các vùng cận trung tâm, ven và ngoại thành Tỷ lệ cận thị ở nữ cao hơn nam [31]
Trang Văn Ân (2010) với nghiên cứu thực trạng vệ sinh trường học, bệnh học đường và các yếu tố liên quan tại các trường THCS huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang năm 2010 cho thấy: có 8,1% học sinh bị cận thị, học sinh nam có 7,3% mắc cận thị, học sinh nữ có 8,8% mắc cận thị Tư thế
Trang 31ngồi của học sinh có liên quan đến tật khúc xạ, học sinh ngồi đúng tư thế thì ít
bị tật khúc xạ; học sinh xem tivi càng nhiều thì tỷ lệ mắc cận thị càng cao; học sinh có chơi vi tính thì cận thị cao hơn nhóm không chơi và thời gian chơi trong ngày, số ngày chơi vi tính trong tuần càng nhiều thì tỷ lệ cận thị càng cao; tỷ lệ cận thị ở nam sinh thấp hơn so với nữ sinh; tỷ lệ cận thị tăng dần theo lứa tuổi [1]
Nguyễn Chí Dũng (2011) qua nghiên cứu tỷ lệ mắc và tỷ lệ mắc mới tật khúc xạ ở học sinh THCS Cát Linh, Hà Nội năm 2010 cho thấy: học sinh THCS Cát Linh có 42,2% mắc cận thị, mắc viễn thị là 2,2%, mắc loạn thị là 13,6% Học sinh lớp chuyên có tỷ lệ mắc tật khúc xạ cao hơn (68,7% năm đầu và 78,3% năm thứ 2) so với lớp không chuyên (tương ứng 58,5% và 67,6%)
Tỷ lệ mắc mới tật khúc xạ sau 1 năm (tính theo người) là 9,3% Tỷ lệ mắc mới cận thị (tính theo mắt) sau 1 năm là 2,2% Các yếu tố liên quan: học sinh lớp chuyên có nguy cơ mắc tật khúc xạ cao hơn lớp không chuyên 1,6 lần, bố mẹ có tật khúc xạ mắc cao hơn 1,5 lần Qua đó rút ra kết luận, tỷ lệ mắc tật khúc xạ năm 2010 ở học sinh lớp 6 trường Cát Linh: 71,6%, trong đó cận thị: 42,2%, viễn thị: 2,2,%, loạn thị: 3,6% Tỷ lệ mới mắc cận thị là 2,2%/năm [7]
Phạm Hồng Quang và Phạm Văn Tần (2011) qua nghiên cứu cận thị ở học sinh và các yếu tố ảnh hưởng của học sinh THCS tại thành phố Bắc Ninh năm 2010 cho thấy: tỷ lệ cận thị chung là 20,3%, cận thị ở học sinh khối 6: 19,1%; khối 7: 18,3%; khối 8: 23,5% Học sinh nữ mắc cận thị cao hơn so với học sinh nam (OR = 1,6; CI95%: 1,0 – 2,4), học sinh không có góc học tập mắc cận thị cao hơn so với học sinh có góc học tập (OR = 2,2; CI95%: 1,2 – 3,8); học sinh nội thành mắc cận thị cao hơn học sinh ngoại thành (OR = 3,6: CI 95%: 2,3 – 5,6); học sinh có thói quen ngồi học không đúng mắc cận thị cao hơn học sinh ngồi học đúng (OR = 2,6; CI 95%: 1,7 – 3,9) Qua đó rút ra kết luận, tỷ lệ cận thị
Trang 32chung là 20,3%; các yếu tố có liên quan đến cận thị là yếu tố giới, vùng địa lý, điều kiện học tập, gánh nặng học tập và thói quen khi học [19]
Mai Quốc Tùng và cộng sự (2011) với nghiên cứu tật khúc xạ ở học sinh phổ thông tỉnh Bắc Kạn 2007 cho thấy: Đã có 3.580 học sinh các cấp được khám, trong đó nam chiếm 40,3%, nữ chiếm 59,7% Độ khúc cầu tương đương (ĐCTĐ) trung bình là 0,95 0,83D ở học sinh tiểu học, 0,51 0,69D ở học sinh trung học cơ sở và 0,08 1,49D ở học sinh trung học phổ thông
Tỷ lệ cận thị (ĐCTĐ ≤ – 0,5D) ở học sinh tiểu học là 2,4%, ở học sinh trung học cơ sở là 5,9% và ở học sinh trung học phổ thông là 17,0% Có sự khác biệt về ĐCTĐ và tỷ lệ tật khúc xạ giữa học sinh cùng độ tuổi nhưng ở môi trường thành thị so với nông thôn (p < 0,01) Học sinh thành thị có nguy cơ bị cận thị cao hơn ở học sinh nông thôn Từ đó rút ra kết luận, tỷ lệ cận thị ở học sinh Bắc Kạn tương đối thấp so với các tỉnh thành khác trong cả nước Nguyên nhân giảm thị lực chính là tật khúc xạ đặc biệt là cận thị Nên có những biện pháp phòng chống cận thị áp dụng ở tỉnh Bắc Kạn trong khi tỷ lệ tật khúc xạ còn chưa cao [29]
Nguyễn Hữu Nghị, Hồ Thị Thúy Mai và Nguyễn Ngọc Ngà (2007) qua nghiên cứu trên đối tượng học sinh khối 8 trung học cơ sở ở Huế cho thấy: tỷ
lệ tật khúc xạ chung của học sinh là 19,6%, nữ cao hơn nam Trong đó, cận thị là chủ yếu chiếm tỷ lệ 17,09% tổng số học sinh Tỷ lệ cận thị dưới 3D ở nữ cao hơn nam 2,5 lần Thời gian ngồi học lâu, cảm giác nhức mỏi mắt sau giờ học có mối liên quan với tật cận thị Tỷ lệ cận thị tăng lên ở nhóm có chỗ ngồi học bị tối và nhìn trên bảng bị bóng tối và gia đình có những người thân thích bị cận thị [14]
Nghiên cứu của Trần Thanh Quang (2011) tật cận thị với đối tượng học sinh trung học cơ sở ở quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ cho thấy: tỷ lệ mắc bệnh cận thị ở học sinh THCS là 19,91%, trong đó nam sinh bị cận thị là
Trang 3346,4% và nữ sinh là 53,6% Học sinh mắc cận thị phân theo khối lớp: cao nhất là khối lớp 9 (45,24%), kế đến là khối lớp 8 (38,09%) và khối 7 (16,67%) Tỷ
lệ mắc cận thị phân theo khu vực: nội ô là 58,33%; ngoại ô là 41,67% Có khoảng 7,14% học sinh bị cận thị từ rất sớm (lớp 4), tỷ lệ học sinh bị cận thị cao nhất là lớp 8 (27,38%) Học sinh biết kiến thức về các nguyên nhân bị cận thị là 81,75%, trong đó có 56,52% học sinh biết đúng và đầy đủ 3 nguyên nhân gây cận thị; 29,38% học sinh nghiên cứu cho biết có đọc sách báo nơi thiếu ánh sáng; 91,71% học sinh có chú ý giữ khoảng cách giữa mắt và sách vở khi đọc; 91,71% học sinh có chú ý giữ khoảng cách giữa mắt và sách vở khi đọc; 88,86% học sinh có chú ý giữ khoảng cách giữa mắt với tivi, màn hình vi tính khi chơi game; 53,32% học sinh cho biết có thời gian đọc sách, truyện, sử dụng máy vi tính liên tục không nghỉ dưới 1 giờ; 42,86% học sinh
bị cận thị đeo kính đúng (đeo kính cả ngày trừ lúc); 58,33% học sinh bị cận thị có khám mắt trong vòng 1 năm [20]
Trang 34Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành thu thập số liệu từ 02/2012 đến 6/2012 Tất các trường THCS trên địa bàn quận Thốt Nốt
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
Học sinh các trường trung học cơ sở ở quận Thốt Nốt
2.1.3 Tiêu chuẩn chọn vào
Học sinh các khối lớp 6 đến khối lớp 9 năm học 2011 - 2012
2.1.4 Tiêu chuẩn loại trừ
Học sinh đang bị bệnh hoặc vắng mặt lúc phỏng vấn
Không đồng ý tham gia
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang [9]
Z1 - /2 : Giá trị tương ứng của hệ số tin cậy với = 0,05 ( = 5%), vậy
Z1 - /2 = 1,96 giá trị Z tương ứng khoảng tin cậy 95%
d = sai số cho phép 5% = 0,05
Trang 35p = tỷ lệ học sinh có kiến thức đạt về phòng ngừa cận thị Theo nghiên cứu của Lê Thị Thanh Xuyên và cộng sự trên học sinh ở thành phố Hồ Chí Minh, ta lấy giá trị p = 52,5% = 0,525 [31]
Thay vào công thức, ta tính được cỡ mẫu là:
2
2
1,96 0,525.(1 0,525)
384 0,05
Vậy ta có cỡ mẫu: n = 384
Để dự phòng trường hợp đối tượng nghiên cứu bỏ cuộc, từ chối phỏng vấn Do đó, chúng tôi tăng cỡ mẫu thêm 10% Vì vậy, cỡ mẫu cho nghiên cứu
này là n = 427
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu
Địa bàn quận Thốt Nốt có tất cả 9 phường: Thới Thuận, Thuận An, Thốt Nốt, Thạnh Họa, Trung Kiên, Trung Nhứt, Thuận Hưng, Tân Hưng, Tân Lộc Gồm 07 trường THCS: Trung Nhứt, Trung Kiên, Thuận Hưng, Thới Thuận, Thới Thuận 1, Tân Lộc
Ở đây chúng tôi chọn 4 trường và phân thành khu vực: 2 trường thuộc thành thị (THCS Thới Thuận và THCS Trung Nhứt) và 2 trường thuộc nông thôn (THCS Thuận Hưng và THCS Trung Kiên)
Mẫu được chọn theo phương pháp phân tầng tỷ lệ và được thực hiện qua 2 giai đoạn sau:
Tổng số học sinh của 4 trường là: 4.423 học sinh, phân bố như sau:
Khối 6 Khối 7 Khối 8 Khối 9 Tổng
Trang 36Mẫu được chọn theo phương pháp phân tầng tỷ lệ và được thực hiện qua 2 bước sau:
Bước 1:
Thu thập số lượng học sinh của 4 trường THCS đã được chọn Sau đó, số lượng học sinh THCS cần chọn vào nghiên cứu (424 học sinh) nhân cho 1.000 rồi chia cho tổng số học sinh của 4 trường THCS được chọn, ta được
một số là x, con số x có nghĩa là cứ 1.000 học sinh THCS ta sẽ lấy x đối
tượng nghiên cứu
Tổng số học sinh của 4 trường THCS được chọn vào nghiên cứu ở
quận Thốt Nốt là 4.423 học sinh, ta tính được con số x = 95,86 Có nghĩa là
cứ 1.000 học sinh ta sẽ chọn 96 học sinh vào nghiên cứu
Từ đó, ta tính được số học sinh tham gia nghiên cứu của 4 trường THCS trên địa bàn quận Thốt Nốt bằng công thức sau:
Tổng số HS nghiên cứu/trường =
Tổng số HS một trường x 96
Số HS nghiên cứu của từng khối =
Tổng số học sinh từng khối x y
= z
Tổng số học sinh của trường
Trang 37Qua danh sách học sinh của từng khối lớp được xếp theo tên và vần abc, và hệ số k = N/n = 10, chúng tôi lấy học sinh đầu tiên của mỗi khối lớp là học sinh có thứ tự xếp đầu tiên trong danh sách học sinh của từng khối và học sinh thứ 2 được chọn vào nghiên cứu có thứ tự bằng 1 + k = 1 + 10 = 11; cứ như thế chúng tôi chọn học sinh tham gia nghiên cứu cho đến khi đủ số lượng cần thiết của mỗi khối
Ta tính được số học sinh của từng khối tham gia vào nghiên cứu ở bảng sau:
Khối 6 Khối 7 Khối 8 Khối 9 Tổng
Ghi chú: làm tròn số học sinh được chọn
2.2.4 Nội dung nghiên cứu
- Giới tính: Là biến số định tính với 2 giá trị là nam và nữ
- Tuổi: Là biến số định lượng, được tính theo từng tuổi của học sinh
- Học lớp:Là biến số từ các lớp từ lớp 6 đến lớp 9
- Trường khu vực nội ô gần trung tâm quận được quy ước là trường Trung học cơ sở Thốt Nốt; trường khu vực ngoại ô là trường Trung học cơ sở
Trung Nhứt, Trung Kiên, Thuận Hưng, Thới Thuận, Thới Thuận 1, Tân Lộc
- Nghề nghiệp cha mẹ có 2 giá trị là: lao động trí óc (bác sĩ, kỹ sư, công
chức, giáo viên,…) và lao động tay chân (làm ruộng, thợ hồ, buôn bán,…)
- Kiến thức đạt về phòng ngừa cận thị:
+ Đọc, xem nơi thiếu ánh sáng
+ Đọc, xem quá gần sách, tivi
+ Đọc, xem trong thời gian dài không nghỉ ngơi
Trang 38Đạt: khi biết được cả 3 yếu tố nguy cơ chính dẫn đến mắc cận thị Không đạt: Khi trả lời không đúng 1 trong 3 câu
- Thực hành đạt về phòng ngừa cận thị
Là thực hành đạt tất cả các ý sau:
+ Không đọc sách vở, truyện nơi thiếu ánh sáng
+ Có chú ý giữ khoảng cách khi đọc sách truyện, sử dụng vi tính + Thường đọc sách vở, sử dụng vi tính liên tục không quá một giờ Không đạt: khi có 1 ý thực hành không đúng
Đối với học sinh bị cận thị thực hành đạt còn kèm theo:
+ Đeo kính đúng cách ( đeo kính cả ngày, trừ khi ngủ ) + Khám mắt định kỳ tối thiểu 1lần / năm
- Học sinh bị cận thị: được xác định qua khám đánh giá thị lực
2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu
- Phỏng vấn đối tượng để thu thập các thông tin về các hành vi nguy cơ
- Khám, đo thị lực của mắt để thu thập các thông tin liên quan đến tình trạng cận thị
Bộ câu hỏi phỏng vấn
Bộ câu hỏi thu thập thông tin liên quan đến cận thị của học sinh
* Con người:
- Phỏng vấn: 2 y sĩ đã được tập huấn cách phỏng vấn và nội dung bộ câu hỏi
- Khám – đo thị lực, điều kiện khác: do một bác sĩ chuyên khoa thực hiện
- Đo điều kiện học tập tại trường: 1 kỹ thuật viên thực hiện
- Chủ nhiệm đề tài chịu trách nhiệm giám sát
* Trang thiết bị máy móc:
- Bộ câu hỏi dùng để thu thập thông tin dữ kiện của đối tượng tham gia phỏng vấn
Trang 39- Dụng cụ khám: bộ kính lỗ, bảng thị lực, đèn pin, đèn soi đáy mắt và một số thuốc dùng trong khám mắt
2.2.6 Các bước tiến hành thu thập số liệu
Điều tra tỉ lệ cận thị được tiến hành theo 2 giai đoạn:
- Giai đoạn sàng lọc: tất cả các học sinh được chọn mẫu đều được đo thị lực và khám mắt
- Giai đoạn khám xác định phân loại cận thị: những học sinh đã được xác định là có cận thị được khám lại để xác định bằng khúc xạ kế
- Tất cả nội dung điều tra và khám mắt được ghi và đánh dấu vào các mục của phiếu điều tra đã được in sẵn
2.2.7 Biện pháp kiểm soát sai số
- Xác định rõ tiêu chí chọn mẫu, tiêu chí loại trừ
- Đảm bảo chọn đủ cỡ mẫu và thích hợp
- Cán bộ điều tra được tập huấn kỹ lưỡng, chi tiết thống nhất về nội dung điều tra, yêu cầu cần thu thập
- Chuẩn bị đầy đủ dụng cụ khám, trang thiết bị đo môi trường học tập
- Khám do bác sĩ chuyên khoa thực hiện
- Tổ chức điều tra thử để rút kinh nghiệm Chọn 30 học sinh tại một trường thực hiện phỏng vấn bằng bảng câu hỏi và hiệu chỉnh cho phù hợp
- Điều tra viên phỏng vấn phải khách quan không gợi ý
- Kiểm tra tính hoàn tất của từng bộ câu hỏi ngay sau khi phỏng vấn
- Bố trí giám sát viên kiểm tra hoạt động của điều tra viên
2.3 Xử lý và phân tích số liệu
Các phiếu điều tra được mã hóa và nhập vào máy vi tính Sử dụng phầnmềm Epi 6.04 để nhập liệu và sử dụng phần mềm Stata để phân tích tính tần số, tỷ lệ của các đặc tính đối tượng nghiên cứu (tuổi, giới tính, lớp học, tỷ
Trang 40lệ bị cận thị, …), so sánh test χ2, chọn p < 0,05 là có ý nghĩa thống kê (α = 0,05)
- Tính tỷ lệ học sinh THCS có kiến thức đúng và thực hành đúng về phòng ngừa cận thị
- Tính tỷ lệ các nguồn thông tin cung cấp kiến thức chủ yếu và sự quan tâm của phụ huynh về biện pháp phòng ngừa cận thị cho học sinh
2.4 Đạo đức trong nghiên cứu
Đề tài được tiến hành với chủ thể đối tượng là học sinh THCS quận Thốt Nốt được chọn ngẫu nhiên theo cụm phân tầng
Đề tài thực hiện khi đã được Hội đồng đạo đức của trường Đại học Y Dược Cần Thơ đồng ý bằng văn bản
Trên cơ sở tiến hành đề tài để thu thập những dữ kiện cần thiết, chúng tôi cũng phấn đấu đảm bảo không vi phạm về y đức của người thầy thuốc trong nghiên cứu khoa học, cụ thể chỉ đưa ra những câu hỏi mang tính nghiệp vụ không đi sâu vào những riêng tư hoặc có hại cho đối tượng được phỏng vấn