1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

1219 nghiên cứu kiến thức thực hành phòng ngừa bệnh đái tháo đường typ2 của người dân từ 30 đến 69 tuổi ở huyện long mỹ tỉnh hậu giang

82 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu kiến thức, thực hành phòng ngừa bệnh đái tháo đường typ2 của người dân từ 30 đến 69 tuổi ở huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang
Tác giả Nguyễn Văn Mẫm
Người hướng dẫn PGS.TS. Lê Thành Tài
Trường học Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Y Học Dự Phòng
Thể loại Luận Văn Chuyên Khoa Cấp I
Năm xuất bản 2013
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Định nghĩa và phân loại đái tháo đường (13)
    • 1.1.1. Định nghĩa (13)
    • 1.1.2 Phân loại các nhóm tháo đường (0)
  • 1.2. Biến chứng của bệnh đái tháo đường (16)
    • 1.2.1 Biến chứng thần kinh (16)
    • 1.2.2 Biến chứng ở mắt (16)
    • 1.2.3 Biến chứng ở thận (16)
  • 1.3. Nguy cơ đái tháo đường (17)
    • 1.3.1 Các yếu tố nguy cơ (17)
    • 1.3.2 Phân loại các yếu tố nguy cơ (17)
    • 1.3.3 Đối tượng nguy cơ (18)
  • 1.4 Tình hình mắc bệnh đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam (18)
    • 1.4.1 Tình hình mắc bệnh đái tháo đường ở các nước trong khu vực (18)
    • 1.4.2 Tình hình mắc bệnh đái tháo đường ở các nước đang phát triển 9 (19)
    • 1.4.3 Tình hình mắc đái tháo đường ở các nước Âu Mỹ (20)
    • 1.4.4 Tình hình mắc bệnh đái tháo đường ở Việt Nam (22)
  • 1.5 Các nghiên cứu liên quan (24)
  • 1.6 Quản lý bệnh đái tháo đường và người có nguy cơ đái tháo đường (26)
  • Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (13)
    • 2.1 Đối tượng nghiên cứu (28)
      • 2.1.1 Đối tượng nghiên cứu (28)
      • 2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu (28)
      • 2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ (28)
      • 2.1.4 Thời gian nghiên cứu (28)
      • 2.1.5 Địa điểm nghiên cứu (28)
    • 2.2 Phương pháp nghiên cứu (28)
      • 2.2.1 Thiết kế nghiên cứu (28)
      • 2.2.2 Cỡ mẫu (29)
      • 2.2.3 Phương pháp chọn mẫu (29)
      • 2.2.4 Nội dung nghiên cứu (29)
      • 2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu (36)
      • 2.2.6 Phương pháp kiểm soát yếu tố nhiễu (37)
      • 2.2.7. Nhập liệu và xử lý số liệu (37)
    • 2.3 Đạo đức trong nghiên cứu (37)
  • Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (28)
    • 3.1 Thông tin chung (38)
    • 3.2 Kiến thức về bệnh đái tháo đường type 2 (40)
    • 3.3 Thực hành phòng chống đái tháo đường type 2 (0)
    • 3.4 Mối liên quan giữa kiến thức và đặc điểm đối tượng (47)
    • 3.5 Mối liên quan giữa thực hành và đặc điểm đối tượng (0)
  • Chương 4 BÀN LUẬN (38)
    • 4.1 Thông tin chung (54)
    • 4.2 Kiến thức về bệnh đái tháo đường type 2 (57)
    • 4.3 Thực hành phòng chống đái tháo đường type 2 (0)
    • 4.4 Mối liên quan giữa kiến thức và đặc điểm đối tượng (64)
    • 4.5 Mối liên quan giữa thực hành và đặc điểm đối tượng (66)
  • KẾT LUẬN (69)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (71)
  • PHỤ LỤC (0)

Nội dung

Định nghĩa và phân loại đái tháo đường

Định nghĩa

Đái tháo đường là tình trạng rối loạn chuyển hóa phức tạp do nhiều nguyên nhân, đặc trưng bởi sự tăng đường huyết do khiếm khuyết bài tiết insulin hoặc đề kháng insulin Tình trạng tăng đường huyết mãn tính có thể gây tổn thương nhiều cơ quan quan trọng như mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu, ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của người bệnh.

Chẩn đoán bệnh đái tháo đường có thể gặp các tình huống sau [12], [14]:

Khi xuất hiện các triệu chứng mất cân bằng chuyển hóa cấp tính như nhiễm ceton acid hoặc hôn mê tăng áp lực thẩm thấu, tình trạng tăng đường huyết có thể được chẩn đoán xác định mà không cần thực hiện xét nghiệm đường huyết lần thứ hai, giúp đánh giá tình trạng cấp cứu nhanh chóng và chính xác.

Khi không có triệu chứng mất bù cấp tính, chẩn đoán đái tháo đường được dựa trên các tiêu chuẩn theo khuyến cáo về bệnh đái tháo đường năm 2009 Cụ thể, độ đường huyết lúc đói ≥ 7,0 mmol/L hoặc đường huyết sau glucose khoán ≥ 11,1 mmol/L được coi là dấu hiệu chẩn đoán chính Ngoài ra, xét nghiệm đường huyết trong máu ngẫu nhiên ≥ 11,1 mmol/L cũng giúp xác định bệnh đái tháo đường Các tiêu chuẩn này giúp đảm bảo chẩn đoán chính xác và sớm để quản lý hiệu quả bệnh đái tháo đường khi không có các triệu chứng mất bù cấp tính.

* Glucose huyết tương bất kỳ  200mg/dl (  11.1mmol/l) kèm theo triệu chứng tiểu nhiều, uống nhiều, sụt cân

* Glucose huyết tương lúc đói  126 mg/dl (  7.0 mmol/l) sau 2 lần thử

* Glucose huyết tương 2 giờ sau khi uống 75 gram glucose  200 mg/dl (

Nếu bệnh nhân không có triệu chứng: chẩn đoán bệnh đái tháo đường phải dựa trên nguyên tắc là 2 lần thử đường huyết được thực hiện trong vòng

Trong vòng 3 ngày đến tối đa 1 tuần kể từ lần xét nghiệm ban đầu, việc đo đường huyết tương lúc đói được khuyến nghị vì tính lặp lại cao và mang lại tiện ích trong quá trình chẩn đoán và quản lý bệnh tiểu đường.

Trong quá trình chẩn đoán bệnh đái tháo đường (ĐTĐ), cần dựa vào đường huyết tương tĩnh mạch để đảm bảo chính xác Xét nghiệm đường huyết đói được thực hiện khi bệnh nhân không ăn hoặc uống các chất có năng lượng ít nhất 8 giờ trước khi lấy máu Đường huyết tương bất kỳ là đường huyết được đo tại bất kỳ thời điểm nào trong ngày, không cần quan tâm đến thời gian kể từ bữa ăn cuối cùng Xét nghiệm HbA1c không được sử dụng để chẩn đoán ĐTĐ, trừ khi các triệu chứng không điển hình và các xét nghiệm trước đó không đủ bằng chứng, theo quy định của Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ (ADA) năm 2010, nếu chỉ số HbA1c ≥ 6,5% sau lần thử thứ hai thì mới có thể chẩn đoán bệnh ĐTĐ.

1.1.2 Phân loại các nhóm đái tháo đường

1.1.2.1 Đái tháo đường type 1 Đái tháo đường type 1 hay đái tháo đường phụ thuộc Insulin thường gặp ở lứa tuổi trẻ, có liên quan đến yếu tố di truyền, chiếm khoảng 5–10% trong tổng số bệnh nhân đái tháo đường [12], [27]

1.1.2.2 Đái tháo đường type 2 Đái tháo đường type 2 hay đái tháo đường không phụ thuộc Insulin thường gặp ở lứa tuổi > 40, nhưng hiện nay gặp nhiều ở lứa tuổi trẻ hơn Nguyên nhân gây ra bệnh này là do tụy tiết thiếu Insulin hoặc tiết Insulin kém chất lượng, gặp điều kiện thuận lợi bên ngoài là lối sống tĩnh tại, ít vận động, ăn nhiều dẫn đến thừa cân làm bệnh phát sinh Bệnh diễn biến âm thầm, phát hiện một cách ngẫu nhiên hoặc khi đã nặng có biến chứng như, hôn mê, nhiễm khuẩn, tăng huyết áp, giảm thị lực Đái tháo đường type 2 chiếm xấp xỉ

90 – 95% trong tổng số bệnh nhân đái tháo đường [15], [27]

1.1.2.3.Đái tháo đường thai nghén Đái tháo đường thai nghén là trường hợp rối loạn dung nạp glucose được chẩn đoán lần đầu tiên khi có thai Mặc dù đa số trường hợp khả năng dung nạp glucose có cải thiện sau thời gian mang thai nhưng vẫn có sự tăng

5 đáng kể nguy cơ phát triển thành bệnh đái tháo đường type 2 sau này [12],

1.1.2.4 Các thể bệnh đái tháo đường khác

Các thể bệnh đái tháo đường hiếm gặp hơn bao gồm đái tháo đường do bệnh lý hệ thống nội tiết của tuyến tụy, đái tháo đường có tính chất di truyền, cũng như đái tháo đường do tác động của thuốc hoặc hóa chất.

Tháng 5 năm 2007, tiến sỹ Suzanne de la Monte và cộng sự của trường y Brown phát hiện thêm một loại bệnh tiểu đường týp3; các nhà khoa học nầy cho rằng bệnh tiểu đường týp 1 và týp 2 xảy ra khi cơ thể không còn khả năng sản xuất hoặc sử dụng hiệu quả insulin từ tuyến tụy Trong khi đó tiểu đường týp 3 lại không ảnh hưởng tới đường huyết, nó liên quan đến sự giảm sút lượng insulin ở não, tác động đến chức năng của bộ não và gây bệnh gần giống như căn bệnh Alzheimer Các nhà khoa học này cho rằng, người bị bệnh ĐTĐ dể mắc bệnh Alzheimer và nguy cơ tăng đến 65% Theo Suzanne de la Monte sự phát hiện này đáng chú ý là insulin không chỉ được tiết ra ở tuyến tụy mà còn có cả ở não bộ Nó không liên quan đến bệnh ĐTĐ type 1 và type 2, nhưng lại phản ánh một căn bệnh khác phức tạp hơn, bắt nguồn từ hệ thần kinh trung ương và từ sự giải thích của Suzanne de la Monte, ông nói rằng việc điều trị ĐTĐ type 1 và type 2 có thể không liên quan đến bệnh Alzheimer Để chữa trị căn bệnh thần kinh này phải cần đến các dược liệu nhắm vào hoạt động của insulin trong não bộ [20], [24]

Theo WHO có 2 nhóm rối loạn dung nạp glucose ở mức ít hơn, là trung gian giữa dung nạp glucose bình thường và đái tháo đường [51]

- Rối loạn dung nạp glucose (IGT) khi đường huyết đói ≤ 7,0 mmol/l (≤126mg/dl) là đường huyết tương và đường huyết mao mạch ≥ 7,8 mmol/l (

≥ 140 mg/dl) 2 giờ sau uống 75g đường nhưng Có kiến thức đúng về bệnh đái tháo đường khi trả lời đúng 7/10 câu kiến thức về bệnh và phòng bệnh

* Thực hành phòng chống bệnh (thói quen ăn, uống)

- Tần suất ăn rau: biến định tính, gồm 3 giá trị là:

Thực hành đúng khi ăn mỗi ngày

- Loại dầu mỡ sử dụng trong nấu ăn: biến định tính, gồm 3 giá trị là: + Dầu thực vật

Thực hành đúng khi sử dụng loại dầu thực vật

- Số lần ăn mỡ động vật trong tuần: biến định tính, gồm 2 giá trị là: + Từ dưới 3 ngày

Thực hành đúng khi sử dụng dưới 3 ngày

- Có uống rượu bia: biến định tính, gồm 5 giá trị là:

Thực hành đúng khi không uống rượu bia

- Có hút thuốc lá hay lào: biến định tính, gồm 5 giá trị là:

Thực hành đúng khi không hút thuốc

* Thực hành phòng chống bệnh (hoạt động thể lực)

- Hoạt động thể lực: biến định tính, gồm 5 giá trị là

Thực hành đúng khi có tham gia các loại hình hoạt động thể lực như đi bộ, chạy bộ, chơi thể thao, làm vườn

- Mức độ luyện tập: gồm 4 giá trị là

+ Chỉ tập khi có dịp

Thực hành đúng khi luyện tập mỗi ngày

- Thời gian tập luyện trong một lần: biến định lượng, dự kiến phân tích

Thực hành đúng khi tập >= 30 phút/lần

=> Thực hành đúng chung về đái tháo đường khi thực hành đúng từ 6/8 nội dung thực hành ăn uống và thực hành hoạt động thề lực

* Khảo sát yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành phòng bệnh ĐTĐ type 2

- Tuổi: khảo sát mối liên quan trên 2 nhóm tuổi là cấp 2

- Nguồn thông tin: CBYT; sách báo; tờ rơi, tranh ảnh; bạn bè, người thân; truyền hình, phát thanh; khác

2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.2.5.1 Công cụ thu thập số liệu

Bảng câu hỏi có cấu trúc

Phỏng vấn trực tiếp đối tượng tại nhà

2.2.5.3 Nhân sự thu thập số liệu

Các cộng tác viên tại địa phương được tập huấn cẩn thận

Trước khi bắt đầu nghiên cứu, chúng tôi đã xin ý kiến của Sở Y tế bằng văn bản chính thức và phối hợp chặt chẽ với Trung tâm y tế, Trạm y tế xã, thị trấn để xây dựng kế hoạch thực hiện phù hợp Chúng tôi cũng làm việc cùng các trạm y tế xã, hai thị trấn, tổ y tế và cộng tác viên để cùng nhau vận động, hướng dẫn và tiếp cận các đối tượng tham gia nghiên cứu đảm bảo các yêu cầu đề ra.

Tiến trình được thực hiện cụ thể như sau:

* Điều tra lập danh sách đối tượng từ 30 – 69 tuổi đưa vào mẫu nghiên cứu

* Tổ chức tập huấn chi tiết nội dung và mục đích nghiên cứu cho các điều tra viên

Thảo luận nhằm mục đích thống nhất ý kiến chung về chủ đề được đề xuất, giúp thu thập thông tin chính xác và đầy đủ từ điều tra viên Đây còn là bước chuẩn bị cho việc thực hành thử nghiệm, đảm bảo dữ liệu thu thập đúng hướng và có tính khách quan cao.

* Tiến hành thu thập số liệu: bằng phỏng vấn tại nhà đối tượng theo bộ câu hỏi tạo sẳn và ghi chép lại

2.2.6 Phương pháp kiểm soát yếu tố nhiễu

- Sai số do chọn lựa:

Tổ chức địa điểm phỏng vấn phù hợp

Thông báo trước cho hộ gia đình

Hộ vắng nhà sẽ được sắp xếp ghé lại lần sau

- Sai số do thu thập thông tin:

Chương trình tập huấn kỹ năng điều tra viên được tổ chức nhằm giúp đội ngũ hiểu rõ các vấn đề cụ thể trong quá trình điều tra Trước khi tiến hành nghiên cứu chính thức, cuộc điều tra thử nghiệm trên 30 đối tượng đã được thực hiện để rút kinh nghiệm và hoàn thiện quy trình Việc này đảm bảo điều tra diễn ra chính xác, hiệu quả và phù hợp với các tiêu chuẩn nghiên cứu.

2.2.7 Nhập liệu và xử lý số liệu

Số liệu sau khi thu thập được kiểm tra, làm sạch lổi, mã hóa và nhập liệu và phân tích bằng phần mềm SPSS 18.0

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thông tin chung

Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới tính Đối tượng Tần số Tỉ lệ (%)

Nhận xét: Tỷ lệ đôi tượng nữ là chiếm 52% cao hơn nam với tỷ lệ 48%

Biểu đồ 3.1 Phân bố đối tượng điều tra theo tuổi Nhận xét: Độ tuổi nghiên cứu chủ yếu trên 46 tuổi với tỷ lệ 65,7%

Bảng 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo dân tộc Đối tượng Tần số Tỉ lệ (%)

Nhận xét: Dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ chủ yếu 89,7%, thấp nhất là Hoa 3,7%

Mù chữ Tiểu học THCS THPT Trên

Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu chủ yếu ở cấp tiểu học, chiếm tỷ lệ 66,7%, cho thấy đa số người tham gia còn hạn chế về trình độ giáo dục Ngoài ra, còn đến 4,6% người không biết chữ, phản ánh mức độ phổ cập giáo dục còn nhiều hạn chế Trong khi đó, tỷ lệ người có trình độ đại học, cao đẳng chỉ là 1,0%, cho thấy sự chênh lệch rõ rệt giữa các nhóm trình độ học vấn trong cộng đồng.

Bảng 3.3 Phân bố đối tượng điều tra theo nghề nghiệp

Nghề nghiệp Tần Số Tỷ lệ (%)

Nhận xét: Nghề nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất là nông dân với 80,4%

Bảng 3.4 Phân bố đối tượng tình trạng kinh tế gia đình

Nhận xét: Hộ nghèo và cận nghèo khá nhiều trong mẫu nghiên cứu, hộ nghèo chiếm 11,6%; cận nghèo chiếm tỷ lệ 9,9%

Bảng 3.5 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới tính Đối tượng Tần số Tỷ lệ (%)

Chưa lập gia đình 18 2,6 Đã lập gia đình 644 92,0

Nhận xét: Đa số đối tượng trong mẫu nghiên cứu đã lập gia đình với 92,0%; có 3,4% đã ly hôn.

Thực hành phòng chống đái tháo đường type 2

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới tính Đối tượng Tần số Tỉ lệ (%)

Nhận xét: Tỷ lệ đôi tượng nữ là chiếm 52% cao hơn nam với tỷ lệ 48%

Biểu đồ 3.1 Phân bố đối tượng điều tra theo tuổi Nhận xét: Độ tuổi nghiên cứu chủ yếu trên 46 tuổi với tỷ lệ 65,7%

Bảng 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo dân tộc Đối tượng Tần số Tỉ lệ (%)

Nhận xét: Dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ chủ yếu 89,7%, thấp nhất là Hoa 3,7%

Mù chữ Tiểu học THCS THPT Trên

Biểu đồ 3.2 cho thấy phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn, trong đó phần lớn vượt trội ở cấp tiểu học, chiếm tới 66,7% Đồng thời, vẫn còn một tỷ lệ đáng kể 4,6% người không biết chữ, cho thấy mức độ hiểu biết về giáo dục còn hạn chế Chỉ có một tỷ lệ nhỏ, 1,0%, đạt trình độ đại học và cao đẳng, phản ánh thực trạng trình độ học vấn của đối tượng còn nhiều hạn chế.

Bảng 3.3 Phân bố đối tượng điều tra theo nghề nghiệp

Nghề nghiệp Tần Số Tỷ lệ (%)

Nhận xét: Nghề nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất là nông dân với 80,4%

Bảng 3.4 Phân bố đối tượng tình trạng kinh tế gia đình

Nhận xét: Hộ nghèo và cận nghèo khá nhiều trong mẫu nghiên cứu, hộ nghèo chiếm 11,6%; cận nghèo chiếm tỷ lệ 9,9%

Bảng 3.5 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới tính Đối tượng Tần số Tỷ lệ (%)

Chưa lập gia đình 18 2,6 Đã lập gia đình 644 92,0

Nhận xét: Đa số đối tượng trong mẫu nghiên cứu đã lập gia đình với 92,0%; có 3,4% đã ly hôn

3.2 Kiến thức về bệnh đái tháo đường type 2

Bảng 3.6 Tỷ lệ người dân đã nghe về bệnh ĐTĐ

Nhận xét: Tỷ lệ người dân đã nghe về bệnh ĐTĐ khá cao là 74,7%; còn đến

25,3% người dân chưa nghe về bệnh này

Tình trạng kinh tế Tần số Tỷ lệ (%)

Tổng 700 100,0 Đã nghe về bệnh Tần số Tỷ lệ (%)

Sách, báo Tờ rơi, tranh ảnh, áp phích

Biểu đồ 3.3 Nguồn nhận được thông tin về đái tháo đường

Nguồn thông tin về bệnh đái tháo đường chủ yếu đến từ phương tiện truyền hình và phát thanh, chiếm tới 47,9%, cho thấy truyền hình vẫn là kênh chính để phổ biến kiến thức về sức khỏe Bên cạnh đó, bác sĩ và cán bộ y tế đóng vai trò quan trọng, cung cấp thông tin chiếm 21,9%, góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về bệnh đái tháo đường Trong khi đó, sách báo có mức độ tiếp cận thấp nhất chỉ 2,4%, cho thấy khả năng tiếp cận kiến thức qua các ấn phẩm này còn hạn chế Các nguồn thông tin này đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng kiến thức và nâng cao ý thức phòng tránh bệnh đái tháo đường trong cộng đồng.

Bảng 3.7 Tỷ lệ người dân hiểu đúng về bệnh đái tháo đường

Hiểu về bệnh ĐTĐ Tần số Tỷ lệ (%) Đúng 205 29,3

Chỉ có 29,3% người dân hiểu đúng về bệnh Đái tháo đường là tình trạng đường máu cao hơn bình thường Trong khi đó, đến 70,7% chưa hiểu đúng về bệnh, nhiều người cho rằng bệnh liên quan đến béo phì hoặc đái ra đường, hoặc thậm chí không biết gì về căn bệnh này.

Bảng 3.8 Kiến thức về chữa khỏi bệnh đái tháo đường ĐTĐ có chữa khỏi Tần số Tỷ lệ (%) Đúng 195 27,9

Dựa trên khảo sát, đa số người dân (72,1%) vẫn còn hiểu chưa đúng về bệnh đái tháo đường, cho rằng bệnh có thể chữa khỏi hoàn toàn hoặc chữa khỏi một phần Trong khi đó, chỉ có 27,9% người dân hiểu đúng rằng đái tháo đường không thể chữa khỏi hẳn, mà chỉ có thể kiểm soát tốt để giảm thiểu các biến chứng Việc nâng cao nhận thức đúng đắn về bệnh đái tháo đường là cần thiết để giúp cộng đồng quản lý bệnh hiệu quả hơn.

Biều đồ 3.4 Kiến thức về lứa tuổi có thể mắc bệnh ĐTĐ type 2

Theo khảo sát, có đến 76,3% người dân chưa hiểu đúng về nhóm đối tượng có nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường, trong khi chỉ 23,7% nhận thức rằng bệnh có thể ảnh hưởng đến mọi lứa tuổi Việc nâng cao kiến thức cộng đồng về bệnh đái tháo đường là rất cần thiết để phòng ngừa và kiểm soát bệnh hiệu quả.

Bảng 3.9 Kiến thức về nguy cơ bệnh ĐTĐ type 2

Biết về nguy cơ dẫn đến bệnh Tần số Tỷ lệ (%)

Nhận xét: 43,9% đối tượng nghiên cứu biết về nguy cơ gây bệnh đái tháo đường; 56,1% đối tượng chưa biết nguy cơ bệnh

Bảng 3.10 Kiến thức về nguy cơ bệnh ĐTĐ type 2

Nguy cơ Tần số Tỷ lệ (%)

Biết ít nhất một nguy cơ 435 62,1

Nhận xét: Đa số người dân biết được ít nhất 1 nguy cơ dẫn đến bệnh đái tháo đường, chiếm 62,1%; 37,9% đối tượng không biết nguyên nhân dẫn đến bệnh

Bảng 3.11 Kiến thức về cách hạn chế nguy cơ gây bệnh ĐTĐ

Biết cách hạn chế nguy cơ dẫn đến bệnh Tần số Tỷ lệ (%)

Chưa biết 189 27,0 Ăn uống đều độ hay vận động cơ thể 511 73,0

Nhận xét: 26,4% người dân chưa biết cách hạn chế nguy cơ bệnh đái tháo đường; 56,1% cho rằng nên ăn uống đều độ, 16,9% cho rằng vận động cơ thể

Bảng 3.12 Kiến thức về biến chứng của bệnh ĐTĐ type 2

Biết về biến chứng dẫn đến bệnh Tần số Tỷ lệ (%)

Nhận xét: Tỷ lệ người dân biết một biến chứng chưa cao, với 43,7% Có đến

56,3% người dân chưa biết về biến chứng bệnh đái tháo đường

Bảng 3.13 Kiến thức về phòng bệnh ĐTĐ

Biết ĐTĐ là bệnh có thể phòng ngừa Tần số Tỷ lệ (%)

Nhận xét: Người dân chưa biết ĐTĐ có thể phòng chiếm tỷ lệ cao là 50,7% Bảng 3.14 Kiến thức về phòng cách phòng bệnh ĐTĐ

Biết cách phòng bệnh đái thào đường Tần số Tỷ lệ (%)

Biết một cách phòng bệnh 389 44,4

Nhận xét: Tỷ lệ người dân chưa biết cách phòng ngừa bệnh đái tháo đường khá cao, chiếm 55,6%

Bảng 3.15 Kiến thức chung về bệnh đái tháo đường

Kiến thức chung Tần số Tỷ lệ (%)

Nhận xét: Kiến thức đúng về bệnh đái tháo đường chưa cao, chỉ chiếm 35,9%; chưa có kiến thức đúng có đến 64,1%

3.3 Thực hành phòng đái tháo đường type 2

% Ăn mỗi ngày Ăn 3-6 ngày/ tuần Ăn < 3 ngày/tuần

Biểu đồ 3.5 Tình trạng ăn rau Nhận xét: Ăn rau mỗi ngày có 35,4%, dưới 3 ngày có đến 33,1%

Bảng 3.16 Tình trạng loại dầu sử dụng

Loại dầu sử dụng Tần số Tỷ lệ (%)

Cả dầu thực vật và mỡ động vật 442 63,1

Người dân chủ yếu sử dụng cả hai loại dầu thực vật và mỡ động vật trong chế độ ăn uống hàng ngày, chiếm tỷ lệ đến 63,1% Trong khi đó, việc sử dụng mỡ động vật là rất thấp, chỉ chiếm khoảng 3,1%, phản ánh xu hướng ưu tiên dầu thực vật trong chế độ dinh dưỡng hiện nay.

Bảng 3.17 Tình trạng sử dụng mỡ động vật

Sử dụng mỡ ĐV Tần số Tỷ lệ (%)

Nhận xét: Số ngày sử dụng mỡ động vật từ trên 4 ngày/tuần cao với 48,9% Bảng 3.18 Tình trạng uống rượu bia

Uống rượu bia Tần số Tỷ lệ (%)

Nhận xét: Có 53,9% đối tượng không uống rượu bia, uống hàng ngày chiếm tỷ lệ thấp là 0,7%

Bảng 3.19 Tình trạng hút thuốc lá

Hút thuốc lá Tần số Tỷ lệ (%)

Nhận xét: Có 57,1% không hút thuốc lá, 10-19 điếu/ngày 29,7%

Biểu đồ 3.6 thể hiện tình trạng hoạt động thể lực của người dân, trong đó đa số người tham gia hoạt động là làm vườn Tuy nhiên, có đến 19,9% người dân không tham gia bất kỳ hoạt động thể dục nào, cho thấy còn nhiều hạn chế trong việc duy trì lối sống lành mạnh Thống kê này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thúc đẩy các hoạt động thể chất đa dạng để nâng cao sức khỏe cộng đồng.

Bảng 3.20 Mức độ luyện tập

Mức độ Tần số Tỷ lệ (%)

Chỉ tập khi có dịp 229 32,7

Nhận xét: 16,1% người dân có luyện tập mỗi ngày, 32,7% tập khi có dịp Bảng 3.21 Thời gian luyện tập

Thời gian luyện tập Tần số Tỷ lệ (%)

Nhận xét: Đa số đối tượng tập dưới 30 phút/lần, chiếm tỷ lệ 76,3%

Bảng 3.22 Thực hành chung về bệnh đái tháo đường

Thực hành chung Tần số Tỷ lệ (%)

Nhận xét: Thực hành đúng chiếm tỷ lệ thấp, với 15,3% Thực hành chưa tốt chiếm tỷ lệ cao với 84,7%.

BÀN LUẬN

Thông tin chung

Nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện tại huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang từ tháng 11/2012 đến 03/2013, tập trung vào người dân độ tuổi từ 30-69 đang sinh sống tại địa phương, đáp ứng các tiêu chuẩn chọn mẫu Phương pháp nghiên cứu là cắt ngang mô tả với cỡ mẫu 700 người, được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên nhiều giai đoạn Toàn huyện gồm 15 xã, thị trấn, chúng tôi đã chọn ngẫu nhiên 8 xã, thị trấn Tại mỗi đơn vị, bốc thăm ngẫu nhiên 50% ấp, sau đó chọn mẫu hộ gia đình bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống, đảm bảo tính khách quan của dữ liệu nghiên cứu.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 364 đối tượng nữ chiếm tỷ lệ 52% và 336 đối tượng nam chiếm tỷ lệ 48%, phù hợp với các nghiên cứu trước đó như của Nguyễn Thế Anh tại Ba Vì, Hà Nội, ghi nhận tỷ lệ nữ là 54,0%, nam là 46,0%; của Đỗ Thị Tính và cộng sự với tỷ lệ nữ là 53,8% và nam là 46,2%; cùng với nghiên cứu của Trần Thị Xuân và cộng sự, ghi nhận tỷ lệ nữ là 56,2% và nam là 43,8%.

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nữ giới cao hơn nam giới, phản ánh thực tế trong cuộc sống hàng ngày Khi đi thu thập thông tin hoặc thăm hỏi tại nhà dân, thường gặp tỷ lệ nữ cao hơn, vì nam giới thường bận đi làm và ít có mặt tại nhà hơn.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ đối tượng có độ tuổi từ 30-45 tuổi chiếm 34,3%, trong khi đối tượng từ 46 tuổi trở lên chiếm 65,7% Chủ yếu, nhóm đối tượng từ 30-69 tuổi, trong đó, những người trên 45 tuổi được xác định là yếu tố nguy cơ chính của bệnh đái tháo đường, đặc biệt khi kết hợp với các yếu tố nguy cơ khác Điều này phản ánh rõ ràng rằng người dân có độ tuổi cao có nguy cơ mắc bệnh cao hơn, giúp làm rõ kiến thức và thực hành dự phòng bệnh của đối tượng nghiên cứu Các nghiên cứu khác, như của Trần Thị Xuân và Nguyễn Vinh Quang tại Nam Định, cũng ghi nhận tỷ lệ người trong độ tuổi từ 40-49 khoảng 47,5%, và từ 50-60 là 52,5%, còn tỷ lệ người từ 30-44 tuổi đạt 32,4%, cùng với tỷ lệ 68,6% trong nhóm 45-64 tuổi, phù hợp với kết quả của chúng tôi về phân bố tuổi của đối tượng nghiên cứu.

* Thông tin về dân tộc

Trong nghiên cứu của chúng tôi, dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ vượt trội với 89,7%, trong khi dân tộc Khmer chiếm 6,6% và các dân tộc khác là 3,7% Thông thường, người Kinh có kiến thức về phòng ngừa bệnh đái tháo đường tốt hơn so với các dân tộc thiểu số Do đó, tại những địa phương có tỷ lệ dân tộc thiểu số cao, khả năng nhận thức và thực hành phòng ngừa bệnh đái tháo đường có xu hướng thấp hơn Việc này nhấn mạnh tầm quan trọng của các chiến dịch tuyên truyền đặc thù để nâng cao kiến thức sức khỏe cho các cộng đồng dân tộc thiểu số.

* Thông tin về trình độ học vấn

Trong nghiên cứu trên 700 đối tượng, chỉ 7,0% có trình độ từ cấp III trở lên, trong khi đó, 21,7% có trình độ cấp II, 66,7% có trình độ cấp I, và 4,6% là mù chữ Trình độ học vấn của người dân ảnh hưởng mạnh mẽ đến kiến thức và hành vi; những người có trình độ cao hơn thường có khả năng hiểu biết và tiếp thu thông tin tốt hơn Đa số đối tượng có trình độ từ cấp I và II chiếm tỷ lệ lớn, trong khi tỷ lệ mù chữ vẫn còn cao, chiếm 4,6%, gây ảnh hưởng đáng kể đến mức độ hiểu biết của cộng đồng trong nghiên cứu của chúng tôi.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, đa số đối tượng là nông dân chiếm tỷ lệ 80,4%, phản ánh một huyện còn nghèo với nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp và chưa phát triển đầy đủ, điều này ảnh hưởng đáng kể đến kiến thức về phòng ngừa bệnh đái tháo đường type 2 của người dân Trong số 700 người tham gia, có tới 11,6% là hộ nghèo và 9,9% là hộ cận nghèo, cho thấy tỷ lệ đó khá cao và tác động tiêu cực đến khả năng tiếp cận thông tin về bệnh do người dân phải ưu tiên các công việc kiếm sống Đa phần trong số họ đều có gia đình, tuy nhiên, điều kiện kinh tế hạn chế khiến họ ít có cơ hội tiếp cận các nguồn thông tin y tế chính thống và thực hiện các biện pháp phòng tránh đúng đắn, ảnh hưởng đến hiệu quả phòng ngừa bệnh đái tháo đường type 2 trong cộng đồng.

Các nguồn thông tin chính mà người dân thường xuyên tiếp cận về bệnh đái tháo đường type 2 là truyền hình và phát thanh với tỷ lệ lần lượt 57,0%, chiếm ưu thế rõ rệt so với các nguồn khác Mặc dù nguồn thông tin từ cán bộ y tế chỉ chiếm 24,3%, tỷ lệ này vẫn còn khá thấp so với các nguồn truyền hình và phát thanh, trong khi các nguồn từ bạn bè, người thân chỉ đạt 13% và các nguồn còn lại rất hạn chế Truyền hình và phát thanh được xem là hai kênh truyền thông phổ biến nhất do dễ tiếp cận, ít hạn chế về thời gian và có khả năng tác động đến nhiều đối tượng khác nhau, do đó cần tập trung tuyên truyền thông qua các phương tiện này để nâng cao nhận thức về phòng ngừa bệnh đái tháo đường Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết quả của Tạ Văn Bình, trong đó tỷ lệ người dân tiếp cận thông tin qua truyền hình là 60,2% và qua loa đài là 47,7%, phản ánh rõ xu hướng phổ biến của các kênh truyền thông này trong cộng đồng.

Kiến thức về bệnh đái tháo đường type 2

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có tới 74,7% đối tượng đã từng nghe đến bệnh đái tháo đường, cho thấy mức độ nhận thức cao hơn so với kết quả của nghiên cứu của Tạ Văn Bình tại ba quận Ba Đình, Ngọc Tạo và Phú Sơn, với tỷ lệ lần lượt là 39,5%, 48,3% và 54,8%.

Tỷ lệ người mắc bệnh đái tháo đường trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn nhiều so với các nghiên cứu trước đây, do sự khác biệt về thời gian thực hiện nghiên cứu và sự phổ biến ngày càng tăng của bệnh đái tháo đường hiện nay Mặc dù tỷ lệ đối tượng đã biết đến bệnh khá cao, lên đến mức đáng kể, nhưng vẫn còn tới 25,3% người chưa từng biết đến bệnh này, đặc biệt là một vấn đề cần được quan tâm Điều này cho thấy cần tăng cường các hoạt động truyền thông nhằm nâng cao nhận thức và kiến thức cho cộng đồng về bệnh đái tháo đường.

Trong nghiên cứu đã khảo sát 700 đối tượng, chỉ có 205 người có hiểu biết đúng về bệnh đái tháo đường, chiếm tỷ lệ 29,3%, cho thấy kiến thức của người dân về bệnh còn rất hạn chế Nhiều người còn hiểu lầm rằng bệnh liên quan đến béo phì hoặc chỉ xuất hiện khi bị đái tháo đường, do đó cần tăng cường chương trình nâng cao nhận thức để người dân hiểu đúng về bệnh và có hành động phòng ngừa phù hợp Một nghiên cứu khác của Nguyễn Vinh Quang ghi nhận tỷ lệ người có kiến thức đúng về bệnh đái tháo đường chỉ là 16,7%, thấp hơn so với kết quả của nghiên cứu này Sự khác biệt này có thể do thời gian thực hiện nghiên cứu, khi đái tháo đường ngày càng phổ biến, khiến nhận thức của cộng đồng được nâng cao hơn.

Khảo sát cho thấy chỉ có 27,9% người dân hiểu đúng rằng bệnh đái tháo đường không thể chữa khỏi hoàn toàn, trong khi 72,1% vẫn nghĩ rằng bệnh có thể điều trị khỏi hoặc một phần Điều này phản ánh sự thiếu nhận thức về mức độ nguy hiểm của bệnh đái tháo đường, khiến cho ý thức phòng bệnh của người dân còn hạn chế Hiểu rõ rằng đái tháo đường là bệnh không thể chữa khỏi là yếu tố quan trọng để nâng cao ý thức phòng ngừa và kiểm soát bệnh hiệu quả.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ có 23,7% đối tượng có kiến thức đúng về tuổi có thể mắc bệnh đái tháo đường, trong khi phần lớn trả lời không chính xác Đặc biệt, một số người cho rằng bệnh đái tháo đường typ 2 có thể mắc ở mọi lứa tuổi, cho thấy nhận thức chưa đầy đủ và cần nâng cao kiến thức cộng đồng về các yếu tố nguy cơ và độ tuổi phù hợp để phòng chống bệnh.

Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tỷ lệ đối tượng biết được các nguy cơ dẫn đến bệnh đái tháo đường là 43,9%, cho thấy nhận thức còn hạn chế về các yếu tố nguy cơ của bệnh Theo nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Long, có 13% đối tượng biết rằng có người trong gia đình mắc đái tháo đường sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh, trong đó 58% cho rằng béo phì là yếu tố nguy cơ quan trọng, và 56,8% nhận thức rằng chế độ ăn không hợp lý và tuổi cao cũng là những yếu tố góp phần Trong nghiên cứu của Nguyễn Vinh Quang, mới chỉ 1,4% đối tượng hiểu đúng về nguy cơ của bệnh, trong khi 88,1% có hiểu biết nhưng chưa đầy đủ, điều này cho thấy nhận thức về các yếu tố nguy cơ vẫn còn hạn chế Biết được các nguy cơ của bệnh giúp chúng ta có thêm những biện pháp phòng ngừa hiệu quả, tiết kiệm thời gian và công sức Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy 73% đối tượng biết rằng ăn uống điều độ và vận động cơ thể có thể hạn chế nguy cơ mắc bệnh, tuy nhiên nhận thức này vẫn chưa đủ để thúc đẩy hành động phòng ngừa phù hợp Do đó, cần có thêm thông tin chính xác và đầy đủ hơn để người dân có thể áp dụng các biện pháp phòng ngừa hiệu quả, hạn chế nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có đến 62,1% đối tượng biết được ít nhất một nguy cơ gây ra bệnh đái tháo đường type 2, trong khi 37,9% không biết gì về các yếu tố nguy cơ này Bệnh đái tháo đường type 2 là một bệnh nguy hiểm, ngày càng phổ biến trong cuộc sống, đòi hỏi chúng ta phải nhận thức rõ các nguy cơ để phòng ngừa hiệu quả hơn Tuy nhiên, tỷ lệ người không biết gì về nguy cơ gây bệnh vẫn còn khá cao, gây lo ngại về khả năng phòng chống bệnh trong cộng đồng.

50 nhà y tế, cần có nhiều biện pháp nhằm tuyên truyền nâng cao kiến thức cho người dân về vấn đề này

Chưa đầy 44% người dân biết ít nhất một biến chứng của bệnh đái tháo đường, cho thấy mức hiểu biết còn hạn chế về các biến chứng nghiêm trọng của bệnh Các biến chứng nặng nề như biến chứng tim mạch, tổn thương mắt, suy thận, loét, hoại tử chi và đột quỵ đều được ghi nhận có tỷ lệ nhận thức khác nhau, nhưng vẫn còn nhiều người chưa nhận thức đầy đủ về mức độ nguy hiểm của bệnh đái tháo đường Nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Long cho thấy, chỉ khoảng 41,3% biết về biến chứng tim mạch, 36,8% biết về biến chứng trên mắt, 45,2% nhận biết về biến chứng thận, 14,9% biết về biến chứng gây loét và hoại tử chi, còn Nguyễn Vinh Quang ghi nhận có 62,3% đối tượng có hiểu biết chung về biến chứng, nhưng chưa đầy đủ Việc nâng cao nhận thức về các biến chứng của đái tháo đường là điều cần thiết để giúp người dân chủ động phòng ngừa và kiểm soát bệnh hiệu quả hơn.

Khi được hỏi về khả năng phòng ngừa bệnh đái tháo đường, 49,3% đối tượng tin rằng bệnh có thể phòng tránh, cho thấy nhận thức tích cực về khả năng phòng bệnh nếu hiểu đúng về căn bệnh này Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy chỉ có 44,4% người dân biết ít nhất một phương pháp phòng ngừa bệnh, trong khi tỷ lệ không biết phương pháp nào lại chiếm đến 55,6%, phản ánh kiến thức về phòng tránh đái tháo đường còn hạn chế Để nâng cao nhận thức cộng đồng, cần tuyên truyền rộng rãi và cung cấp đầy đủ kiến thức về cách phòng tránh bệnh đái tháo đường.

Qua nghiên cứu chúng tôi ghi nhận kiến thức đúng chung của đối tượng nghiên cứu là 35,9%, chúng tôi nhận thấy tỷ lệ này còn thấp, đa số

Hiện tại, có tới 51% người dân chưa hiểu đúng về bệnh đái tháo đường, đặt ra thách thức lớn cho chính quyền địa phương và ngành y tế trong việc nâng cao nhận thức cộng đồng về căn bệnh này Để giải quyết vấn đề này, cần triển khai các biện pháp rõ ràng và hiệu quả nhằm truyền đạt thông tin chính xác về bệnh đái tháo đường, từ đó nâng cao kiến thức và ý thức phòng tránh của người dân Việc nâng cao hiểu biết về bệnh đái tháo đường là yếu tố then chốt để giảm thiểu các biến chứng và nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng.

4.3 Thực hành phòng đái tháo đường type 2

Trong nghiên cứu, tỷ lệ đối tượng ăn rau mỗi ngày là 35,4%, trong đó 31,4% ăn rau từ 3 đến 6 ngày/tuần và 33,1% ăn dưới 3 ngày trong tuần, cho thấy thói quen tiêu thụ rau của người dân còn chưa cao Ăn rau có lợi cho sức khỏe và giúp phòng ngừa nhiều bệnh nguy hiểm như bệnh đái tháo đường, vì vậy cần duy trì chế độ ăn nhiều rau xanh để nâng cao sức khỏe Tuy nhiên, do cuộc sống bận rộn, nhiều người chưa chú trọng đến việc bổ sung rau trong bữa ăn hằng ngày, ảnh hưởng đến thói quen ăn rau của cộng đồng Nghiên cứu của Phạm Thúy Hường cho thấy tỷ lệ người dân ăn nhiều rau, ít thịt mỡ là 12,4%, thấp hơn so với nghiên cứu của Tạ Văn Bình, với tỷ lệ dao động trên dưới 50%, có thể do tập trung vào nhóm đối tượng có nguy cơ cao có ý thức chăm sóc sức khỏe nhiều hơn Vì vậy, việc nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của thói quen ăn rau là rất cần thiết để cải thiện sức khỏe cộng đồng.

Trong gia đình, 63,1% các đối tượng sử dụng cả dầu thực vật và mỡ động vật, trong khi đó 33,7% dùng dầu thực vật và chỉ 3,1% sử dụng mỡ động vật, điều này cho thấy sự phổ biến của việc kết hợp các loại dầu trong chế biến thực phẩm Tuy nhiên, mỡ động vật chứa nhiều chất không tốt cho sức khỏe và có thể gây ra các bệnh lý nguy hiểm như tiểu đường, do đó, việc lựa chọn sử dụng dầu thực vật là lựa chọn an toàn hơn cho sức khỏe cộng đồng Hiện nay, các nhà khoa học khuyên nên hạn chế tiêu thụ mỡ động vật để phòng ngừa các bệnh mãn tính liên quan đến chế độ ăn uống không lành mạnh.

Chuyên gia khuyến nghị nên sử dụng dầu thực vật thay cho mỡ động vật để giảm thiểu các nguy cơ về sức khỏe Tuy nhiên, tỷ lệ người dùng mỡ động vật còn khá cao, trong đó có 48,9% đối tượng sử dụng mỡ từ 4 ngày mỗi tuần, cho thấy thói quen này vẫn phổ biến Nghiên cứu của chúng tôi cũng nhận thấy tỷ lệ người dân có thói quen sử dụng dầu là 29,8%, thấp hơn so với kết quả của các nghiên cứu trước đó như của Phạm Thúy Hường Việc tăng cường nhận thức về lợi ích của sử dụng dầu thực vật có thể giúp thay đổi thói quen tiêu dùng, góp phần cải thiện sức khỏe cộng đồng.

Nghiên cứu của Tạ Văn Bình cho thấy tỷ lệ người dân có thói quen sử dụng dầu ở cả 3 phường trên 76,0%, có thể do đối tượng khảo sát của họ là các nhóm có nguy cơ cao Trong khi đó, tỷ lệ người dân thích ăn thịt lẫn mỡ cũng khá lớn, khoảng 47,0-50,0%, phản ánh thói quen ăn uống chưa lành mạnh, điều này tương tự như kết quả của nghiên cứu của chúng tôi [10].

Rượu bia là vấn đề phổ biến trong cộng đồng, thường xuất hiện trong các buổi tiệc, lễ hội và cuộc gặp gỡ bạn bè, góp phần làm tăng không khí vui vẻ Tuy nhiên, việc lạm dụng rượu, bia có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng đến sức khỏe nếu không biết kiểm soát lượng tiêu thụ Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tỷ lệ người dân uống rượu bia hàng ngày là 0,7%, uống từ 1-4 ngày mỗi tuần là 6,4%, trong khi tỷ lệ người không biết uống rượu bia là 53,9% Thói quen sử dụng rượu bia chủ yếu tập trung ở nam giới, ít phổ biến ở nữ giới, khiến tỷ lệ người không biết uống rượu bia khá cao Theo nghiên cứu của Phạm Thúy Hường, nhận diện các thói quen uống rượu bia trong cộng đồng giúp xây dựng các chiến lược giảm thiểu tác động tiêu cực từ rượu bia đến sức khỏe cộng đồng.

53 quen uống rượu bia là 61,8%, tỷ lệ này phù hợp với nghiên cứu của chúng tôi [21]

Mối liên quan giữa kiến thức và đặc điểm đối tượng

Trong khảo sát của chúng tôi, nhóm đối tượng trên 45 tuổi có kiến thức tốt hơn nhóm 30-45 tuổi gấp 1,486 lần, với tỷ lệ lần lượt là 38,9% so với 30,0% Sự khác biệt này đã được xác nhận là có ý nghĩa thống kê với giá trị p=0,02 Kết quả này phản ánh thực tế rằng những người lớn tuổi thường có hiểu biết sâu rộng hơn về chủ đề này.

55 hơn thường có nhiều kinh nghiệm hơn, mặc khác, họ có nhiều thời gian để tiếp cận nhiều nguồn thông tin

Nghiên cứu chỉ ra rằng, nam giới có kiến thức tốt hơn nữ giới gấp 1,119 lần với tỷ lệ lần lượt là 37,2% và 34,6%, nhưng chưa có đủ bằng chứng mạnh mẽ để khẳng định sự khác biệt này (p=0,476) Theo văn hóa của người dân Nam Bộ, nam giới thường là trụ cột gia đình và có xu hướng ra ngoài làm việc kiếm tiền, trong khi nữ giới chủ yếu đảm nhận công việc nội trợ, chăm sóc nhà cửa và con cái Chính vì vậy, nam giới có nhiều cơ hội tiếp xúc với nguồn thông tin hơn nữ giới, góp phần ảnh hưởng đến sự khác biệt về kiến thức giữa giới.

Nghiên cứu của chúng tôi không tìm thấy mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa nghề nghiệp và kiến thức, với p>0,05, tuy nhiên, dữ liệu cho thấy những người làm công nhân có mức kiến thức thấp hơn so với các nhóm nghề nghiệp khác, như mua bán và nghỉ hưu Cụ thể, người mua bán có kiến thức tốt gấp 1,375 lần công nhân, trong khi người nghỉ hưu có kiến thức tốt gấp 6 lần công nhân Tỷ lệ kiến thức tốt theo nghề nghiệp dao động từ 33,3% đối với công nhân đến 75% ở nhóm nghỉ hưu, qua đó phản ánh khả năng tiếp cận thông tin và kinh nghiệm sống của từng nhóm Người nghỉ hưu thường lớn tuổi hơn, dễ mắc bệnh và thường xuyên đi khám bệnh hơn, nhờ đó họ nhận được nhiều tư vấn về sức khỏe, dẫn đến kiến thức về bệnh tật của họ cao hơn so với các nhóm khác.

Người dân có trình độ học vấn trên cấp 2 có kiến thức về phòng ngừa bệnh đái tháo đường cao hơn gấp 5,616 lần so với nhóm dưới cấp 2, với tỷ lệ lần lượt là 73,5% so với 33,0% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p0,05)

Theo nghiên cứu của chúng tôi, đối tượng nhận thông tin về bệnh đái tháo đường từ tờ rơi, tranh ảnh, áp phích có tỷ lệ kiến thức tốt cao hơn các nguồn khác, với tỷ lệ là 77,8%; kế đến là từ bác sỹ, cán bộ y tế với 75,6% Nhìn chung, khi tiếp cận nguồn thông tin qua truyền hình, phát thanh thì gần như không hiệu quả trong cung cấp kiến thức cho người dân Trong khi đó, tiếp cận thông qua CBYT có kiến thức tốt hơn gấp 6,721 lần truyền hình, phát thanh; sách báo gấp 5,426 lần; tờ rơi, tranh ảnh, áp phích gấp 7,596 lần; %; sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p

Ngày đăng: 22/08/2023, 18:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 Tỷ lệ ĐTĐ nhóm tổi từ 20- 79 tại một số khu vực năm 2007 [40], - 1219 nghiên cứu kiến thức thực hành phòng ngừa bệnh đái tháo đường typ2 của người dân từ 30 đến 69 tuổi ở huyện long mỹ tỉnh hậu giang
Bảng 1.1 Tỷ lệ ĐTĐ nhóm tổi từ 20- 79 tại một số khu vực năm 2007 [40], (Trang 19)
Bảng 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo dân tộc - 1219 nghiên cứu kiến thức thực hành phòng ngừa bệnh đái tháo đường typ2 của người dân từ 30 đến 69 tuổi ở huyện long mỹ tỉnh hậu giang
Bảng 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo dân tộc (Trang 38)
Bảng 3.4 Phân bố đối tượng tình trạng kinh tế gia đình - 1219 nghiên cứu kiến thức thực hành phòng ngừa bệnh đái tháo đường typ2 của người dân từ 30 đến 69 tuổi ở huyện long mỹ tỉnh hậu giang
Bảng 3.4 Phân bố đối tượng tình trạng kinh tế gia đình (Trang 40)
Bảng 3.7 Tỷ lệ người dân hiểu đúng về bệnh đái tháo đường - 1219 nghiên cứu kiến thức thực hành phòng ngừa bệnh đái tháo đường typ2 của người dân từ 30 đến 69 tuổi ở huyện long mỹ tỉnh hậu giang
Bảng 3.7 Tỷ lệ người dân hiểu đúng về bệnh đái tháo đường (Trang 41)
Bảng 3.10 Kiến thức về nguy cơ bệnh ĐTĐ type 2 - 1219 nghiên cứu kiến thức thực hành phòng ngừa bệnh đái tháo đường typ2 của người dân từ 30 đến 69 tuổi ở huyện long mỹ tỉnh hậu giang
Bảng 3.10 Kiến thức về nguy cơ bệnh ĐTĐ type 2 (Trang 43)
Bảng 3.16 Tình trạng loại dầu sử dụng - 1219 nghiên cứu kiến thức thực hành phòng ngừa bệnh đái tháo đường typ2 của người dân từ 30 đến 69 tuổi ở huyện long mỹ tỉnh hậu giang
Bảng 3.16 Tình trạng loại dầu sử dụng (Trang 45)
Bảng 3.24 Mối liên quan giữa kiến thức và giới - 1219 nghiên cứu kiến thức thực hành phòng ngừa bệnh đái tháo đường typ2 của người dân từ 30 đến 69 tuổi ở huyện long mỹ tỉnh hậu giang
Bảng 3.24 Mối liên quan giữa kiến thức và giới (Trang 48)
Bảng 3.25 Mối liên quan giữa kiến thức và nhóm nghề nghiệp - 1219 nghiên cứu kiến thức thực hành phòng ngừa bệnh đái tháo đường typ2 của người dân từ 30 đến 69 tuổi ở huyện long mỹ tỉnh hậu giang
Bảng 3.25 Mối liên quan giữa kiến thức và nhóm nghề nghiệp (Trang 48)
Bảng 3.27 Mối  liên quan giữa kiến thức và tình trạng hôn nhân - 1219 nghiên cứu kiến thức thực hành phòng ngừa bệnh đái tháo đường typ2 của người dân từ 30 đến 69 tuổi ở huyện long mỹ tỉnh hậu giang
Bảng 3.27 Mối liên quan giữa kiến thức và tình trạng hôn nhân (Trang 49)
Bảng 3.29 Mối  liên quan giữa kiến thức và nguồn thông tin tiếp cận - 1219 nghiên cứu kiến thức thực hành phòng ngừa bệnh đái tháo đường typ2 của người dân từ 30 đến 69 tuổi ở huyện long mỹ tỉnh hậu giang
Bảng 3.29 Mối liên quan giữa kiến thức và nguồn thông tin tiếp cận (Trang 50)
Bảng 3.31 Mối liên quan giữa thực hành và giới - 1219 nghiên cứu kiến thức thực hành phòng ngừa bệnh đái tháo đường typ2 của người dân từ 30 đến 69 tuổi ở huyện long mỹ tỉnh hậu giang
Bảng 3.31 Mối liên quan giữa thực hành và giới (Trang 51)
Bảng 3.33 Mối  liên quan giữa thực hành và trình độ học vấn - 1219 nghiên cứu kiến thức thực hành phòng ngừa bệnh đái tháo đường typ2 của người dân từ 30 đến 69 tuổi ở huyện long mỹ tỉnh hậu giang
Bảng 3.33 Mối liên quan giữa thực hành và trình độ học vấn (Trang 51)
Bảng 3.34 Mối liên quan giữa thực hành và tình trạng hôn nhân - 1219 nghiên cứu kiến thức thực hành phòng ngừa bệnh đái tháo đường typ2 của người dân từ 30 đến 69 tuổi ở huyện long mỹ tỉnh hậu giang
Bảng 3.34 Mối liên quan giữa thực hành và tình trạng hôn nhân (Trang 52)
Bảng 3.35 Mối  liên quan giữa thực hành và tình trạng kinh tế - 1219 nghiên cứu kiến thức thực hành phòng ngừa bệnh đái tháo đường typ2 của người dân từ 30 đến 69 tuổi ở huyện long mỹ tỉnh hậu giang
Bảng 3.35 Mối liên quan giữa thực hành và tình trạng kinh tế (Trang 52)
Bảng 3.36 Mối  liên quan giữa thực hành và nguồn thông tin tiếp cận - 1219 nghiên cứu kiến thức thực hành phòng ngừa bệnh đái tháo đường typ2 của người dân từ 30 đến 69 tuổi ở huyện long mỹ tỉnh hậu giang
Bảng 3.36 Mối liên quan giữa thực hành và nguồn thông tin tiếp cận (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w