Tỉ lệ người dân có kiến thức và thực hành đúng về phòng, chống sốt Dengue/ sốt xuất huyết Dengue .... Kiến thức của người dân về muỗi vằn truyền bệnh sốt Dengue/ sốt xuất huyết Dengue .
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
Người hướng dẫn khoa học:
TS.BS Võ Huỳnh Trang
CẦN THƠ – 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Người làm luận văn
Ngô Văn Mịnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian tham gia học tập tại trường và làm luận văn, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi của Ban Giám Hiệu cùng sự giảng dạy nhiệt tình của quý Thầy Cô Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ Tôi xin chân thành cảm ơn những tình cảm tốt đẹp đó
Tôi xin bày tỏ lòng trân trọng và cảm ơn đặc biệt đối với Cô hướng dẫn Cô luôn dành cho tôi sự quan tâm, chỉ dẫn nhiệt tình trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Đốc Trung tâm Y tế Chợ Mới, lãnh đạo Trạm Y tế xã Kiến Thành, Trạm Y tế xã Long Kiến cùng các anh, chị cán bộ chuyên trách Chương trình phòng chống sốt xuất huyết đã hỗ trợ giúp tôi trong suốt thời gian nghiên cứu thực hiện luận văn này
Tuy nhiên, dù đã rất cố gắng song luận văn vẫn không tránh khỏi những mặt hạn chế, rất mong nhận được sự góp ý giúp đỡ của quý Thầy Cô
Xin chân thành cảm ơn
Cần Thơ, tháng 07 năm 2014
Trang 5Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
ĐẶC VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Giới thiệu về bệnh sốt Dengue/sốt xuất huyết Dengue 3
1.2 Tình hình bệnh sốt xuất huyết Dengue 10
1.3 Biện pháp phòng chống SD/SXHD 15
1.4 Tổ chức mô hình phòng chống SXH tại huyện Chợ Mới 17
1.5 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 19
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.2 Phương pháp nghiên cứu 21
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 21
2.2.2 Cỡ mẫu 21
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu 23
2.2.4 Nội dung nghiên cứu 23
2.2.5 Phương pháp thu thập và đánh giá số liệu 29
2.2.6 Phương pháp kiểm soát sai số 34
2.2.7 Phương pháp xử lý số liệu 34
2.3 Đạo đức nghiên cứu 34
Trang 63.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 35 3.2 Tỉ lệ người dân có kiến thức và thực hành đúng về phòng, chống
sốt Dengue/ sốt xuất huyết Dengue 37 3.2.1 Kiến thức của người dân về phòng, chống SD/SXHD 37 3.2.2 Thực hành của người dân về phòng, chống SD/SXHD 39 3.3 Các chỉ số côn trùng và các yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành về phòng, chống SD/SXHD 41 3.4 Đánh giá kết quả can thiệp về phòng, chống SD/SXHD và các chỉ số côn trùng 46 Chương 4: BÀN LUẬN 55 4.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 55 4.2 Tỉ lệ người dân có kiến thức và thực hành đúng về phòng,
chống SD/SXHD 57 4.2.1 Kiến thức của người dân về phòng, chống SD/SXHD 57 4.2.2 Thực hành của người dân về phòng, chống SD/SXHD 59 4.3 Các chỉ số lăng quăng và các yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành về phòng, chống SD/SXHD 61 4.4 Đánh giá kết quả can thiệp về phòng, chống SD/SXHD và các chỉ số côn trùng 65 KẾT LUẬN 73 KIẾN NGHỊ 75 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8Trang
Bảng 1.1 Tình hình mắc, chết do sốt xuất huyết ở phía Nam 13 Bảng 2.1 Cách đánh giá kiến thức về bệnh và muỗi vằn truyền bệnh 30 Bảng 2.2 Cách đánh giá kiến thức về phòng chống SD/SXHD 31 Bảng 2.3 Cách đánh giá thực hành phòng chống SD/SXHD 32
Bảng 3.1 Đặc tính của mẫu nghiên cứu về tuổi, giới, nghề nghiệp 36 Bảng 3.2 Đặc tính của mẫu nghiên cứu về văn hóa và kinh tế
gia đình 37 Bảng 3.3 Đặc điểm của hộ gia đình 37 Bảng 3.4 Kiến thức về bệnh SD/SXHD 38 Bảng 3.5 Kiến thức của người dân về muỗi vằn truyền bệnh sốt
Dengue/ sốt xuất huyết Dengue 39 Bảng 3.6 Kiến thức về phòng, chống bệnh SD/SXHD 39 Bảng 3.7 Thực hành của người dân về tiêu diệt trung gian truyền
bệnh SD/SXHD 40 Bảng 3.8 Chỉ số côn trùng 41 Bảng 3.9 Mối liên quan giữa kiến thức phòng chống SD/SXHD với
giới tính, trình độ học vấn 41 Bảng 3.10 Mối liên quan giữa kiến thức phòng chống SD/SXHD với
nghề nghiệp và nhóm tuổi 42 Bảng 3.11 Mối liên quan giữa kiến thức phòng chống SD/SXHD với
đặc điểm hộ gia đình 42 Bảng 3.12 Mối liên quan giữa thực hành phòng chống SD/SXHD với
giới tính và trình độ học vấn 43
Trang 9Bảng 3.14 Mối liên quan giữa thực hành phòng chống SD/SXHD với
đặc điểm hộ gia đình 44 Bảng 3.15 Mối liên hệ giữa kiến thức và thực hành phòng chống
SD/SXHD 44 Bảng 3.16 Kênh truyền thông người dân được tiếp cận 45 Bảng 3.17 Kênh truyền thông người dân thích tiếp cận nhất 45 Bảng 3.18 Tỷ lệ kiến thức đúng chung về phòng, chống bệnh SD/SXHD
ở xã can thiệp 46 Bảng 3.19 Kiến thức về bệnh SD/SXHD ở xã can thiệp 46 Bảng 3.20 Kiến thức về muỗi vằn truyền bệnh SD/SXHD ở xã can thiệp 47 Bảng 3.21 Kiến thức về phòng, chống bệnh SD/SXHD ở xã can thiệp 47 Bảng 3.22 Tỷ lệ thực hành đúng chung về phòng, chống bệnh SD/SXHD
ở xã can thiệp 48 Bảng 3.23 Thực hành về phòng, chống muỗi đốt ở xã can thiệp 48 Bảng 3.24 Thực hành về tiêu diệt trung gian truyền bệnh SD/SXHD 49 Bảng 3.25 Tỷ lệ kiến thức đúng chung về phòng, chống bệnh SD/SXHD
ở xã chứng 49 Bảng 3.26 Kiến thức về bệnh SD/SXHD ở xã chứng 50 Bảng 3.27 Kiến thức về muỗi vằn truyền bệnh SD/SXHD ở xã chứng 50 Bảng 3.28 Kiến thức về phòng, chống bệnh SD/SXHD ở xã chứng 51 Bảng 3.29 Tỷ lệ thực hành đúng chung về phòng, chống bệnh SD/SXHD ở
xã chứng 51 Bảng 3.30 Thực hành về phòng, chống muỗi đốt ở xã chứng 52 Bảng 3.31 Thực hành về tiêu diệt trung gian truyền bệnh ở vật dụng
trong nhà 52
Trang 10Bảng 3.33 Chỉ số lăng quăng trước và sau can thiệp 53 Bảng 3.34 Chỉ số BI trước và sau can thiệp 54
Trang 11Sơ đồ 2.1 Sơ đồ nghiên cứu 33 Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ người dân có kiến thức đúng chung về phòng, chống
bệnh Sốt Dengue/Sốt xuất huyết Dengue 38 Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ người dân có thực hành đúng chung về phòng, chống bệnh Sốt Dengue/Sốt xuất huyết Dengue 40 Biểu đồ 3.3 Thực hành của người dân về phòng, chống muỗi đốt 40
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh sốt Dengue/ sốt xuất huyết Dengue là một bệnh truyền nhiễm cấp tính
do siêu vi Dengue gây nên Virus truyền từ người bệnh sang người lành qua trung gian truyền bệnh là muỗi Aedes aegypti Trước đây, bệnh tập trung chủ yếu tại các khu vực đông dân cư, vệ sinh môi trường kém hoặc những vùng dân cư dọc theo các trục giao thông lớn, nhưng hiện nay bệnh không còn khu trú mà có khuynh hướng lan rộng từ thành phố lớn đến thành phố nhỏ, từ thành thị ra nông thôn Bệnh thường xảy ra quanh năm nhưng dịch thường diễn ra vào cuối mùa hè đầu mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10 hằng năm) Bệnh đặc trưng bởi sốt, xuất huyết
và thoát huyết tương dẫn đến giảm thể tích tuần hoàn và rối loạn đông máu, nếu không được chẩn đoán sớm và xử trí kịp thời sẽ dẫn đến tử vong [8], [36], [42]
Ở nước ta, bệnh sốt xuất huyết Dengue được xem là vấn đề y tế quan trọng của cả nước, bệnh có thể gây thành dịch lớn và lưu hành rộng rãi ở vùng châu thổ sông Hồng, sông Cửu Long và dọc theo bờ biển miền Trung nhưng ở những vùng như: vùng núi, cao nguyên, biên giới phía bắc thì không thấy xuất hiện bệnh, kể
cả những năm có dịch lớn xảy ra Trong những năm gần đây, số ca mắc trung bình hằng năm trên 100.000 ca và có khoảng 240 ca tử vong [1], [41]
Theo thống kê của Viện Pasteur Thành Phố Hồ Chí Minh tình hình mắc sốt xuất huyết của các tỉnh ở khu vực phía Nam năm 2012 là 67.852 trường hợp mắc tăng 14,7% so cùng kỳ năm 2011, tử vong 61 trường hợp, tăng 02 trường hợp so cùng kỳ năm 2011 [37] Trong khi đó tình hình mắc sốt xuất huyết năm 2012 của tỉnh An Giang là 5.547 ca tăng 1,3 lần so với cùng kỳ, riêng số ca mắc ở huyện Chợ Mới là 983 tăng 90,5% so với cùng kỳ năm 2011 [39]
Sốt Dengue/sốt xuất huyết Dengue chưa có vắcxin phòng bệnh và thuốc điều trị đặc hiệu, chỉ có thể làm giảm lây truyền bằng cách phòng, chống véc-tơ truyền
Trang 13bệnh mà chủ yếu là diệt muỗi, diệt lăng quăng Nhưng diệt muỗi bằng hóa chất chỉ
là biện pháp tạm thời, tốn kém, lại gây ô nhiễm môi trường Biện pháp được xem hiệu quả và diệt tận gốc là diệt lăng quăng [26]
Trong nhiều năm nay, ngành Y tế tỉnh An Giang nói chung, huyện Chợ Mới nói riêng đã đề ra nhiều giải pháp như: tăng cường giám sát, phát hiện những trường hợp mắc, khống chế các ổ dịch không để dịch lớn xảy ra, tổ chức nhiều đợt chiến dịch vệ sinh môi trường, diệt lăng quăng, đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục sức khỏe đến từng hộ gia đình, đặc biệt là thực hiện mô hình xã điểm cộng tác viên Nhưng tình hình vẫn chưa được cải thiện [42]
Tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu nào để thống kê tình hình phòng chống sốt xuất huyết tại huyện Chợ Mới nhằm đánh giá kiến thức của người dân về bệnh
ở mức độ nào? Việc thực hiện phòng chống sốt xuất huyết của họ ra sao? Từ đó,
chúng tôi tiến hành “Nghiên cứu kiến thức, thực hành, chỉ số côn trùng trong
phòng chống sốt xuất huyết của người dân trước và sau can thiệp tại huyện Chợ Mới, tỉnh An giang năm 2013” với các mục tiêu cụ thể sau:
1- Xác định tỷ lệ người dân có kiến thức, thực hành đúng về phòng, chống Sốt Dengue/sốt xuất huyết Dengue tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang năm 2013 2- Xác định chỉ số côn trùng và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của người dân về phòng chống Sốt Dengue/sốt xuất huyết Dengue tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang năm 2013
3- Đánh giá kết quả can thiệp bằng phương pháp truyền thông giáo dục sức khỏe về phòng, chống Sốt Dengue/sốt xuất huyết Dengue và chỉ số côn trùng tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang năm 2013
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Giới thiệu về bệnh sốt Dengue/ sốt xuất huyết Dengue
1.1.1 Đặc điểm của bệnh sốt xuất huyết
Sốt xuất huyết là một bệnh truyền nhiễm rất dễ lây lan gây thành dịch Bệnh do virus Dengue truyền qua muỗi vằn chích (đốt) vào người lúc ban
ngày, muỗi vằn có tên khoa học là Aedes aegypti [41]
Bệnh sốt xuất huyết lưu hành ở khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới, nơi sinh sống của các loài muỗi Aedes Bệnh thường xuất hiện và gây thành dịch vào các tháng mùa mưa, nhiệt độ trung bình tháng cao, ở miền Nam gần như quanh năm, ở miền Bắc từ tháng 7 đến tháng 11 Mọi người sống trong địa phương, khu vực lưu hành của sốt xuất huyết đều có thể mắc bệnh và nhiễm virus lành Nhóm người có nguy cơ cao mắc sốt xuất huyết là trẻ em, người di
cư hay du lịch đến từ vùng không có dịch sốt xuất huyết lưu hành, người sinh sống tại các khu đô thị hóa, đời sống kinh tế thấp kém, vùng có tập quán trữ nước và sử dụng nước không được kiểm soát [6]
1.1.2 Tác nhân gây bệnh
Virus Dengue thuộc nhóm Arbovirus, gia đình Flaviviridae truyền bệnh từ
người bệnh sang người lành qua vết đốt của muỗi Thành phần di truyền chỉ
có một dây đơn RNA, được một lớp protein bao bọc bên ngoài gồm các protein màng và protein vỏ của virus Virus Dengue có thể giữ nguyên độc lực ở 20oC nhưng không chịu được sức nóng Có bốn týp virus Dengue gây bệnh cho người, đặt tên là týp 1, 2, 3, 4 Cấu tạo kháng nguyên của bốn týp virus này tương tự nhau và có thể cho phản ứng miễn dịch chéo sau khi nhiễm bệnh Theo kết quả của chương trình giám sát virus tại các tỉnh phía Nam của Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh, Dengue 2 có chu kỳ hoạt động từ năm
Trang 151987, Degue 1 có chu kỳ hoạt động 1990 và Dengue 3 bắt đầu hoạt động từ năm 1995, còn Dengue 4 hoạt động nhiều hơn từ năm 1999, trong giai đoạn
từ năm 1999 – 2005 có sự xuất hiện của cả 4 typ gây bệnh Thông thường virus hiện diện trong máu của bệnh nhân trong giai đoạn cấp tính của bệnh và mất dần trong giai đoạn hồi phục [8], [11], [31]
1.1.3 Nguồn bệnh
Người bệnh là ổ chứa virus và là nguồn truyền nhiễm chủ yếu của bệnh
sốt xuất huyết trong chu trình “người - muỗi Aedes aegypti” Ngoài bệnh
nhân, người mang virus Dengue không triệu chứng cũng có vai trò truyền bệnh quan trọng Trong ổ dịch sốt xuất huyết cứ một trường hợp bệnh điển hình, có hàng chục trường hợp mang virus tiềm ẩn, không triệu chứng [6]
1.1.4 Trung gian truyền bệnh
Bệnh truyền từ người này sang người khác do một trung gian truyền bệnh
chính là muỗi Aedes aegypti Đây là một loài muỗi có thể tìm thấy ở tất cả các
vùng nhiệt và ôn đới trên thế giới
Ở Việt Nam, hai loài muỗi truyền bệnh là Aedes aegypti và Aedes albopictus, trong đó chủ yếu là muỗi Aedes aegypti Đây là loài muỗi ưa thích
đốt hút máu người, muỗi thường đốt vào ban ngày, buổi sáng sớm và chiều tà,
có thể đốt nhiều lần trong ngày nếu chưa no máu Muỗi Aedes là một loại
muỗi có kích thước trung bình, màu đen bóng, xen lẫn những đám vẩy màu trắng trên khắp cơ thể tạo nên vằn trắng đen, do đó dân gian gọi là muỗi vằn Muỗi trưởng thành thường trú đậu ở các góc tối trong nhà, trên quần áo, chăn màn, dây phơi… và những nơi kín gió Phía ngoài nhà, chúng đậu nghỉ ở nơi
có bóng mát Muỗi thích đẻ trứng ở những vật chứa nước sạch, có thành (vách) cứng trong nhà và xung quanh nhà như: lu, khạp, phuy, hồ, mãnh vỡ
lu, khạp… Muỗi Aedes phát triển mạnh vào mùa mưa, khi nhiệt độ trung
bình hàng tháng trên 200 C Muỗi cái trưởng thành từ 2 - 3 ngày thì bắt đầu đẻ
Trang 16trứng, sau 1 - 3 ngày trứng nở thành lăng quăng (bọ gậy) Sau 5 - 8 ngày lăng quăng thành nhộng Từ đây, nhộng nở thành muỗi trưởng thành và bắt đầu chích (đốt) người sau 2 - 3 ngày [6], [41]
Trứng muỗi được đẻ trên thành vật chứa nước, sát ngay phía trên ngấn
nước Muỗi cái Aedes aegypti đẻ trung bình mỗi lứa 60 - 100 trứng Trong
điều kiện khô hạn tự nhiên, trứng có thể tồn tại sáu tháng Trứng nở thành
lăng quăng sau khi gặp nước Lăng quăng Aedes aegypti sống ở nước trong Muỗi Aedes aegypti hút máu người nhiều lần trong đời Tuổi thọ trung bình
của muỗi cái là 30 ngày và chỉ có muỗi cái hút máu Sau khi hút máu người
có chứa virus Dengue, muỗi có thể truyền bệnh suốt đời Phạm vi hoạt động
của muỗi Aedes aegypti bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như: nơi đẻ trứng, bữa ăn
máu, nhưng thường không quá 100m xung quanh nơi đẻ trứng Tuy nhiên những nghiên cứu gần đây cho thấy chúng có thể bay xa hơn 400m để tìm nơi
đẻ trứng [9], [26]
1.1.5 Các tiêu chuẩn xác định và phân độ bệnh Sốt xuất huyết
1.1.5.1 Diễn biến lâm sàng [3]
+ Đau cơ, đau khớp, nhức hai hố mắt
+ Nghiệm pháp dây thắt dương tính
+ Thường có chấm xuất huyết dưới da, chảy máu cam, chân răng
- Cận lâm sàng
+ Dung tích hồng cầu (Hematocrit) bình thường
Trang 17+ Số lượng tiểu cầu bình thường hoặc giảm dần (nhưng còn trên 100.000/mm3)
+ Số lượng bạch cầu thường giảm
• Giai đoạn nguy hiểm: Thường vào ngày thứ 3 đến thứ 7 của bệnh
- Lâm sàng: Người bệnh có thể còn sốt hoặc đã giảm sốt Có thể có các biểu hiện sau:
+ Biểu hiện thoát huyết tương do tăng tính thấm thành mạch (thường kéo dài 24-48 giờ):
Tràn dịch màng phổi, mô kẽ, màng bụng, nề mi mắt, gan to, đau Nếu thoát huyết tương nhiều sẽ dẫn đến sốc với các biểu hiện vật
vã, bứt rứt hoặc li bì, lạnh đầu chi, da lạnh ẩm, mạch nhanh nhỏ, huyết áp kẹt (hiệu số huyết áp tối đa và tối thiểu ≤ 20 mmHg), tụt huyết áp hoặc không đo được huyết áp, tiểu ít
+ Xuất huyết:
Xuất huyết dưới da: Nốt xuất huyết rãi rác hoặc chấm xuất huyết thường ở mặt trước hai cẳng chân và mặt trong hai cánh tay, bụng, đùi, mạng sườn hoặc mảng bầm tím
Xuất huyết ở niêm mạc: Chảy máu mũi, lợi, tiểu ra máu Kinh nguyệt kéo dài hoặc xuất hiện kinh sớm hơn kỳ hạn
Xuất huyết nội tạng như tiêu hóa, phổi, não là biểu hiện nặng Một số trường hợp nặng có thể có biểu hiện suy tạng như viêm gan nặng, viêm não, viêm cơ tim Những biểu hiện nặng này có thể xảy ra ở một
số người bệnh không có dấu hiệu thoát huyết tương rõ hoặc không sốc
Trang 18+ Enzym AST, ALT thường tăng
+ Trong trường hợp nặng có thể có rối loạn đông máu
+ Siêu âm hoặc X quang có thể phát hiện tràn dịch màng bụng, tràn dịch màng phổi
• Giai đoạn hồi phục
+ Có thể có nhịp tim chậm và thay đổi về điện tâm đồ
+ Trong giai đoạn này, nếu truyền dịch quá mức có thể gây ra phù phổi hoặc suy tim
1.1.5.2 Chẩn đoán [3]
Bệnh sốt xuất huyết Dengue được chia làm 3 mức độ (theo WHO, 2009)
- Sốt xuất huyết Dengue
- Sốt xuất huyết Dengue có dấu hiệu cảnh báo
- Sốt xuất huyết Dengue nặng
• Sốt xuất huyết Dengue
- Lâm sàng: Sốt cao đột ngột, liên tục từ 2-7 ngày và có ít nhất hai trong các dấu hiệu sau:
Trang 19+ Biểu hiện xuất huyết có thể như nghiệm pháp dây thắt dương tính, chấm xuất huyết ở dưới da, chảy máu chân răng hoặc chảy máu cam
+ Nhức đầu, chán ăn, buồn nôn
+ Da xung huyết, phát ban
+ Đau cơ, đau khớp, nhức hai hố mắt
- Cận lâm sàng
+ Hematocrit bình thường (không có biểu hiện cô đặc máu) hoặc tăng + Số lượng tiểu cầu bình thường hoặc hơi giảm
+ Số lượng bạch cầu thường giảm
• Sốt xuất huyết Dengue có dấu hiệu cảnh báo
Bao gồm các triệu chứng lâm sàng của sốt xuất huyết Dengue, kèm theo các dấu hiệu cảnh báo sau:
- Vật vã, lừ đừ, li bì
- Đau bụng vùng gan hoặc ấn đau vùng gan Gan to > 2 cm
- Nôn nhiều Tiểu ít
- Xuất huyết niêm mạc
- Xét nghiệm máu:
+ Hematocrit tăng cao
+ Tiểu cầu giảm nhanh chóng
Nếu người bệnh có những dấu hiệu cảnh báo trên phải theo dõi sát mạch, huyết áp, số lượng nước tiểu, làm xét nghiệm hematocrit, tiểu cầu và có chỉ định truyền dịch kịp thời
• Sốt xuất huyết Dengue nặng
Khi người bệnh có một trong các biểu hiện sau:
- Thoát huyết tương nặng dẫn đến sốc giảm thể tích (sốc sốt xuất huyết Dengue), ứ dịch ở khoang màng phổi và ổ bụng nhiều
- Xuất huyết nặng
Trang 20- Suy tạng
• Sốc sốt xuất huyết Dengue
- Suy tuần hoàn cấp, thường xảy ra vào ngày thứ 3-7 của bệnh, biểu hiện bởi các triệu chứng như vật vã; bứt rứt hoặc li bì; lạnh đầu chi, da lạnh, ẩm; mạch nhanh nhỏ, huyết áp kẹp (hiệu số huyết áp tối đa và tối thiểu ≤ 20 mmHg) hoặc tụt huyết áp hoặc không đo được huyết áp; tiểu ít
- Sốc sốt xuất huyết Dengue được chia ra hai mức độ để điều trị bù dịch: + Sốc sốt xuất huyết Dengue: Có dấu hiệu suy tuần hoàn, mạch nhanh nhỏ, huyết áp kẹp hoặc tụt, kèm theo các triệu chứng như da lạnh, ẩm, bứt rứt hoặc vật vã li bì
+ Sốc sốt xuất huyết Dengue nặng: Sốc nặng, mạch nhỏ khó bắt, huyết
áp không đo được
• Xuất huyết nặng
- Chảy máu cam nặng, rong kinh nặng, xuất huyết trong cơ và phần mềm, xuất huyết đường tiêu hóa và nội tạng, thường kèm theo tình trạng sốc nặng, giảm tiểu cầu, thiếu oxy mô và toan chuyển hóa có thể dẫn đến suy đa phủ tạng và đông máu nội mạch nặng
- Xuất huyết nặng cũng có thể xảy ra ở người bệnh dùng các thuốc kháng viêm như acetylsalicylic acid (Aspirin), Ibuprofen hoặc dùng Corticoid, tiền
sử loét dạ dày, tá tràng, viêm gan mạn
• Suy tạng nặng
- Suy gan cấp, men gan AST, ALT ≥ 1000 U/L
- Suy thận cấp
- Rối loạn tri giác (sốt xuất huyết thể não)
- Viêm cơ tim, suy tim, hoặc suy chức năng các cơ quan khác
• Chẩn đoán căn nguyên vi rút Dengue
- Xét nghiệm huyết thanh
Trang 21+ Xét nghiệm nhanh:
Tìm kháng nguyên NS1 trong 5 ngày đầu của bệnh
Tìm kháng thể IgM từ ngày thứ 5 trở đi
+ Xét nghiệm ELISA:
Tìm kháng thể IgM: xét nghiệm từ ngày thứ năm của bệnh
Tìm kháng thể IgG: lấy máu 2 lần cách nhau 1 tuần tìm động lực kháng thể (gấp 4 lần)
1.2 Tình hình bệnh sốt xuất huyết Dengue
1.2.1 Tình hình bệnh sốt xuất huyết Dengue trên thế giới
Chỉ trong một thập kỷ qua, tầm quan trọng của sốt xuất huyết như một mối đe dọa cho sức khỏe và là một gánh nặng cho các dịch vụ y tế và nền kinh tế đã tăng lên đáng kể So với tình hình 50 năm trước đây, tỷ lệ mắc trên toàn thế giới sốt xuất huyết đã tăng gấp 30 lần [48]
Tỷ lệ mắc bệnh sốt xuất huyết đã tăng đáng kể trên toàn thế giới trong những thập kỷ gần đây Hơn 2,5 tỷ người - hơn 40% dân số thế giới - đang có nguy cơ sốt xuất huyết [46] Từ năm 2000, dịch SXH lan rộng đến các khu vực mới và gia tăng tại các khu vực bệnh lưu hành sẵn có [44] Trong năm
2003, có 8 quốc gia Bangladesh, Ấn Độ, Indonesia, Maldives, Myanmar, Sri Lanka, Thái Lan và Đông Timor báo cáo các ca bệnh SXH [44] Năm 2004, Bhutan báo cáo bùng nổ dịch lần đầu tiên Năm 2005, mạng lưới cảnh báo và đối phó dịch bệnh toàn cầu của WHO đã đối phó với một vụ dịch bùng nổ với
tỉ lệ tử vong cao (3.55%) tại quốc gia Timor-Leste [44]
Dịch SXH là một vấn đề y tế cộng đồng quan trọng tại Indonesia, Myanmar, Sri Lanka, Thái Lan và Đông Timor là các quốc gia nhiệt đới gió
mùa, gần xích đạo, nơi này có loài muỗi Aedes aegypti có mặt ở cả khu vực
thành thị và nông thôn, các nơi này có nhiều type huyết thanh virus Dengue
Trang 22lưu hành và SXH là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến nhập viện và tử vong cho trẻ em [44], [47]
Dịch bệnh theo chu kỳ đang gia tăng về tần suất, tỷ lệ và lan rộng về phạm vi địa lý tại các nước Bangladesh, Ấn Độ và Maldives tại các vùng khí hậu khô và ẩm tạm thời với sự có mặt của nhiều type huyết thanh (serotype) của virus đang lưu hành [44]
Hiện nay sốt Dengue/sốt xuất huyết Dengue đã xuất hiện trên 100 quốc gia, đe doa 2,5 tỷ người ở các quốc gia vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới Trong giai đoạn 1970 – 1995 trên toàn cầu, số mắc SD/SXHD đã tăng 4 lần Theo
Tổ chức y tế Thế giới ước tính năm 2007 có 50 triệu trường hợp nhiễm mỗi năm, 500.000 trường hợp phải nhập viện mỗi năm trong đó có 90% trường hợp dưới 15 tuổi, tử vong trung bình là 20.000 - 25.000 trường hợp [11]
1.2.2 Tình hình sốt xuất huyết tại khu vực WHO Tây Thái Bình Dương
Bệnh SXH nổi lên như là một vấn đề sức khỏe cộng đồng tại khu vực Tây Thái Bình Dương Kể từ vụ đại dịch năm 1998, các vụ dịch đã tái xuất hiện lại nhiều vùng sau đó Trong thời gian từ năm 2001-2008, tổng số 1.020.333
ca bệnh được báo cáo tại Campuchia, Malaysia, Philippines và Việt Nam – bốn quốc gia tại khu vực Tây Thái Bình Dương với số ca mắc và tử vong cao nhất Về mặt lịch sử, trước đây SXH chủ yếu được báo cáo tại khu dân cư thành thị và ven đô thị nơi mà mật độ dân số cao tạo điều kiện thuận lợi cho việc lan truyền bệnh Tuy nhiên, bằng chứng từ các vụ dịch gần đây cho thấy, như tại Campuchia năm 2007, cho thấy rằng các vụ dịch hiện nay xảy ra ngay tại khu vực nông thôn [29], [44]
Khoảng thời gian giữa năm 1975 và 1995, SXH Dengue xảy ra ở 102 nước thuộc khu vực của WHO, trong đó Đông Nam Á có bảy nước dịch lưu hành, ở khu vực này tỷ lệ mắc SXH Dengue tăng lên đáng kể trong 17 năm qua và từ 1980 trở lại đây số ca mắc tăng lên 5 lần so với 30 năm trước [6]
Trang 23Hiện nay những khu vực có khí hậu nhiệt đới đều là những vùng có nguy
cơ bị dịch sốt xuất huyết cao với cả bốn typ virus lưu hành Đồng thời, các khu vực châu Mỹ, châu Á và châu Phi có ba typ vi rút là DEN-1, DEN-2, DEN-3, ở Trung đông có hai typ DEN-1, DEN-2 [4], [21], [25]
1.2.3 Tình hình dịch bệnh sốt xuất huyết ở Việt Nam
1.2.3.1 Tình hình dịch tễ học ở Việt Nam
Tại Việt Nam, bệnh sốt Dengue/SXH Dengue được biết từ những năm
1960 Những trường hợp đầu tiên được ghi nhận ở Đồng bằng sông Cửu Long, lan nhanh thành dịch với chu kỳ dịch Hiện nay đa số tỉnh thành trong
cả nước đều ghi nhận có bệnh sốt Dengue/SXH Dengue và được xem là một vấn đề y tế công cộng quan trọng, có thể gây thành dịch lớn với cả trăm ngàn trường hợp mắc bệnh [8], [11]
Trung bình hàng năm là 75.700 trường hợp mắc, 170 trường hợp tử vong; Dịch nghiêm trọng: 1983; 1987; Năm 1991; và năm 1998; > 80% trường hợp
và tử vong là trẻ em dưới 15 tuổi [49]
Chu kỳ dịch trung bình khoảng 3 - 5 năm một lần Ở Việt Nam, bệnh phát triển theo mùa, thường xảy ra nhiều từ tháng 5 đến tháng 10 Bệnh thường gặp ở vùng đông dân cư, vệ sinh môi trường kém Đối tượng mắc bệnh thường là trẻ em từ 2 – 9 tuổi, đặc biệt trẻ bụ bẫm, khoẻ mạnh thường diễn tiến nặng và phức tạp, dễ rơi vào sốc [8]
Ở nước ta trong 15 năm trở lại đây sốt Dengue/SXH Dengue đã xảy ra những đợt dịch lớn vào các năm 1998, năm 2004, năm 2007 Tại khu vực phía Nam số ca mắc đứng hàng thứ 3 sau bệnh tiêu chảy và cúm, chiếm khoảng 80% tổng số ca mắc cả nước Số ca chết đứng cao nhất trong hai mươi bốn bệnh truyền nhiễm, lứa tuổi mắc đang chuyển dần lứa tuổi lớn [19], [34]
Trang 241.2.3.2 Tình hình mắc, chết do sốt xuất huyết tại khu vực phía Nam
Theo số liệu thống kê của Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh năm
2012 tại khu vực phía Nam có 67.852 trường mắc và 61 trường hợp tử vong [37]
Bảng 1.1 Tình hình mắc, chết do SXH ở khu vực phía Nam năm 2012
Trang 251.2.3.3 Tình hình sốt xuất huyết trên địa bàn tỉnh An Giang
Trong những năm qua An Giang là một trong những tỉnh có số ca mắc SXH cao ở khu vực phía Nam, theo số liệu thống kê của Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh năm 2012 tổng số ca mắc SXH của tỉnh là 5.547, tử vong
04 trường hợp Số trường hợp mắc đứng thứ 3 trong tổng số 20 tỉnh, thành ở khu vực phía Nam sau Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Nai; tăng 90,5% so với cùng kỳ năm 2011 [37], [43]
Huyện Chợ Mới là huyện Cù Lao nằm giữa sông Tiền và sông Hậu Phía đông giáp với tỉnh Đồng Tháp, phía tây giáp với huyện Phú Tân, phía nam giáp với thành phố Long Xuyên, phía bắc giáp với huyện Thanh Bình (Đồng Tháp) Tổng dân số 347.520 người (174.645 nữ), gồm 84.656 hộ (trong đó có 5.367 hộ nghèo), mật độ dân số trung bình 941 người/km2, số người trong tuổi lao động là 218.063 người Có 144 ấp thuộc 16 xã và 2 thị trấn [4]
Hiện nay Chợ Mới là huyện có mật độ dân số đông nhất cả tỉnh Hệ thống giao thông tương đối hoàn chỉnh rất thuận lợi cho việc đi lại Tỷ lệ hộ dân sử dụng nước máy 35,64% Do hệ thống nước máy chưa phủ kín theo yêu cầu của đa số người dân ở nông thôn nên phần đông người dân thường tích trữ nước mưa để sử dụng cho sinh hoạt, ăn uống Nhưng do thiếu ý thức và thói quen nên người dân thường không đậy kín các dụng cụ chứa nước đây là điều kiện thuận lợi cho muỗi vằn sinh nở [4]
Theo số liệu thống kê, tình hình mắc sốt xuất huyết trong những năm qua trên địa bàn huyện luôn diễn biến phức tạp và khó lường cụ thể như sau: năm
2006 có 1028 trường hợp mắc, trong đó có 286 trường hợp bệnh nặng và tử vong 02 trường hợp; năm 2007 có 2090 trường hợp mắc, trong đó có 452 trường hợp bệnh nặng và tử vong 02 trường hợp; năm 2008 có 203 trường hợp mắc, trong đó có 22 trường hợp bệnh nặng; năm 2009 có 459 trường hợp mắc, trong đó có 80 trường hợp bệnh nặng Theo số liệu báo cáo tính đến hết
Trang 26năm 2010 tổng số trường mắc Sốt xuất trên địa bàn huyện là 1206 trường hợp mắc, trong đó có 184 trường hợp bệnh nặng và tử vong 04 trường hợp và năm
2011 là 516 ca, tử vong 01 [38] Từ số liệu thống kê cho thấy, mặc dù trong những năm qua ngành y tế Chợ Mới đã có nhiều cố gắng đề ra nhiều giải pháp, nhưng số trường hợp mắc vẫn còn ở mức cao và theo dự báo của ngành
y tế trong những năm sắp tới tình hình dịch bệnh Sốt xuất huyết sẽ còn tiếp tục diễn biến phức tạp và có nguy cơ bùng phát thành dịch lớn [38]
1.3 Các biện pháp phòng chống Sốt Dengue/ Sốt xuất huyết Dengue
Vì không có thuốc điều trị đặc hiệu và cũng chưa có vaccin phòng bệnh nên phải áp dụng các biện pháp sau để phòng ngừa sự lan truyền của bệnh:
1.3.1 Biện pháp diệt lăng quăng
- Phải đậy kín các dụng cụ chứa nước sinh hoạt trong nhà và xung quanh nhà để ngăn không cho muỗi vào đẻ trứng
- Thả cá bảy màu, cá lia thia để ăn lăng quăng
- Kiểm tra hàng tuần, loại bỏ tất cả các dụng cụ chứa nước có lăng quăng trong và xung quanh nhà như: Lu, khạp, phuy, hồ, mảnh vở lu, bình hoa…
- Thu gom các dụng cụ chứa nước linh tinh trong và xung quanh nhà như:
Vỏ xe, lon bia, lon nước ngọt, gáo dừa… không để đọng nước
- Khai thông cống rảnh, máng xối không để đọng nước tạo điều kiện cho muỗi vào đẻ trứng
- Đổ dầu cặn hoặc bỏ muối vào các chân nước chống kiến ở các chân tủ thức ăn [6], [41]
Trang 27+ Dùng vợt điện diệt muỗi
- Kêu gọi cộng đồng phải chủ động tham gia phòng chống SXH
- Nêu ra những lợi ích của cộng đồng khi tham gia phòng chống SXH
- Khẳng định rằng phòng chống sốt huyết bằng cách diệt lăng quăng là tương đối đơn giản và khả thi Vận động các bà mẹ đưa trẻ đến các cơ sở y tế ngay khi thấy có các dấu hiệu nghi ngờ mắc bệnh SXH [6], [41]
1.3.4 Biện pháp huy động cộng đồng
- Đối với cá nhân: Kêu gọi từng thành viên gia đình thực hiện các biện pháp thông thường để phòng chống sốt Dengue/SXH Dengue bao gồm làm giảm nguồn lây truyền, bảo vệ cá nhân thích hợp [1]
- Đối với cộng đồng: tổ chức sinh hoạt nhóm, tổ chức các đợt chiến dịch
vệ sinh môi trường diệt lăng quăng dựa vào cộng đồng vào những thời gian
Trang 28cao điểm của mùa mưa để loại trừ nơi sinh sản của muỗi và phòng bệnh trong dân cư [1]
- Huy động các bậc phụ huynh và học sinh trong trường học thực hiện các biện pháp để loại trừ nơi sinh sản muỗi ở nhà cũng như ở trường học [1], [2], [24], [45]
1.4 Tổ chức mô hình phòng sốt xuất huyết tại huyện Chợ Mới
1.4.1 Công tác tổ chức, chỉ đạo
- Thành lập Ban chỉ đạo phòng chống sốt xuất huyết từ tỉnh đến huyện,
xã, thị trấn Thành phần gồm: Chính quyền, y tế, ban ngành đoàn thể
- Triển khai tập huấn cho Ban chỉ đạo xã, thị trấn
- Thành lập một đội phun hóa chất diệt muỗi với thành phần là cán bộ y tế của tuyến huyện và mười tám đội đặc nhiệm của mười tám xã, thị trấn với thành phần là cán bộ của xã, ấp, tổ y tế, CTV…
- Triển khai chiến dịch diệt lăng quăng dựa vào cộng đồng
- Xây dựng mạng lưới xã điểm cộng tác viên
1.4.2 Mô hình hoạt động của mạng lưới cộng tác viên
Trong năm 2011, 2012 Trung tâm Y tế huyện Chợ Mới đã chọn xã Hòa
An, Thị trấn Chợ Mới làm xã điểm triển khai mô hình phòng chống SXH dựa vào cộng đồng sử dụng mạng lưới cộng tác viên Những cộng tác viên này được tập huấn kiến thức cơ bản về bệnh SXH, biện pháp phòng chống SXH, mỗi cộng tác viên phụ trách 70 - 90 hộ
Nhiệm vụ của cộng tác viên: Mỗi tháng cộng tác viên đến thăm hộ gia
đình hai lần trong địa bàn phụ trách, phổ biến kiến thức về bệnh SXH, các biện pháp phòng chống, kiểm tra các vật dụng chứa nước trong gia đình, hướng dẫn người dân cách loại bỏ các vật dụng chứa nước có lăng quăng hoặc trực tiếp xử lý, thả cá ăn lăng quăng, theo dõi và ghi chép vào sổ, báo cáo
trong kỳ họp định kỳ hằng tháng [6]
Trang 291.4.3 Mô hình chiến dịch diệt lăng quăng dựa vào cộng đồng
Đây là mô hình tổ chức thực hiện với sự tham gia của toàn thể cộng đồng với mục tiêu: đưa các hoạt động phòng chống SXH đến từng hộ gia đình, tuyên truyền vận động cộng đồng thực hiện các biện pháp diệt lăng quăng, nâng cao nhận thức của cộng đồng về bệnh SXH; tạo ra phong trào rầm rộ, huy động cộng đồng tham gia thực hiện các biện pháp diệt lăng quăng tại hộ gia đình; nâng cao vai trò của chính quyền cơ sở trong việc huy động xã hội tham gia các phong trào y tế ở địa phương nhằm làm giảm số ca mắc SXH và ngăn chặn sự bùng phát của dịch bệnh [38]
Thời điểm triển khai thực hiện vào các tháng 5 - 9 hoặc sớm hơn tùy theo tình hình dịch bệnh ở địa phương Lãnh đạo Trạm Y tế xã, thị trấn chịu trách nhiệm tham mưu với Ủy ban nhân dân xã xây dựng kế hoạch và chọn thời điểm thực hiện chiến dịch [43]
1.4.4 Mô hình xử lý ổ dịch sốt xuất huyết
Ổ dịch SXH là nơi (xóm, tổ dân phố, cụm dân cư) được xác định là ổ dịch SXH khi có hai trường hợp SXH xảy ra trong vòng 14 ngày hoặc có một ca SXHD tử vong /nặng hoặc có một ca xét nghiệm Mac-Elisa (+) [2]
Nguyên tắc xử lý sớm và triệt để, không quá 48 giờ từ khi nhận được thông tin về ca bệnh Phạm vi xử lý với bán kính ít nhất là 200 m với tâm của bán kính từ nhà ca bệnh [20], [38]
Cách xử lý bằng vệ sinh môi trường diệt lăng quăng do đội đặc nhiệm của
xã thực hiện và phải đạt yêu cầu tại ổ dịch là 100% hộ gia đình được vận động, tuyên truyền hướng dẫn các biện pháp diệt lăng quăng, đồng thời phải đảm bảo chỉ số Breteau (BI) < 20 Ngoài ra, còn kết hợp với phun hóa chất diệt muỗi do Đội phun hóa chất của tuyến huyện thực hiện ngay sau khi tổ chức vệ sinh môi trường diệt lăng quăng đạt yêu cầu (chỉ số BI đạt < 20) [38]
Trang 301.4.5 Mô hình nuôi và nhân giống cá bảy màu
Mỗi Trạm Y tế xã, thị trấn phải thực hiện ít nhất một điểm tại Trạm y tế
và có từ bốn điểm trở lên tại Tổ y tế để nuôi và nhân giống cá bảy màu Riêng
xã điểm cộng tác viên mỗi Tổ y tế phải có một điểm nuôi và nhân giống cá bảy màu để đảm bảo đủ nguồn cá cho cộng tác viên phân phối cho hộ gia đình thả vào các dụng cụ chứa nước có lăng quăng (DCCN lớn: Bồn, phuy hồ…) hàng tháng hoặc phân phối cho hộ dân trong các đợt chiến dịch diệt lăng quăng hay trong xử lý ổ dịch SXH [38]
1.5 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Kết quả nghiên cứu của Lê Thành Tài và Nguyễn Thị Kim Yến cho thấy tỉ lệ người dân có kiến thức đúng là 85%, thái độ đúng là 56,5% Tuy nhiên thực hành đúng còn thấp, chỉ đạt 22,1% Có khác biệt ý nghĩa về kiến thức và thái độ phòng chống SXHD giữa nam và nữ, giữa nhóm người có trình độ học vấn (TĐHV) trên cấp I với nhóm có TĐHV thấp hơn; cũng như
có khác biệt về thái độ giữa nhóm người làm ruộng với nhóm nghề khác, giữa những HGĐ từng có người mắc bệnh SXHD với những hộ còn lại Có mối liên quan ý nghĩa giữa kiến thức và thái độ phòng chống SXHD của người dân (OR = 6,075) [31]
Nghiên cứu của Trần Thanh Hải và Tạ Văn Trầm cho thấy tác nhân gây bệnh SXH: 92% các bà mẹ biết muỗi vằn cái truyền bệnh; 88% biết muỗi vằn hút máu vào ban ngày, sống trong nhà, đẻ trứng nơi các vật dụng chứa nước nhân tạo Dấu hiệu nhận biết SXH: 90% bà mẹ biết dấu hiệu SXH là sốt cao, xuất huyết dưới da 70%, chảy máu cam 65%, xuất huyết tiêu hoá 65% Tuy nhiên, chỉ khoảng 50% các bà mẹ biết được các dấu hiệu báo động nặng của SXH: lạnh tay chân, đau bụng, bứt rứt hoặc lừ đừ… Xử trí: 92% bà mẹ biết
xử trí sốt, uống nước, dùng thuốc hạ sốt Phòng chống: 89% bà mẹ cho rằng phải phun thuốc diệt muỗi, ngủ mùng 24,5%, diệt lăng quăng 35% [13]
Trang 31Kết quả nghiên cứu của Trần Văn Hai, Lê Thành Tài ghi nhận được tỷ
lệ người dân có kiến thức tốt, thái độ đúng và thực hành đúng về phòng chống SD/SXHD còn thấp, lần lượt là 50; 57 và 26% Chỉ số nhà có bọ gậy là 38% (HI = 38%), chỉ số Breteau = 56 (BI = 56), chỉ số mật độ bọ gậy = 2,24, chỉ số mật độ muỗi = 0,56 Các chỉ số này đều cao, vượt quá giá trị an toàn [12]
Nghiên cứu của Trương Phi Hùng tại thành phố Hồ Chí Minh năm
2010 kết luận rằng tỉ lệ đối tượng có kiến thức đúng, thái độ đúng, thực hành đúng về phòng bệnh SXH chưa cao và có mối liên quan giữa kiến thức, thái
độ đúng với thực hành đúng do đó, cần chú trọng công tác tuyên truyền đúng
về phòng bệnh SXH [16]
Tác giả Nguyễn Thi Văn Văn thực hiện mô hình phòng chống sốt xuất huyết dựa vào cộng đồng áp dụng biện pháp sinh học Qua triển khai đánh giá trước và sau can thiệp ở 1073 đối tượng cho thấy sự thay đổi có ý nghĩa về kiến thức-thái độ-hành vi trong phòng chống sốt xuất huyết, so sánh với xã chứng có sự khác biệt rõ rệt về các chỉ số côn trùng gây bệnh, tỷ lệ thay đổi
về kiến thức-thái độ-hành vi sau can thiệp và tỷ lệ mắc bệnh trên dân số [40]
Trang 32Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Người dân đang sinh sống tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn mẫu
Chủ hộ gia đình hoặc người trong gia đình ≥ 18 tuổi có thể trả lời được các câu hỏi
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Những người không thể trả lời phỏng vấn như: người bệnh tâm thần, người quá cao tuổi mất trí nhớ, người câm điếc
- Người vắng mặt trong lần khảo sát
- Hộ từ chối phỏng vấn
2.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: người dân sống trên địa bàn các xã, thị trấn, huyện Chợ Mới
- Thời gian nghiên cứu: Từ 03/2013 đến 10/2013
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả kết hợp can thiệp cộng đồng có nhóm chứng
2.2.2 Cỡ mẫu
Cỡ mẫu cho mục tiêu 1 và 2:
Sử dụng công thức cỡ mẫu ước lượng cho một tỉ lệ:
Trong đó:
n là cỡ mẫu
Z1-α/2= 1,96 với α=0,05
Trang 33p = 0,3 là tỷ lệ người dân có thực hành đúng về phòng, chống SXH theo nghiên cứu của Lê Văn Nghiệp [23]
q = 1 – p
d = 0,05 là sai số cho phép
Theo công thức ta được n = 323, cộng thêm 15% dự phòng mất mẫu và làm tròn, vậy cỡ mẫu cuối cùng là 380 hộ gia đình
Cỡ mẫu cho mục tiêu 3:
Dựa vào công thức kiểm định sự khác nhau giữa 2 tỉ lệ để tính cỡ mẫu [10], [22]:
P* = (P1 + P2)/2 = 0,65
Thay vào công thức ta được: n = 88
Chúng tôi chọn n = 88 Vì lấy mẫu cụm, nên hệ số nghiên cứu chúng tôi lấy là C = 2 và trừ hao 10% mất mẫu nên n = 190
Vậy chúng tôi chọn 190 mẫu cho nhóm can thiệp và 190 mẫu cho nhóm chứng
Trang 342.2.3 Phương pháp chọn mẫu
* Mục tiêu 1 và 2:
Chọn mẫu theo 4 bước sau:
- Bước 1: Liệt kê danh sách 18 xã/thị trấn trong huyện
- Bước 2: Bốc thăm chọn ngẫu nhiên 2/18 xã, thị trấn với điều kiện 2 xã này cách nhau ít nhất 1 xã
- Bước 3: Ở mỗi xã bốc thăm chọn ngẫu nhiên 4 ấp
- Bước 4: Mỗi ấp chọn 45-50 hộ gia đình bằng cách:
+ Lập danh sách hộ gia đình ở mỗi ấp
+ Đánh số thứ tự hộ đầu tiên trong danh sách là hộ số 1 đến hộ cuối cùng trong dang sách các hộ của mỗi ấp
+ Bốc thăm chọn ngẫu nhiên hộ gia đình đầu tiên để phỏng vấn Sau
đó theo phương pháp chọn nhà cạnh nhà, cứ như thế cho đến khi đủ số lượng
hộ ở mỗi ấp
* Mục tiêu 3: Từ 2 xã của mục tiêu 1 và 2, chọn ngẫu nhiên 1 xã làm nhóm
can thiệp, và xã còn lại làm nhóm chứng, phương pháp chọn 190 đối tượng ở mỗi nhóm can thiệp và chứng giống như mục tiêu 1 và 2
2.2.4 Nội dung nghiên cứu
2.2.4.1 Kiến thức và thực hành về phòng, chống SXHD
* Kiến thức phòng chống sốt xuất huyết của người dân
- Đã từng nghe nói về bệnh sốt xuất huyết
+ Đúng: có nghe nói
+ Không: không nghe
- Biết các dấu hiệu của bệnh sốt xuất huyết:
+ Đúng: khi biết sốt cao liên tục > 2 ngày và một trong các dấu hiệu như: xuất huyết dưới da, chảy máu cam, chảy máu chân răng, nôn ra máu, đi tiêu ra máu
Trang 35+ Không: khi trả lời chỉ có sốt hoặc xuất huyết hoặc không biết
- Biết các dấu hiệu chuyển nặng:
+ Đúng: khi trả lời được ít nhất 3 dấu hiệu: sốt đột ngột giảm, tay chân lạnh, bứt rứt, vật vã, lừ đừ, đau bụng, nôn ói, chảy máu bất kỳ nơi nào
+ Không: khi trả được < 3 dấu hiệu hoặc không biết
- Biết đường lây truyền của bệnh:
+ Đúng: khi trả lời muỗi đốt
+ Không: khi trả lời khác hoặc không biết
- Biết muỗi vằn là trung gian truyền bệnh:
+ Đúng: khi trả lời muỗi vằn
+ Không: khi trả lời khác hoặc không biết
- Biết thời điểm đốt người của muỗi vằn:
+ Đúng: khi trả lời cả ngày lẫn đêm
+ Không: khi trả lời khác hoặc không biết
- Biết nơi đẻ trứng của muỗi vằn:
+ Đúng: khi trả lời được ít nhất là 3 phương án trong những phương
án sau: lu, khạp, phuy, hồ, bồn, bình cắm hoa, chén nước chống kiến, gáo dừa, vỏ xe cũ
+ Không: khi trả lời khác hoặc dưới ≤ 2 phương án hoặc không biết
- Hiểu biết SD/SXHD có thể phòng tránh:
+ Đúng: có (SXH có thể phòng tránh được)
+ Không: khi trả lời khác hoặc không biết
- Biết được biện pháp phòng bệnh:
+ Đúng: khi trả lời 2 trong 3 biện pháp: diệt lăng quăng, phòng muỗi đốt, diệt muỗi
+ Không: khi trả lời dưới 2 biện pháp
- Biết được biện pháp phòng tránh muỗi đốt:
Trang 36+ Đúng: khi trả lời ít nhất 3 biện pháp: Ngủ mùng, mặc quần áo dài kín tay chân, dùng nhang trừ/ xua muỗi, dùng vợt điện, dùng hóa chất diệt muỗi, dùng thuốc xua muỗi bôi vào vùng da hở
+ Không: khi trả lời dưới 3 biện pháp hoặc không biết
- Biết được cách diệt lăng quăng:
+ Đúng: khi trả lời ít nhất từ 3 biện pháp: đậy kín DCCN, cọ rửa DCCN, loại bỏ các vật dụng phế thải, thường xuyên thay nước bình cắm hoa, thả cá vào DCCN…
+ Không: khi trả lời dưới 3 biện pháp hoặc không biết
- Biết bệnh sốt xuất huyết nguy hiểm:
+ Đúng: khi trả lời có
+ Không: khi trả lời khác hoặc không biết
- Biết xử trí khi nghi ngờ mắc bệnh SXH:
+ Đúng: khi trả lời đưa đến cơ sở y tế
+ Không đúng: khi trả lời khác hoặc không biết
- Kiến thức đúng chung: Là khi người dân có từ 10 câu trở lên kiến thức đúng trong phần kiến thức phòng chống SXHD nêu trên
* Thực hành phòng chống sốt xuất huyết của người dân
- Ngủ mùng:
+ Có: khi quan sát thấy mắc mùng cho trẻ ngủ cả ban ngày
+ Không: khi quan sát không thấy
- Súc rửa các dụng cụ chứa nước (bể chứa, lu, khạp, phuy, bồn ):
+ Đạt: Khi tất cả các dụng cụ chứa nước đều sạch sẽ
+ Không đạt: khi quan sát thấy có ít nhất một dụng cụ chứa nước không sạch sẽ
- Súc rửa các vật dụng chứa nước: bình cấm hoa, chén nước chống kiến: + Đạt: Khi tất cả các vật dụng chứa nước đều sạch sẽ
Trang 37+ Không đạt: khi thấy có ít nhất một VDCN không sạch sẽ
- Đậy nắp kín các dụng cụ chứa nước
+ Đạt: Khi tất cả các dụng cụ chứa nước đều có nắp đậy kín
+ Không đạt: khi quan thấy có ít nhất một dụng cụ chứa nước không
có nắp đậy
- Sử dụng biện pháp diệt muỗi, xua muỗi:
+ Đúng: khi có ít nhất từ 2 biện pháp (dùng nhang diệt/ xua muỗi, quạt máy, thuốc xịt muỗi)
+ Không: khi có từ 1 biện pháp trở xuống
- Vệ sinh môi trường quanh nhà:
+ Đạt: khi quan sát thực tế thấy môi trường xung quanh nhà sạch sẽ, không bụi rậm, cóng rảnh được khơi thông
+ Không đạt: khi quan sát thấy môi trường xung quanh chưa vệ sinh sạch sẽ hoặc có nhiều bụi rậm hoặc cống rãnh chưa được khơi thông
- Không có bọ gậy ở hộ gia đình:
+ Đạt: khi quan sát tất cả các DCCN, VDCN hay VDPT đều không có lăng quăng, hoặc quan sát thấy có thả cá trong các DCCN, VDCN hay VDPT
Trang 38+ Không đạt: khi quan sát thấy có lăng quăng ở bất kỳ DCCN, VDCN hay VDPT
- Thực hành đúng chung: Là khi người dân có từ 7 câu trở lên thực hành đúng trong phần thực hành phòng chống SXHD nêu trên
2.2.4.2 Chỉ số côn trùng và các yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành về phòng, chống SD/SXHD
* Chỉ số nhà có lăng quăng, chỉ số Breteau (BI)
Chỉ số côn trùng được xác định theo các công thức sau [11], [14]:
- Chỉ số nhà có lăng quăng (CSNCLQ) là tỷ lệ % nhà có LQ Aedes:
* Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng, chống SXH
- Yếu tố về dịch tể học: + Giới: Nam - Nữ
+ Tuổi: ≤ 35 tuổi - > 35 tuổi
- Nghề nghiệp: Làm ruộng - Nghề khác
- Trình độ học vấn: ≤ tiểu học - > tiểu học
- Đặc điểm hộ gia đình: + Hộ gia đình có trẻ < 5 tuổi
+ Hộ gia đình có người từng mắc SXHD trong vòng 5 năm trở lại
+ Hộ nghèo - Hộ không nghèo
- Kênh truyền thông người dân tiếp cận:
Trang 39+ Người thân quen
+ Thầy thuốc tư
+ Chính quyền địa phương, Ban ngành, đoàn thể
+ Khác
2.2.4.3 Đánh giá kết quả can thiệp về phòng, chống Sốt Dengue/sốt xuất huyết Dengue và chỉ số côn trùng
* Biện pháp can thiệp
- Triển khai hoạt động truyền thông:
+ Tăng cường viết tin bài và phát thanh trên đài truyền thanh xã
+ Vãng gia tuyên tuyên truyền
+ Phát tờ rơi, tờ bướm
- Can thiệp:
+ Cung cấp nguồn cá bảy màu cho người dân thả vào các dụng cụ chứa nước có lăng quăng
+ Tổ chức chiến dịch vệ sinh môi trường diệt lăng quăng
- Thời gian can thiệp: 3 tháng
* Đánh giá trước can thiệp
- Kiến thức về phòng, chống SXH ở xã can thiệp và xã chứng
- Thực hành về phòng, chống SXH ở xã can thiệp và xã chứng
- Chỉ số côn trùng trong nhà các hộ dân ở xã can thiệp và xã chứng
* Đánh giá kết quả sau can thiệp: Các biến số để đánh giá kiến thức, thực hành, chỉ số côn trùng tương tự như trước can thiệp
Trang 402.2.5 Phương pháp thu thập và đánh giá số liệu
2.2.5.1 Công cụ thu thập số liệu:
- Bộ câu hỏi soạn sẵn để phỏng vấn đối tượng tham gia nghiên cứu
- Đèn pin để giám sát côn trùng
2.2.5.2 Các bước thực hiện:
- Phỏng vấn người đại diện trong hộ gia đình
- Quan sát trực tiếp tình trạng vệ sinh trong và ngoài nhà, quan sát sự hiện diện của bọ gậy trong các DCCN, VDCN và trong các vật dụng phế thải Nghiên cứu tiến hành qua 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: 5/2013: Điều tra ban đầu về kiến thức, thực hành và chỉ
số côn trùng về phòng chống SXH của người dân ở các xã
+ Giai đoạn 2: 6 - 8/2013: Tiến hành can thiệp trên xã can thiệp
+ Giai đoạn 3: 9/2013: Đánh giá lại sự thay đổi về kiến thức, thực hành
và chỉ số côn trùng trong phòng chống SXH của người dân ở xã can thiệp và kiểm tra lại kiến thức, thực hành và chỉ số côn trùng trong phòng, chống SD/SXHD ở xã chứng
* Hoạt động can thiệp cụ thể
- Điều tra trước can thiệp: từ tháng 5/2013 điều tra ban đầu về kiến thức, thực hành và chỉ số côn trùng về phòng chống SXH của người dân ở các xã
- Tiến hành can thiệp: Bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc tháng 8 năm 2013 + Tháng 6,7,8 tuyên truyền trên đài truyền thanh xã, mỗi ngày 2 lần, thời lượng mỗi lần khoảng từ 5 – 10 phút
+ Tháng 7,8 kết hợp với tuyên truyền trên đài truyền thanh xã, CTV đến từng hộ gia đình vãng gia tuyên truyền về bệnh SXH, nguyên nhân gây bệnh
và các biện pháp phòng bệnh, đồng thời kiểm tra, vận động hộ gia đình loại
bỏ lăng quăng ở các DCCN, VDCN, VDPT trong và quanh nhà 2 lần/ tháng, đồng thời hướng dẫn cách súc rửa thường xuyên hoặc thả cá vào DCCN