Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty cổ phần giấy Lam Sơn Thanh hoá gồm 3 chương, lương và các khoản trích theo lương năm tài chính 2012 theo hinh thức kế toán nhật ký chung và kết luận kiến nghị được đưa ra cho công ty vào những năm tới
Trang 1LỜI CÁM ƠN Lời đầu của chuyên đề, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới tập thể quý thầy cô Trường Đại học kinh tế – Huế đã truyền đạt tất cả mọi kiến thức cho em trong quá trình học tập tại trường.
Đặc biệt cảm ơn Thầy giáo Đào Nguyên Phi đã tận tình giúp đỡ, trực tiếp hướng dẫn
em trong suốt thời gian học tập và hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này.
Cảm ơn Ban lãnh đạo Công ty Cổ phần giấy Lam Sơn Thanh Hoá đã tạo điều kiện và giúp đỡ trong thời gian thực tập, đặc biệt là các cô chú, anh chị trong phòng kế toán đã chỉ đạo, gíup đỡ truyền đạt mọi kinh nghiệm trong thời gian thực tập tại công ty.
Xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã động viên giúp đỡ trong suốt quá trình học tập.
Mặc dù em đã có rất nhiều cố gắng nhưng do thời gian hạn chế cũng như khả năng bản thân còn thiếu sót chắc sẽ không tránh khỏi những vướng mắc và khiếm khuyết nhất định Em xin chân thành tiếp nhận những ý kiến đóng góp của quý thầy cô, quý
cơ quan, các bạn để chuyên đề này được hoàn thiện một cách tốt nhất.
Thanh Hóa, tháng 3 năm 2012
Sinh viên
Đỗ Thị Huyền
Trang 2CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT TRONG BÀI
- CTCP: Công ty cổ phần
- BHXH: Bảo hiểm xã hội
- BHYT: Bảo hiểm y tế
- BHTN: Bảo hiểm thất nghiệp
- KPCĐ: Kinh phí công đoàn
- SDĐK: Số dư đầu kỳ
- SDCK: Số dư cuối kỳ
- TK: Tài khoản
- CNV: Công nhân viên
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 –
Bảng 2.2 –
Bảng 2.3
Bảng 2.4
-DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 – Sơ đồ tổ chức của công ty
Sơ đồ 2.2 – Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán của công ty
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn 1
Danh mục chữ viết tắt 2
Danh mục bảng, biểu 3
Danh mục sơ đồ, đồ thị 4
Mục lục 5
PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ 6
1 Lý do chọn đề tài
Trang 3PHẦN II - NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 1 : Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương
1.1 Những vấn đề chung về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm tiền lương
1.1.1.1.Khái niệm tiền lương
1.1.1.2 Bản chất của tiền lương
1.1.1.3.Chức năng của tiền lương
1.1.2 Vai trò và ý nghĩa của tiền lương
1.2 Nội dung, phương pháp kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp
1.2.1.Các hình thức trả lương trong doanh nghiệp
1.2.1.1 Hình thức trả lương theo thời gian
1.2.1.2 Hình thức trả lương theo sản phẩm
1.2.2.Quỹ tiền lương, quỹ BHXH,BHYT,BHTN và KPCĐ
1.2.2.1 Quỹ tiền lương
Trang 41.2.4 Những chứng từ ban đầu sử dụng trong kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp.
1.2.5 Sự cần thiết phải hoàn thiện kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương
Chương 2 : Thực trạng công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần giấy Lam Sơn Thanh Hoá.
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty cổ phần giấy Lam sơn Thanh Hoá.2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Công ty
2.1.2.1 Chức năng
2.1.2.2 Nhiệm vụ
2.1.3 Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty cổ phần giấy Lam sơn Thanh Hoá
2.1.4.Tổ chức công tác kế toán tại Công ty cổ phần giấy Lam sơn Thanh Hoá
2.1.5.3.Tình hình kết quả hoạt dộng kinh doanh
2.2 Thực trạng công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty cổ phần giấy Lam Sơn Thanh Hoá
2.2.1.Quy mô và cơ cấu tiền lương
2.2.2 Quỹ tiền lương
2.2.3.Các hình thức trả lương và phạm vi áp dụng
2.2.4.Tổ chức hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương phải trả công nhân viên
2.2.4.1 Hạch toán tiền lương
2.2.4.2.Hạch toán các khoản trích theo lương
2.2.5 Kế toán tổng hợp tiền lương và các khoản trích theo lương
Trang 5Chương 3: Một số ý kiến nhằm hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các
khoản trích theo lương tại Công ty Cổ phần Giấy Lam Sơn Thanh Hoá
3.1.Một số nhận xét về công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại
Công ty
3.2.Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty
PHẦN III – KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Giấy xác nhận của đơn vị thực tập
Phần I - Đặt vấn đề
1 Lý do chọn đề tài
Lao động tiền lương là một vấn đề hết sức quan trọng, nó quyết định đến sự thành công hay thất bại của Công ty Một chế độ lao động tiền lương hợp lý là cơ sở, là động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp Chế độ lao động tiền lương được vận dụng linh hoạt ở mỗi doanh nghiệp phụ thuộc vào đặc điểm của tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh và tính chất công việc của doanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, thì tiền lương là một phần không nhỏ của chi phí sản xuất, hình thức trả lương ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất Nếu chọn cách trả lương hợp lý sẽ tạo động lực tăng năng suất lao động, tiết kiệm được nguyên vật liệu … ngược lại lựa chọn cách trả lương không hợp lý có thể là giảm năng suất lao động, quá trình sản xuất diễn ra chậm hơn và không tiết kiệm được nguyên vật liệu
Hiện nay hình thức trả lương sản phẩm và thời gian đang được áp dụng ở nhiều doanh nghiệp Nhưng vấn đề đặt ra là trả lương như thế nào để đảm bảo tiền lương được phân chia một cách công bằng và hợp lý
Qua quá trình nghiên cứu công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty cổ phần giấy Lam Sơn Thanh Hoá em nhận thấy cách trả lương của công ty có nhiều ưu điểm song bên cạnh đó còn có những nhược điểm và những hạn chế nhất định
Trang 6Xuất phát từ những lý do trên, em lựa chọn đề tài “ Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty cổ phần giấy Lam Sơn Thanh hoá” để nghiên
cứu
Đề tài được nghiên cứu nhằm tìm ra những biện pháp nhằm nâng cao và hoàn thiện các hình thức xăp xếp lao động và tiền lương trong công ty để cho nó phù hợp với điều kiện sản xuất và đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty
2 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ giữa lý luận và thực tế về tổ chức công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương, qua đó rút ra những ý kiến góp phần hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty cổ phần giấy Lam Sơn Thanh Hoá
3 Đối tượng nghiên cứu
Công tác kế toán kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty cổ phần giấy Lam Sơn Thanh Hoá
4 Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt không gian: Tập trung tìm hiểu tại phòng kế toán của Công ty Cổ phần Giấy Lam Sơn Thanh Hoá
- Về mặt thời gian: Tập trung nghiên cứu tình hình của Công ty qua 3 năm 2010 -2012
- Thực trạng công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty Cổ phần Giấy Lam Sơn Thanh Hoá tháng 12 năm 2012
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu
- Phương pháp hạch toán kế toán
- Phương pháp phân tích chi tiết
- Các phương pháp khác…
6 Kết cấu đề tài:
- Phần I – Đặt vấn đề
- Phần II - Nội dung và kết quả nghiên cứu chuyên đề tốt nghiệp gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận của kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong
doanh nghiệp
Trang 7Chương II: Tình hình thực tế về công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương
tại Công ty Cổ phần Giấy Lam Sơn Thanh Hoá
Chương III: Một số ý kiến nhằm hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản
trích theo lương tại Công ty Cổ phần Giấy Lam Sơn Thanh Hoá
- Phần III – Kết luận và kiến nghị
Phần II Nội dung và kết quả nghiên cứu
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ
CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG 1.1 Những vấn đề chung về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm, bản chất và chức năng của tiền lương
1.1.1.1 Khái niệm tiền lương
Theo tổ chức lao động Quốc tế (ILO), tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập mà
có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thoả thuận giữa người sử dụng lao động
và người lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp quy Quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo hợp đồng lao động cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc những dịch vụ đã làm hoặc sẽ phải làm
Ở Việt Nam, hiện nay có sự phân biệt các yếu tố trong tổng thu nhập của người lao động
từ công việc: Tiền lương (dụng ý chỉ lương cơ bản), phụ cấp và phúc lợi Theo quan điểm cải cách tiền lương năm 1993, tiền lương là giá cả sức lao động, được hình thành qua sự thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động phù hợp với quan hệ cung cầu
về sức lao động trên thị trường quyết định và được trả cho năng suất lao động, chất lượng
và hiệu quả công việc
Như vậy: tiền lương được hiểu là số tiền mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động của họ thanh toán lại tương ứng với số lượng và chất lương lao động mà họ đã tiêu hao trong quá trình tạo ra của cải trong xã hội
Trang 81.1.1.2.Bản chất của tiền lương
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tiền lương là một phần thu nhập quốc dân biểu hiện bằng tiền mà người lao động nhận được để bù đắp cho lao động đã bỏ ra tuỳ theo số lượng và chất lượng của người lao động đó Như vậy tiền lương là một phần giá trị mới sáng tạo ra được phân phối cho người lao động để tái sản xuất sức lao động của mình
Vì người lao động trong quá trình tham gia sản xuất phải hao phí một lương sức lao động nhất định và sau đó phải được bù đắp bằng việc sử dụng tư liệu tiêu dùng.Tiền lương dưới CNXH là một bộ phận của thu nhập quốc dân được Nhà nước phân phối cho người lao động vì thế nó chịu ảnh hưởng của một loạt nhân tố: Trình độ phát triển sản xuất, quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng trong từng thời kỳ và chính sách của Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ kinh tế chính trị trong thời kỳ đó Như vậy tiền lương của người lao động còn phụ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế xã hội của Đất nước Một nền kinh tế còn nghèo nàn lạc hậu, các phương tiện sản xuất chưa tiên tiến, trình độ lao động chưa cao, hiệu qủa sản xuất kinh doanh còn thấp thì tiền lương chưa thể cao được Mặt khác, lúc đó thu nhập quốc dân chưa đủ để đáp nhu cầu cao về tiền lương của toàn xã hội Như ta biết thu nhập quốc dân phụ thuộc vào hai yếu tố đó là: Số lượng lao động trong khu vực sản xuất vật chất và năng suất lao động bình quân của khối sản xuất vật chất Vì vậy, tiền lương chỉ được tăng lên trên cơ sở tăng số lượng lao động trong khu vực sản xuất và tăng năng xuất lao động của khối này
Theo quan điểm đổi mới hiện nay, tiền lương ở nước ta đã được coi là giá cả sức lao động, coi sức lao động là hàng hoá là một bước tiến quan trọng trong nhận thức về tiền lương của Đảng và Nhà nước ta và cũng hoàn toàn phù hợp với đặc điểm của tình hình đất nước Đất nước ta đang trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên CNXH, nền kinh tế còn tồn tại nhiều chế độ sở hữu đan xen lẫn nhau, do đó tiền công hay tiền lương còn tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau với bản chất khác nhau Trong thành phần kinh tế tư bản tư nhân dựa trên chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất và bóc lột sức và bóc lột sức lao động làm thuê thì tiền công là giá cả sức lao động và quan hệ lao động ở đây là quan hệ chủ thợ Trong thành phần kinh tế quốc doanh về mặt sở hữu tập thể mà Nhà nước là người đại diện đứng ra quản lý trong các doanh nghiệp quốc doanh thì quyền quản lý và
sử dụng lao động giao cho Giám đốc, mặt khác người lao động được tự do hoàn toàn về thân thể (sự tự do này được pháp luật công nhận và bảo hộ) Vì vậy, đã có đủ điều kiện để
Trang 9coi sức lao động trong các doanh nghiệp quốc doanh cũng là hàng hoá, nghĩa là tiền lương
và giá cả sức lao động Tiền lương ở khu vực này Nhà nước tác động thông qua hệ thống thang bảng lương Các doanh nghiệp quốc doanh đại diện cho Nhà nước là người sử dụng lao động tiến hành bố trí lao động cho phù hợp với khả năng và yêu cầu của người lao động trên cơ sở đó phân phối kết quả sản xuất Việc trả lương không chỉ căn cứ vào hợp đồng lao động mà còn căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh
1.1.1.3.Chức năng của tiền lương
Trong bất cứ một doanh nghiệp nào, doanh nghiệp sản xuất cũng như doanh nghiệp thương mại, tiền lương thực hiện hai chức năng sau:
a Về phương diện xã hội :
Trong bất cứ chế độ xã hội nào, tiền lương cũng thực hiện chức năng kinh tế cơ bản của
nó là đảm bảo tái sản xuất sức lao động cho xã hội.Tuy nhiên mức độ tái sản xuất mở rộng cho người lao động và cách tính, cách trả tiền lương trong mỗi chế độ là khác nhau Người lao động tái sản xuất sức lao động của mình thông qua các tư liệu sinh hoạt nhận được từ khoản tiền lương của họ Để tái sản xuất sức lao động tiền lương phải đảm bảo tiêu dùng
cá nhân người lao động và gia đình họ Để thực hiện chính sách này trong công tác tiền lương phải:
+ Nhà nước phải định mức lương tối thiểu; mức lương tối thiểu phải đảm bảo nuôi sống gia đình và bản thân họ Mức lương tối thiểu là nền tảng cho chính sách tiền lương và việc trả lương cho các doanh nghiệp, bởi vậy nó phải được thể chế bằng pháp luật buộc mọi doanh nghiệp khi sử dụng lao động phải thực hiện Mức lương tối thiểu được ấn định theo giá linh hoạt, đảm bảo cho người lao động làm việc đơn giản nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tích luỹ tái sản xuất sức lao động
mở rộng và làm căn cứ để tính các mức lương cho các loại lao động khác
+ Mức lương cơ bản khác: Được xác định trên cơ sở mức giá hàng vật phẩm tiêu dùng trong từng trường hợp một, bởi vậy khi giá cả có biến động, đặc biệt khi tốc độ lạm phát cao phải điều chỉnh tiền lương phù hợp để đảm bảo đời sống của người lao động
b Về phương diện kinh tế:
Trang 10Tiền lương là một đòn bẩy kinh tế có tác dụng kích thích lợi ích vật chất đối với người lao động làm cho họ vì lợi ích vật chất của bản thân và gia đình mình mà lao động một cách tích cực với chất lượng kết quả ngày càng cao.
Để trở thành đòn bẩy kinh tế, việc trả lương phải gắn liền với kết quả lao động, tổ chức tiền lương phải nhằm khuyến khích người lao động nâng cao năng xuất, chất lượng và hiệu quả lao động Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng Bội
số của tiền lương phải phản ánh đúng sự khác biệt, trong tiền lương giữa loại lao động có trình độ thấp nhất và cao nhất được hình thành trong quá trình lao động
1.1.2 Vai trò và ý nghĩa của tiền lương
Với chức năng cơ bản nói trên, vai trò của tiền lương được biểu hiện :
Về mặt chính trị xã hội:
Có thể nói tiền lương là một nhân tố quan trọng tác động mạnh mẽ nhất, nếu như tiền lương không gắn chặt với chất lượng, hiệu quả công tác, không theo giá trị sức lao động thì tiền lương không đủ đảm bảo để sản xuất, thậm chí tái sản xuất giản đơn sức lao động
đã làm cho đời sống của đại bộ phận của người lao động, không khuyến khích họ nâng cao trình độ nghiệp vụ, trình độ tay nghề Vì vậy, tiền lương phải đảm bảo các yếu tố cấu thành để đảm bảo nguồn thu nhập, là nguồn sống chủ yếu của người lao động và gia đình
họ là điều kiện để người lao động hưởng lương hoà nhập vào thị trường lao xã hội
Để sử dụng đòn bẩy tiền lương đối với người lao động đòi hỏi công tác tiền lương trong doanh nghiệp phải đặc biệt coi trọng
Trang 11Tổ chức tiền lương trong doanh nghiệp được công bằng và hợp lý sẽ tạo ra hoà khí cởi mở giữa những người lao động, hình thành khối đoàn kết thống nhất, trên dưới một lòng, một
ý chí vì sự nghiệp phát triển và vì lợi ích bản thân họ
Chính vì vậy mà người lao động tích cực làm việc bằng cả lòng nhiệt tình, hăng say và họ
có quyền tự hào về mức lương họ đạt được
Ngược lại, khi công tác tổ chức tiền lương trong doanh nghiệp thiếu tính công bằng và hợp lý thì không những nó sẽ sinh ra những mâu thuẫn nội bộ thậm chí khá gay gắt đối với người lao động với nhau, những người lao động với cấp quản trị, cấp lãnh đạo doanh nghiệp, mà có lúc còn có thể gây ra sự phá ngầm dẫn đến sự phá hoại ngầm dẫn những đến sự lãng phí to lớn trong sản xuất Vì vậy, với nhà quản trị doanh nghiệp, một trong những công việc cần được quan tâm hàng đầu là phải theo dõi đầy đủ công tác tiền lương, thường xuyên lắng nghe và phát hiện kịp thời những ý kiến bất đồng hoặc những mâu thuẫn có khả năng xuất hiện trong phân phối tiền lương, tiền thưởng của người lao động qua đó có sự điều chỉnh thoả đáng hợp lý
Tóm lại, trong đời sống xã hội, trong doanh nghiệp tiền lương đóng vai trò đặc biệt quan trọng, nó không chỉ đảm bảo cho đời sống của người lao động, tái sản xuất sức lao động
mà còn là một công cụ để quản lý doanh nghiệp, là đòn bẩy kinh tế hiệu lực Tuy nhiên, chỉ trên cơ sở áp dụng đúng đắn chế độ tiền lương, đảm bảo các nguyên tắc của nó thì mới phát huy được mặt tích cực và ngược lại sẽ làm ảnh hưởng xấu đến toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp
1.2 Nội dung, phương pháp kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp
1.2.1 Các hình thức tiền lương trong doanh nghiệp
Chính sách tiền lương là một trong những nhân tố tác động mạnh mẽ đến chất lượng, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh thường áp dụng phổ biến hình thức tiền lương như sau:
- Tiền lương thời gian
- Tiền lương sản phẩm
1.2.1.1 Hình thức tiền lương theo thời gian
Hình thức tiền lương theo thời gian là hình thức trả lương cho người lao động tính theo thời gian việc thực tế, và mức lương theo trình độ lành nghề, chuyên môn, tính chất công
Trang 12việc… của mọi người lao động Để vận dụng hình thức trả lương theo thời gian các doanh nghiệp thường áp dụng các văn bản hướng dẫn của nhà nước về tiền lương theo từng ngành nghề, công việc, mức độ uyên thâm nghề nghiệp của người lao động để tính mức lương thời gian áp dụng cho doanh nghiệp mình.
Việc tính trả lương theo thời gian có thể thưc hiện 2 cách lương thời gian giản đơn và lương thời gian có thưởng
- Lương thời gian đơn giản: Là tiền lương là tiền lương được tính theo thời gian làm việc
và đơn giá lương thời gian Lương thời gian giản đơn được chia thành
+ Tiền lương tháng: là tiền lương trả cố định theo hợp đồng lao động trong một tháng, hoặc có thể là tiền lương được quy định sẵn đối với từng bậc lương trong chế độ tiền lương trong chế độ tiền lương của nhà nước
Tiền lương tháng = Hệ số lương x Mức lương cơ
bản tối thiểu +
Các khoản phụ cấp (nếu có)+ Tiền lương ngày là tiền lương trả cho người lao động theo mức lương ngày và có số ngày làm việc thực tế trong tháng
Tiền lương ngày thường được áp dụng để trả lương cho lao động trực tiếp hưởng lương theo thời gian Tiền lương ngày còn là cơ sở để tính trợ cấp BHXH trả cho người lao động trong các trường hợp được phép hưởng theo chế độ quy định
Tiền lương ngày =
Tiền lương phải trả
Số ngày làm việc thực
tế trong tháng+ Tiền lương giờ: là tiền lương trả cho người lao động tùy thuộc vào mức lương giờ và số giờ làm việc thực tế Mức lương giờ còn phân biệt thời gian làm việc trong các ngày nghỉ, ngày lễ, làm đêm, làm ngoài giờ Tiền lương giờ thường được áp dụng để trả lương cho lao động bán thời gian, lao động làm việc không hưởng theo sản phẩm, hoặc làm việc trong ngày nghỉ, ngày lễ, làm ngoài giờ
Tiền lương giờ =
Tiền lương tháng
Số ngày làm việc trong tháng theo chế độ
Tiền lương ngày
Trang 13- Lương thời gian có thưởng: là hình thức tiền lương giản đơn kết hợp với chế độ thưởng
trong sản xuất Đồng thời phản ánh được ý thức trách nhiệm, tinh thần sáng tạo trong lao động, trình độ tay nghề Vì vậy nó có tác dụng khuyến khích người lao động quan tâm đến trách nhiệm và kết quả của mình
Mức lương = Lương thời gian đơn giản + Tiền thưởng
1.2.1.2 Hình thức tiền lương sản phẩm:
Hình thức tiền lương theo sản phẩm là hình thức trả lương cho người lao độnghay nhóm người lao động tùy thuộc vào số lượng và chất lượng của khối lượng công việc, sản phẩm hay dịch vụ hòan thành Hình thức tiền lương theo sản phẩm bao gồm các hình thức sau
- Tiền lương theo sản phẩm lũy tiến: Theo hình thức này tiền lương trả cho người lao
động có phân biệt đơn giá lương với các mức khối lượng sản phẩm hoàn thành Nguyên tắc của hình thức này là đơn giá lương sẽ gia tăng cấp bậc khi khối lượng sản phẩm hòan thành vượt một định mức nào đó
Hình thức này thường được áp dụng cho những công đoạn quan trọng, sản xuất khẩn trương đảm bảo tính đồng bộ của sản xuất, hoặc đáp ứng tiến bộ giao hang theo đơn đặt hang Tuy nhiên khi áp dụng hình thức này còn chú ý đến trường hợp người lao động vì quan tâm đến số lượng sản phẩm hoàn thành mà xem nhẹ chất lượng sản phẩm, ảnh hưởng đến uy tín sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường Theo hình thức này lương sản phẩm chia làm 2 phần
Số lượng sản phẩm
Đơn giá sản phẩm vượt định mức
Tiền lương theo sản phẩm trực tiếp không hạn chế: theo hình thức này, tiền lương trả cho
người lao động tùy thuộc vào số lượng sản phẩm hoàn thành và đơn giá lương sản phẩm Tiền lương Tiền lương phải trả được xác định như sau:
Tổng tiền lương
Số lượng sản phẩm hoàn thành x Đơn giá lương
Trang 14Hình thức này thường được áp dụng cho lao động trực tiếp sản xuất ra sản phẩm tại doanh nghiệp.
- Tiền lương sản phẩm gián tiếp: Hình thức này được áp dụng để trả lương cho lao động
gián tiếp ở bộ phận sản xuất, như công nhân vận chuyển vật liệu, thành phẩm Tiền lương của bộ phận lao động này thường theo một tỷ lệ tiền lương của lao động trực tiếp sản xuất sản phẩm Lý do là chất lượng và năng suất của bộ phận lao động trực tiếp sản xuất còn tùy thuộc vào chất lượng phục vụ của bộ phận lao động gián tiếp
- Tiền lương sản phẩm có thưởng: Theo hình thức này, ngoài tiền lương theo sản phẩm
trực tiếp, người lao động còn nhận khoản tiền thưởng do tiết kiệm nguyên nhiên liệu, tăng năng suất lao động, thưởng sáng kiến … Hình thưc này cũng chú ý đến trường hợp người lao động làm ra sản phẩm kém phẩm chất, lãng phí vật tư,… để phải chịu tiền phạt
- Tiền lương khoán khối lượng công việc: Hình thức này tiền lương đựơc trả cho khối
lượng công việc hoàn thành Hình thức này thường áp dụng cho những công việc có tính đơn giản như bốc dỡ vật tư, sữa chữa… hoặc những công việc không thể tách ra từng công việc cụ thể được
Nhìn chung, hình thức tiền lương theo sản phẩm có nhiều ưu điểm so với hình thức trả lương theo thời gian Hình thức này thể hiện nguyên tắc phân phối theo lao động, góp phần khuyến khích tăng năng suất lao động Để vận dụng hình thức này doanh nghiệp phải xây dựng định mức lao động phù hợp với từng công việc, từng cấp bậc và trình độ của người lao động có chú ý đến thực trạng cơ sở vật chất của mình Định mức lao động phải
là định mức động để góp phần tăng năng suất lao động tại doanh nghiệp
1.2.2 Quỹ tiền lương, quỹ BHXH, BHYT, BHTN và KPCĐ
1.2.2.1 Quỹ tiền lương:
Quỹ tiền lương là tổng số tiền lương phải trả cho tất cả lao động mà doanh nghiệp đang quản lý và sử dụng tại các bộ phận của doanh nghiệp Để quản lý tốt quỹ tiền lương cần hiểu nội dung quỹ tiền lương doanh nghiệp Quỹ tiền lương về nguyên tắc bao gồm các bộ phận
- Quỹ tiền lương trả cho người l trong thời gian thực tế làm việc
Lương sản phẩm có
thưởng = Lương sản phẩm + Thưởng
Trang 15- Quỹ tiền lương trả cho người l trong thời gian không tham gia vào sản xuất theo chế độ của công nhân viên như: Nghỉ phép năm, nghỉ lễ, đi học.
- Quỹ tiền lương bổ sung bao gồm các khoản phụ cấp, trợ cấp cho người l trong điều kiện l đặc biệt hoặc do đặc tính nghề nghiệp
- Ngoài ra, quỹ tiền lương còn phân thành tiền lương chính và lương phụ
- Tiền lương chính: là tiền lương mà doanh nghiệp trả cho người l trong thời gian làm nhiệm vụ chính đã quy định cho họ
- Tiền lương phụ: là tiền lương trả cho người lao động trong thời gian không làm nhiệm vụ chính nhưng vẫn hưởng lương theo chế độ quy định như tiền lương trong thời gian nghỉ phép, hội họp, học tập, tiền lương trong thời gian nghỉ việc ngừng sản xuất
Việc phân chia tiền lương thành tiền lương chính và lương phụ có ý nghĩa nhất định trong công tác hạch toán, phân bổ chi phí tiền lương theo đúng đối tượng và trong công tác phân tích tình hình tiền lương tại doanh nghịêp
1.2.2.2 Quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn
a Quỹ bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.Luật Bảo hiểm xã hội quy định có 2 loại BHXH, là BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện:
- Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia
- Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình
để hưởng bảo hiểm xã hội
Trong phạm vi của bài viết này chỉ đề cập đến BHXH bắt buộc đối với các đối tượng sau:a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên;
b) Cán bộ, công chức, viên chức;
c) Công nhân quốc phòng, công nhân công an;
Trang 16d) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân;
Theo Điều 91 Luật BHXH: quy định mức đóng và phương thức đóng của người lao động như sau:
- Hằng tháng, người lao động sẽ đóng 5% mức tiền lương, tiền công vào quỹ hưu trí và tử tuất Và từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng
là 8%
Riêng đối với người lao động hưởng tiền lương, tiền công theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh trong các doanh nghiệp nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp thì phương thức đóng được thực hiện hằng tháng, hằng quý hoặc sáu tháng một lần
Theo Điều 92 Luật BHXH: quy định mức đóng và phương thức đóng của người sử dụng lao động
Hằng tháng, người sử dụng lao động đóng trên quỹ tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm
xã hội của người lao động như sau:
a) 3% vào quỹ ốm đau và thai sản; trong đó người sử dụng lao động giữ lại 2% để trả kịp thời cho người lao động đủ điều kiện hưởng chế độ và thực hiện quyết toán hằng quý với
tổ chức bảo hiểm xã hội;
b) 1% vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
c) 11% vào quỹ hưu trí và tử tuất Và từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng là 14%
Vậy từ ngày 1/1/2010, mức trích lập BHXH là 22% trên quỹ tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội, trong đó người lao động đóng góp 6% và người sử dụng lao động đóng góp 16%
Và tỷ lệ này cứ 2 năm sẽ tăng thêm 2% (trong đó người lao động đóng thêm 1% và người
sử dụng lao động đóng thêm 1%) cho đến khi đạt tỷ lệ trích lập là 26%, trong đó người lao động đóng 8% và người sử dụng lao động đóng 18%
(Trích từ Chương IV, mục I của Luật BHXH)
Quỹ BHXH là qũy dùng để trợ cấp cho người lao động có tham gia đóng góp quỹ trong các trường hợp bị mất khả năng lao động như ốm đau, tai nạn lao động, thai sản, hưu trí,
Trang 17mất khả năng làm việc và tử tuất Theo chế độ hiện hành, quỹ BHXH hình thành từ hai nguồn:
+ Người sử dụng lao động (doanh nghiệp) hang tháng có trách nhiệm đóng 15% với tổng quỹ lương của người tham gia BHXH trong đơn vị phần đóng góp này tính vào chi phí của doanh nghiệp
+ Người lao động đóng bằng 5% từ thu nhập của mình để chi các chế độ hưu trí và tử tuất.Tổng quỹ lương tháng làm căn cứ đống BHXH gồm tiền lương thao ngạch bậc, chức vụ, hợp đồng và các khoản phụ cấp khu vực, đắt đỏ, thâm niên, hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có)
Cá doanh nghiệp có trách nhiệm nộp BHXH cho cơ quan bảo hiểm xã hội theo quy định Trường hợp nộp chậm BHXH thì phải nộp phạt theo lãi suất tiền gửi ngắn hạn vào thời điểm truy nộp
Doanh nghiệp phải lập kế hoạch chi BHXH để nhận kinh phí do cơ quan BHXH cấp hang tháng Cuối tháng, doanh nghiệp và cơ quan BHXH tiến hành thanh toán số tiền chi trả trợ cấp thực tế trong tháng
b Quỹ bảo hiểm y tế
Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật BHYT
Theo Luật BHYT thì mức trích lập tối đa của quỹ BHYT là 6% tiền lương tiền công hàng tháng của người lao động, trong đó người lao động chịu 1/3 (tối đa là 2%) và người sử dụng lao động chịu 2/3 (tối đa là 4%)
Theo nghị định số 62/2009/NĐ-CP ban hành ngày 27/7/2009 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/10/2009) của Thủ tướng Chính phủ quy định mức trích lập BHYT từ 1/1/2010 như sau:Đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên; người lao động là người quản lý doanh nghiệp hưởng tiền lương, tiền công; cán bộ, công chức, viên chức thì mức trích lập BHYT bằng 4,5% mức tiền lương, tiền công hằng tháng của người lao động, trong đó người sử dụng lao động đóng góp 3% và người lao động đóng góp 1,5%
c Quỹ bảo hiểm thất nghiệp
Trang 18Theo Luật Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc áp dụng đối với đối tượng lao động và người sử dụng lao động như sau:
- Người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp là công dân Việt Nam làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc mà các hợp đồng này không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn từ đủ mười hai tháng đến ba mươi sáu tháng với người sử dụng lao động
- Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm cơ quan nhà nước, đơn
vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan,
tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng
và trả công cho người lao động có sử dụng từ mười lao động trở lên
* Theo điều 81 Luật BHXH, điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp
Người thất nghiệp được hưởng bảo hiểm thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:
- Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ mười hai tháng trở lên trong thời gian hai mươi bốn tháng trước khi thất nghiệp;
- Đã đăng ký thất nghiệp với tổ chức bảo hiểm xã hội;
- Chưa tìm được việc làm sau mười lăm ngày kể từ ngày đăng ký thất nghiệp
* Theo điều 82 Luật BHXH, mức trợ cấp thất nghiệp như sau:
- Mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của sáu tháng liền kề trước khi thất nghiệp
- Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được quy định như sau:
+ Ba tháng, nếu có từ đủ mười hai tháng đến dưới ba mươi sáu tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp;
+ Sáu tháng, nếu có từ đủ ba mươi sáu tháng đến dưới bảy mươi hai tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp;
+ Chín tháng, nếu có từ đủ bảy mươi hai tháng đến dưới một trăm bốn mươi bốn tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp;
Trang 19+ Mười hai tháng, nếu có từ đủ một trăm bốn mươi bốn tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp trở lên
* Theo điều 102 Luật BHXH, nguồn hình thành quỹ như sau:
- Người lao động đóng bằng 1% tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp
- Người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp
- Hằng tháng, Nhà nước hỗ trợ từ ngân sách bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp và mỗi năm chuyển một lần
Vậy, tỷ lệ trích lập BHTN của DN là 2%, trong đó người lao động chịu 1% và DN chịu 1% tính vào chi phí
d Quỹ kinh phí công đoàn
Tỷ lệ trích lập của khoản này không thay đổi, vẫn là 2% trên tổng thu nhập của người lao động và toàn bộ khoản này sẽ được tính vào chi phí của doanh nghiệp
1.2.3.Phương pháp kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp
1.2.3.1 Tài khoản sử dụng
Để hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương, kế toán sử dụng các tài khoản sau:
* TK 334 - Phải trả cho công nhân viên
Tài khoản này được dùng để phản ánh các khoản phải trả cho công nhân viên của doanh nghiệp (DN) về tiền lương, tiền công, tiền thưởng, BHXH và các khoản phải trả khác thuộc về thu nhập của DN Nội dung và kết cấu của TK 334:
TK 334 “Phải trả cho công nhân viên”
SDĐK: Phản ánh số tiền đã trả lớn hơn số
phải trả về tiền lương, tiền công, tiền
thưởng và các khoản khác cho người lao
động đầu kỳ
SDĐK: Các khoản tiền lương, tiền công, tiền thưởng có tính chất lương và các khoản khác còn phải trả cho người lao động đầu kỳ
Trang 20- Các khoản tiền lương, tiền công, tiền
- Các khoản khấu trừ vào tiền lương, tiền
công của người lao động
SDCK: Phản ánh số tiền đã trả lớn hơn số
phải trả về tiền lương , tiền công, tiền
thưởng và các khoản khác cho người lao
động
SDCK: Các khoản tiền lương, tiền công, tiền thưởng có tính chất lương và các khoản khác còn phải trả cho người lao động
TK 334 có 2 TK cấp 2:
TK 3341 – Phải trả công nhân viên
TK 3348 – Phải trả người lao động
Sơ đồ: (S 1.1) Kế toán phải trả người lao động
TK 138,333
Khấu trừ vào lương khoản tạm ứng chưa thanh toán, khoản BHXH, BHYT CN phải chịu
Khấu trừ vào lương khoản phải thu có tính chất bồ thường hay thuế thu nhập cá nhân
Tiền lương phải trả cho công nhân sản xuất
Tiền lương phải trả cho công nhân viên phân xưởng
Tiền lương nghỉ phải trả cho công nhân viên bán hàng, quản lý doanh nghiệp
Tiền lương nghỉ phải trả cho công nhân viên sản xuất
BHXH phải trả cho CNV
Trang 21SDĐK: Khoản đã trích chưa sử dụng hết còn lại đầu kỳ
- BHXH phải trả cho công nhân viên - Trích BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ theo chế
độ quy định
- Chi kinh phí công đoàn tại DN - BHXH, KPCĐ vượt chi được cấp bù
- Khoản BHXH và KPCĐ đã nộp lên cơ
quan quản lý cấp trên
- Chi mua BHYT, BHTN cho người lao
động
SDCK: Khoản đã trích chưa sử dụng hết
TK 338 có các TK cấp 2 như sau:
TK 3382 : Kinh phí công đoàn (KPCĐ)
TK 3383 : Bảo hiểm xã hội (BHXH)
TK 3384 : Bảo hiểm y tế (BHYT)
TK 3389 : Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN)
Sơ đồ: (S 1.2) Kế toán phải trả khác
1.2.3.2 Định khoản nghiệp vụ phát sinh
- Khi ứng lương cho người lao động, kế toán ghi:
TK 138,333
NộpBHXH, BHYT , KPCĐ
Khấu trừ vào lương khoản phải thu có tính chất bồi thường hay thuế thu nhập cá nhân
Trích BHXH,BHYT,KPCĐ tính vào chi phí
BHXH,BHYT,KPCĐ trừ vào lương nhân viên
KPCĐ chi được cấp bù
TK 338
TK 334
Trang 22Có TK111- Tiền mặt
- Cuối tháng, căn cứ vào Bảng phân bổ lương theo từng đối tượng hạch toán, kế toán ghi
Nợ TK 662- Chi phí nhân công trực tiếp
Nợ TK 627- Chi phí sản xuất chung
Nợ TK 642- Chi phí quản lý doanh nghiệp
Nợ TK 641- Chi phí bán hang
Có TK 334 Phải trả công nhân viên
- Căn cứ vào bảng thanh toán BHXH, ghi số trợ cấp BHXH phải trả cho người lao động trong tháng, kế toán ghi:
Có TK333- Thuế và các khoản phải nộp nhà nước
- Phản ánh các khoản khấu trừ vào lương, kế toán ghi
Trang 23Có TK 112- tiền gửi ngân hang
- Thanh toán lương cho người lao động sau khi khấu trừ:
Nợ TK 334- phải trả CNV
Có TK111- tiền mặt
Có TK112 -tiền gửi ngân hàng
Căn cứ vào bảng thanh toán tính và ghi số trích BHXH,BHYT,KPCĐ do người sử dụng lao động đóng góp
Nợ TK 622- Chi phí nhân công trực tiếp
Có TK 112-Tiền gửi ngân hàng
- Khi mua BHXH kế toán ghi:
Trang 24-Khi nhận kinh phí do cơ quan BHXH cấp theo dự toán để trả trợ cấp BHXH, kế toán ghi:
Nợ TK 112-Tiền gửi ngân hàng
- Bảng thanh toán lương
- Bảng thanh toán tiền thưởng
- Bảng phân bổ lương
- Bảng thanh toán bảo hiểm xã hội
1.2.5 Sự cần thiết phải hoàn thiện kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương
Tiền lương là một phạm trù kinh tế xã hội đặc biệt quan trọng vì nó liên quan trực tiếp tới lợi ích kinh tế của người lao động Lợi ích kinh tế là động lực thúc đẩy người lao động nâng cao năng suất lao động Từ việc gắn tiền lương với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh đến việc nâng cao mức sống ổn định và việc phát triển cơ sở kinh tế là những vấn đề không thể tách rời Tổ chức tiền lương trong doanh nghiệp được công bằng và hợp
lý sẽ tạo ra hoà khí cởi mở giữa những người lao động, hình thành khối đoàn kết thống nhất, trên dưới một lòng, một ý chí vì sự nghiệp phát triển và vì lợi ích bản thân họ Chính
vì vậy mà người lao động tích cực làm việc bằng cả lòng nhiệt tình, hăng say và họ có quyền tự hào về mức lương họ đạt được
Ngược lại, khi công tác tổ chức tiền lương trong doanh nghiệp thiếu tính công bằng và hợp lý thì không những nó sẽ sinh ra những mâu thuẫn nội bộ thậm chí khá gay gắt đối với người lao động với nhau, với những người lao động với cấp quản trị, cấp lãnh đạo doanh nghiệp, mà có lúc còn có thể gây ra sự phá ngầm dẫn đến sự phá hoại ngầm dẫn những
Trang 25đến sự lãng phí to lớn trong sản xuất Vì vậy, với nhà quản trị doanh nghiệp, một trong những công việc cần được quan tâm hàng đầu là phải theo dõi đầy đủ công tác tiền lương, thường xuyên lắng nghe và phát hiện kịp thời những ý kiến bất đồng hoặc những mâu thuẫn có khả năng xuất hiện trong phân phối tiền lương, tiền thưởng của người lao động qua đó có sự điều chỉnh thoả đáng hợp lý.
Tóm lại, trong đời sống xã hội, trong doanh nghiệp tiền lương đóng vai trò đặc biệt quan trọng, nó không chỉ đảm bảo cho đời sống của người lao động, tái sản xuất sức lao động mà còn là một công cụ để quản lý doanh nghiệp, là đòn bẩy kinh tế hiệu lực Tuy nhiên, chỉ trên cơ sở áp dụng đúng đắn chế độ tiền lương, đảm bảo các nguyên tắc của nó thì mới phát huy được mặt tích cực và ngược lại sẽ làm ảnh hưởng xấu đến toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIẤY LAM SƠN THANH HOÁ 2.1 Tổng quan về công ty cổ phần giấy Lam sơn
2.1.1 Tên doanh nghiệp: Công ty cổ phần giấy Lam sơn Thanh Hoá
- Tên giao dịch tiếng Anh: LAMSON PAPER JOINT STOCK COMPANY
- Tên viết tắt: LASPACO
- Trụ sở chính: Xã Vạn Thắng – Huyện Nông Cống – Tỉnh Thanh Hoá
- Điện thoại: 0378.739631/735 Fax: 0378.739095
* Cơ sở pháp lý: Quyết định thành lập số 2960/QĐ-UB ngày 05 tháng 11 năm 2001 của
Chủ tịch UBND Tỉnh Thanh Hoá về việc: Chuyển Cong ty giấy Lam Sơn Thanh Hoá thành Công ty cổ phần giấy Lam Sơn Thanh Hoá Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số
2603000028 ngày 09 tháng 09 năm 2008 (thay đổi lần 2)
* Loại hình doanh nghiệp: Công ty cổ phần
* Ngành nghề kinh doanh: Sản xuất, kinh doanh sản phẩm giấy các loại, bao bì và in trên
bao bì, kinh doanh xuất nhập khẩu vật tư thiết bị nguyên liệu, vật liệu, hoá chất
Trang 26Lĩnh vực hoạt động của Công ty: Sản xuất, kinh doanh sản phẩm giấy các loại, bao bì và
in trên bao bì, kinh doanh xuất nhập khẩu vật tư thiết bị nguyên liệu, vật liệu, hoá chất
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty:
Công ty cổ phần giấy Lam Sơn tiền thân là Nhà máy giấy Lam Sơn được thành lập ngày 20/12/1948 đến nay đã được hơn 60 năm xây dựng và trưởng thành Từ khi thành lập đến năm 1962 Công ty trực thuộc Bộ Công nghiệp nhẹ Trong những năm đầu Công ty sản xuất các loại sản phẩm giấy in, giấy in báo, giấy viết, giấy bao gói và vả giấy in bạc phục
vụ kháng chiến chống Pháp và thực hiện kế hoạch Nhà nước giao
Năm 1985 Công ty đầu tư thêm 01 dây chuyền sản xuất Carton sóng công suất 1.500tấn/năm sản xuất các loại hộp Carton tiêu thụ trực tiếp sản phẩm giấy của Công ty, đên thời kỳ này sản phẩm của Công ty đã khá đa dạng: Giấy in, giấy viết, giấy bao gói Carton hòm hộp sóng…
Sự đầu tư và phát triển sản xuất của Công ty liên tục tăng đáp ứng nhu cầu của thị trường Năm 1992 Công ty đầu tư thêm máy xeo giấy khổ 1.092mm, sản xuất giấy bao bì công nghiệp phục vụ cho dây chuyền Carton sóng, cung cấp cho trường bao bì hòm hộp Thị phần và giá trị sản xuất kinh doanh của Công ty ngày càng một tăng, do nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, thị trường đòi hỏi chất lượng sản phẩm ngày càng cao nên các máy móc thế
hệ cũ không còn đáp ứng thị trường Vì vậy, năm 1995 Công ty đầu tư tiếp 1 máy xeo mới công suất 4.500tấn/năm Năm 2000 đầu tư nâng cấp máy nghiền dĩa thay thế bớt máy nghiền kiểu Hà Lan để giảm chi phí sản xuất nâng cao chất lượng sản phẩm
2.1.3 Tổ chức bộ máy quản lý Công ty
SVTH: Đỗ Thị Huyền 26
Đại Hội đồng
cổ đồngHội đồng quản trị Ban kiểm soát
Phó giám đốc
Phân xưởng sản Giám đốc điều hành
P.Kế
Trang 27- Sơ đồ( S2.1): Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý hiện tại
Cơ cấu tổ chức của Công ty gồm bộ máy lãnh đạo, các phòng ban giúp việc lãnh đạo trong công tác quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh và tổ chức sản xuất
Bao gồm:
2.1.3.1- Đại hội đồng cổ đông: Là cơ quan quyết định cao nhất của Công ty, gồm tất cả
các cổ đông có quyền biểu quyết, họp ít nhất mỗi năm một lần Đại hội đồng cổ đông quyết định các vấn đề được pháp luật và điều lệ Công ty quy định Đại hội đồng cổ đông thông qua các nội dung bằng hình thức giơ thẻ biểu quyết Bầu, miến nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát bằng hình thức bỏ phiếu kín
2.1.3.2- Hội đồng quản trị Công ty: Là cơ quan quản lý Công ty, có toàn quyền nhân
danh Công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến hoạt động của Công ty (Trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông) Hội đồng quản trị của Công ty gồm
có 03 thành viên, có nhiệm kỳ là 05 năm Thành viên Hội đồng quản trị có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế
2.1.3.3- Ban kiểm soát Công ty: Do Đại hội đồng bầu ra Ban kiểm soát có nhiệm vụ kiểm
soát mọi mặt hoạt động quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh của Công ty Ban kiểm soát có 03 thành viên có nhiệm kỳ là 05 năm và có thể đựơc bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế Ban kiểm soát hoạt động độc lập với Hội đồng quản trị và Ban giám đốc
2.1.3.4- Giám đốc Công ty: Do Hội đồng quản trị bổ nhiệm, chịu trách nhiệm trước Hội
đồng quản trị, Đại hội đồng cổ đông và trước pháp luật về điều hành, quản lý mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, Tổ chức thực hiện các nghị quyết của HĐQT
2.1.3.5- Phó giám đốc: Là người giúp việc cho Giám đốc.
- Phó Giám đốc được điều hành hoặc ký các văn bản hoặc chứng từ khi có giấy uỷ quyền của Giám đốc
2.1.3.6- Trợ lý Giám đốc: Là người giúp việc cho Giám đốc, tổng hợp tình hình sản xuất,
kế hoạch mua vật tư nguyên liệu, vật liệu phục vụ sản xuất kinh doanh
2.1.3.7- Phòng Tổ chức:
Tham mưu giúp việc cho Giám đốc: Quản lý giám sát và hướng dẫn các
phòng ban, phân xưởng trong Công ty thuộc các lĩnh vực sau:
Trang 28- Theo dõi, kiểm tra, giám sát phục vụ bữa ăn cơm ka cho người lao động Thực hiện sắp xếp nhân viên công nhân lao động Chế độ chính sách Nhà nước đối với cán bộ công nhân viên trong Công ty, trình Giám đốc phế duyệt và chịu trách nhiệm quản lý bộ phận Bảo vệ Công ty
2.1.3.8- Phòng Kế hoạch vật tư – tiêu thụ: Nghiên cứu xây dựng chương trình kế hoạch
cho toàn Công ty, thiết lập mối quan hệ giữa Công ty với khách hàng, tham mưu cho Giám đốc về kế hoạch tiêu thụ, nhu cầu thị trường, thu tiền bán hàng cho công ty đầy đủ đúng hạn Chịu trách nhiệm trước Giám đốc về việc cung cấp thông tin giá cả vật tư, nguyên, nhiên, vật liệu cũng như chất lượng hàng hoá đầu vào
2.1.3.9- Phòng Tài chính kế toán
Có nhiệm vụ hạch toán toàn bộ chi phí tài chính của Công ty, tổ chức công tác hạch toán chính xác các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo luật kế toán phù hợp với quy định của Nhà nước Tổ chức giám sát các khoản thu chi, các nghĩa vụ thu nộp, thanh toán công nợ, kiểm tra việc sử dụng tài sản của Công ty Theo dõi các chỉ tiêu định mức tiêu hao nguyên nhiên
vật liệu và cân đối tài chính theo chế độ hiện hành, và điều hoà vay vốn phục vụ cho sản
xuất và kinh doanh của Công ty, xây dựng mức chi phí tiền lương
2.1.3.10- Phân xưởng sản xuất:
Chịu sự điều hành trực tiếp của phó Giám đốc phục trách sản xuất, thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch, hàng tháng mà Giám đốc đã phê duyệt theo từng công đoạn được giao, áp dụng công nghệ, quy trình sản xuất của công ty, tiếp nhận kiểm tra chất lượng nguyên, nhiên, vật liệu đưa vào các công đoạn trong dây chuyền để khi sản xuất ra sản phẩm bảo đảm chất lượng hàng hoá theo yêu cầu, đảm bảo đúng định mức kinh tế kỹ thuật an toàn lao động và vệ sinh môi trường Đề xuất với Giám đốc công ty khi có yêu cầu liên quan đến sản xuất
2.1.4 Tổ chức bộ máy kế toán:
Công ty cổ phần giấy Lam Sơn Thanh Hoá là một công ty chuyên sản xuất các loại giấy Carton duplex, có đội ngũ nhân viên kế toán đã được đào tạo qua các trường Đại học, Cao đẳng kế toán Để phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của mình công ty đã vận dụng hình thức tổ chức kế toán tập trung, tức là các nhân viên kế toán tập trung về phòng kế toán Đứng đầu bộ máy kế toán là kế toán trưởng trực tiếp quản lý các nhân viên của mình
28
Trang 29và chịu trách nhiệm trước Ban lãnh đạo Công ty Mô hình bộ máy kế toán của công ty được thể hiện như sau
- Sơ đồ (S2.2) bộ máy kế toán Công ty CP giấy Lam Sơn
2.1.5 Chức năng và nhiệm vụ của từng bộ phận
Các bộ phận chịu sự chỉ đạo trực tiếp và phân công của kế toán trưởng
2.1.5.1 Kế toán trưởng:
Là người giúp Giám đốc Công ty thực hiện toàn bộ công tác kế toán, thống kê tài chính ở Công ty, đồng thời thực hiện việc kiểm tra kiểm soát toàn bộ hoạt động tài chính ở Công ty, Kế toán trưởng chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc Công ty
2.1.5.2 Kế toán tổng hợp:
Giúp kế toán trưởng kiểm tra, vận hành chế độ kế toán, đôn đốc kiểm tra công tác hạch toán của từng phần hành kế toán, đồng thời là người theo dõi tổng hợp tất cả các phần hành kế toán
2.1.5.3 Kế toán vốn bằng tiền, vay và thanh toán có nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Ghi chép phản ánh số hiện có và tình hình biến động của các khoản vốn bằng tiền (tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền vay tiền đang chuyển) của công ty
2.1.5.4 Kế toán tài sản cố định, và khấu hao TSCĐ, sửa chữa TSCĐ có nhiệm vụ chủ yếu sau:
Kế toán TSCĐ
và KH TSCĐ,
SC TSCĐ
Kế toán NVL
và tập hợp
CP tính giá thành
Kế toán thành phẩm và tiêu thụ
Kế toán tổng hợp
Trang 30- Ghi chép tổng hợp và chi tiết tài sản cố định, tăng giảm tài sản cố định
- Tính khấu hao TSCĐ, lập dự toán chi phí sửa chữa tài sản cố định
2.1.5.5 Kế toán tiền lương các các khoán trích theo lương
- Tính lương và BHXH phải trả cho người lao động trong công ty
- Ghi chép tổng hợp quỹ tiền lương, quỹ BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ
2.1.5.6 Kế toán NVL và tập hợp chi phí tính giá thành
- Ghi chép kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết chi phí sản xuất trực tiếp phát sinh trong kỳ và tính giá thành sản xuất của sản phẩm,đánh giá sản phẩm dở dang
- Ghi chép ké toán quản trị chi phí sản xuất trực tiếp và tính giá thành sản xuất của từng loại sản phẩm và giá thành đơn vị sản phẩm
2.1.5.7 Kế toán thành phẩm và tiêu thụ
- Ghi chép kế toán tổng hợp và chi tiết thành phẩm tồn kho
- Ghi chép phản ánh doanh thu bán hàng và các khoản điều chỉnh doanh thu
2.1.6 Chế độ kế toán áp dụng
- Chế độ kế toán áp dụng: Chế độ kế toán doanh nghiệp theo Quyết định 15/2006/QĐ – BTC của Bộ trưởng Bộ tài chính
- Niên độ kế toán: Bắt đầu từ ngày 01/ 01/ N, kết thúc vào ngày 31/ 12/ N
- Đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán: Đồng Việt Nam
- Chế độ kế toán áp dụng: Chế độ kế toán doanh nghiệp
2.1.7 Các chính sách chủ yếu mà công ty sử dụng
- Nguyên tắc ghi nhận hàng tồn kho:
+ Nguyên tắc ghi nhận hàng tồn kho: Hàng tồn kho được tính theo giá gốc
+ Phương pháp tính giá trị hàng tồn kho: Bình quân gia quyền
+ Phương pháp hạch toán hàng tồn kho: Kê khai thường xuyên
- Nguyên tắc ghi nhận và khấu hao TSCĐ:
+ Nguyên tắc ghi nhận TSCĐ (HH, VH): TSCĐ ghi nhận theo giá gốc
Trang 31Trong quá trình sử dụng được ghi nhận theo nguyên giá, hao mòn lũy kế và giá trị còn lại.
+ Phương pháp khấu hao TSCĐ (HH, VH, TTC): Theo tỷ lệ khấu hao
- Nguyên tắc và phương pháp ghi nhận doanh thu:
+Doanh thu bán hàng: Được ghi nhận tuân thủ đầy đủ 5 điều kiện ghi nhận doanh thu theo quy định tại CMKT số 14
+ Doanh thu CCDV: Được ghi nhận tuân thủ đầy đủ 4 điều kiện ghi nhận doanh thu theo quy định tại CMKT số 14
+ Doanh thu HĐTC: Được ghi nhận tuân thủ đầy đủ 2 điều kiện ghi nhận doanh thu HĐTC theo quy định tại CMKT số 14
2.1.8.Hình thức kế toán áp dụng tại công ty
Công ty Cổ Phần Giấy Lam Sơn Thanh Hoá áp dụng “hình thức kế toán nhật ký chung trên máy vi tính” với phần mềm kế toán SAS INNOVA 8.0, do Công ty Cổ phần SIS
Việt Nam phát triển và ứng dụng tại phòng kế toán
Phần mềm kế toán SAS INNOVA 8.0 phân thành các phân hệ riêng như: Cập nhật chứng từ gốc; cập nhật khấu hao TSCĐ; cập nhật phân bổ công cụ dụng cụ, chi phí; bảng
kê, báo cáo thuế GTGT; báo cáo thu mua không hóa đơn, in phiếu thu; in phiếu chi; in phiếu nhập; in phiếu xuất; in hóa đơn bán hàng Bộ tài chính; mẫu uỷ nhiệm chi; xem và in
+) BCTC+) BC KTQT+) BC ThuếMáy vi tính
Phần mềm kế toán SIS
Trang 32Ghi chú: Nhập số liệu hàng ngày
In sổ, báo cáo cuối quý, cuối nămKiểm tra, đối chiếu
- Sơ đồ (S 2.3) : Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán máyHàng ngày, kế toán căn cứ chứng từ kế toán hoặc bảng tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại đã được kiểm tra được dùng làm căn cứ ghi sổ, xác định tài khoản ghi Nợ, tài khoản ghi Có để nhập dữ liệu vào máy vi tính theo các bảng biểu được thiết kế sẵn trên phần mềm kế toán
Theo quy trình của phần mềm kế toán, các thông tin được tự động nhập vào các sổ tổng hợp (Sổ cái hoặc Nhật ký – Sổ Cái…) và các sổ, thẻ kế toán chi tiết liên quan
Cuối tháng (hoặc bất kỳ thời điểm cần thiết nào), kế toán thực hiện các tao tác khoá sổ (cộng sổ) và lập báo cáo tài chính Việc đối chiếu giữa số liệu tổng hợp với số liệu chi tiếtđược thực hiện tự động và luôn đảm bảo chính xác, trung thực theo thông tin đã được nhập trong kỳ Người làm kế toán có thể kiểm tra, đối chiếu số liệu giữa sổ kế toán với báo cáo tài chính sau khi đã in ra giấy
Thực hiện các thao tác để in báo cáo tài chính theo quy định
Cuối tháng, cuối năm sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết được in ra giấy, đóng thành quyển và thực hiện thủ tục pháp lý theo quy định về sổ kế toán ghi bằng tay
2.1.9 Tình hình nguồn lực tại doanh nghiệp từ năm 2010-2012
Trang 332.1.9.2 Tình hình tài sản và nguồn vốn
Tùy vào tính chất, đặc điểm của từng hoạt động sản xuất mà mỗi doanh nghiệp có một cơ cấu vốn và tài sản khác nhau Dựa vào bảng tổng hợp tình hình tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp, ta có thể xem xét một số yếu tố ảnh hưởng đến tính hình biến động của tài sản và nguồn vốn trong 3 năm qua
- Xét về tài sản:
+ Nguồn tiền trong doanh nghiệp năm 2011 giảm so với năm 2010 chỉ bằng 12%, tuy nhiên đến năm 2012 nguồn tiền này tăng 28,6 % so với năm 2011 tương ứng với số tiền 312.644.529 đồng
+ Các khoản phải thu ngắn hạn năm 2011 tăng 70,5% tương ứng 6.457.692.391 đồng
so với năm 2010, do doanh nghiệp chưa làm tốt công tác thu hồi nợ đối với khách
Trang 34- Biểu ( S2.2): Tình hình tài sản và nguồn vốn
II Nguồn vốn chủ sở hữu 11.857.204.12 6 16.116.495.49 6 16.058.470.700 4.259.291.370 135,9 (-58.024.796) 99,6
Trang 352 Vốn khác của chủ sở hữu + các quỹ 420.784.452 1.120.301.852 741.357.659 699.517.400 266,2 (378.944.193) 66,2
3 Lợi nhuận chưa phân phối 1.205.939.674 4.765.713.644 5.086.633.041 3.559.773.970 395,2 320.919.397 106,7
(Trích từ Báo cáo tài chính của doanh nghiệp)
Trang 36hàng, năm 2012 tăng 2,3% so với năm 2011,công tác thu hồi nợ của doanh nghiệp chưa được khả quan, khách hàng chiếm dụng vốn lớn
- Xét về nguồn vốn: Quy mô sản xuất kinh doanh mở rộng, nên doanh nghiệp phải đầu tư một lượng vốn lớn Nhìn vào bảng phân tích, ta có thể thấy nguồn vốn của doanh nghiệp chủ yếu là đi vay Khoản vay dài hạn đến hạn trả nên năm 2011 doanh nghiệp đã thực hiện chính sách vay ngắn hạn để trả nợ dài hạn tương đương 8.451.114.337 đồng năm 2012, đồng vay dài hạn và vay ngắn hạn tiếp tục tăng do doanh nghiệp tăng cường công tác thu mua nguyên vật liệu để dự trữ cho năm sau
- Năm 2011 doanh nghiệp làm ăn khá hiệu quả, nên vốn chủ sở hữu cũng được tăng lên, năm 2011 tăng 35,9% tương đương 4.259.291.370 so với năm 2010 Sang năm 2012 kinh
tế thế giới và trong nước gặp nhiều khó khăn nên đã ảnh hưởng tới công tác sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp dẫn đến vốn chủ sở hữu không tăng mà có phần giảm xuống
2.1.9.3 Tình hình kết quả hoạt động kinh doanh
Qua bảng kết quả hoạt động kinh doanh, ta có thể thấy lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp năm 201 so với năm 2010 tăng 8,8% tương ứng tăng 322.659.104 đồng, qua năm
2012 giảm so với năm 2011 chỉ băng 26,2% Kết quả này được tạo ra do sự biến động của một số yếu tố sau:
+ Đối với khoản giá vốn hàng bán, năm 2011 so với năm 2010 khoản này tăng, độ tăng giá vốn hàng bán lớn hơn tốc độ tăng của doanh thu Điều này là vì trong năm 2011
do một số mặt hàng đầu vào tăng cao như điện, nước,… và một số chi phí khác có liên quan phát sinh nhiều làm cho giá thành có sự biến động Năm 2012 giá vốn hàng bán lại giảm xuống so với năm 2011 chỉ bằng 95,1% làm cho doanh thu cũng giảm theo chỉ bằng 92,8% do trong năm giá nguyên ,nhiên vật liệu đầu vào tăng nhưng giá bán lại không tăng+ Đối với các khoản chi phí tài chính, ta thấy năm 2011 so với năm 2010 giảm và băng 93,7% Năm 2012 giảm so với năm 2011 chỉ đạt 73,5 %, yếu tố này là do doanh chủ động được nguồn tiền vay ngắn hạn và thuộc diện được gia hạn thuế GTGT, giảm thuế TNDN Trong năm doanh nghiệp cũng tiến hành trả nhiều các khoản lãi vay đến hạn Tuy nhiên đến năm 2012 chi phí tài chính đã giảm xuống một cách rõ rệt điều này chứng tỏ doanh nghiệp đã có chính sách quản lý tốt các khoản vay để nhằm giảm thiểu tối đa chi phí này