1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

1256 nghiên cứu kiến thức thái độ thực hành về phòng chống bệnh sốt rét của người dân xã tân duyệt huyện đầm dơi tỉnh cà mau năm 2015

100 0 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu kiến thức thái độ thực hành về phòng chống bệnh sốt rét của người dân xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau năm 2015
Tác giả Huỳnh Xuân Thắm
Người hướng dẫn PGS.TS. Phạm Thị Tâm
Trường học Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Y học dự phòng
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2016
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 3,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (41)
  • 3.2. Kiến thức đúng trong phòng sốt rét......................------c-ccvec 35 3.3. Thái độ trong phòng bệnh sốt rét ......................-: 5 55cccerverrrrer 39 3.4. Thực hành đúng về phòng bệnh sốt rét (44)
  • 3.5. Các yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành đúng về phòng bệnh sốt rết.................... c0. re 41 0006/1287 0600901071577 (50)
  • 4.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (57)
  • 4.2. Kiến thức đúng trong phòng, chống sốt rét (60)
  • 4.3. Thái độ trong phòng bệnh sốt rét.......scesseessesccseecsneeseeeeeeteesseeesees 55 4.4. Thực hành đúng về phòng bệnh sốt rét (64)
  • 4.5. Các yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành đúng về phòng (67)
  • Bang 3.6. Tỷ lệ người dân biết đúng đối tượng có thể mắc bệnh sốt rét (0)
  • Bang 3.9. Tỷ lệ người dân biết được nơi đẻ trứng của muỗi truyền bệnh (0)
  • Bang 3.15. Mối liên quan giữa giới tính với kiến thức đúng về phòng sốt rét (0)
  • Bang 3.17. Mối liên quan giữa nhóm tuổi với kiến thức đúng về phòng sốt rét (0)

Nội dung

Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Biếu đồ 3.1 Phân bố giới tính của mẫu nghiên cứu

Mẫu khảo sát phù hợp với số liệu thống kê về tình hình kinh tế - xã hội của địa phương, trong đó tỷ lệ nam chiếm 60,9% và nữ chiếm 39,1%, phản ánh chính xác đặc điểm dân cư khu vực.

Biểu đồ 3.2 Phân bố nhóm tuổi của mẫu nghiên cứu

Về nhóm tuổi thì được chia theo 3 nhóm, trong đó nhóm tuổi dưới 40 chiếm tỷ lệ 39,7%; từ 40 đến 59 tuổi chiếm 43,8%; còn lại 60-69 tuổi là

Bảng 3.1 Phân bố dân tộc của mẫu nghiên cứu

Dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ đa số với 99,7%; còn lại là dân tộc Hoa với 0,3%

Trong tổng số dân, tỷ lệ người có trình độ học vấn từ tiểu học trở xuống chiếm đa số với 46,5%, cho thấy mức độ phổ cập giáo dục còn chưa đều Trình độ trung học cơ sở cũng đóng vai trò quan trọng với tỷ lệ 41,8%, phản ánh sự phát triển về giáo dục còn hạn chế ở một số khu vực Trong khi đó, chỉ có 11,7% dân số đạt trình độ từ THPT trở lên, thể hiện vẫn còn nhiều cơ hội nâng cao trình độ học vấn trong cộng đồng.

(re Tài liệu phục vụ học tập, nghiên cứu khoa học

Trong nghiên cứu này, tỷ lệ nông dân chiếm đa số, đạt 85,9% phù hợp với đặc điểm kinh tế của địa phương Các nghề khác như cán bộ CC-VC chiếm 2,7%, trong khi các ngành nghề khác chiếm 11,4%, phản ánh cơ cấu lao động đa dạng của khu vực.

Bảng 3.2 Các phương tiện truyền thông

Phương tiện truyền thông Tần số Tỷ lệ (%):

Bao chi 43 10,5 Áp phích hoặc tờ rơi 225 61,1

Bạn bè hoặc người thân 103 28

Theo kết quả nghiên cứu, tivi là phương tiện truyền thông được người dân tiếp cận nhiều nhất với 91,6% người biết đến Các phương tiện phổ biến tiếp theo bao gồm thông tin từ cộng tác viên (75,5%), áp phích và tờ rơi (61,1%), nhân viên y tế (57,9%), hội phụ nữ (42,9%), loa phát thanh (31,5%), trong khi radio có mức tiếp cận thấp nhất chỉ 25,5%.

Kiến thức đúng trong phòng sốt rét c-ccvec 35 3.3 Thái độ trong phòng bệnh sốt rét -: 5 55cccerverrrrer 39 3.4 Thực hành đúng về phòng bệnh sốt rét

Bảng 3.3 Tỷ lệ người dân biết về bệnh sốt rét

Bệnh sốt rét Tần số "Tỷ lệ (%) Đúng 325 88.3

Nhận xét: Khi được hỏi có biết về bệnh sốt rét không thì có 88,3% người trả lời đúng về bệnh sốt rét Còn lại 11,7% là trả lời không đúng

Bang 3.4 Tỷ lệ người dân biết đúng nguyên nhân gây bệnh sốt rét

Biết nguyên nhân gây bệnh sốt rét Tần số Tỷ lệ (%) Đúng 270 73.4

Nhận xét: Kết quả cho thấy có 73,4% người dan biét đúng về nguyên nhân gây ra bệnh sốt rét Còn lại 26,6% là trả lời không đúng

Bảng 3.5 Tỷ lệ người dân biết đúng bệnh sốt rét là bệnh nguy hiểm có thé chết người

Biết bệnh sốt rét nguy hiểm có thể chết người Tần số Tỷ lệ (%) Đúng 352 95.7

Trong cộng đồng, có đến 95,7% người dân nhận thức rõ rằng sốt rét là căn bệnh nguy hiểm có thể gây tử vong, thể hiện mức độ hiểu biết cao về mức độ nguy hiểm của bệnh Tuy nhiên, vẫn còn một số người (chiếm 4,3%) chưa hiểu đúng về tính chất nguy hiểm của sốt rét, cho thấy cần tăng cường công tác tuyên truyền và nâng cao nhận thức cộng đồng về căn bệnh này.

(re Tài liệu phục vụ học tập, nghiên cứu khoa học

Bang 3.6 Tỷ lệ người dân biết đúng đối tượng có thễ mắc bệnh sốt rét

Biết đối tượng có thể mắc bệnh sốt rét Tần số Tỷ lệ (%)

Kết quả nghiên cứu cho thấy, có đến 81,0% người dân nhận biết đúng về các triệu chứng của bệnh sốt rét, trong đó mọi người đều hiểu rõ rằng ai cũng có thể mắc bệnh này Tuy nhiên, vẫn còn 19,0% số người chưa hiểu chính xác về bệnh sốt rét, cho thấy cần nâng cao nhận thức cộng đồng về bệnh này để phòng ngừa hiệu quả hơn.

Bang 3.7 Tỷ lệ người dân biết đúng thời gian muỗi truyền bệnh sót rét chích hút

Biết thời gian muỗi truyền bệnh sốt rét

Tần số Tỷ lệ (% chích hút r6) Đúng 328 89,1

Kết quả khảo sát cho thấy có tới 89,1% người dân nhận biết chính xác thời gian muỗi truyền bệnh sốt rét chích hút, giúp nâng cao nhận thức cộng đồng về việc phòng ngừa bệnh sốt rét hiệu quả Tuy nhiên, vẫn còn 10,9% số người chưa nắm rõ thông tin này, cần tăng cường các chiến dịch truyền thông để nâng cao ý thức phòng tránh bệnh sốt rét trong cộng đồng Việc hiểu đúng thời gian muỗi truyền bệnh là yếu tố quan trọng trong việc giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh sốt rét và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Bảng 3.8 Tỷ lệ người dân biết được nơi thường trú đậu của muỗi truyền bệnh sốt rét

Biết nơi thường trú đậu của muỗi truyền bệnh | Tần số | Tỷ lệ (%) Đúng 367 99,7

Theo thống kê, hầu hết người dân đều nhận biết về nơi đậu thường trú của muỗi truyền bệnh sốt rét, với tỷ lệ nhận thức đạt 99,7% Chỉ có một số ít (0,3%) chưa rõ về thông tin này, cho thấy kiến thức về nơi muỗi sốt rét sinh sống còn hạn chế ở một bộ phận dân cư Việc nâng cao nhận thức về đặc điểm sinh thái của muỗi truyền bệnh là cần thiết để phòng ngừa hiệu quả bệnh sốt rét trong cộng đồng.

Bang 3.9 Tỷ lệ người dân biết được nơi đẻ trứng của muỗi truyền bệnh

Biết nơi đẻ trứng của muỗi truyền bệnh sốt rét | Tầnsố | Tỷ lệ (%) Đúng 367 99/7

Nhận xét: Có 99,7% người dân biết được nơi đẻ trứng của muỗi truyền bệnh sốt rét

Bảng 3.10 Tỷ lệ người dân biết bệnh sốt rét có thể phòng được

Biết bệnh sốt rét là bệnh có thể phòng được | Tầnsố | Tỷ lệ(%) Đúng 345 93,8

Nhận xét: Qua kết quả nghiên cứu này cho thấy đa số người dân biết bệnh sốt rét có thể phòng được Tỷ lệ biết được điều này là 93,8%

Bảng 3.11 Tỷ lệ người dân biết đúng dấu hiệu của bệnh sốt rét

Biết dấu hiệu của bệnh Tần số Tỷ lệ (%)

Vã mồ hôi 233 63,3 Đau đầu 245 66,6

(re Tài liệu phục vụ học tập, nghiên cứu khoa học

Người dân có khả năng nhận biết các dấu hiệu của bệnh sốt rét như sốt, rét run, vã mồ hôi, đau đầu, nôn ói và khát nước, với tỷ lệ nhận biết lần lượt lên đến 82,6%.

83,7%; 63,3%; 66,6%; 56%; 62,2% Chỉ có 1,1% là không biết các dấu hiệu này

Bảng 3.12 cho thấy, chỉ có 30,7% người dân biết rằng hiện tại không có vắc xin phòng bệnh sốt rét, với tổng số 113 người Điều này phản ánh mức độ nhận thức về tình trạng y tế liên quan đến bệnh sốt rét trong cộng đồng còn hạn chế Việc nâng cao nhận thức về thiếu vắc xin phòng sốt rét là cần thiết để thúc đẩy các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát bệnh hiệu quả.

Nhận xét: Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có 30,7% người dân biết được bệnh sốt rét hiện nay không có vắc xin phòng bệnh

Kiến thức đúng chung về phòng sôt rét

E Kiến thức không đúng chung về phòng sốt rét

Biểu đồ 3.3 Kiến thức đúng chung về phòng sốt rét

Nhận xét: kết quả cho thấy tỷ lệ người dân có kiến thức đúng chung về phòng chống bệnh sót rét là 95,9%; còn lại chỉ 4,1% là không biết

3.3 Thái độ trong phòng bệnh sốt rét

Bảng 3.13 Thái độ chung về phòng, chống sốt rét

Thái độ phòng bệnh sốt rét Tanso | Tỷ lệ (%)

Ngủ mùng Chấp nhận 368 100,0 x Chấp nhận 367 99,8

Có chấp nhận khi có sốt có | Chấp nhận 368 100,0 đến TYT

Có chấp nhận lấy máu XN | Chấp nhận 367 99,8

Nhận xét: tỷ lệ 100% người dân chấp nhận ngủ mùng để phòng bệnh

Trong các tài liệu phục vụ cho học tập và nghiên cứu khoa học về sốt rét, có đến 99,8% người dân chấp nhận việc tắm mùng như một biện pháp phòng bệnh hiệu quả Ngoài ra, tỷ lệ chấp nhận phun hóa chất chống muỗi để phòng sốt rét cũng đạt mức cao 99,8%, cho thấy sự ưu tiên sử dụng các biện pháp phòng tránh truyền thống và hóa học để giảm thiểu nguy cơ nhiễm bệnh.

3.4 Thực hành đúng về phòng bệnh sốt rét Bảng 3.14 Thực hành chung về phòng, chống sốt rét

Thực hành phòng bệnh sốt rét Tanso | Tỷ lệ (%)

Sử dụng các biện phá ane ZŠ pm Đúng 368 100,0 phòng bệnh sốt rét

Tâm mùng bắng hóa chat

Không đúng 56 15,3 Đi ruộng, vườn có ngủ Đúng 296 80,4 mùng Không đúng 72 19,6

Khi sốt cao gia đình đến cơ Đúng 366 99,5 sở y tế Không đúng 2 0,5 ko ak x Dung 362 98,3

Phun hóa chât dé diét mudi

Theo khảo sát, có 100% người dân thực hành ngủ mùng và sử dụng các biện pháp phòng chống bệnh sốt rét, đảm bảo an toàn sức khỏe cộng đồng Trong đó, 84,7% thực hiện phun hóa chất để giữ gìn vệ sinh môi trường sống, còn 80,4% duy trì việc ngủ có mùng khi làm việc ở ruộng vườn Khi gặp triệu chứng sốt cao, 99,5% gia đình đã đưa người bệnh đến cơ sở y tế để điều trị kịp thời Ngoài ra, có tới 89,5% cộng đồng đồng ý thực hành phun hóa chất để diệt muỗi, góp phần giảm thiểu nguy cơ lây lan bệnh sốt rét.

# Thực hành đúng chung về phòng sốt rét

# Thực hành không đúng chung về phòng sốt rét

Trong nghiên cứu về thực hành phòng chống sốt rét, kết quả cho thấy tỷ lệ người dân thực hiện đúng các biện pháp là 93,7%, đảm bảo hiệu quả trong việc phòng ngừa bệnh Tuy nhiên, vẫn còn 6,3% người dân chưa thực hành đúng các hướng dẫn phòng sốt rét, cần tăng cường công tác tuyên truyền và giáo dục để nâng cao ý thức và đảm bảo sự tham gia tích cực của cộng đồng trong công tác phòng chống bệnh sốt rét.

Các yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành đúng về phòng bệnh sốt rết c0 re 41 0006/1287 0600901071577

3.5.1 Các yếu tố liên quan đến kiến thức đúng về phòng bệnh sốt rét

Bảng 3.15 Mối liên quan giữa giới tính với kiến thức đúng về phòng sốt rét

Giới tính Đúng Không Tổng x đúng KTC 95% | P n(%) n(%)

(re Tài liệu phục vụ học tập, nghiên cứu khoa học

Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ nam giới có kiến thức đúng về bệnh sốt rét là 99,2%, thấp hơn so với tỷ lệ của nữ giới đạt 100% Tuy nhiên, sự khác biệt này không mang ý nghĩa thống kê với giá trị p=0,327 (p>0,05), cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về kiến thức về sốt rét giữa hai giới.

Bảng 3.16 Mối liên quan giữa dân tộc với kiến thức đúng về phòng sốt rét

Dân tộc Đúng Không Tổng KTC X n(%) đúng 95% p ° n(%) ân tộ 367 se nh 365(99,5%) | 2(0,5%)

Phân tích về mối quan hệ giữa kiến thức đúng về bệnh sốt rét và các dân tộc cho thấy, tỷ lệ kiến thức đúng ở dân tộc Kinh là cao hơn so với các nhóm dân tộc khác Điều này phản ánh mức độ tiếp cận và hiểu biết về bệnh sốt rét của dân tộc Kinh tương đối tốt, góp phần nâng cao hiệu quả phòng bệnh và kiểm soát dịch bệnh trong cộng đồng Các kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc triển khai các hoạt động tuyên truyền giáo dục y tế phù hợp với từng nhóm dân tộc để nâng cao kiến thức và giảm thiểu tác động của bệnh sốt rét.

99,5% tỷ lệ khá cao tuy nhiên vẫn thấp hơn tỷ lệ kiến thức đúng của dân tộc

Khơme là 100% Tuy nhiên kết quả này không có ý nghĩa thống kê với p=0,94 (p>0.05)

Bảng 3.17 Mối liên quan giữa nhóm tuổi với kiến thức đúng về phòng sốt rét

Nhom 2 Tổng x tuôi Đúng ihe n(%) p n(%) 0, n4)

Trong nhóm tuổi dưới 40, tỷ lệ biết đúng về bệnh sốt rét đạt 100%, cho thấy kiến thức về bệnh này rất cao trong nhóm này Tiếp đó, nhóm tuổi từ 40 đến 50 có tỷ lệ đúng khoảng 99,4%, trong khi nhóm từ 60 tuổi trở lên đạt 98,3% Tuy nhiên, kết quả này không có ý nghĩa thống kê với p=0,329 (p>0,05), cho thấy sự khác biệt không đáng kể về kiến thức giữa các nhóm tuổi.

Bảng 3.18 Mối liên quan giữa trình độ học vấn với kiến thức đúng phòng sốt rét

Trình độ học ‘ Đúng Không Tông Ä P van đúng n(%) n(%)

Kết quả nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa trình độ học vấn và kiến thức đúng về phòng chống sốt rét (p>0,05) Điều này cho thấy trình độ học vấn không ảnh hưởng đáng kể đến nhận thức của người dân về các biện pháp phòng chống bệnh sốt rét Các kết quả này cần được xem xét để xây dựng các chiến lược nâng cao kiến thức về phòng chống bệnh sốt rét cho mọi đối tượng dân cư.

Bảng 3.19 Mối liên quan nghề nghiệp với kiến thức đứng về phòng sốt rét

Nghe Tả % Ú ô Í on nghiép Đúng Không đúng g n(%) n(%)

(re Tài liệu phục vụ học tập, nghiên cứu khoa học

Phân tích mối liên quan giữa nghề nghiệp và kiến thức đúng về phòng sốt rét cho thấy, tỷ lệ cán bộ công chức viên chức (CBCC) có kiến thức chính xác cao nhất Điều này nhấn mạnh vai trò của đào tạo và cập nhật kiến thức trong nhóm nghề nghiệp này để nâng cao hiệu quả phòng chống sốt rét Việc tăng cường các chương trình tuyên truyền và đào tạo chuyên sâu sẽ giúp cải thiện nhận thức và hành động của các đối tượng liên quan Đây là yếu tố then chốt góp phần giảm tỷ lệ mắc bệnh sốt rét và kiểm soát dịch bệnh hiệu quả hơn.

VC và nghề khác với tỷ lệ đều là 100%, tỷ lệ này ở nông dân là 99,4% Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) rét

3.5.3 Các yếu tố liên quan đến thực hành đúng về phòng bệnh sốt

Bảng 3.20 Mối liên quan giữa giới tính với thực hành đúng về phòng sốt rét

„ Đúng Không đúng Tông OR tính n(%) n(%) KTC 95%

Trong nghiên cứu, nam giới có tỷ lệ thực hành phòng bệnh sốt rét thấp hơn nữ giới hơn 0,5 lần (OR=0,52); tuy nhiên, mối liên hệ này không đạt ý nghĩa thống kê với giá trị p=0,18 (p>0,05), cho thấy sự khác biệt không đáng kể giữa hai giới về hành vi phòng bệnh sốt rét.

Bảng 3.21 Mối liên quan giữa dân tộc với thực hành đúng về phòng sốt rét

Dân tộc Đúng Không đúng Tổng KTC * n(%) n(%) 95%

Nhận xét: Tỷ lệ thực hành đúng ở người thuộc dân tộc Kinh là 93,7% thấp hơn tỷ lệ thực hành đúng về phòng bệnh sốt rét ở dân tộc Khơme là

100% Kết quả này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

Bảng 3.22 Mối liên quan giữa nhóm tuổi với thực hành đúng phòng sốt rét

Nhóm tuôi Thực hành Tong va

Phân tích về mối liên quan giữa nhóm tuổi và thực hành phòng bệnh sốt rét cho thấy tỷ lệ thực hành đúng cao nhất ở nhóm tuổi dưới 40 với 95,2%, trong khi nhóm trên 60 tuổi có tỷ lệ thấp nhất là 90,2% Tuy nhiên, sự khác biệt về mức độ thực hành đúng giữa các nhóm tuổi chưa đạt ý nghĩa thống kê với p=0,93 (p>0,0).

(re Tài liệu phục vụ học tập, nghiên cứu khoa học

Bảng 3.23 Mối liên quan giữa trình độ học vấn với thực hành đúng phòng sốt rét

Trình độ học vấn Đúng Không Tổng * đúng P n(%) n(%) Tiểu học trở xuống 159(93.0%) | 12(7.0%) 171(100.0%)

Tỷ lệ thực hành đúng về phòng bệnh sốt rét thấp nhất (93,0%) được ghi nhận ở nhóm trình độ học vấn từ tiểu học trở xuống, cho thấy kiến thức phòng chống sốt rét còn hạn chế ở nhóm này so với các nhóm trình độ cao hơn.

Nhóm học sinh từ THPT trở lên có tỷ lệ thực hành đúng cao nhất, đạt 100%, thể hiện sự hiểu biết và ứng dụng kiến thức tốt Tuy nhiên, kết quả này vẫn không đạt ý nghĩa thống kê với giá trị p=0,19, cho thấy sự khác biệt này chưa đủ mức độ đáng kể để khẳng định tác động rõ ràng của trình độ học vấn đối với việc thực hành đúng.

Bảng 3.24 Mối liên quan giữa nghề nghiệp với thực hành đúng về phòng sốt rét

Nghề on ‘i Khôn & Tong : C nghiệp vo đúng p n ° n(%)

Phân tích mối liên quan giữa nghề nghiệp và thực hành đúng về phòng sốt rét cho thấy, nông dân có tỷ lệ thực hành đúng là 92,7%, thấp hơn so với cán bộ công chức viên chức và các nghề khác, đạt 100% Mặc dù có sự chênh lệch về tỷ lệ thực hành đúng giữa các nhóm nghề nghiệp, nhưng sự khác biệt này chưa đủ ý nghĩa thống kê để đưa ra kết luận chắc chắn.

3.5.4 Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành đúng về phòng bệnh sốt rét

Bảng 3.25 Mi liên quan giữa kiến thức với thực hành đúng về phòng sốt rét

Kien Đúng Không Tổng KTC X thức n (%) ° n(%) đúng 95% Pp Đúng | 33003.5%) | 23(6.5%) | 353(100%)

Kết quả phân tích cho thấy, nhóm người có kiến thức đúng về phòng chống sốt rét và thực hành tốt chiếm tỷ lệ 93,5%, thấp hơn so với nhóm có kiến thức không đúng nhưng vẫn thực hành tốt đạt 100% Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p=0,3 (p>0,05), cho thấy kiến thức chính xác không hoàn toàn ảnh hưởng đến việc thực hành phòng chống sốt rét.

(re Tài liệu phục vụ học tập, nghiên cứu khoa học

Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Trong nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành phòng, chống sốt rét của 368 người dân xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau, tổng số người tham gia là 224 nam (60,9%) và 144 nữ (39,1%), phản ánh đúng tỷ lệ giới tính của địa phương Tỷ lệ giới tính này phù hợp với dữ liệu thống kê xã hội của khu vực, đồng thời cũng tương tự với nghiên cứu của Nguyễn Xuân Tươi về kiến thức phòng chống sốt rét tại xã Vĩnh Phước, tỉnh Sóc Trăng năm 2010, với tỷ lệ nam là 54,4% và nữ là 45,6% Sự chênh lệch giới tính trong nghiên cứu này chủ yếu do quá trình lập danh sách hộ gia đình, thường ghi tên chủ hộ là nam nhiều hơn nữ, và đặc điểm phụ nữ nông thôn thường e ngại, ít tham gia phỏng vấn hơn nam giới.

Về nhóm tuổi thì được chia theo 3 nhóm, trong đó nhóm tuổi từ dưới

Ở độ tuổi từ 40 đến 59, tỷ lệ chiếm cao nhất là 43,8%, trong khi đó, người từ 40 tuổi trở xuống chiếm 39,7%, và trên 60 tuổi là 16,6% Các số liệu này phù hợp với thống kê chung về độ tuổi trên địa bàn xã, phản ánh đặc điểm dân số rõ nét.

Dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ đa số với 99,7%; còn lại là dân tộc Hoa với

0,3% Tỷ lệ này gần giống với kết quả nghiên cứu của Huỳnh Tan Phát “

Nghiên cứu đã khảo sát tình hình nhiễm ký sinh trùng sốt rét trong cộng đồng xã Trí Phải, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau năm 2011, nhằm đánh giá tỷ lệ mắc bệnh sốt rét và các yếu tố nguy cơ liên quan Bên cạnh đó, bài viết còn phân tích kiến thức, thái độ và thực hành của người dân về phòng chống sốt rét, giúp xác định mức độ nhận thức cộng đồng về bệnh Kết quả cho thấy mức độ hiểu biết về các phương pháp phòng chống sốt rét còn hạn chế, đồng thời các thái độ chủ quan, thiếu tích cực làm ảnh hưởng đến hiệu quả dự phòng Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức cộng đồng và thực hành tốt trong phòng chống sốt rét để giảm thiểu dịch bệnh Những kết quả này góp phần xây dựng các chiến lược truyền thông và can thiệp phù hợp, hướng tới giảm tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng malaria tại khu vực.

Thơ” đa số vẫn là dân tộc Kinh 98,0% ở đây có rất ít người dân tộc khác [22]

Mẫu khảo sát cho thấy tỷ lệ người có trình độ học vấn từ tiểu học trở xuống chiếm số cao nhất với 46,5% Đồng thời, trình độ trung học cơ sở cũng đạt mức khá cao, phản ánh mức độ phổ biến của trình độ học vấn này trong cộng đồng Các kết quả này cho thấy phần lớn dân cư còn hạn chế về trình độ học vấn, cần có các chính sách nâng cao giáo dục để thúc đẩy sự phát triển lâu dài Việc hiểu rõ tỷ lệ trình độ học vấn giúp định hình các chiến lược đào tạo và phát triển nguồn nhân lực phù hợp.

Trong đó, 41,8% dân số có trình độ từ trung cấp trở lên, còn lại 11,7% là từ còn lại 11,7% là từ THPT trở lên, cho thấy tỷ lệ người có trình độ học vấn cao chưa đáng kể Nghiên cứu của Hà Chí Khanh năm 2013 về kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống sốt rét tại xã Đông Thới, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau cũng phản ánh thực trạng này, góp phần làm rõ những hạn chế về kiến thức y tế của cộng đồng địa phương.

Trình độ dân trí trong cộng đồng còn thấp, theo khảo sát cho thấy người dân chủ yếu làm nghề nông với tỷ lệ lên đến 85,9% Tỷ lệ nông dân cao phản ánh đặc thù kinh tế địa phương, nơi đa số cư dân làm nông nghiệp để duy trì cuộc sống Ngoài ra, phần lớn người được khảo sát là nam giới, chịu trách nhiệm chính trong nối nghiệp nông nghiệp của gia đình và ít tham gia các ngành nghề phụ khác.

Trong cuộc điều tra về kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống bệnh sốt rét tại xã Tân Duyệt, huyện Dăm Dơi, tỉnh Cà Mau, người dân chủ yếu tiếp cận thông tin qua các phương tiện truyền thông như truyền hình với tỷ lệ lên đến 91,6% Công tác viên y tế và nhân viên y tế cũng đóng vai trò quan trọng, lần lượt chiếm tỷ lệ 75,5% và 57,9%, trong khi tờ rơi, áp phích được sử dụng bởi 61,1% người dân Tương tự, tại xã Trí Phải, Thới Bình, tỉnh Cà Mau, tỷ lệ người dân tiếp cận qua truyền hình là 69,5%, qua nhân viên y tế là 53%, và qua tờ rơi, áp phích cũng góp phần nâng cao nhận thức về phòng chống sốt rét Sự phát triển của khoa học và truyền thông góp phần nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền phòng chống bệnh sốt rét cho cộng đồng.

25%.Nghiên cứu của Đinh Văn Thiên (2011),cho thấy người dân tiếp cận thông tin phòng chống sốt rét nhiều nhất là qua tivi 81,0%; nhân vên y tế là

76,5%; loa truyền thanh 69,3% [25] Theo tác giả của Nguyễn Xuân Tươi “

(re Tài liệu phục vụ học tập, nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành phòng, chống sốt rét tại xã Vĩnh Phước, huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng cho thấy tỉ lệ người dân tiếp cận thông tin thông qua truyền hình là cao nhất với 87,9%, tiếp theo là cộng tác viên y tế ấp với 45,1% Điều này cho thấy ngành y tế đã linh hoạt trong việc đăng tải các thông tin y tế qua các phương tiện truyền thông dễ tiếp cận như truyền hình và phát thanh, từ đó nâng cao nhận thức và kiến thức của người dân về phòng bệnh Việc người dân dễ dàng tiếp cận thông tin giúp họ hiểu rõ hơn về cách phòng bệnh tổng quát cũng như phòng chống sốt rét hiệu quả, góp phần giảm thiểu tình hình bệnh trên địa bàn.

Trong những năm gần đây, diện tích nuôi trồng thủy sản, trồng rừng và bảo vệ rừng đã được mở rộng để phát triển kinh tế, đặc biệt tại tỉnh Cà Mau, nơi kết hợp nuôi tôm, trồng lúa và rừng ngập mặn Tuy nhiên, sự mở rộng này tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của vector truyền bệnh và gây ra nguy cơ dịch bệnh, đặc biệt là bệnh sốt rét Tỉnh Cà Mau là vùng dịch tễ sốt rét lưu hành quanh năm, đã ghi nhận nhiều ca sốt rét ác tính và tử vong do bệnh Theo báo cáo, tình hình bệnh sốt rét diễn biến phức tạp, đòi hỏi công tác phòng chống hiệu quả để giảm thiểu tác động đến cộng đồng Nghiên cứu về tình hình mắc sốt rét và đánh giá kiến thức, thái độ, hành vi của người dân địa phương là rất cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng chống và xây dựng các chương trình dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn.

Kiến thức đúng trong phòng, chống sốt rét

Người dân đã nhận thức rõ về bệnh sốt rét, điều này đóng vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa và kiểm soát dịch bệnh Theo nghiên cứu của tác giả Hà Chí Khanh về "Kiến thức, thái độ và thực hành phòng, chống sốt rét" tại xã Đông Thới, huyện , cho thấy nhận thức cộng đồng là yếu tố then chốt trong việc giảm thiểu số ca mắc bệnh sốt rét Thái độ tích cực và hành động phòng ngừa chủ động của người dân góp phần nâng cao hiệu quả các biện pháp kiểm soát bệnh sốt rét tại địa phương Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế trong thực hành dự phòng, đặt ra yêu cầu nâng cao nhận thức và tăng cường công tác tuyên truyền để đạt hiệu quả cao hơn.

Trong tỉnh Cà Mau, người dân có kiến thức cơ bản về bệnh sốt rét, với hơn 84,63% respondents có khả năng nhận biết ít nhất hai triệu chứng chính của bệnh, bao gồm sốt, rét run, đau đầu, vã mồ hôi và nôn ói Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của chúng tôi, cho thấy nhận thức về các dấu hiệu nhận biết bệnh sốt rét đang được nâng cao trong cộng đồng.

Nghiên cứu cho thấy phần lớn người dân đã tin rằng bệnh sốt rét có thể phòng và chống được, điều này đóng vai trò quan trọng trong công tác phòng chống sốt rét Tuy nhiên, vẫn còn một số ít người chưa hiểu rõ kiến thức cơ bản về phòng chống sốt rét Thảo luận này là cơ sở để chương trình phòng chống sốt rét xây dựng kế hoạch truyền thông phù hợp với đối tượng và đặc điểm của từng vùng miền.

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Minh Lương, có 73,4% người dân cho rằng nguyên nhân gây ra bệnh sốt rét là do ký sinh trùng, thể hiện rõ hiệu quả của công tác truyền thông trong việc phổ biến kiến thức về bệnh sốt rét Đa số người dân đều nhận biết đúng nguyên nhân chính gây ra bệnh sốt rét, góp phần nâng cao ý thức phòng tránh bệnh trong cộng đồng.

Khảo sát kiến thức và thực hành phòng, chống sốt rét của người dân tại huyện Phú Quốc, Kiên Giang năm 2011 cho thấy tỷ lệ người dân nắm rõ nguyên nhân gây bệnh đạt 84,57%, phản ánh mức độ nhận thức khá cao về các yếu tố nguy cơ và biện pháp phòng chống sốt rét Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu khác như luận văn của trường ĐH Y Cần Thơ, cũng ghi nhận tỷ lệ người dân hiểu biết về nguyên nhân gây bệnh sốt rét đạt mức khá cao Điều này cho thấy nhận thức cộng đồng về bệnh sốt rét tại khu vực vẫn được nâng cao, góp phần thúc đẩy các hoạt động phòng chống hiệu quả hơn.

(re Tài liệu phục vụ học tập, nghiên cứu khoa học

Theo nghiên cứu của Trịnh Hữu Phước trong luận văn CKI tại Trường ĐH Y dược Cần Thơ về kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống sốt rét của người dân tộc Khơme tại xã Ô Lâm, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang năm 2012, có đến 74,8% người dân nhận biết nguyên nhân gây sốt rét do ký sinh trùng.

Hiểu rõ nguyên nhân gây bệnh sốt rét đóng vai trò quan trọng trong việc phòng chống bệnh hiệu quả Khi xác định chính xác nguyên nhân, các biện pháp phòng bệnh có thể được áp dụng một cách tối ưu, nâng cao khả năng dự phòng và giảm thiểu rủi ro mắc bệnh Việc nắm vững nguyên nhân gây bệnh giúp cộng đồng và y tế phối hợp hành động hiệu quả hơn trong việc kiểm soát bệnh sốt rét.

Bệnh sốt rét là một bệnh truyền nhiễm do ký sinh trùng sốt rét gây ra Muỗi sốt rét đóng vai trò là thủ phạm chính truyền bệnh từ người mắc sốt rét sang người lành Việc kiểm soát muỗi và phòng ngừa côn trùng đốt là cần thiết để giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm bệnh sốt rét.

Bệnh nặng nếu không được cứu chữa kịp thời có thé sẽ dẫn tới tử vong

Ký sinh trùng sốt rét là sinh vật cực kỳ nhỏ, chỉ có thể nhìn thấy qua kính hiển vi Chúng ký sinh trong máu và các cơ quan của con người, phá vỡ hàng loạt hồng cầu và gây tổn thương tế bào trong cơ thể Sự phá hủy này dẫn đến các cơn sốt có chu kỳ khác nhau, như sốt hàng ngày, cách nhật hoặc cách 3 ngày, tùy thuộc vào loại ký sinh trùng sốt rét.

Muỗi Anophen là tác nhân chính truyền bệnh sốt rét qua việc hút máu của người nhiễm bệnh, đồng thời hút luôn ký sinh trùng sốt rét vào cơ thể Ký sinh trùng phát triển và sinh sôi nhân lên trong muỗi, sau đó khi muỗi đốt người lành, chúng truyền ký sinh trùng gây bệnh cho người mới Quá trình lây nhiễm diễn ra nhanh chóng, có thể làm hàng trăm người cùng mắc bệnh sốt rét trong thời gian ngắn Chính vì vậy, kiểm soát muỗi Anophen là yếu tố then chốt trong việc phòng chống dịch bệnh sốt rét hiệu quả.

Nguyên nhân gây ra bệnh sốt rét vẫn chưa rõ ràng, khiến mọi người gặp khó khăn trong việc phòng chống và điều trị đúng cách Nhiều người tự ý đi cúng ma, cạo gió, đuổi tà hoặc cầu trời thay vì tìm đến thầy thuốc, dẫn đến tình trạng bệnh không được chữa khỏi và nặng hơn Điều này làm gia tăng nguy cơ tật mang, thậm chí gây ra những cái chết oan uổng do xử lý bệnh sai cách.

97,5% người dân biết rằng bệnh sốt rét là bệnh nguy hiểm và có thể gây chết người, trong khi chỉ 4,3% cho rằng bệnh này không nguy hiểm Mặc dù tỷ lệ hiểu đúng về mức độ nguy hiểm của bệnh giảm so với nghiên cứu của Hà Chí Khanh, nhưng nếu mắc bệnh sốt rét, họ vẫn đối mặt với nguy cơ rất lớn do sự xem nhẹ, gây ra nguy cơ lây truyền bệnh cho người thân và cộng đồng xung quanh.

Nghiên cứu cho thấy, có đến 81% người dân biết rằng mọi người đều có thể mắc bệnh sốt rét, tuy nhiên vẫn còn 19% chưa nhận thức đúng về điều này Điều quan trọng là không nên nghĩ rằng bệnh sốt rét chỉ xảy ra ở trẻ nhỏ hoặc một nhóm đối tượng nhất định, bởi suy nghĩ sai lầm này có thể dẫn đến lơ là việc phòng chống bệnh cho chính bản thân và người thân Việc chủ quan, bỏ qua các biện pháp phòng bệnh sốt rét sẽ gây nguy hiểm, làm tăng nguy cơ lây truyền bệnh trong cộng đồng.

Khoảng 89,1% người dân biết chính xác thời gian muỗi truyền bệnh sốt rét chích hút, trong khi 10,9% còn lại chưa nắm rõ điều này Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Hà Chí Khanh về “Kiến thức, thái độ, thực hành phòng, chống sốt rét của người dân tại xã Đông Thới, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau”, tỷ lệ biết đúng thời gian muỗi truyền bệnh là 64,63% Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của chúng tôi, do trình độ học vấn của người dân trong nghiên cứu này cao hơn, ít người mù chữ hơn, từ đó nâng cao kiến thức về phòng chống sốt rét.

Kết quả khảo sát cho thấy, có tới 99,7% người dân nhận biết chính xác về nơi muỗi truyền bệnh thường trú đậu, điều này thể hiện mức độ nhận thức rất cao trong cộng đồng Tỷ lệ này cho thấy phần lớn người dân đã có kiến thức đúng về yếu tố quan trọng trong phòng chống bệnh sốt xuất huyết và các bệnh do muỗi truyền Chỉ có 0,3% người trả lời chưa chính xác, cho thấy vẫn còn một tỷ lệ nhỏ còn cần được nâng cao hiểu biết về các yếu tố nguy cơ Việc nâng cao nhận thức cộng đồng về nơi muỗi trú đậu là yếu tố then chốt để kiểm soát hiệu quả dịch bệnh.

(re Tài liệu phục vụ học tập, nghiên cứu khoa học

Thái độ trong phòng bệnh sốt rét .scesseessesccseecsneeseeeeeeteesseeesees 55 4.4 Thực hành đúng về phòng bệnh sốt rét

Có 100% người dân chấp nhận ngủ mùng để phòng, chống bệnh sốt rét

Người dân vùng nông thôn đã truyền thống sử dụng mùng để phòng bệnh sốt rét từ lâu đời, và tất cả các người dân được khảo sát đều đồng ý rằng ngủ mùng là biện pháp hiệu quả giúp giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh Nghiên cứu này phù hợp với kết quả của Hà Chí Khanh trong đề tài “Kiến thức, thái độ, thực hành phòng, chống sốt rét của người dân tại xã Đông Thới, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau”, trong đó có hơn 97% người dân sử dụng mùng để phòng bệnh sốt rét Đây cho thấy rõ ý thức cao của cộng đồng trong việc áp dụng các biện pháp phòng bệnh truyền thống để bảo vệ sức khỏe của mình.

Tài liệu của tác giả Huỳnh Tấn Phát tập trung vào nghiên cứu tình hình nhiễm ký sinh trùng sốt rét và kiến thức, thái độ, thực hành của cộng đồng dân cư xã Trí Phải, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau năm 20XX Nghiên cứu giúp cung cấp thông tin quan trọng về mức độ truyền nhiễm và các yếu tố liên quan đến phòng chống sốt rét trong cộng đồng Phân tích này nhằm nâng cao nhận thức và thúc đẩy các biện pháp phòng bệnh hiệu quả để giảm thiểu tỷ lệ mắc sốt rét Tài liệu còn nhấn mạnh vai trò của việc nâng cao kiến thức và thay đổi hành vi của người dân trong kiểm soát dịch bệnh sốt rét tại địa phương.

2011”, Luận văn Thạc sĩ Y tế công cộng, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

Kết quả nghiên cứu cho thấy có tới 99,8% người dân chấp nhận sử dụng mùng có tâm hóa chất để phòng bệnh sốt rét, cao hơn nhiều so với các nghiên cứu trước đây như của Huỳnh Tấn Phát (2011) với 94,5%, của Đinh Văn Thiên với 98,8%, và của Nguyễn Xuân Tươi với 84,2% Điều này cho thấy ý thức và sự chấp nhận của cộng đồng về việc sử dụng các biện pháp phòng chống sốt rét ngày càng tăng cao Các kết quả này phản ánh hiệu quả của các chiến dịch tuyên truyền và nâng cao nhận thức cộng đồng về phòng bệnh sốt rét bằng cách tâm hóa chất trên các vùng nông thôn Tỷ lệ người dân sẵn sàng sử dụng mùng có tâm hóa chất đề phòng bệnh sốt rét ngày càng được duy trì và nâng cao, góp phần giảm tỷ lệ mắc bệnh rõ rệt trong cộng đồng.

Phun hóa chất để diệt muỗi phòng bệnh sốt rét nhận được sự hưởng ứng rất cao từ người dân, lên đến 99,8% Sự thành công này có thể do nhà nước triển khai các chương trình phun tẩm hóa chất miễn phí trong các chiến dịch phòng chống bệnh sốt rét, tạo điều kiện thuận lợi để người dân tham gia tích cực Chính nhờ các hoạt động này mà ý thức phòng bệnh của cộng đồng ngày càng được nâng cao, góp phần giảm thiểu mắc bệnh sốt rét hiệu quả.

Có 100% người dân đồng ý đến trạm y tế khi xuất hiện sốt, điều này thể hiện ý thức phòng bệnh rất cao trong cộng đồng Tỷ lệ chấp nhận xét nghiệm máu khi có chỉ định của bác sĩ đạt 99,8%, cho thấy sự phối hợp tích cực của người dân trong việc phòng chống sốt rét Nhờ đó, công tác phòng bệnh sốt rét đang tiến triển khả quan, với thái độ hợp tác của cộng đồng góp phần nâng cao hiệu quả phòng chống bệnh.

4.4 Thực hành đúng về phòng bệnh sốt rét

Trong nghiên cứu của Hà Chí Khanh về kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống sốt rét tại xã Đông Thới, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau năm 2013, có đến 97,56% người dân thực hiện ngủ mùng và các biện pháp phòng bệnh sốt rét, cho thấy ý thức phòng bệnh rất cao Kết quả này vượt xa các nghiên cứu khác, trong đó có nghiên cứu của Huỳnh Tấn Phát tại xã Trí Phải, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau năm 2011, được thực hiện trong khuôn khổ luận văn Thạc sĩ Y tế công cộng của Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, cũng ghi nhận tỷ lệ người dân thực hiện các biện pháp phòng bệnh sốt rét cao Những kết quả này phản ánh mối quan tâm và chủ động của cộng đồng trong việc phòng chống bệnh sốt rét.

Trong nghiên cứu của Nguyễn Xuân Tươi về kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống sốt rét tại xã Vĩnh Phước, huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, tỷ lệ người dân có hiểu biết và thực hành phòng bệnh đạt đến 99%, phù hợp với thực tế địa phương Ngoài ra, luận văn của Trường Đại học Y Dược Cần Thơ cũng ghi nhận tỷ lệ người dân ngủ mùng cao tuyệt đối, phản ánh thói quen sinh hoạt truyền thống và ý thức phòng tránh bệnh sốt rét của cộng đồng địa phương.

Có 84,7% thực hành tắm mùng bằng hóa chất để phòng bệnh sốt rét

Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của Định Văn Thiên (2011), có 97% người dân sử dụng mùng tẩm hóa chất, nhưng cao hơn so với nghiên cứu của Huỳnh Tấn Phát (2011), chỉ 78% người dân sử dụng mùng tẩm hóa chất phòng sốt rét Trong nghiên cứu của Nguyễn Xuân Tươi, cũng có 78% người dân tẩm mùng bằng hóa chất để phòng bệnh sốt rét Đa số người dân trong nghiên cứu này là nông dân và đã thực hiện đúng việc thường xuyên ngủ mùng khi đi làm ruộng, chiếm tỷ lệ 80,4%, nhưng vẫn còn 19,6% không thực hành đúng, không ngủ mùng khi đi vườn do phải giữ nông sản ngoài trời.

Tài liệu phục vụ học tập và nghiên cứu khoa học không phù hợp để sử dụng làm giường ngủ hoặc trải màn để tránh muỗi Việc dùng màn để ngủ có thể gây vướng víu và không thuận tiện, do đó không phù hợp với mục đích sử dụng trong các hoạt động học tập hay nghiên cứu.

Trong nghiên cứu này, có tới 99,5% người dân đến khám tại cơ sở y tế khi có triệu chứng sốt, thể hiện ý thức chăm sóc sức khỏe và phòng ngừa bệnh hiệu quả Đồng thời, 98,3% người dân đồng ý sử dụng hóa chất để diệt muỗi, góp phần phòng chống sốt rét Nhìn chung, người dân thực hành các biện pháp phòng chống bệnh sốt rét rất tốt, giúp giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh trong cộng đồng.

Phần lớn người dân (93,8%) thực hiện đúng các biện pháp phòng chống sốt rét, tăng so với các nghiên cứu trước đây của Huỳnh Tắn Phát (70,5%) và Đinh Văn Thiên (66,8%), cho thấy công tác tuyên truyền và các chiến dịch phòng chống sốt rét tại địa phương đã nâng cao hiệu quả thực hành của cộng đồng Điều này phản ánh sự tiến bộ trong nhận thức và hành động của người dân trong việc phòng chống bệnh sốt rét trong những năm gần đây.

Các yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành đúng về phòng

4.5.1 Các yếu tố liên quan đến kiến thức đúng về phòng bệnh sốt rét

Nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ kiến thức đúng về phòng bệnh sốt rét ở nam giới là 99,2%, trong khi ở nữ giới là 100%, phản ánh sự khác biệt không đáng kể về kiến thức giữa hai giới Phụ nữ thường xuyên được tham gia các hoạt động tuyên truyền nhóm và quan tâm chăm sóc sức khỏe gia đình, góp phần nâng cao kiến thức của họ về bệnh sốt rét Tuy nhiên, sự khác biệt này không mang ý nghĩa thống kê với p=0,327 (p>0,05) Kết quả nghiên cứu này giúp xây dựng các chương trình truyền thông nhằm nâng cao kiến thức phòng, chống sốt rét cho nam giới, từ đó thay đổi hành vi phòng bệnh hiệu quả hơn.

Không có sự khác biệt về kiến thức phòng chống bệnh sốt rét giữa dân tộc kinh và các dân tộc khác Dân tộc kinh có kiến thức đúng chiếm tỷ lệ 99,5%, trong khi dân tộc khác đạt 100%, tuy nhiên, không có ý nghĩa thống kê với p=0,94 để xác định sự khác biệt này Nghiên cứu của Đinh Văn Thiên cũng khẳng định không tìm thấy mối liên quan rõ ràng giữa các dân tộc và kiến thức đúng về phòng chống bệnh sốt rét.

Mối liên quan giữa tuổi và kiến thức đúng về phòng chống sốt rét không có ý nghĩa thống kê (p>0,05), tuy nhiên, xu hướng cho thấy nhóm trẻ tuổi hơn có tỷ lệ hiểu đúng cao hơn Cụ thể, nhóm dưới 40 tuổi có tỷ lệ kiến thức đúng về sốt rét cao nhất với 100%; nhóm 40-59 tuổi có tỷ lệ đúng đạt 99,4%, trong khi nhóm từ 60 tuổi trở lên đạt 98,3%. -Cải thiện bài viết SEO về phòng chống sốt rét với đội ngũ chuyên gia nội dung giàu kinh nghiệm ngay hôm nay!

Nghiên cứu đã không phát hiện ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa trình độ học vấn và mức độ nhận thức về phòng chống bệnh sốt rét (p>0,05) Điều này cho thấy kiến thức đúng về phòng chống sốt rét không phụ thuộc vào trình độ học vấn của người dân Các kết quả này gợi ý cần tập trung vào các chiến lược nâng cao nhận thức chung về phòng chống bệnh, bất kể trình độ học vấn Việc này giúp đảm bảo rằng cộng đồng đang nhận thức đúng và thực hiện các biện pháp phòng ngừa bệnh hiệu quả.

Phân tích mối liên hệ giữa nghề nghiệp và kiến thức đúng về phòng chống sốt rét cho thấy tỷ lệ có kiến thức chính xác cao nhất ở cán bộ công chức viên chức (CBCC-VC) và các nghề khác, đạt 100% Trong khi đó, nông dân có tỷ lệ này là 99,4% Sự khác biệt này không mang ý nghĩa thống kê (p>0,05), cho thấy kiến thức phòng chống sốt rét đều khá phổ biến ở các nhóm nghề nghiệp khác nhau. -Nâng cao kiến thức phòng sốt rét dễ dàng cho mọi nghề nghiệp với công cụ tối ưu SEO của chúng tôi [Tìm hiểu thêm](https://pollinations.ai/redirect/draftalpha)

4.5.2 Các yếu tố liên quan đến thực hành đúng về phòng bệnh sốt rét

Phân tích cho thấy, nam giới có tỷ lệ thực hành đúng về phòng bệnh sốt rét thấp hơn nữ giới 0,52 lần (OR= 0,52), nhưng mối liên hệ này không đạt ý nghĩa thống kê với giá trị p=0,18 (p>0,05) Tuy nhiên, nghiên cứu của Nguyễn Xuân vẫn nhấn mạnh rằng giới tính có thể ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi phòng bệnh sốt rét, dù chưa đủ bằng chứng để khẳng định mức độ ảnh hưởng rõ ràng Để nâng cao hiệu quả phòng chống sốt rét, cần chú trọng đến các chiến lược hướng tới từng giới đặc biệt trong các chương trình tuyên truyền và giáo dục cộng đồng.

(re Tài liệu phục vụ học tập, nghiên cứu khoa học

Tươi đã xác nhận mối liên quan giữa thực hành đúng giới tính và phòng bệnh sốt rét, trong đó nam giới có khả năng phòng bệnh thấp hơn nữ giới gấp 0,46 lần [32] Phụ nữ thường quan tâm nhiều hơn đến sức khỏe của cả gia đình và tham gia các hội nhóm cộng đồng, từ đó nhận được hướng dẫn về các hành vi phòng bệnh đúng cách để bảo vệ sức khỏe gia đình.

Nghiên cứu của Hà Chí Khanh chỉ ra sự khác biệt về thực hành phòng chống bệnh sốt rét giữa các dân tộc [16], tuy nhiên, trong nghiên cứu của chúng tôi, sự khác biệt này không được xác định là có ý nghĩa thống kê.

Phân tích về mối liên quan giữa nhóm tuổi và thực hành phòng bệnh sốt rét cho thấy tỷ lệ thực hành đúng cao nhất ở nhóm tuổi dưới 40 với 95,2%, trong khi thấp nhất ở nhóm trên 60 tuổi chỉ 90,2% Tuy nhiên, sự khác biệt này chưa đạt ý nghĩa thống kê (p>0,05) Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Đinh Văn Thiên (2011), không tìm thấy mối liên quan giữa nhóm tuổi và thái độ đúng về phòng bệnh sốt rét (p=0,521) Ngoài ra, Nguyễn Xuân Tươi (2010) cũng không phát hiện mối liên hệ giữa nhóm tuổi và thái độ đúng, với p=0,131 (p>0,05).

Tỷ lệ thực hành phòng bệnh sốt rét đúng đắn thấp nhất là 93% ở nhóm trình độ học vấn từ tiểu học trở xuống, trong khi nhóm có trình độ từ THPT trở lên đạt tỷ lệ thực hành đúng 100% Điều này cho thấy trình độ học vấn có ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện các biện pháp phòng bệnh sốt rét đúng cách Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Hà Chí Khanh (2013), cho thấy trình độ học vấn là yếu tố quan trọng trong hành vi phòng bệnh.

Mặc dù kết quả này chưa đạt ý nghĩa thống kê với p>0,05, nhưng cho thấy người có trình độ học vấn càng cao thì thực hành phòng chống bệnh sốt rét càng tốt Vì vậy, cần tăng cường truyền thông về kiến thức phòng chống sốt rét, đặc biệt nhấn mạnh vào đối tượng có trình độ học vấn thấp hơn để nâng cao nhận thức và hành động phòng bệnh hiệu quả.

Phân tích mối liên quan giữa nghề nghiệp và thực hành phòng chống sốt rét của người dân cho thấy, nông dân có tỷ lệ thực hành đúng về phòng chống sốt rét khá cao, điều này phản ánh nhận thức và sự hiểu biết về các biện pháp phòng tránh bệnh Các kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao kiến thức cộng đồng, đặc biệt là nhóm nông dân, để giảm thiểu tỷ lệ mắc sốt rét trong cộng đồng Việc thúc đẩy thực hành đúng trong phòng chống sốt rét không chỉ giúp bảo vệ sức khỏe của người dân mà còn góp phần vào chiến lược kiểm soát và loại trừ bệnh sốt rét tại địa phương.

Tỷ lệ thực hành đúng của cán bộ công chức viên chức (CBCC-VC) và các nghề khác đạt 92,7%, trong khi đó các nghề khác có tỷ lệ thực hành đúng là 100% Tuy nhiên, sự khác biệt này chưa đủ ý nghĩa thống kê (p>0,05), phù hợp với kết quả nghiên cứu của Huynh Tn Phat (2012) cho thấy nông dân có tỷ lệ thực hành đúng về phòng bệnh sốt rét là 77,1%, thấp hơn so với các nghề khác là 88,4%.

4.5.3 Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành đúng về phòng bệnh sốt rét

Dựa trên phân tích mối quan hệ giữa kiến thức và thực hành phòng chống sốt rét, nhóm người có kiến thức đúng đắn và thực hành tốt đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát bệnh hiệu quả Những cá nhân này thường áp dụng các biện pháp phòng ngừa như sử dụng màn diệt muỗi, loại bỏ nơi chứa muỗi, và chủ động đi kiểm tra sức khỏe định kỳ Việc nâng cao nhận thức cộng đồng về kiến thức phòng chống sốt rét góp phần cải thiện hành vi thực hành, từ đó giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh Chính vì vậy, các chương trình nâng cao ý thức và đào tạo kiến thức phòng chống sốt rét cần được đẩy mạnh để đạt hiệu quả tối ưu trong việc kiểm soát bệnh.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, 93,5% người có kiến thức không đúng thực hành đúng, thấp hơn so với những người có kiến thức chính xác, đạt tỷ lệ 100% Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p=0,3 (p>0,05) Trái lại, nghiên cứu của Hà Chí Khanh (2013) cho thấy người dân có kiến thức đúng có tỷ lệ thực hành đúng cao gấp 2,195 lần so với người có kiến thức không đúng, và sự khác biệt này mang ý nghĩa thống kê rõ ràng.

Ngày đăng: 22/08/2023, 18:19

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w