Ngoài ra, để đảm bảo một đơn thuốc hợp lý cũng cần phải lưu ý đến tương tác thuốc, vì khi sử dụng đồng thời hai hay nhiều thuốc có tương tác với nhau, tác dụng của thuốc này có thể bị th
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP I
Người hướng dẫn khoa học:
Ts.Ds Phạm Thị Tố Liên
CẦN THƠ - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan toàn bộ số liệu nghiên cứu trong luận văn được trình bày ở đây là của riêng tôi, do chính bản thân tôi thực hiện, đảm bảo trung thực, chính xác và chưa được công bố trong bất kỳ tài liệu nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Cần Thơ, ngày 19 tháng 9 năm 2018 Tác giả
Trần Công Kiệt
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau hai năm học tập và hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học, Quý thầy cô Trường Đại học Y Dược Cần Thơ đã giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập
Tôi xin chân thành biết ơn TS.DS Phạm Thị Tố Liên đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Tôi xin cảm ơn Ban lãnh đạo bệnh xá công an tỉnh Sóc Trăng, cùng tập thể cán bộ chiến sĩ đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và thu thập
số liệu
Xin cảm ơn các bạn đồng nghiệp, cùng tập thể lớp chuyên khoa cấp I
Tổ chức Quản lý Dược (2016 - 2018) và những người thân đã hỗ trợ và giúp tôi trong quá trình học tập
Cần Thơ, ngày 19 tháng 9 năm 2018
Trần Công Kiệt
Trang 5MỤC LỤC
Trang Trang bìa
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số quy định về đơn thuốc và kê đơn 3
1.2 Quy định về kê đơn đúng 5
1.3 Các chỉ số đo lường sử dụng thuốc 7
1.4 Tình hình kê đơn, sử dụng thuốc và các nghiên cứu 8
1.5 Một vài nét về cơ sở nghiên cứu 17
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.2 Phương pháp nghiên cứu 19
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 19
2.2.2 Cỡ mẫu 19
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu 20
2.2.4 Nội dung nghiên cứu 20
2.2.5 Kỹ thuật thu thập số liệu 27
2.3 Kỹ thuật hạn chế sai số 27
2.4 Xử lý và phân tích số liệu 27
Trang 62.5 Đạo đức nghiên cứu 28
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
3.1 Các tiêu chí kê đơn thuốc điều trị 29
3.2 Tỷ lệ kê đơn thuốc hợp lệ theo qui chế kê đơn của Bộ Y tế 34
Chương 4: BÀN LUẬN 41
4.1 Các tiêu chí kê đơn thuốc điều trị 41
4.2 Tỷ lệ kê đơn thuốc hợp lệ theo qui chế kê đơn của Bộ Y tế 48
KẾT LUẬN 58
KIẾN NGHỊ 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC: Phiếu thu thập số liệu
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Tỷ lệ đơn ghi theo tên chung quốc tế (Generic name, INN) 30
Bảng 3.2 Tỷ lệ đơn thuốc có kê thuốc kháng sinh 30
Bảng 3.3 Tỷ lệ đơn thuốc có kê vitamin 31
Bảng 3.4 Tỷ lệ đơn thuốc có kê thuốc thiết yếu 31
Bảng 3.5 Mức độ tương tác thuốc 32
Bảng 3.6 Thời gian điều trị trung bình phân theo chẩn đoán bệnh 33
Bảng 3.7 Tỷ lệ đơn có gạch chéo phần còn trống 35
Bảng 3.8 Tỷ lệ đơn có ghi số lượng, hàm lượng thuốc 36
Bảng 3.9 Tỷ lệ đơn có ghi thời gian uống thuốc 37
Bảng 3.10 Số thuốc, kháng sinh trung bình trong một đơn thuốc 37
Bảng 3.11 Tỷ lệ đơn thuốc hợp lệ kê đơn theo tên gốc 38
Bảng 3.12 Tỷ lệ đơn thuốc hợp lệ kê đơn theo thuốc thiết yếu 39
Bảng 3.13 Tỷ lệ đơn thuốc hợp lệ theo số ngày điều trị 39
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Phân bố số loại thuốc trong đơn thuốc 29
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ đơn thuốc có tương tác thuốc 32
Biểu đồ 3.3 Thông tin bệnh nhân khám điều trị ngoại trú 34
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ đơn ghi đầy đủ tên và chữ ký của bác sĩ 35
Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ đơn có ghi cách dùng, liều dùng 36
Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ đơn thuốc có hợp lệ kê đơn kháng sinh 38
Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ đơn thuốc hợp lệ quy chế kê đơn 40
Trang 10
“Chính sách quốc gia về thuốc ở Việt Nam” đề ra hai mục tiêu: Đảm bảo cung ứng thường xuyên, đủ thuốc có chất lượng đến tận người dân và đảm bảo sử dụng hợp lý, an toàn, có hiệu quả Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, thị trường dược phẩm Việt Nam đã và đang không ngừng biến đổi, sản xuất được ngày càng nhiều thuốc mới, việc cung ứng thuốc và các dịch vụ y tế dần được cải thiện Người dân được đáp ứng nhu cầu về thuốc và tiếp cận với các dịch vụ y tế cơ bản có chất lượng Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích đạt được vẫn còn những tồn tại đáng chú ý, đặt biệt việc kê đơn sử dụng thuốc không hợp lý diễn ra phổ biến ở nhiều bệnh viện Việc kê đơn không đúng qui chế, kê quá nhiều thuốc trong một đơn, kê đơn với nhiều biệt dược, lạm dụng kháng sinh, vitamin Kê đơn không phải thuốc thiết yếu mà là thuốc có tính thương mại cao đang có nguy cơ phát triển và khó kiểm soát [10]
Tại Việt Nam, nhiều bất cập về sử dụng thuốc tại các cơ sở y tế được phát hiện Bộ Y tế đã ban hành nhiều quyết định, thông tư về việc kê đơn thuốc, trong đó có Thông tư 05/2016/TT-BYT ngày 29 tháng 02 năm 2016 Quy định về kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú, Quyết định 4041/QĐ-BYT ngày 07 tháng 9 năm 2017 Phê duyệt đề án tăng cường kiểm soát kê đơn thuốc và bán thuốc kê đơn giai đoạn 2017 - 2020 [9] [10] Tất cả với mục đích
Trang 11Nhằm đánh giá tình hình kê đơn thuốc điều trị ngoại trú tại bệnh xá công an tỉnh Sóc Trăng và đề xuất các giải pháp can thiệp, em xin thực hiện
đề tài: “Nghiên cứu thực trạng kê đơn thuốc điều trị ngoại trú tại Bệnh xá
công an tỉnh Sóc Trăng năm 2018” với các mục tiêu sau:
1 Xác định các chỉ số kê đơn điều trị cho bệnh nhân ngoại trú tại bệnh
xá công an tỉnh Sóc Trăng năm 2017 - 2018
2 Xác định tỷ lệ đơn thuốc hợp lệ theo qui chế kê đơn của Bộ Y tế cho bệnh nhân ngoại trú tại bệnh xá công an tỉnh Sóc Trăng năm 2018
Trang 123
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số quy định về đơn thuốc và kê đơn
1.1.1 Đơn thuốc
Đơn thuốc là tài liệu chỉ định dùng thuốc của bác sĩ cho người bệnh,
là cơ sở pháp lý cho việc chỉ định dùng thuốc, bán thuốc và cấp thuốc theo đơn Bác sĩ có thể chỉ định điều trị cho người bệnh vào đơn thuốc (theo mẫu quy định của BYT) hoặc vào sổ y bạ, sổ điều trị bệnh mạn tính [9]
Đơn thuốc là tổng hợp các loại thuốc, bao gồm cả thuốc bắt buộc phải bán theo đơn và những thuốc có thể mua tự do Đó là một “y lệnh” hướng dẫn cho các bệnh nhân ngoại trú và nội trú cần uống, bôi, thoa, phun, dán hay tiêm truyền Đơn thuốc liệt kê tên thuốc, số lượng, liều lượng, số lần dùng thuốc trong ngày, thời điểm dùng thuốc (trước, trong hay sau bữa ăn) Một đơn thuốc được xem là chuẩn phải đạt được các yêu cầu: hiệu quả chữa bệnh cao, an toàn trong dùng thuốc và tiết kiệm
1.1.2 Những quy định về đơn thuốc ngoại trú
1.1.2.1 Nội dung của một đơn thuốc
Trên Thế giới không có một tiêu chuẩn thống nhất nào về kê đơn thuốc và mỗi Quốc gia có quy định riêng phù hợp với điều kiện của đất nước mình Tuy nhiên, yêu cầu quan trọng đó là đơn thuốc phải thật rõ ràng Đơn thuốc phải hợp lệ và chỉ định chính xác thuốc phải sử dụng Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới thì một đơn thuốc đầy đủ bao gồm các nội dung sau [9]:
- Tên, địa chỉ của người kê đơn, số điện thoại (nếu có)
- Ngày, tháng kê đơn
- Tên gốc của thuốc, hàm lượng
Trang 134
- Dạng thuốc, tổng lượng thuốc
- Hướng dẫn sử dụng, cảnh báo
- Tên, địa chỉ, tuổi của bệnh nhân
- Chữ ký của người kê đơn
1.1.2.2 Quy định về ghi đơn thuốc
Theo điều 6 của Thông tư 05/2016/TT-BYT ngày 29 tháng 2 năm
2016 quy định về kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú do Bộ Y tế ban hành quy định về yêu cầu chung với nội dung kê đơn thuốc như sau [9]:
1 Ghi đủ, rõ ràng và chính xác các mục in trong đơn thuốc hoặc trong
sổ khám bệnh hoặc sổ điều trị bệnh cần chữa trị dài ngày của người bệnh
2 Ghi chính xác địa chỉ nơi người bệnh đang thường trú hoặc tạm trú
số nhà, đường phố, tổ dân phố hoặc thôn, ấp, bản, xã, phường, thị trấn
3 Đối với trẻ dưới 72 tháng tuổi thì phải ghi số tháng tuổi và ghi tuổi
bố hoặc mẹ của trẻ
4 Viết tên thuốc theo tên chung Quốc tế (INN, generic) trừ trường hợp thuốc có nhiều hoạt chất Trường hợp ghi thêm tên thuốc theo tên thương mại phải ghi tên thương mại trong ngoặc đơn sau tên chung Quốc tế
Ví dụ: Đối với thuốc Paracetamol
- Viết tên thuốc theo tên chung quốc tế: Paracetamol 500mg
- Trường hợp ghi tên thuốc theo tên thương mại: Paracetamol 500mg (Hapacol hoặc Biragan hoặc Efferalgan hoặc Panadol, )
5 Ghi tên thuốc, nồng độ/hàm lượng, số lượng, liều dùng, đường dùng, thời điểm dùng của mỗi loại thuốc
6 Số lượng thuốc gây nghiện phải viết bằng chữ, chữ đầu viết hoa
7 Số lượng thuốc: Viết thêm số 0 phía trước nếu số lượng chỉ có một chữ số (nhỏ hơn10)
8 Trường hợp sửa chữa đơn thì người kê đơn phải ký tên ngay bên
Trang 145
cạnh nội dung sửa
9 Gạch chéo phần giấy còn trống từ phía dưới nội dung kê đơn đến phía trên chữ ký của người kê đơn; ký, ghi (hoặc đóng dấu) họ tên người kê đơn [5]
1.1.2.3 Điều kiện của người kê đơn thuốc
Theo điều 3 của Thông tư 05/2016/TT-BYT ngày 29 tháng 2 năm
2016 Quy định về kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú do Bộ y tế ban hành quy định đối với người kê đơn thuốc như sau [9]:
1 Bác sỹ
2 Y sỹ được kê đơn thuốc khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây: a) Có chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và đang làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến huyện của Nhà nước hoặc trạm y tế
xã, phường, thị trấn, y tế cơ quan, trường học (sau đây gọi tắt là trạm y tế xã)
b) Phải có văn bản phân công của người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến huyện phân công khám bệnh, chữa bệnh theo phân cấp quản lý y tế của địa phương
3 Bác sỹ, y sỹ tại trạm y tế xã được phép kê đơn thuốc đối với các bệnh ở các chuyên khoa tương ứng với phạm vi khám bệnh, chữa bệnh đa khoa được quyết định trong phạm vi chuyên môn của trạm y tế xã và của bác
sỹ, y sỹ
4 Trong trường hợp cấp cứu người bệnh mà chưa kịp làm thủ tục nhập viện, người kê đơn thuốc của bất cứ chuyên khoa nào (kể cả y học cổ truyền) đều được kê đơn thuốc để xử trí cấp cứu phù hợp với tình trạng của bệnh cấp cứu [5]
1.2 Qui định về kê đơn đúng
Kê đơn là mệnh lệnh, nhật ký ghi lại việc điều trị
Trang 156
Kê đơn tốt là sự chỉ định thuốc cho điều trị dựa vào quá trình suy luận logic trên những thông tin chính xác và khách quan Kê đơn đúng phải đảm bảo sự cân bằng giữa các yếu tố hợp lý, an toàn và kinh tế, tôn trọng sự lựa chọn của bệnh nhân [9]
1.2.1 Đơn thuốc đúng
Một đơn thuốc đúng phải đáp ứng đầy đủ các thông tin tiêu chuẩn yêu cầu cho một đơn thuốc gồm có [9]:
- Nội dung của một đơn thuốc
- Cách ghi nội dung của một đơn thuốc và cách bố trí các mục ghi trong đơn theo quy định của từng Quốc gia
1.2.2 Những yêu cầu về kê đơn đúng
Theo hướng dẫn thực hành kê đơn thuốc đúng của Tổ chức Y tế Thế giới, để thực hiện được quá trình kê đơn thuốc đúng, người thầy thuốc cần phải tuân thủ theo quá trình thực hiện kê đơn, điều trị hợp lý gồm 6 bước:
Bước 1: Xác định vấn đề bệnh lý của bệnh nhân Quá trình này cần
được thực hiện một cách thận trọng dựa trên sự quan sát kỹ lưỡng của bác
sỹ, mô tả bệnh của bản thân bệnh nhân, tiền sử bệnh, X-quang, kết quả xét nghiệm và các thăm khám khác
Bước 2: Xác định mục tiêu điều trị Việc xác định mục tiêu điều trị
giúp người thầy thuốc tránh được việc sử dụng nhiều thuốc không cần thiết, tập trung vào bệnh lý của bệnh nhân
Bước 3: Xác định phương pháp điều trị đã được chứng minh hiệu quả,
an toàn, kinh tế và phù hợp với bệnh nhân nhất trong số các phương án điều trị khác nhau, kể cả phương án không dùng thuốc Thẩm định lại sự phù hợp của thuốc đã lựa chọn cho bệnh nhân Sự phù hợp được đánh giá trên 3 khía cạnh: Sự phù hợp giữa tác dụng và dạng dùng của thuốc với bệnh nhân Sự phù hợp của liều dùng hàng ngày [1][3] Sự phù hợp của quá trình điều trị
Trang 167
Đối với mỗi khía cạnh cần phải kiểm tra mục đích điều trị, hiệu quả (chỉ định và sự liên quan đến liều dùng) và an toàn (chống chỉ định, tương tác thuốc, nhóm thuốc có nguy cơ cao) có được đảm bảo
Bước 4: Bắt đầu điều trị Cần đưa ra những chỉ dẫn cho bệnh nhân.Ví
dụ như viết một đơn thuốc rõ ràng, cẩn thận, ngắn gọn nhưng dễ hiểu cho bệnh nhân
Bước 5: Cung cấp thông tin, hướng dẫn sử dụng và cảnh báo cho
bệnh nhân Cần phải cung cấp cho bệnh nhân ít nhất các thông tin sau: Các tác dụng của thuốc; hướng dẫn sử dụng (cách dùng, thời gian dùng, bảo quản….); cảnh báo (không nên dùng khi nào, liều tối đa, thời gian đề trị đầy đủ.); hẹn gặp lần tới, xác minh mọi thông tin có rõ ràng đối với bệnh nhân
Bước 6: Giám sát điều trị Nếu như bệnh được chữa khỏi thì ngừng
quá trình điều trị, hoặc nếu phương pháp điều trị này có hiệu quả nhưng bệnh vẫn chưa khỏi hẳn thì cần xem lại có tác dụng phụ nào nghiêm trọng hay không Nếu có thì cân nhắc lại liều dùng hoặc chọn thuốc khác, nếu không thì tiếp tục điều trị Trường hợp bệnh không được chữa khỏi thì phải nghiên cứu lại tất cả các bước trên
Ngoài ra, để đảm bảo một đơn thuốc hợp lý cũng cần phải lưu ý đến tương tác thuốc, vì khi sử dụng đồng thời hai hay nhiều thuốc có tương tác với nhau, tác dụng của thuốc này có thể bị thay đổi bởi thuốc khác, một số trường hợp có thể làm tăng độc tính của thuốc dẫn tới hậu quả bất lợi cho người dùng Trong một số trường hợp kết hợp hai thuốc tương tác để làm tăng hiệu quả của thuốc cũng nên được áp dụng để giảm liều từng thuốc đơn
lẻ [3]
1.3 Các chỉ số đo lường sử dụng thuốc
Các chỉ số kê đơn: Chỉ số kê đơn đánh giá việc thực hiện kê đơn của
thầy thuốc tại các cơ sở y tế về một số vấn đề quan trọng liên quan đến sử
Trang 178
dụng thuốc an toàn hợp lý Các chỉ số về kê đơn thuốc bao gồm [4],[6],[9]:
- Số thuốc trung bình trên một đơn thuốc
- Tỷ lệ phần trăm thuốc được kê bằng tên gốc hay tên theo danh pháp quốc tế (INN, Generic)
- Tỷ lệ phần trăm những lần khám có kê đơn thuốc kháng sinh
- Tỷ lệ phần trăm số lần khám có kê đơn thuốc tiêm
- Tỷ lệ phần trăm thuốc được kê có trong danh mục thuốc thiết yếu hoặc danh mục thuốc cần thiết tại cơ sở
- Tiền thuốc trung bình
- Phần trăm số tiền thuốc dùng để mua thuốc kháng sinh
- Phần trăm số tiền thuốc dùng để mua thuốc tiêm
- Kê đơn theo hướng dẫn điều trị
Các chỉ số sử dụng thuốc:
- Tỷ lệ phần trăm người bệnh được điều trị không dùng thuốc
- Chi phí cho thuốc trung bình của mỗi đơn
- Tỷ lệ phần trăm chi phí thuốc dành cho kháng sinh
- Tỷ lệ phần trăm chi phí thuốc dành cho thuốc tiêm
- Tỷ lệ phần trăm chi phí thuốc dành cho vitamin
- Tỷ lệ phần trăm đơn kê phù hợp với phác đồ điều trị
- Tỷ lệ phần trăm người bệnh hài lòng với dịch vụ chăm sóc sức khỏe
- Tỷ lệ phần trăm cơ sở y tế tiếp cận được với các thông tin thuốc khách quan [6]
1.4 Tình hình kê đơn, sử dụng thuốc và các nghiên cứu
1.4.1 Trên Thế giới
1.4.1.1 Tình hình kê đơn và sử dụng thuốc
Trong những năm gần đây nhu cầu thuốc trên thị trường thế giới có sự gia tăng mạnh mẽ do sự phát triển của dân số thế giới và sự gia tăng tuổi thọ,
Trang 189
nhu cầu dùng thuốc nhiều, dùng các loại thuốc có tỷ trọng chất xám cao nên thường đắt Trong việc sử dụng thuốc tồn tại hai vấn đề lớn Đó là sự tiêu thụ thuốc chưa đồng đều giữa các nước phát triển và đang phát triển
Theo báo cáo của tập đoàn IMS Health, thị trường Bắc Mỹ chiếm tỷ lệ lớn nhất so với các khu vực khác (khoảng 40% doanh số dược phẩm bán ra trên thế giới hàng năm), trong khi toàn bộ châu Á (trừ Nhật Bản), châu Phi, châu Úc chỉ chiếm 15% và vấn đề đáng chú ý là việc kê đơn không hợp lý, không an toàn, còn bệnh nhân thì không tuân thủ theo chỉ định của bác sỹ, tình trạng bác sỹ kê đơn thiếu thông tin khá phổ biến, lạm dụng thuốc, phối hợp thuốc không đúng, không ghi đủ liều lượng, dạng thuốc Tình trạng kê quá nhiều thuốc cho một bệnh nhân, lạm dụng kháng sinh, thuốc tiêm, kê đơn kháng sinh cho bệnh không nhiễm trùng vẫn còn diễn ra [42]
Tại các nước đang phát triển, mặc dù chiếm 75% dân số thế giới nhưng chỉ tiêu thụ 21% sản lượng thuốc của thế giới, song sử dụng thuốc không đúng, không hợp lý, không an toàn lại rất phổ biến Vì vậy, Tổ chức y
tế thế giới khuyến cáo “các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, cần dùng thuốc hợp lý hơn để sử dụng nguồn lực tài chính có hiệu quả và cung cấp được nhiều thuốc hơn cho nhân dân” [48]
Ở nhiều nước đang phát triển, người ta đã thống kê số thuốc được bán
ra cao hơn nhiều so với số lượng bệnh tật cần điều trị Thực trạng kê đơn của thầy thuốc ở các nước đang phát triển cũng có xu hướng chung như sử dụng nhiều loại thuốc
Theo Tổ chức Y tế thế giới ước tính rằng có đến hơn một nửa các loại thuốc được kê hay bán cho người bệnh là không thích hợp, và trên thế giới
có gần 50% bệnh nhân đang phải sử dụng thuốc không hợp lý Hơn 1/3 dân
số thế giới thiếu tiếp cận với những thuốc thiết yếu Tại nhiều quốc gia trên thế giới, chỉ có không tới 40% bệnh nhân điều trị tại cơ sở công và 30%
Trang 1910
bệnh nhân tại cơ sở tư nhân được điều trị theo đúng hướng dẫn điều trị chuẩn [47]
1.4.1.2 Các nghiên cứu về kê đơn thuốc
Tại Babalola CP và cộng sự khi tiến hành nghiên cứu người ta nhận thấy: Với 990 đơn thuốc khảo sát thì có tới hơn một phần ba trong tổng số đơn thuốc thông tin xác định bác sỹ điều trị là không rõ ràng, hơn một nửa các đơn thuốc không ghi đầy đủ các thông tin về bệnh nhân (tình trạng bệnh, địa chỉ, tên tuổi…) Phần lớn các đơn thuốc chữ viết và hướng dẫn sử dụng thuốc cho bệnh nhân không rõ ràng Hơn 90% đơn thuốc chỉ kê biệt dược Bên cạnh đó tình trạng lạm dụng kê đơn kháng sinh và thuốc tiêm, kê quá nhiều thuốc trong một đơn cũng khá phổ biến và hậu quả của việc này thì không phải ai cũng lường hết được [39]
Theo một nghiên cứu của Afsaneh Mosleh và cộng sự đánh giá việc kê đơn thuốc tại bệnh viện công cho thấy số thuốc trung bình trên một đơn thuốc là 1,8 phù hợp với tiêu chuẩn của WHO (1,6 - 1,8) Tỷ lệ thuốc nằm trong Danh mục thuốc thiết yếu của quốc gia (DEL) là 91,7% thấp hơn so với giá trị lý tưởng của WHO là 100% Tỷ lệ % thuốc được kê theo tên generic là 93,9%, thấp hơn so với giá trị tiêu chuẩn của WHO là 100% Tỷ lệ
% đơn có kê kháng sinh là 52,8% cao hơn so với giá trị khuyến cáo của WHO (20,0% - 26,8%) Tỷ lệ % đơn có kê vitamin là 31% cao hơn so với giá trị khuyến cáo của WHO (13,4% - 24,1%) Các kháng sinh được kê đơn nhiều nhất là Amoxicillin (22,2%) và Ampicillin (21,3%) Qua các chỉ số nghiên cứu cho thấy độ lệch giữa thực hành với khuyến cáo của WHO Vì vậy, cần thiết có một chương trình giáo dục y tế để hợp lý việc kê đơn [44]
Nghiên cứu của Joseph O Fadare và cộn sự (2013) Chất lượng toa thuốc tại một bệnh viện chăm sóc đại học ở Tây Nam Nigeria, cho thấy tổng cộng có 2167 loại thuốc được kê toa với mức trung bình 3,6 ± 1,6 mỗi lần
Trang 2011
gặp Tất cả các toa thuốc đều có tên bệnh nhân và số bệnh viện được viết
Độ tuổi, số lượng bệnh viện và địa chỉ của bệnh nhân được ghi nhận lần lượt
là 421 (69,9%), 480 (79,7%) và 323 (53,7%) Tên của bác sĩ, chữ ký và ngày gặp phải đã được chỉ định là 587 (97,5%), 546 (90,7%) và 556 (92,7%) tương ứng Điểm số dễ đọc trung bình là 2,53 ± 0,51 trong số điểm có thể Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy cần phải cải thiện chất lượng toa thuốc do các bác sĩ Nigeria viết [40]
1.4.2 Tại Việt Nam
1.4.2.1 Tình hình kê đơn và sử dụng thuốc
Kinh tế phát triển, chất lượng của người dân đang ngày càng được cải thiện làm tăng nhu cầu chăm sóc sức khỏe, kéo theo làm tăng nhu cầu sử dụng thuốc Theo báo cáo của Cục Quản lý dược, tiền thuốc bình quân đầu người tại Việt Nam tăng lên nhanh chóng trong các năm gần đây Năm 2007, tiền thuốc bình quân đầu người là 13,39 USD/năm, đến năm 2014, tiền thuốc bình quân đầu người đã tăng lên mức 33 USD/năm Chi phí thuốc khám chữa bệnh ở nước ta chiếm tới 60%, thậm chí ở một số bệnh viện chiếm tới 70-80%, con số này quá cao so với khuyến cáo của WHO từ 25-30% [11] Nhu cầu tiêu dùng thuốc bình quân đầu người tăng lên giúp cải thiện công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân và thúc đẩy ngành dược phát triển Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích đó, tình hình kê đơn và sử dụng thuốc ở Việt Nam cũng không nằm ngoài khuynh hướng chung của Thế giới, đó là tình trạng: kê quá nhiều thuốc trong 1 đơn, lạm dụng kháng sinh, thuốc tiêm, vitamin, lạm dụng thuốc biệt dược…Những bất cập này đã và đang tồn tại trong ngành dược cần có những biện pháp khắc phục để đạt được mục tiêu
sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả
Thuốc kháng sinh đang được lựa chọn như một giải pháp phổ biến WHO vẫn khuyến cáo thực trạng kê đơn kháng sinh đáng lo ngại trên toàn
Trang 2112
cầu, tới mức trung bình 30 - 60% bệnh nhân được kê thuốc kháng sinh và tỉ
lệ này cao gấp đôi so với nhu cầu lâm sàng Tại bệnh viện Bạch Mai, tỷ lệ sử dụng kết hợp kháng sinh trong điều trị ngoại trú tương đối phổ biến (45,9% đối với đơn KBHYT và 37,67% đối với đơn BHYT) và chủ yếu là kết hợp 2 kháng sinh Kết quả nghiên cứu tại bệnh viện Đà Nẵng có 36,5% đơn ngoại trú có kê kháng sinh, tại bệnh viện Đa Khoa Vĩnh Phúc là 59,5% [12] Việc kê đơn kháng sinh không dựa vào kháng sinh đồ đã tạo ra thói quen kê thuốc kháng sinh phổ rộng, phối hợp nhiều kháng sinh cho một bệnh nhân Thực tế cho thấy có đến 34,5% bệnh nhân nhiễm trùng sử dụng nhiều hơn một loại kháng sinh trong một đợt điều trị [12]
1.4.2.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Các nghiên cứu về kê đơn thuốc:
Kê đơn thuốc là một việc làm thường xuyên, có tính chuyên nghiệp của bác sỹ Tuy nhiên hoạt động này là một hoạt trong những quy định mà BYT yêu cầu nghiêm ngặt nhất đối với thầy thuốc Thế nhưng trên thực tế, một trong những lỗi thường gặp nhất ở thầy thuốc lại vẫn liên quan đến kê đơn thuốc Khi kê đơn, nhầm lẫn về liều lượng, đặt nhầm dấu thập phân ở hàm lượng thuốc, không nhận định đúng về dạng hàm lượng thuốc, nhầm lẫn về tần suất dùng thuốc trong ngày, chữ viết khó đọc, không thận trọng khi dùng các chữ viết tắt, không chú ý đến tương tác thuốc, không chú ý điều chỉnh liều lượng, không quan tâm đến tiền sử bệnh của người dùng thuốc [11]
Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Bé Năm về tình tình hình kê đơn sử dụng thuốc điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Long năm 2015 cho thấy số thuốc sử dụng trung bình trong 1 đơn thuốc của bệnh nhân BHYT là 3.6 thuốc Mặt khác kết, quả nghiên cứu cũng cho thấy số thuốc trung bình trong một đơn thuốc của một số phòng khám ở trong khoảng 2.43
Trang 2213
đến 4.95 thuốc Số đơn thuốc sử dụng từ 1- 4 thuốc là 77.05% Đây là tỉ lệ
có ý nghĩa tích cực, thể hiện khả năng chẩn đoán chính xác và sự phù hợp cao giữa chẩn đoán và điều trị Ở mức sử dụng thuốc này sẽ giảm tỷ lệ xuất hiện ADR xuống mức 4.2% Số đơn thuốc sử dụng từ 5- 8 thuốc là 22.73 %
Ở mức sử dụng thuốc này nằm trong báo động của WHO và tỷ lệ xuất hiện ADR tăng đến 7.4 % Số đơn thuốc sử dụng từ 9 thuốc chỉ chiếm tỉ lệ thấp 0.23 %
Việc sử dụng nhiều thuốc như vậy sẽ làm tăng nguy cơ xuất hiện ADR đến 24.2 % Tỷ lệ sử dụng kháng sinh chung 47.27% Đơn thuốc kê đơn cho bệnh nhân điều ngoại trú có sử dụng Vitamin - khoáng chất chung là 36.14% [20]
Một nghiên cứu của tác giả Phan Hữu Lợi về thự tạng kê đơn thuốc cho bệnh nhân điều trị ngoại trú bảo hiểm y tế tại bệnh viện đa khoa huyện
Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An năm 2015 cho thấy tỷ lệ tuân thủ nguyên tắc ghi đầy
đủ thông tin: tên, giới tính bệnh nhân đạt 100% Ghi số tuổi của bệnh nhân không đầy đủ và không rõ ràng, không ghi rõ số tháng tuổi của trẻ dưới 72 tháng tuổi, tỷ lệ ghi đầy đủ tuổi bệnh nhân đạt 80,5% Việc ghi địa chỉ của bệnh nhân chính xác đến từng số nhà, đường phố (thôn, bản) chỉ 188 đơn đạt yêu cầu quy định còn lại là không đạt yêu cầu Điều này làm ảnh hưởng đến việc tiếp cận, theo dõi, quản lý bệnh nhân Thiết nghĩ đây là thói quen của bác sỹ, việc này không thể sửa ngay được, trên thực tế cũng chưa xảy ra tổn thất nên chưa thúc đẩy được các bác sỹ chấp hành và tuân thủ
Tất cả các đơn thuốc đều ghi ngày kê đơn, song việc ký (hoặc đóng dấu) và ghi rõ họ tên người kê đơn chỉ đạt 67,5% Việc thực hiện đánh số khoản, gạch phần đơn trắng, sửa chữa và ký tên bác sỹ sửa chữa cũng chưa thực hiện đúng quy chế một cách tuyệt đối, chỉ thực hiện ở mức tương đối Việc tuân thủ ghi tên thuốc theo quy định của WHO, Bộ Y tế không cao, chỉ
Trang 2314
có 6,3% là tuân thủ ghi theo tên chung quốc tế trong ngoặc đơn với thuốc một thành phần, còn lại là ghi theo tên biệt dược Số thuốc trung bình trong một đơn thuốc ngoại trú BHYT là 4,6 thuốc, cao hơn so với tiêu chuẩn của WHO (1 - 2 thuốc) Đơn thuốc ít nhất là 2 thuốc, nhiều nhất là 7 thuốc, tuy nhiên số lượng đơn có 7 thuốc là rất ít Đơn có 4 và 5 thuốc chiếm đa số Chưa kiểm soát được tỷ lệ đơn thuốc dùng kháng sinh, vitamin nên tỷ lệ sử dụng kháng sinh chung là rất cao 78,3% Trong tổng chi phí đơn thuốc ngoại trú BHYT có kháng sinh và vitamin thì chi phí cho kháng sinh chiếm 50,5%; vitamin chiếm 40,5% Chi phí trung bình một đơn thuốc BHYT là 227.684 VND (thấp nhất là 33.000VND, cao nhất là 650.250 VND) Có 31 đơn có tương tác thuốc, chủ yếu tương tác xảy ra ở mức độ nhẹ 9 đơn và trung bình
22 đơn, không có đơn nào có tương tác nghiêm trọng Tuy nhiên xử trí tương tác chỉ đạt 54,8% [17]
Tác giả Ngô Kiều Quyên phân tích thực trạng kê đơn thuốc đối với bệnh nhân điều trị ngoại trú tại Trung tâm chẩn đoán y khoa thành phố Cần Thơ năm 2015 ghi nhận việc thực hiện quy chế kê đơn điều trị ngoại trú như sau: Phần thủ tục hành chính (trừ phần ghi địa chỉ BN), ghi tên thuốc và hướng dẫn đều đạt 100% Một số tồn tại cần khắc phục như ghi địa chỉ BN phải chính xác số nhà, đường phố hoặc thôn, xã (chiếm 97.3 %) và đơn kê đúng số ngày quy định (tối đa 1 tháng) chỉ chiếm 98.5 % Tỷ lệ phân bố nhóm bệnh lý trong 400 đơn thuốc tự nguyện nhóm bệnh lý có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất là TMH với 23.8% và nhóm bệnh lý có tỷ lệ mắc bệnh thấp nhất là nhóm RHM chỉ chiếm 1.3%
Số thuốc trung bình trong một đơn là 4.6 thuốc với chi phí trung bình trên đơn là 380.848 đồng Số thuốc nội tiết có trong đơn chiếm 18.5% về số lượng và 23.6% về chi phí Trong nhóm thuốc nội tiết, thuốc điều trị ĐTĐ chiếm tỷ lệ lớn nhất (95.9%) lẫn chi phí (23.3%) Tổng số đơn kê có thuốc
Trang 2415
tiêm là 6 đơn, tỷ lệ chi phí kê thuốc tiêm là 0.8% Số đơn có kê kháng sinh
là 101 và chỉ 10.845.846 đ chi phí kê đơn dành cho kháng sinh Tỷ lệ vitamin và khoáng chất chiếm 16.3% số lượng đơn kê và 4.47% tổng chi phí
Tỷ lệ đơn thuốc được kê theo tên Generic 43.9% [25]
Một nghiên cứu khác cũng về thực trạng kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú tại Trung tâm y tế huyện Châu Đức, tỉnh Bà rịa Vũng Tàu năm
2015 của tác giả Phạm Duy Khanh cho thấy công tác kê đơn điều trị ngoại trú tại TTYT huyện Châu Đức đã được thực hiện chưa tốt theo quy chế kê đơn, 100% đơn ghi đầy đủ họ tên, tuổi bênh nhân, 100% đơn ghi chẩn đoán bệnh, đối với trẻ dưới 72 tháng tuổi chỉ có 2.74% (02 đơn) có ghi số tháng tuổi, 71,75 % (287 đơn) có đánh số khoản và chỉ có 72,25 % (289) đơn gạch chéo phần đơn còn giấy trắng
Số thuốc trung bình trong một đơn là 2,97 thuốc với chi phí trung bình trên đơn là 93.535 đồng Số đơn có kê kháng sinh là 205 đơn chiếm 51,25%,
kê vitamin và khoáng chất chiếm 33% số lượng đơn kê, đơn kê corticoid chiếm 8,25% số lượng, kê theo tên Generic 75,32% Tuy nhiên tỷ lệ đơn kê
có kháng sinh quá cáo 51,25 vì vậy hội đồng thuốc và điều trị cần tăng cường giám sát sử dụng kháng đơn thuốc ngoại trú
Tác giả Nguyễn Nhân Thắng khảo sát tình hình kê đơn sử dụng thuốc điều trị ngoại trú tại bệnh viện Bạch Mai năm 2011 cho thấy số thuốc trung bình của một đơn thuốc điều trị ngoại trú của bệnh bệnh viện Bạch Mai vẫn nằm trong giá trị an toàn của WHO (4,7 thuốc đối với đơn kê cho bệnh nhân không BHYT và 4,2 đối với bệnh nhân khám BHYT) Tỷ lệ sử dụng kháng sinh là 32,3%, các Betalactam là nhóm kháng sinh được sử dụng phổ biến nhất, sử dụng kết hợp 2 kháng sinh là chủ yếu chiếm 73,47% trong các đơn thuốc không khám BHYT và 96,36% trong đơn thuốc khám BHYT Tỷ lệ sử dụng vitamin tương đối cao với tỷ lệ là 30,1% đối với đơn kê không khám
Trang 2516
BHYT và 19,2% đối với đơn khám BHYT [29]
Tác giả Phạm Thị Bích Thủy ghi nhận việc sử dụng thuốc tại phòng khám nội khớp khoa khám bệnh - bệnh viện An Giang trên đối tượng bệnh nhân có thẻ Bảo hiểm y tế ghi nhận kết quả như sau: Lứa tuổi mắc các bệnh
về khớp cao nhất là lứa tuổi trung niên từ 40 đến dưới 70 tuổi, tỷ lệ nam/nữ là 1/3 Tại phòng khám nội khớp việc sử dụng thuốc chưa phù hợp chẩn đoán chiếm tỷ lệ cao 37,10%, tỷ lệ sử dụng kháng sinh đúng là 37,40% có sự lạm dụng kháng sinh trong điều trị, sử dụng nhiều loại thuốc trong đơn, thuốc nội
ít sử dụng (40,80%) Sau khi can thiệp số loại thuốc trong đơn giảm còn 4-5 loại, tỷ lệ sử dụng thuốc nội tăng, chỉ định sử dụng kháng sinh đúng 100%, tỷ
lệ sử dụng thuốc phù hợp chẩn đoán tăng từ 62,90% lên 87,02% Tiền thuốc trung bình giảm từ 458.159 đồng xuống 247.053 đồng [34]
Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Thu cũng về thực trạng kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang cho thấy 100% đơn BHYT chấp hành tốt quy định: ghi đầy đủ tên, tuổi, giới; ghi chẩn đoán, ngày kê đơn 100,0% đơn không BHYT ghi đầy đủ họ tên bệnh nhân và chẩn đoán bệnh; 87,0% đơn không BHYT ghi tuổi, giới bệnh nhân; 92,0% đơn không BHYT ghi ngày kê đơn Không có đơn BHYT và không BHYT nào thực hiện đúng quy định ghi địa chỉ bệnh nhân 100,0% đơn BHYT và không BHYT ghi hàm lượng, số lượng, liều dùng, đường dùng thuốc Tỷ lệ
% đơn thuốc ghi thời điểm dùng ở đơn BHYT là 22,7% và ở đơn không BHYT là 39,0% Số thuốc trung bình trong một đơn BHYT là 3,2 thuốc thấp hơn so với đơn không BHYT là 3,6 thuốc Ở cả đơn BHYT và không BHYT, số thuốc cao nhất 1 đơn là 7 thuốc, thấp nhất là 1 thuốc Tỷ lệ đơn thuốc có kê kháng sinh ở đơn BHYT là 42,7% và đơn không BHYT là 54,0%
Tỷ lệ đơn thuốc có 1 kháng sinh chiếm đa số Không có đơn thuốc nào
Trang 2617
sử dụng 3 loại kháng sinh Họ kháng sinh Cephalosporin chiếm tỷ lệ cao nhất (62,1% ở đơn BHYT và 48,4% ở đơn không BHYT), chủ yếu là Cephalosporin thế hệ 3 Tỷ lệ đơn thuốc có tương tác ở đơn BHYT là 18,7%, đơn không BHYT là 10,0% Chi phí trung bình/ 1 đơn thuốc không BHYT là
545390 VNĐ cao gấp 2 lần so với đơn BHYT (256047 VNĐ) [31]
1.5 Một vài nét về cơ sở nghiên cứu
1.5.1 Giới thiệu chung về cơ sở nghiên cứu
Lực lượng y tế công an tỉnh Sóc Trăng được thành lập tháng 04/1992 Quân số ban đầu chỉ có 03 đồng chí với nhiệm vụ phụ trách Tổ Y tế khám chữa bệnh cho CBCS toàn lực lượng Đến tháng 03/2000 được thành lập bệnh xá công an tỉnh Sóc Trăng theo hướng dẫn của Tổng cục Hậu cần - kỹ thuật công an nhân dân Về biên chế từng bước được bổ sung đáp ứng nhu cầu khám và điều trị bệnh Với mong muốn đem lại cho cộng đồng một dịch
vụ y tế chăm sóc sức khỏe trong lĩnh vực khám, tư vấn tầm soát bệnh, điều trị ngoại trú mang đến sự thuận lợi, nhanh chóng và hiệu quả hơn trong việc khám, xét nghiệm, chẩn đoán, tư vấn, điều trị các bệnh nội và ngoại khoa, tim mạch, đái tháo đường, cơ xương khớp, tai mũi họng, tiêu hóa gan mật
1.5.2 Tình hình kê đơn và chỉ định sử dụng thuốc tại bệnh xá công an tỉnh Sóc Trăng
Hiện nay, nhiều bệnh viện đã ứng dụng phần mềm trong kê đơn Bệnh
xá công an tỉnh Sóc Trăng lại chưa triển khai được việc ứng dụng phần mềm quản lý trong kê đơn Vì vậy trong việc thực hiện kê đơn không thể tránh khỏi một vài thiếu sót về thông tin bệnh nhân điển hình là việc chưa ghi đầy
đủ địa chỉ bệnh nhân chính xác đến số nhà, đường phố hoặc thôn xã, đơn vị phòng ban, cấp hàm
Mặt khác, trong quá trình kê đơn tình hình lạm dụng tên thuốc biệt dược theo quảng cáo, một phần cũng đã ảnh hưởng đến việc kê đơn Công
Trang 2718
tác theo dõi các phản ứng có hại vẫn chưa được thực hiện tốt, việc bình đơn, bình bệnh án chỉ tập trung khi có kiểm tra hay chỉ làm theo hình thức Vì vậy, công tác kê đơn ngoại trú có vai trò vô cùng quan trọng, cần được kiểm tra thường xuyên, đánh giá để nâng cao chất lượng kê đơn cũng như chất lượng khám chữa bệnh của Bệnh xá Vì những lý do trên, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu thực trạng kê đơn thuốc điều trị ngoại trú
tại Bệnh xá công an tỉnh Sóc Trăng năm 2018”
Trang 2819
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đơn thuốc được kê cho bệnh nhân điều trị ngoại trú tại bệnh xá công an tỉnh Sóc Trăng năm 2017 - 2018
Tiêu chuẩn lựa chọn mẫu:
Chọn những đơn thuốc được kê cho bệnh nhân điều trị ngoại trú tại bệnh xá công an tỉnh Sóc Trăng năm 2017 - 2018
Tiêu chuẩn loại trừ:
Loại bỏ những đơn thuốc phối hợp thuốc Tân dược với thuốc Đông y
Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 09 năm 2017 đến tháng 02 năm 2018 Địa điểm nghiên cứu: Tại bệnh xá công an tỉnh Sóc Trăng
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang
Trang 2920
Z: Giá trị từ phân phối chuẩn, với = 0,05 (Z1-α/2 = 1,96)
P: Tỷ lệ đơn thuốc ghi đúng quy chế Theo kết quả nghiên cứu của Đàm Chí Công (2013), nghiên cứu kê đơn thuốc điều trị ngoại trú an toàn hợp lý tại bệnh viện đa khoa huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang năm 2012 Kết quả tỷ lệ
kê đơn đúng quy chế là 28% cho nên lấy p=0,28
d: Là sai số cho phép của nghiên cứu, chọn d=5%
Thay vào công thức tính được số đơn thuốc cần nghiên cứu là n = 309 đơn thuốc Để tránh trường hợp mẫu không đạt yêu cầu nên cỡ mẫu nghiên cứu thực tế là 400 đơn thuốc
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu
Mẫu được chọn theo phương pháp lấy mẫu chọn
Do mô hình khám chữa bệnh nhỏ chỉ khám và cấp phát thuốc cho CBCS trong lực lượng nên mỗi ngày chỉ lấy từ 2 - 3 đơn thuốc điều trị ngoại trú đáp ứng được các tiêu chuẩn chọn mẫu
Chọn đơn thuốc hàng ngày trong thời gian từ tháng 09 năm 2017 đến tháng 02 năm 2018 cho đến khi nào đủ 400 đơn thuốc thì dừng lại
2.2.4 Nội dung nghiên cứu
2.2.4.1 Các chỉ số kê đơn điều trị cho bệnh nhân ngoại trú
- Số thuốc trung bình: Liên quan đến sử dụng thuốc an toàn, hợp lý,
các cơ sở y tế cần quan tâm đến sự phân bố thuốc sử dụng trong đơn nhằm đánh giá việc thực hiện kê đơn của thầy thuốc
Cách tính:
Lấy tổng số thuốc sử dụng trong tổng số đơn nghiên cứu chia cho tổng
số đơn thuốc khảo sát
- Tỷ lệ thuốc được kê theo tên gốc: Viết tên thuốc theo tên chung quốc
tế (INN, generic name) hoặc nếu ghi tên biệt dược phải ghi tên chung quốc
Trang 3021
tế trong ngoặc đơn (trừ trường hợp thuốc có nhiều hoạt chất), có 2 giá trị:
+ Đơn ghi đầy đủ theo tên chung quốc tế (Generic name, INN) hoặc ghi theo tên biệt dược có kèm tên chung quốc tế
+ Đơn ghi không đầy đủ theo tên chung quốc tế (Generic name, INN) hoặc chỉ ghi theo tên biệt dược
Cách tính:
Tỷ lệ này được tính bằng cách lấy tổng số đơn thuốc được kê theo tên gốc chia cho tổng số đơn thốc khảo sát, nhân với 100
- Tỷ lệ đơn thuốc có kê thuốc kháng sinh: Nhằm đánh giá mức độ sử
dụng thuốc kháng sinh, có 2 giá trị:
+ Đơn thuốc có kê kháng sinh
+ Đơn thuốc không có kê kháng sinh
Cách tính:
Tỷ lệ này được tính bằng cách lấy tổng số đơn thuốc có kê kháng sinh hoặc không kê kháng sinh chia cho tổng số đơn thốc khảo sát, nhân với 100
- Số thuốc kháng sinh trung bình: Số thuốc kháng sinh trung bình được
kê trong một đơn thuốc
+ Đơn thuốc có kê vitamin
+ Đơn thuốc không có kê vitamin
Cách tính:
Tỷ lệ này được tính bằng cách lấy tổng số đơn thuốc có kê vitamin
Trang 3122
hoặc không kê vitamin chia cho tổng số đơn thốc khảo sát, nhân với 100
- Tỷ lệ thuốc thiết yếu được kê: Nhằm đánh giá mức độ thực hành kê
đơn thuốc theo chính sách thuốc quốc gia, có 2 giá trị:
+ Đơn thuốc có kê hoàn toàn là thuốc thiết yếu
+ Đơn thuốc có ít nhất một thuốc không thuộc danh mục thuốc thiết yếu
Cách tính:
Tỷ lệ này được tính bằng cách lấy tổng số đơn thuốc có kê hoàn toàn là thuốc thiết yếu hoặc không kê hoàn toàn là thuốc thiết yếu chia cho tổng số đơn thốc khảo sát, nhân với 100
- Tương tác thuốc: Nhằm đánh giá mức độ thực hành kê đơn thuốc đảm
bảo tính an toàn cho người bệnh, có 2 giá trị:
+ Đơn thuốc có tương tác thuốc
+ Đơn thuốc không có tương tác thuốc
Cách tính:
Tỷ lệ này được tính bằng cách lấy tổng số đơn thuốc có tương tác thuốc hoặc không tương tác thuốc chia cho tổng số đơn thốc khảo sát, nhân với 100
- Mức độ tương tác: Xác định tỷ lệ các mức tương tác thuốc trong tổng
số các cặp tương tác thuốc xuất hiện trong các đơn thuốc bằng cách tiếp cận các đơn thuốc được kê, dùng phần mềm và các tài liệu giúp xét loại tương tác
có thể có trong đơn thuốc và xếp các cặp tương tác theo mức độ
Cách đánh giá: Tra cứu tương tác thuốc bằng cách sử dụng phần mềm
http://reference.medscape.com/drug-interactionchecker Tương tác thuốc được chia làm 3 mức độ:
+ Nghiêm trọng + Trung bình
Trang 3223
+ Nhẹ
- Thời gian điều trị trung bình: Thời gian trung bình cho một đơn thuốc
nhằm đánh giá độ dài đợt điều trị cho bệnh nhân
Cách tính:
Lấy tổng số ngày điều trị của các đơn thuốc trong nghiên cứu chia cho tổng số đơn thuốc khảo sát
2.2.4.2 Tỷ lệ kê đơn thuốc hợp lệ theo qui chế kê đơn của Bộ Y Tế
Căn cứ Thông tư 05/2016/TT-BYT ngày 29 tháng 2 năm 2016 quy định
về kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú do Bộ Y Đề tài đánh giá việc thực hiện quy chế kê đơn thuốc của bệnh nhân điều trị ngoại trú dựa trên chỉ số nghiên cứu sau đây [7]:
Thông tin chung đơn thuốc
Thông tin bệnh nhân:
- Tên bệnh nhân: Gồm 2 giá trị
+ Có ghi đầy đủ họ, tên bệnh nhân
+ Không ghi đầy đủ họ, tên bệnh nhân
Cách tính:
Tỷ lệ này được tính bằng cách lấy số đơn thuốc có ghi đầy đủ họ, tên bệnh nhân chia cho tổng số đơn thuốc khảo sát, nhân với 100
- Độ tuổi của bệnh nhân: Gồm 2 giá trị
+ Có ghi tuổi bệnh nhân
+ Không ghi tuổi bệnh nhân
Cách tính:
Tỷ lệ này được tính bằng cách lấy số đơn thuốc có ghi tuổi bệnh nhân chia cho tổng số đơn thuốc khảo sát, nhân với 100
- Giới: Gồm 2 giá trị
Trang 3324
+ Có ghi giới tính bệnh nhân
+ Không ghi giới tính bệnh nhân
Cách tính:
Tỷ lệ này được tính bằng cách lấy số đơn thuốc có ghi giới tính bệnh nhân chia cho tổng số đơn thuốc khảo sát, nhân với 100
- Địa chỉ: Gồm 2 giá trị
+ Có ghi đầy đủ địa chỉ bệnh nhân
+ Không ghi đầy đủ địa chỉ bệnh nhân
- Thời gian: Gồm 2 giá trị
+ Có ghi thời gian khám chữa bệnh
+ Không ghi thời gian khám chữa bệnh
Trang 3425
Cách tính:
Tỷ lệ này được tính bằng cách lấy số đơn thuốc có gạch chéo phần đơn còn trắng chia cho tổng số đơn thuốc khảo sát, nhân với 100
- Ký và ghi họ tên bác sĩ: Gồm 2 giá trị
+ Có ký và ghi đầy đủ họ tên
+ Không ký hoặc ghi đầy đủ họ tên
Cách tính:
Tỷ lệ này được tính bằng cách lấy số đơn thuốc có ký và ghi đầy đủ họ tên chia cho tổng số đơn thuốc khảo sát, nhân với 100
Hướng dẫn sử dụng thuốc:
- Số lượng, hàm lượng thuốc: Gồm 2 giá trị
+ Có ghi đầy đủ số lượng và hàm lượng thuốc
+ Không ghi đầy đủ số lượng và hàm lượng thuốc
Cách tính:
Tỷ lệ này được tính bằng cách lấy số đơn thuốc có ghi đầy đủ số lượng
và hàm lượng thuốc chia cho tổng số đơn thuốc khảo sát, nhân với 100
- Cách dùng, liều dùng: Gồm 2 giá trị
+ Có ghi rõ liều dùng và cách dùng thuốc
+ Không ghi rõ liều dùng và cách dùng thuốc
Cách tính:
Tỷ lệ này được tính bằng cách lấy số đơn thuốc có ghi rõ liều dùng và cách dùng thuốc chia cho tổng số đơn thuốc khảo sát, nhân với 100
- Thời gian dùng thuốc: Gồm 2 giá trị
+ Có ghi rõ thời gian dùng thuốc
+ Không ghi rõ thời gian dùng thuốc
Cách tính:
Trang 3526
Tỷ lệ này được tính bằng cách lấy số đơn thuốc có ghi rõ thời gian dùng thuốc chia cho tổng số đơn thuốc khảo sát, nhân với 100
Tỷ lệ kê đơn thuốc hợp lệ theo qui chế kê đơn của Bộ Y tế
- Số thuốc trung bình: Có 2 giá trị
+ Hợp lệ: Theo khuyến cáo của WHO, chỉ số này nên từ 1,5 - 2 thuốc vì tỷ lệ các phản ứng có hại tăng lên theo cấp số nhân khi kết hợp nhiều loại thuốc [47]
+ Chưa hợp lệ: Nằm ngoài chỉ số từ 1,5 – 2 thuốc
- Tỷ lệ thuốc được kê theo tên gốc: có 2 giá trị
+ Hợp lệ: Ghi đúng theo tên gốc
+ Chưa hợp lệ: Ghi tên biệt dược không có tên gốc đi kèm
- Tỷ lệ đơn thuốc có kê thuốc kháng sinh: có 2 giá trị
+ Hợp lệ: Theo khuyến cáo của WHO, chỉ số này nên từ 20 - 30% [47]
+ Chưa hợp lệ: Tỷ lệ kháng sinh trên 30%
- Tỷ lệ thuốc thiết yếu được kê:
+ Hợp lệ: Theo tiêu chuẩn đánh giá của BYT, tất cả các chỉ số trong đơn điều trị ngoại trú đều thuộc danh mục thuốc thiết yếu
+ Chưa hợp lệ: Có ít nhất một loại thuốc nằm ngoài danh mục
- Thời gian đợt điều trị
+ Hợp lệ: Theo tiêu chuẩn đánh giá của BYT, độ dài đợt điều trị
từ 1 - 7 ngày đối với các trường hợp người kê đơn tiên lượng người bệnh (trường hợp các bệnh mạn tính thì số ngày điều trị tối đa là 30 ngày)
+ Chưa hợp lệ: Lớn hơn 7 ngày (các bệnh mạn tính kê hơn 30 ngày)
- Tỷ lệ kê đơn thuốc hợp lệ theo qui chế kê đơn
Trang 3627
Là đơn thuốc đúng về thông tin chung, hướng dẫn sử dụng và đúng về chuyên môn
2.2.5 Kỹ thuật thu thập số liệu
- Chuẩn bị đối tượng nghiên cứu: là các đơn thuốc điều trị ngoại trú tại tại bệnh xá công an tỉnh Sóc Trăng từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 2 năm
2018 thỏa các tiêu chuẩn chọn mẫu
- Công cụ thu thập số liệu: Là bảng kiểm được thiết kế sẵn dựa theo các nội dung nghiên cứu
- Cách thu thập số liệu: Dựa vào các nội dung trong đơn thuốc rồi đánh vào bảng kiểm đã thiết kế sẵn
- Tiêu chuẩn sử dụng: dựa vào Thông tư số 05/2016/TT-BYT ngày 29 tháng 02 năm 2016 của Bộ Y tế về việc “Quy định về kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú” [9] Thông tư số 21/2013/TT - BYT ngày 08 tháng 08 năm 2013 Quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện [7]
2.3 Kỹ thuật hạn chế sai số
- Người thực hiện đề tài trực tiếp thu thập số liệu
- Các bảng kiểm sau khi thu thập sẽ được kiểm tra lại lần hai so với nội dung của đơn thuốc, sau đó bảng kiểm và đơn thuốc sẽ được kẹp chung lại để tránh nhầm lẫn số liệu
2.4 Xử lý và phân tích số liệu
Sau khi thu thập đầy đủ số liệu, tiến hành kiểm tra và làm sạch số liệu
Số liệu được nhập và xử lý bằng phầm mềm spss 18.0
Các số liệu được trình bày dưới dạng bảng, biểu đồ
Các biến số ngày kê đơn, họ tên bệnh nhân, địa chỉ bệnh nhân, họ tên bác sỹ kê đơn, số ngày điều trị, các nội dung liên quan đến thủ tục hành chính khác được biểu diễn tần số, tỷ lệ
Trang 3728
Các biến số về số lượng, số ngày điều trị, chi phí được tính giá trị trung bình
2.5 Đạo đức trong nghiên cứu
- Công trình nghiên cứu tiến hành một cách trung thực và nghiêm túc
- Nghiên cứu được sự cho phép của Ban lãnh đạo bệnh xá công an tỉnh Sóc Trăng
- Những kết quả sau khi hoàn thành nghiên cứu, các ý kiến đề xuất được sử dụng vào mục đích nâng cao công tác khám chữa bệnh tại cơ quan
- Nghiên cứu không làm ảnh hưởng đến công tác khám chữa bệnh của bệnh xá công an tỉnh Sóc Trăng cũng như các bệnh nhân đến khám chữa bệnh
Trang 3829
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đề tài khảo sát 400 đơn thuốc tại bệnh xá công an tỉnh Sóc Trăng Tiến hành xử lý và phân tích số liệu thu được kết quả như sau:
3.1 Các chỉ số kê đơn điều trị cho bệnh nhân ngoại trú
dưới đây
3.1.1 Tỷ lệ Phân bố số thuốc trong đơn thuốc
Biểu đồ 3.1 Phân bố số thuốc trong đơn thuốc
Nhận xét:
Tỷ lệ đơn thuốc có 6 loại thuốc chiếm tỷ lệ cao nhất với 37,2%, tiếp đến là tỷ lệ có 5 loại thuốc với 29,5%, tỷ lệ có 4 loại thuốc là 20,0%,…và tỷ lệ
Trang 3930
thấp nhất là có 1 loại thuốc với 0,8%
3.1.2 Tỷ lệ thuốc được kê theo tên gốc
Bảng 3.1 Tỷ lệ đơn ghi theo tên chung quốc tế (Generic name, INN)
Nhận xét:
Tỷ lệ đơn thuốc có thuốc được ghi theo tên gốc là 100%
3.1.3 Tỷ lệ đơn thuốc có kê thuốc kháng sinh
Bảng 3.2 Tỷ lệ đơn thuốc có kê thuốc kháng sinh
Đơn thuốc có kê thuốc
Trang 4031
3.1.4 Tỷ lệ đơn thuốc có kê vitamin
Bảng 3.3 Tỷ lệ đơn thuốc có kê vitamin
Đơn thuốc không có kê
3.1.5 Tỷ lệ đơn thuốc có kê thuốc thiết yếu
Bảng 3.4 Tỷ lệ đơn thuốc có kê thuốc thiết yếu
Đơn thuốc kê hoàn toàn là
Đơn thuốc không kê hoàn
Nhận xét:
Tỷ lệ đơn thuốc được kê hoàn toàn bằng các thuốc thiết yếu là 99,7%
và có 1/400 đơn thuốc ngoài danh mục thuốc thiết yếu với tỷ lệ 0,3%