ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Toàn bộ các khu vực sản xuất trực tiếp, gián tiếp của công ty
Toàn bộ công nhân công ty
Công nhân có khám sức khỏe định kỳ năm 2011
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ Đối tượng vắng mặt trong thời điểm nghiên cứu
Các công nhân không hợp tác
Người đang mắc các bệnh cấp tính
Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu Đề tài nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang có phân tích
Chọn toàn bộ các khu vực sản xuất trực tiếp và gián tiếp tại Công ty cổ phần thủy sản Vĩnh Hoàn để đạt mục tiêu đề ra, bao gồm các khu vực chính như hành chính, tiếp nhận, sơ chế 1 và sơ chế 2, phân cỡ, xét nghiệm, tiếp hộp, đóng gói và cấp đông Việc lựa chọn toàn diện các khu vực này giúp đảm bảo quy trình sản xuất hiệu quả, đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng và tối ưu hóa hoạt động của công ty.Chọn tất cả các khu vực sản xuất trực tiếp và gián tiếp tại Công ty cổ phần thủy sản Vĩnh Hoàn nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động và đảm bảo chất lượng sản phẩm, bao gồm các khu vực như hành chính, tiếp nhận, sơ chế 1 và sơ chế 2, phân cỡ, xét nghiệm, tiếp hộp, đóng gói và cấp đông Việc này giúp tối ưu hóa quy trình sản xuất, nâng cao năng suất và duy trì tiêu chuẩn chất lượng cao của sản phẩm thủy sản.
Cho mục tiêu 2, chọn toàn bộ các công nhân thỏa tiêu chuẩn nhận vào
Cỡ mẫu nghiên cứu thực tế là 2052
2.2.3.1 Một số thông số môi trường vệ sinh lao động
Yếu tố vi khí hậu, bao gồm nhiệt độ không khí, độ ẩm và tốc độ gió, đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá chất lượng môi trường Các yếu tố này được đo đạc kỹ lưỡng và so sánh với các tiêu chuẩn do Bộ Y Tế quy định nhằm đảm bảo an toàn và sức khỏe cộng đồng.
Nhiệt độ không khí trong môi trường làm việc tại khu hành chính và khu sản xuất ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và hiệu suất lao động của nhân viên Đây là chỉ số đo lường chất lượng không khí, phản ánh mức độ phù hợp của nhiệt độ so với các tiêu chuẩn vệ sinh quy định Nhiệt độ không khí trong môi trường lao động có hai mức giá trị chính: đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép và không đạt tiêu chuẩn vệ sinh, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn và sự thoải mái của người lao động Việc duy trì nhiệt độ phù hợp theo tiêu chuẩn không chỉ giúp đảm bảo sức khỏe người lao động mà còn nâng cao năng suất làm việc và giảm thiểu rủi ro tai nạn lao động.
+ Đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép: Nhiệt độ tại khu vực sản xuất là
+ Không đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép: Là nhiệt độ tại khu vực sản xuất là > 32 0 C
Độ ẩm không khí thể hiện khả năng chứa nước của không khí, phản ánh tỷ lệ phần trăm nước còn lại để đạt đến trạng thái bão hòa Theo tiêu chuẩn vệ sinh lao động, độ ẩm tương đối tại khu vực sản xuất không vượt quá 80%, nhằm duy trì môi trường làm việc an toàn và thoải mái Việc kiểm soát độ ẩm phù hợp giúp giảm thiểu nguy cơ gây hại cho sức khỏe người lao động và đảm bảo chất lượng sản phẩm.
+ Đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép khi nhiệt độ tại khu vực sản xuất là
+ Không đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép khi nhiệt độ tại khu vực sản xuất là > 80%
Các yếu tố vật lý khác:
Trong môi trường làm việc, cường độ tiếng ồn được đo bằng đơn vị decibel A (dBA), phản ánh mức độ âm thanh hỗn độn truyền qua không khí Tiếng ồn có cường độ càng lớn và thời gian tiếp xúc càng lâu thì nguy cơ gây hại cho sức khỏe càng tăng, đặc biệt là các vấn đề về thính lực Theo tiêu chuẩn vệ sinh lao động, mức tiếng ồn trong khu vực sản xuất không được vượt quá 85dBA để đảm bảo an toàn cho người lao động.
+ Đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép khi cường độ tiếng ồn tại các khu vực sản xuất ≤ 85 dBA
+ Không đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép khi cường độ tiếng ồn tại các khu vực sản xuất >85 dBA
Cường độ chiếu sáng trong môi trường lao động là lượng photon của các bức xạ có bước sóng từ 380-760 nm mà mắt người có thể nhìn thấy, lan truyền dưới dạng sóng điện từ với tốc độ 3×10^8 m/s Theo tiêu chuẩn vệ sinh lao động, cường độ chiếu sáng tại khu vực sản xuất không vượt quá 200 Lux để đảm bảo an toàn và hiệu quả công việc.
+ Đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép khi cường độ chiếu sáng tại khu vực sản xuất là ≥ 200 Lux
+ Không đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép khi cường độ chiếu sáng tại khu vực sản xuất là < 200 Lux
2.2.3.2 Phân loại sức khỏe của công nhân
Đặc điểm chung của công nhân
- Họ tên: là biến định danh, được xác định thông qua phỏng vấn
- Tuổi: là biến định lượng, được tính dựa vào năm sinh của đối tượng đến thời điểm thu thập số liệu
- Giới: là biến nhị giá, bao gồm 2 giá trị:
- Dân tộc: là biến định danh, biến số bao gồm 4 giá trị:
- Trình độ văn hóa: là biến thứ bậc, được định nghĩa là số năm học hoàn tất, biến số bao gồm 5 giá trị là:
+ Không biết chữ: không học hoặc học chưa hết lớp 1 + Cấp 1: học lớp 1 đến lớp 5
+ Cấp 2: học lớp 6 đến hết lớp 9 + Cấp 3: học lớp 9 đến lớp 12 + Trung cấp/ĐH/CĐ/sau ĐH
- Tuổi nghề: là biến định lượng, được tính theo ngày tháng năm đối tượng bắt đầu làm việc đến ngày thu thập số liệu
Bộ phận công tác là biến định danh quan trọng, ghi rõ tên phân xưởng, tổ làm việc và phân loại khu vực làm việc thuộc bộ phận trực tiếp hay gián tiếp Việc xác định rõ bộ phận công tác giúp quản lý nhân sự và hoạt động sản xuất hiệu quả hơn, đồng thời tối ưu hóa quá trình phân luồng lao động trong doanh nghiệp.
Bộ phận gián tiếp là thủ kho, bảo vệ, tổ chức, hành chánh và tài vụ; còn lại là bộ phận trực tiếp Có 2 giá trị:
-Khu vực làm việc: có 9 giá trị
Sức khỏe của công nhân được đánh giá dựa trên các chỉ số thể lực như chiều cao, cân nặng, vòng ngực, cùng với các yếu tố về sức khỏe tổng quát Chất lượng sức khỏe thể lực được phân loại thành năm mức độ từ I đến V theo quy định của Bộ Y tế (QĐ 1613/BYT-QĐ, ngày) Việc kiểm tra và đánh giá sức khỏe giúp đảm bảo công nhân duy trì thể lực tốt, góp phần nâng cao năng suất lao động và giảm thiểu rủi ro tai nạn lao động Chuẩn đoán sức khỏe thể lực phù hợp là yếu tố quan trọng để xác định khả năng làm việc của công nhân, đặc biệt trong các ngành nghề requiring physical durability.
Các yếu tố liên quan sức khỏe công nhân
* Phương tiện phòng hộ cá nhân
- Công ty qui định thực hiện vệ sinh tại nơi làm việc sản xuất khi : Có 4 giá trị :
+ Cuối giờ làm việc +Luôn thường xuyên + Định kỳ cùng lúc với dừng máy móc để bảo dưỡng + Không thực hiện
- Nơi chịu trách nhiệm cấp trang bị phương tiện phòng hộ cá nhân: biến định tính, có 3 giá trị: o Nhà máy o Tự cá nhân mua o Không có loại nào
Thời gian sử dụng trang bị phương tiện phòng hộ lao động cá nhân được tính từ ngày bắt đầu công việc tại công ty cho đến thời điểm hiện tại, là một biến định lượng đo bằng năm Việc theo dõi số năm sử dụng giúp đảm bảo an toàn lao động và thực hiện đúng quy định về bảo hộ cá nhân Thời gian sử dụng hợp lý của trang bị phòng hộ phòng tránh nguy cơ hỏng hóc, đảm bảo tính hiệu quả trong công việc Hạn sử dụng của dụng cụ phòng hộ cá nhân cần được kiểm tra định kỳ để đảm bảo tính an toàn tối đa cho người lao động.
Việc mang phương tiện phòng hộ cá nhân trong thời gian làm việc là yếu tố quan trọng giúp bảo vệ sức khỏe người lao động Nhân viên có thói quen mang phương tiện phòng hộ hàng ngày sẽ giảm thiểu rủi ro và đảm bảo an toàn lao động, trong khi những người không thực hiện việc này sẽ đối mặt với nguy cơ tai nạn và chấn thương cao hơn Việc duy trì thói quen mang phương tiện phòng hộ cá nhân hàng ngày không chỉ nâng cao ý thức tự bảo vệ mà còn góp phần xây dựng môi trường làm việc an toàn, hiệu quả.
- Khả năng phòng ngừa bệnh tật khi trang bị phương tiện phòng hộ cá nhân: biến nhị giá: o Có o Không
- Mang trang bị phương tiện phòng hộ cá nhân khi tiếp xúc với môi trường lao động: biến nhị giá o Có o Không
- Trang bị bảo hộ lao động: biến nhị giá o Có o Không
Qụần áo BHLĐ Khẩu trang tốt Tạp dề
Mặt nạ Dây an toàn
Găng tay Nón Kính bảo vệ mắt Ủng Khác
- Thời gian làm việc trung bình một ngày làm việc: tính bằng giờ đồng hồ
- Số tiếng làm việc trong một ca: tính bằng giờ đồng hồ
- Thời gian nghỉ giữa ca: tính bằng phút
* Thực hiện VSATLĐ tại công ty
- Tham gia tập huấn về công tác vệ sinh an toàn lao động do công ty tổ chức trong năm qua: biến nhị giá: o Có o Không
- Công ty kiểm tra an toàn lao động hàng năm: biến nhị giá: o Có o Không
- Bao nhiêu tháng tham gia lớp tập huấn 1 lần
- Nơi làm việc có cán bộ công ty kiểm tra an toàn lao động hàng năm: biến nhị giá: o Có o Không
- Đo đạc môi trường lao động hàng năm: biến nhị giá: o Có o Không
- Cải thiện điều kiện vệ sinh lao động khi các thông số môi trường vượt tiêu chuẩn cho phép: biến nhị giá o Có o Không
- Tai nạn lao động xảy ra tại nơi làm việc trong 12 tháng qua: biến nhị giá o Có o Không
* Kiến thức ATVSLĐ của công nhân:
Các yếu tố môi trường như tiếng ồn, bụi, nhiệt độ nóng, ẩm đều gây tác hại nghiêm trọng khi vượt quá ngưỡng cho phép, ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động, gây ra các vấn đề về tai biến, bệnh hô hấp và mệt mỏi Ngoài ra, môi trường ô nhiễm còn tác động tiêu cực đến chất lượng sản phẩm, làm giảm hiệu quả sản xuất và gây thiệt hại về kinh tế Việc không kiểm soát tốt các yếu tố này sẽ gây ra những hậu quả không rõ ràng, khó lường, ảnh hưởng đến an toàn và năng suất lao động.
- Lợi ích của việc khám sức khỏe định kỳ: biến định tính, có 3 giá trị o Phát hiện sớm bệnh o Thực hiện theo qui định nhà nước o Không biết
Nơi công nhân nhận được thông tin về vệ sinh an toàn lao động bao gồm các nguồn biến định danh như từ công ty, truyền hình, sách báo, bạn bè hoặc các nguồn khác Để đảm bảo an toàn lao động hiệu quả, doanh nghiệp cần cung cấp thông tin rõ ràng và đáng tin cậy cho công nhân từ các kênh chính thống như công ty, đồng thời khuyến khích họ tiếp cận các nguồn thông tin bổ sung như truyền hình, sách báo hoặc từ người thân, bạn bè Việc đa dạng hóa các nguồn truyền tải thông tin giúp nâng cao nhận thức và đảm bảo an toàn lao động cho nhân viên một cách toàn diện.
2.2.3.3 Mức độ phù hợp của sự bố trí nhân lực theo tình trạng sức khỏe và bệnh tật của công nhân theo phân loại bệnh tật của Bộ y tế
- Dựa theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế để phân loại sức khỏe cho toàn bộ công nhân
- Loại I: Cả 3 chỉ tiêu đạt loại I và chỉ có vòng ngực loại II
- Loại II: Cả 3 chỉ tiêu đều đạt loại I và II hoặc có vòng ngực loại III
- Loại III: Cả 3 chỉ tiêu đều đạt loại III trở lên
- Loại IV: Có 1 chỉ tiêu ở loại IV
- Loại V: Có 1 chỉ tiêu ở loại V
* Tiêu chuẩn phân loại sức khỏe theo thể lực và cơ quan (QĐ 1613/BYT-QĐ, ngày 15/8/1997)[47]
+ Loại I (Rất khỏe): Cả 13 chỉ tiêu đều đạt loại I
Trong các loại tình trạng sức khỏe, Loại II (Khỏe) yêu cầu ít nhất một chỉ số đạt mức thấp nhất là Loại II để được đánh giá là khỏe mạnh Đối với các mức trung bình, Loại III (Trung bình), chỉ cần một trong các chỉ số thấp nhất thuộc loại này Trong trường hợp yếu hơn, Loại IV (Yếu), chỉ số thấp nhất cần nằm trong phạm vi loại IV để xác định tình trạng sức khỏe Cuối cùng, đối với mức rất yếu, Loại V, chỉ cần một chỉ số thấp nhất cũng đã đủ để phân loại là rất yếu.
- Thống kê những công nhân sức khỏe loại IV (loại yếu) và V (rất yếu) hiện đang làm việc tại Công ty
- Xác định những vị trí, khu vực được bố trí làm việc của những công nhân sức khỏe loại IV và V
- Xác định cường độ lao động ở những khu vực, vị trí đó? Cường độ có cao, rất cao hay có nặng nhọc không?
Việc bố trí công nhân dựa trên tình trạng sức khỏe là rất quan trọng để đảm bảo an toàn và hiệu quả làm việc Công nhân sức khỏe loại 4, 5 với tình trạng sức khỏe kém không phù hợp để làm việc trong các khu vực có cường độ lao động cao như sơ chế 1, sơ chế 2 và khu vực phân cỡ Do đó, cần xác định rõ mức độ phù hợp của việc bố trí lao động dựa trên khả năng sức khỏe để tránh gây rủi ro và giảm năng suất lao động từng bước.
*Kết quả khám sức khỏe
- Thể lực: có 3 giá trị
+ Chiều cao: là biến số định lượng thể hiện số đo của một cá thể, được tính theo đơn vị cm
+ Cân nặng: là biến số định lượng thể hiện khối lượng của một cá thể, được tính theo đơn vị kg
+ Vòng ngực: là biến số định lượng, được tính theo đơn vị cm
- Kết quả khám tổng quát: có 2 giá trị
2.2.4 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
2.2.4.1 Công cụ thu thập số liệu
- Sử dụng các thiết bị đo đạc thông số vệ sinh lao động bao gồm:
+ Máy đo nhiệt độ hiệu CANAM của Đức
+ Máy đo ánh sáng hiệu CANAM của Đức
+ Máy đo tiếng ồn hiệu CANAM của Đức
+ Máy đo độ ẩm hiệu CANAM của Đức
- Phiếu khảo sát tình hình vệ sinh lao động (phụ lục 1)
- Phiếu đo đạc môi trường lao động ( Phụ lục 2)
- Phiếu điều tra sức khỏe công nhân (Phụ lục 3)
2.2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu
Đo đạc các thông số vệ sinh lao động theo quy chuẩn kỹ thuật của Viện vệ sinh Y tế Công cộng năm 2008 nhằm đảm bảo điều kiện làm việc an toàn và phòng ngừa bệnh nghề nghiệp Sau khi có kết quả, các số liệu này được sử dụng để đưa ra các quyết định phù hợp theo Quyết định số 3733/2002/QĐ-BYT ngày 10/10/2002, nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ sức khoẻ người lao động.
Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu tại Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ phải tuân thủ theo quy trình xét duyệt của Hội đồng đạo đức, chỉ được thực hiện sau khi được phê duyệt chính thức Các số liệu thống kê phải trung thực, khách quan và đảm bảo không vi phạm đạo đức nghiên cứu để đảm bảo tính chính xác và đáng tin cậy của kết quả.
Trong nghiên cứu khoa học, việc tuân thủ các nguyên tắc cốt lõi như dựa trên cơ sở khoa học, có tính pháp lý, giá trị thực tiễn và bảo đảm các qui định đạo đức là vô cùng quan trọng Để đánh giá một nghiên cứu một cách toàn diện, người nghiên cứu cần xem xét toàn diện các vấn đề và đảm bảo các nguyên tắc nghiên cứu khoa học, phản ánh các tính chất cơ bản của đạo đức trong nghiên cứu Vấn đề đạo đức không chỉ thể hiện qua tính nhân đạo mà còn thông qua tính khoa học, tính pháp lý và giá trị thực tiễn của nghiên cứu đó.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm chung
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ giới tính của các công nhân Nhận xét:
Số công nhân nữ nhiều hơn gấp rưởi số công nhân nam
Bảng 3.1 Tuổi đời của toàn bộ các công nhân
Tuổi của công nhân từ 25-34 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất 48,5%, kế đến là ≤ 25 Số công nhân ≥ 35 có tỷ lệ rất thấp 5,5%
Bảng 3.2 Thâm niên công tác của công nhân
Thâm niên công tác của công nhân chủ yếu < 5 năm, chiếm 91,3% 8,7% con lại từ 5 năm trở lên
Bảng 3.3 Tỷ lệ các công nhân làm việc trong các khu vực
Trong các khu vực sản xuất, tỷ lệ công nhân làm việc tập trung cao nhất ở khu sơ chế 2 với 50,7%, chứng tỏ đây là khu vực có hoạt động chủ đạo Kế đến là khu vực đóng gói, chiếm 28,1%, cho thấy vai trò quan trọng trong quá trình hoàn thiện sản phẩm Ngoài ra, các khu sơ chế 1 và phân cỡ lần lượt chiếm 7,7% và 3,9%, đóng góp không nhỏ vào hoạt động sản xuất tổng thể Trong khi đó, tỷ lệ công nhân làm việc thấp nhất chỉ 0,7% nằm ở khu xét nghiệm, phản ánh tính chất đặc thù của khu vực này trong quy trình sản xuất.
3.2 Các kết quả khảo sát yếu tố vật lý của môi trường làm việc:
3.2.1 Yếu tố vi khí hậu vào 2 mùa nắng và mưa
Bảng 3.4 Dao động nhiệt độ giữa 2 mùa nắng và mưa
Nhiệt độ mùa nắng Nhiệt độ mùa mưa
Trong mùa nắng, nhiệt độ trung bình cao nhất đạt 27,4°C tại khu vực xét nghiệm, trong khi thấp nhất là 22°C tại khu vực phân cỡ Vào mùa mưa, nhiệt độ trung bình cao nhất cũng ở mức 26,2°C tại khu vực xét nghiệm và thấp nhất vẫn là 22°C tại khu vực phân cỡ Nhiệt độ trung bình giữa hai mùa dao động nhẹ, từ 0,1 đến 0,9°C theo các thời điểm quan trắc, cho thấy sự ổn định về điều kiện nhiệt độ trong khu vực.
So với chuẩn = 5 năm có SK loại I cao nhất là 56,4% và SK loại 1 thấp nhất ở nhóm < 2 năm
Tỷ lệ SK loại II cao nhất ở thâm niên công tác 2- 5 năm là 23% và thấp nhất ở thâm niên công tác >= 5 năm là 15,6%
Tỷ lệ SK ở loại III cao nhất là 23,3% ở nhân viên có thăm niên < 2 năm và thấp nhất là 17,8% ở nhóm có thăm niên 2- 5 năm
Tỷ lệ SK ở loại IV cao nhất là 9,6% ở nhóm có thăm niên < 2 năm và thấp nhất là 4,5% ở nhóm nhân viên thăm niên >= 5 năm
Tỷ lệ SK ở loại V cao nhất là 5,9% ở nhóm có thăm niên < 2 năm và thấp nhất là 0,9% ở nhóm có thăm niên 2- 5 năm
Bảng 3.18 Liên quan giữa sức khoẻ thể lực và khu vực làm việc
Khu vực làm việc Phân loại sức khoẻ thể lực theo BYT Tổng cộng P
Có mối liên quan giữa sức khoẻ thể lực và khu vực làm việc (P=0,001)
Tỷ lệ thể lực loại I chiếm tới 89% tại khu vực tiếp nhận, cho thấy đây là khu vực có sức khỏe tốt nhất Trong khi đó, các khu vực cấp đông, tiếp nhận và hành chính có tỷ lệ thể lực loại I lần lượt là 82%, 73% và 66,3%, phản ánh mức độ sức khỏe khá cao nhưng giảm dần theo các khu vực Khu vực sơ chế 2 có tỷ lệ thể lực loại I thấp nhất chỉ đạt 33,9%, cho thấy tình trạng sức khỏe của nhân viên tại đây cần được chú trọng và cải thiện.
Tỷ lệ thực lực loại II chiếm 26,7% ở khu vực xếp hộp, cho thấy đây là khu vực có mức độ cạnh tranh cao Kế đến là các khu vực đóng gói, sơ chế 2 và sơ chế 1 với tỷ lệ lần lượt là 24%, 22,8% và 21,5%, phản ánh mức độ phát triển trung bình trong các hoạt động sản xuất Trong khi đó, khu vực tiếp nhận có tỷ lệ thấp nhất chỉ 5,3%, cho thấy đây là khu vực có năng lực thực lực hạn chế hơn so với các khu vực khác.
Trong khu vực xét nghiệm, tỷ lệ thực lực loại III chiếm 28,6%, cho thấy mức độ phổ biến cao Khu vực sơ chế 2 và tiếp hộp, đóng gói lần lượt có tỷ lệ là 28,5%, 16,7% và 12,2%, phản ánh quá trình xử lý và đóng gói sản phẩm Tỷ lệ thấp nhất ghi nhận tại khu vực cấp đông, chỉ đạt 4,4%, cho thấy việc bảo quản lạnh là phần ít phổ biến hơn trong quy trình.
Trong khu vực sơ chế 2, tỷ lệ thực lực loại IV chiếm đến 10,6%, phản ánh mức độ phù hợp của lao động với quy trình sản xuất Khu vực đóng gói và tiếp hộp có tỷ lệ thực lực loại IV lần lượt là 9,4% và 6,7%, cho thấy sự phân bổ nhân lực phù hợp với từng công đoạn Trong khi đó, tỷ lệ thấp nhất là 1,5% tại khu vực cấp đông, cho thấy quy trình này có yêu cầu cao hơn về kỹ năng và trình độ nhân viên.
Tỷ lệ thực lực loại V chiếm 4,2% tại khu vực sơ chế 2, cho thấy đây là khu vực có mức độ cạnh tranh cao Trong khi đó, các khu vực phân cỡ và đóng gói có tỷ lệ thực lực loại V lần lượt là 2,5% và 2,1%, phản ánh sự phân bổ lực lượng khác nhau trong quy trình sản xuất Tỷ lệ thấp nhất của thực lực loại V là 1,3% tại khu vực sơ chế 1, điều này cho thấy sự khác biệt đáng kể về năng lực giữa các khu vực sơ chế trong quy trình sơ chế và đóng gói.
3.4.2 Mối liên quan giữa một số bệnh chung và khu vực làm việc Bảng 3.19 Mối liên quan giữa bệnh chung và khu vực làm việc
Khu vực làm việc Bệnh chung
Tỷ lệ mắc bệnh trong toàn bộ khu vực xét nghiệm đạt hơn 50%, cụ thể là 71,4%, cao nhất trong các khu vực Các khu vực hành chính, sơ chế 1, tiếp hợp và khu phân cỡ có tỷ lệ mắc bệnh lần lượt là 58,2%, 57% và 56,7%, trong khi đó khu cấp đông và tiếp nhận có tỷ lệ mắc bệnh khoảng 54,4% và 52,6% Khu vực đóng gói ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh thấp nhất là 45,8% Tuy nhiên, sự chênh lệch về tỷ lệ mắc bệnh giữa các khu vực chưa có ý nghĩa thống kê rõ rệt.
3.4.3 Mối liên quan giữa bệnh mắt và khu vực làm việc
Bảng 3.20 Tình trạng bệnh mắt ở các khu vực làm việc
Khu vực làm việc Bệnh mắt
Tỷ lệ trung bình mắc bệnh là 12,1%, trong đó tỷ lệ mắc bệnh về mắt cao nhất là 42,9% tại khu vực xét nghiệm Các khu vực tiếp nhận, đóng gói và sơ chế lần đầu có tỷ lệ mắc bệnh lần lượt là 15,8%, 14,6% và 13,9% Khu sơ chế lần 2 ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh là 11,7%, trong khi các khu vực phân cỡ và hành chính có tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn, lần lượt là 8,8% và 6% Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm tra và phòng ngừa ở các khu vực có tỷ lệ mắc bệnh cao để đảm bảo an toàn và sức khỏe cho nhân viên trong quá trình sản xuất.
Tỷ lệ mắc bệnh thấp nhất là ở khu vực cấp đông với 1,5%
Tuy nhiên sự khác biệt về tỷ lệ mắc bệnh giữa các khu vực chưa có ý nghĩa thống kê
3.4.4 Mối liên quan giữa bệnh răng hàm mặt và khu vực làm việc
Bảng 3.21 Tình trạng bệnh RHM ở các khu vực làm việc
Khu vực làm việc Bệnh RHM Tổng cộng P
Tỷ lệ trung bình mắc bệnh 40,4%
Tỷ lệ bệnh chiếm tỷ lệ 50,7% tại khu vực hành chính, cho thấy mức độ ảnh hưởng đáng kể trong khu vực này Các hoạt động như tiếp hợp, cấp đông, phân cỡ, sơ chế lần 1 và sơ chế lần 2 ghi nhận tỷ lệ lần lượt là 50%, 50%, 45%, 43% và 40,9%, phản ánh những bước quan trọng trong quy trình xử lý Khu vực đóng gói có tỷ lệ là 35,8%, trong khi tiếp nhận đạt 31,6%, thể hiện các công đoạn này cũng đóng vai trò quan trọng trong quản lý và kiểm soát dịch bệnh.
Tỷ lệ mắc bệnh thấp nhất ở khu vực xét nghiệm 28,6%
Tuy nhiên sự khác biệt về tỷ lệ mắc bệnh giữa các khu vực chưa có ý nghĩa thống kê
3.5 Sự phù hợp trong bố trí nhân lực theo tình trạng sức khỏe thể lực của toàn bộ các công nhân
Bảng 3.22 Phân bố nhóm thể lực theo khu vực làm việc
Loại I, II, III Loại IV,V n (%) n (%)
Tình hình sức khỏe bệnh tật của công nhân
3.3.1 Xếp loại sức khỏe đối tượng
Biểu đồ 3.2 Phân loại sức khoẻ thể lực theo BYT
Thể lực chiếm tỷ lệ cao nhất trong nhóm loại I, chiếm 46%, cho thấy đây là nhóm có sức bền và khả năng duy trì hoạt động dài hạn tốt nhất Tiếp theo là nhóm loại II với tỷ lệ 22,2%, thể hiện khả năng vận động linh hoạt và phản xạ nhanh Nhóm loại III chiếm 20,3%, trong khi các nhóm loại IV và V chiếm tỷ lệ nhỏ hơn, mỗi nhóm khoảng dưới 10%, phản ánh sự phân bổ đa dạng về lực lượng thể chất trong còn lại của mẫu nghiên cứu.
3.3.2 Tình hình bệnh tật đối tượng nghiên cứu theo kết quả khám sức khỏe công nhân của công ty Vĩnh Hoàn năm 2011
Bảng 3.8 Tình hình mắc bệnh của công nhân
Mắc các bệnh Có bệnh Không bệnh
Bệnh nội tiết, tiết niệu 03 0,1 2049 99,9
Bệnh chung ( có ít nhất một bệnh ) 1104 5,1 1004 48,9
- Có 12,1% công nhân mắc chứng bệnh về mắt
- 40,4% công nhân mắc bệnh về RHM
- Mắc bệnh về tuần hoàn 0,1%
- Mắc bệnh đường nội tiết, tiết niệu 0,1%
- Mắc bệnh về hệ vận động 0,3%
- Tỷ lệ bệnh TMH và bệnh hô hấp < 0,1%
3.3.3 Một số yếu tố liên quan đến sức khỏe bệnh tật công nhân
3.3.3.1 Tình hình trang bị bảo hộ lao động
Bảng 3.9 Đặc điểm sử dụng BHLĐ của công nhân Đặc điểm sử dụng BHLĐ Tần số Tỷ lệ %
Nơi cấp trang bị phương tiện BHLĐ
Sử dụng phương tiện BHLĐ
- Nơi cấp trang bị phương tiện BHLĐ 100% là do nhà máy cung cấp
- Thời gian công nhân sử dụng trang bị phương tiện BHLĐ chủ yếu là
- 99,8% công nhân sử dụng phương tiện BHLĐ thường xuyên, không thường xuyên là 0,2%
Bảng 3.10 Tỷ lệ và % công nhân được trang bị phương tiện PHLĐCN
Trang bị phương tiện PHLĐCN Có trang bị Không trang bị
Kính bảo vệ mắt 1981 99,8 4 0,2 Ủng 1973 99,4 12 0,6
Trong lĩnh vực dược phẩm, phần lớn công nhân đều trang bị đầy đủ phương tiện bảo hộ lao động cá nhân (PHLĐCN), với tỷ lệ từ 99,4% đến 99,9% Các công nhân thường được trang bị quần áo bảo hộ lao động, khẩu trang chất lượng cao, dây an toàn, kính bảo vệ mắt và các thiết bị an toàn khác nhằm đảm bảo an toàn tối đa trong quá trình làm việc Việc sử dụng thiết bị bảo hộ đúng quy định giúp giảm thiểu nguy cơ tai nạn, bệnh nghề nghiệp và nâng cao hiệu quả sản xuất trong ngành dược.
3.3.3.2 Tình hình thực hiện VSATLĐ tại công ty
Bảng 3.11 Tình hình thực hiện ATLĐ
Tình hình thực hiện ATLĐ Có Không
Tập huấn kiến thức ATLĐ 1981 99,8 04 0,2
Môi trường lao động được đo đạc 1979 99,7 06 0,3
Có cải thiện môi trường LĐ 1981 99,8 04 0,2
- Có 99,8% công nhân có tham gia tập huấn về công tác VSATLĐ trong năm qua
- Có 99,7% công nhân được kiểm tra ATLĐ trong năm qua
- Tỷ lệ đo đạc môi trường lao động năm qua là 99,7%
- 99,8% công nhân cải thiện điều kiện VSLĐ trong năm qua
Bảng 3.12 Tình hình tai nạn lao động ở nơi làm việc năm qua
Tai nạn lao động Tần số Tỉ lệ
Không có trường hợp tai nạn lao động xảy ra trong năm 2011
3.3.4 Kiến thức công nhân về ATLĐ
Bảng 3.13 Kiến thức công nhân về ATLĐ
Kiến thức công nhân về ATLĐ Có Không
Tác dụng phòng ngừa bệnh tật khi mang
Cần mang BHLĐ khi tiếp xúc môi trường LĐ 1983 99,9 02 0,1
Biết thời gian làm việc trung bình trong ngày 1985 100 00 00
Biết số giờ làm việc trong một ca 1985 100 00 00
Biết thời gian nghỉ giữa ca 1985 100 00 00
Biết yếu tố độc hại trong môi trường LĐ 1973 99,4 12 0,6 Biết lợi ích khám sức khỏe định kỳ 1975 99,5 10 0,5
- Tỉ lệ công nhân hiểu biết về tác dụng phòng ngừa bệnh tật khi mang BHLĐ đạt 99,9%
- Có 99,9 công nhân cần mang BHLĐ khi tiếp xúc với môi trường LĐ
- 100% công nhân biết thời gian làm việc trung bình trong ngày
- 100% công nhân biết số giờ làm việc trong một ca
- 100% công nhân biết thời gian nghỉ giữa ca
- Có 99,4% biết yếu tố độc hại trong môi trường lao động
- Tỷ lệ công nhân biết lợi ít khám sức khỏe định kỳ 99,5%
Bảng 3.14 Nguồn thông tin về ATVSLĐ được nhận nhiều nhất
Nguồn thông tin về ATVSLĐ Có Không
Nguồn thông tin về ATVSLĐ được biết nhiều nhất từ công ty và tivi, sách báo chiếm 99,3%.
Mối liên quan giữa phân loại sức khỏe và yếu tố cá nhân
3.4.1 Các yếu tố liên quan đến sức khỏe, thể lực và bệnh tật của công nhân
Bảng 3.15 Liên quan giữa giới tính và sức khỏe thể lực
Phân loại sức khoẻ thể lực theo BYT
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê tỷ lệ thể lực giữa nam và nữ, với P< 0.001
Tỷ lệ sức khỏe loại I ở nam là 60,1% cao hơn ở nữ là 36,4%
Tỷ lệ sức khỏe loại II, loại III, IV ở nam lần lượt là 19,2%; 9,7% và 7,9% thấp hơn ở nữ là 23,9%; 27,5%; và 9,1%
Tỷ lệ sức khỏe thể lực loại V tương đương nhau ở nam và nữ
Bảng 3.16 Liên quan giữa sức khoẻ thể lực và tuổi
Tuổi Phân loại sức khoẻ thể lực theo BYT Tổng cộng P
Có mối liên quan giữa sức khoẻ thể lực và tuổi (p=0,000)
Sức khỏe loại I cao nhất ở nhóm tuổi >5 có là 56,3% và thấp nhất ở tuổi < 25 là 42,3%
Sức khỏe loại II cao nhất ở lứa tuổi 25-34 là 22,2%, thấp nhất ở lứa tuổi
Sức khỏe loại III cao nhất ở lứa tuổi < 25 là 22,4%, thấp nhất là 17% ở lứa tuổi ≥ 35
Sức khỏe loại IV cao nhất ở lứa tuổi < 25 là 9,7%, thấp nhất ở lứa tuổi
Sức khỏe loại V cao nhất ở lứa tuổi < 25 là 3,5% và thấp nhất là 0,9% ở lứa tuổi ≥ 35
Bảng 3.17 Liên quan giữa sức khoẻ thể lực và thâm niên công tác
Phân loại sức khoẻ thể lực theo BYT Tổng cộng P
Có mối liên quan giữa sức khoẻ thể lực và thâm niên công tác (P=0,001)
Thâm niên từ 2 đến >= 5 năm có SK loại I cao nhất là 56,4% và SK loại 1 thấp nhất ở nhóm < 2 năm
Tỷ lệ SK loại II cao nhất ở thâm niên công tác 2- 5 năm là 23% và thấp nhất ở thâm niên công tác >= 5 năm là 15,6%
Tỷ lệ SK ở loại III cao nhất là 23,3% ở nhân viên có thăm niên < 2 năm và thấp nhất là 17,8% ở nhóm có thăm niên 2- 5 năm
Tỷ lệ SK ở loại IV cao nhất là 9,6% ở nhóm có thăm niên < 2 năm và thấp nhất là 4,5% ở nhóm nhân viên thăm niên >= 5 năm
Tỷ lệ SK ở loại V cao nhất là 5,9% ở nhóm có thăm niên < 2 năm và thấp nhất là 0,9% ở nhóm có thăm niên 2- 5 năm
Bảng 3.18 Liên quan giữa sức khoẻ thể lực và khu vực làm việc
Khu vực làm việc Phân loại sức khoẻ thể lực theo BYT Tổng cộng P
Có mối liên quan giữa sức khoẻ thể lực và khu vực làm việc (P=0,001)
Tỷ lệ thể lực loại I chiếm đến 89% tại khu vực tiếp nhận, thể hiện khả năng vận động và sức khỏe tốt của cá thể ở khu vực này Trong khi đó, các khu vực cấp đông, tiếp nhận, và hành chính có tỷ lệ thể lực loại I lần lượt là 82%, 73%, và 66,3%, cho thấy sự giảm dần của tỷ lệ này theo các khu vực Đặc biệt, khu vực sơ chế 2 có tỷ lệ thể lực loại I thấp nhất chỉ đạt 33,9%, phản ánh rõ sự khác biệt về điều kiện hoặc chăm sóc sức khỏe của các cá thể ở các khu vực khác nhau.
Tỷ lệ thực lực loại II chiếm 26,7% ở khu vực xếp hộp, cho thấy mức độ cạnh tranh và năng lực sản xuất tại đây khá cao Khu vực đóng gói, sơ chế 2 và sơ chế 1 lần lượt chiếm tỷ lệ 24%, 22,8% và 21,5%, phản ánh sự đa dạng trong các công đoạn chế biến Trong khi đó, tỷ lệ thấp nhất chỉ 5,3% thuộc về khu vực tiếp nhận, thể hiện mức độ hoạt động ban đầu ít hơn so với các khu vực khác.
Tỷ lệ thực lực loại III chiếm 28,6% tại khu vực xét nghiệm, cho thấy đây là khu vực có tỷ lệ tiêu chuẩn cao Kế đến, khu vực sơ chế 2, tiếp theo là khu vực đóng hộp và đóng gói lượt, lần lượt là 28,5%, 16,7%, và 12,2% Trong khi đó, tỷ lệ thấp nhất chỉ là 4,4% tại khu vực cấp đông, phản ánh sự khác biệt về chất lượng giữa các khu vực trong quá trình xử lý.
Tỷ lệ thực lực loại IV chiếm 10,6% tại khu vực sơ chế 2, cho thấy đây là khu vực có tỷ lệ gặp phải các vấn đề về chất lượng cao nhất Trong khi đó, khu vực đóng gói và tiếp hộp có tỷ lệ thực lực loại IV lần lượt là 9,4% và 6,7%, phản ánh mức độ ổn định tương đối trong quá trình đóng gói Tỷ lệ thấp nhất chỉ đạt 1,5% tại khu vực cấp đông, cho thấy quá trình này có hiệu quả cao trong kiểm soát chất lượng.
Tỷ lệ thực lực loại V chiếm 4,2% tại khu vực sơ chế 2, cho thấy mức độ cạnh tranh cao trong khâu này Trong khi đó, tỷ lệ tại khu vực phân cỡ đạt 2,5% và khu vực đóng gói là 2,1%, phản ánh sự phân chia rõ ràng các giai đoạn trong quy trình chế biến Thấp nhất là tỷ lệ 1,3% tại khu vực sơ chế 1, cho thấy đây là bước có tỷ lệ thực lực thấp nhất trong toàn bộ quá trình.
3.4.2 Mối liên quan giữa một số bệnh chung và khu vực làm việc Bảng 3.19 Mối liên quan giữa bệnh chung và khu vực làm việc
Khu vực làm việc Bệnh chung
Tỉ lệ mắc bệnh chung của toàn bộ khu vực đều trên 50%, trong đó cao nhất là 71,4% tại khu vực xét nghiệm Các khu vực khác có tỷ lệ mắc bệnh như hành chính (58,2%), sơ chế 1 (57%), tiếp hợp (56,7%), phân cỡ (55%), cấp đông (54,4%), tiếp nhận (52,6%) và sơ chế 2 Khu vực đóng gói có tỷ lệ mắc bệnh thấp nhất với 45,8% Tuy nhiên, sự khác biệt về tỷ lệ mắc bệnh giữa các khu vực chưa có ý nghĩa thống kê rõ ràng.
3.4.3 Mối liên quan giữa bệnh mắt và khu vực làm việc
Bảng 3.20 Tình trạng bệnh mắt ở các khu vực làm việc
Khu vực làm việc Bệnh mắt
Tỷ lệ trung bình mắc bệnh là 12,1%, với tỷ lệ mắc bệnh về mắt cao nhất chiếm đến 42,9% tại khu vực xét nghiệm Các khu vực tiếp nhận, đóng gói, sơ chế lần 1 có tỷ lệ mắc bệnh lần lượt là 15,8%, 14,6% và 13,9% Khu sơ chế lần 2 ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh là 11,7%, trong khi các khu vực phân cỡ và hành chính có tỷ lệ mắc bệnh tương ứng là 8,8% và 6%.
Tỷ lệ mắc bệnh thấp nhất là ở khu vực cấp đông với 1,5%
Tuy nhiên sự khác biệt về tỷ lệ mắc bệnh giữa các khu vực chưa có ý nghĩa thống kê
3.4.4 Mối liên quan giữa bệnh răng hàm mặt và khu vực làm việc
Bảng 3.21 Tình trạng bệnh RHM ở các khu vực làm việc
Khu vực làm việc Bệnh RHM Tổng cộng P
Tỷ lệ trung bình mắc bệnh 40,4%
Tỷ lệ bệnh chiếm khoảng 50,7% tại khu vực hành chính, cho thấy mức độ ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động sản xuất Các công đoạn tiếp theo như tiếp hợp, cấp đông, phân cỡ, sơ chế lần 1 và sơ chế lần 2 đều có tỷ lệ gần nhau, lần lượt là 50%, 50%, 45%, 43% và 40,9% Khu vực đóng gói đạt tỷ lệ 35,8%, trong khi khu vực tiếp nhận chiếm khoảng 31,6%, phản ánh sự phân bố tỷ lệ bệnh và ảnh hưởng giữa các giai đoạn trong quy trình sản xuất.
Tỷ lệ mắc bệnh thấp nhất ở khu vực xét nghiệm 28,6%
Tuy nhiên sự khác biệt về tỷ lệ mắc bệnh giữa các khu vực chưa có ý nghĩa thống kê.
Sự phù hợp trong bố trí nhân lực theo tình trạng sức khỏe thể lực của toàn bộ các công nhân
Bảng 3.22 Phân bố nhóm thể lực theo khu vực làm việc
Loại I, II, III Loại IV,V n (%) n (%)
Trong toàn bộ khu vực, tỷ lệ công nhân có khả năng lực loại I, II, III đạt 88,3% Cụ thể, khu vực tiếp nhận và xét nghiệm có tỷ lệ công nhân có khả năng lao động đạt mức 100%, cho thấy năng lực cao nhất trong các khu vực Khu vực hành chính, cấp đông và sơ chế 1 có tỷ lệ công nhân có khả năng lao động lần lượt là 97%, 94,9% và 93,3%, phản ánh mức độ phù hợp lao động khá ổn định Tuy nhiên, khu vực sơ chế 2 có tỷ lệ thấp nhất là 85,2%, cho thấy cần chú trọng nâng cao kỹ năng và sức khỏe công nhân tại đây để đảm bảo hoạt động hiệu quả hơn.
Trong tổng số công nhân, tỷ lệ công nhân có khả năng lao động loại IV, V chiếm 11,7% Cụ thể, tỷ lệ công nhân tại khu vực sơ chế 2 đạt 14,8%, trong khi đó, các công nhân làm việc ở các khu vực đóng gói, phân cỡ và tiếp hộp lần lượt là 11,5%, 7,5% và 6,7% Mức thấp nhất về khả năng lao động tập trung ở khu vực hành chánh và cấp đông, chỉ đạt 3%, cho thấy sự phân bố khả năng lao động không đều giữa các khu vực trong doanh nghiệp.
Bảng 3.23 Phân bố nhóm thể lực loại IV, V theo khu vực làm việc
Nhận xét: Có tới 240 công nhân làm việc trong công ty có sức khỏe loại IV,V, trong đó đa số làm ở khu sơ chế 2 (64,1%) và khu đóng gói 27,5%
Bảng 3.24 Sự phù hợp trong bố trí nhân lực theo tình trạng sức khỏe thể lực của công nhân
Phù hợp Không phù hợp n (%) n (%)
Có 168 công nhân, chiếm 8,2%, đang làm việc trong các khu vực có cường độ lao động nặng như sơ chế và phân cỡ Những công nhân này thường có sức khỏe yếu loại IV, V, và làm việc trong các môi trường không phù hợp, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe của họ Việc hoạt động trong điều kiện lao động không phù hợp với khả năng của công nhân làm tăng nguy cơ các vấn đề về sức khỏe và giảm hiệu suất làm việc Cần có các biện pháp cải thiện điều kiện làm việc để đảm bảo an toàn và bảo vệ sức khỏe cho nhóm lao động này.
BÀN LUẬN
Tình trạng môi trường lao động
Công ty cổ phần thủy sản Vĩnh Hoàn, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, có nhiệm vụ mua bán, xuất khẩu, chế biến và tiêu thụ các mặt hàng thủy hải sản xuất khẩu Trong quá trình sản xuất kinh doanh, hoạt động của công ty đã ảnh hưởng đến môi trường xung quanh, đặc biệt là do việc sử dụng các hóa chất như clo để vệ sinh mặt bằng, vệ sinh phân xưởng, dụng cụ, thiết bị, và khử trùng nguồn nước ngoài hóa chất, cũng như các hóa chất khác như cồn, H₂O₂, NaOH, gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của công nhân Bên cạnh đó, công nhân làm việc trong môi trường lạnh, ấm ướt, nhiều mùi hôi, do đó việc đảm bảo sức khỏe cho công nhân là yếu tố vô cùng quan trọng để duy trì hoạt động sản xuất bền vững.
Phụ nữ có đặc điểm sinh học nhạy cảm, dễ tổn thương và mang thiên chức bẩm sinh trong việc thụ thai, sinh thành, nuôi dưỡng con cái Tuy nhiên, những tác động tiêu cực từ nghề nghiệp cũ mới hoặc công việc tại nơi làm việc cùng với gánh nặng gia đình đang ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của họ.
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa quanh năm ấm áp, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành thủy sản phát triển Quốc gia này sở hữu vùng đặc quyền kinh tế biển rộng lớn trên 1 triệu km², gồm gần 4.000 đảo lớn nhỏ và hơn 100 cửa sông rạch Hệ thống luồng hải lưu, nguồn phù du, rong tảo và thủy hải sản phong phú đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy ngành kinh tế thủy sản phát triển bền vững.
Ngành thủy sản Việt Nam hiện đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn với hơn 260 nhà máy chế biến thủy sản đông lạnh công suất 150.000 tấn/năm, đóng góp 10-13% vào tổng doanh thu xuất khẩu của đất nước Ngành đã phát triển nhanh chóng sau thời kỳ đổi mới, trở thành một ngành xuất khẩu lớn, góp phần đảm bảo an toàn thực phẩm và cải thiện đời sống người dân Tuy nhiên, lĩnh vực này còn nhiều tiềm năng phát triển do đầu tư còn hạn chế nhưng đồng thời cũng đối mặt với nhiều rủi ro về sức khỏe cho lao động, đặc biệt là nữ công nhân chiếm 85% trong ngành chế biến thủy sản Công việc trong môi trường lạnh, ẩm ướt, nhiều yếu tố độc hại và không khí thiếu lưu thông khiến sức khỏe của công nhân bị ảnh hưởng nghiệm trọng, dẫn đến khả năng lao động giảm sút sớm.
Thực trạng môi trường lao động của công nhân tại công ty
Các yếu tố vi khí hậu tại nơi làm việc gồm nhiệt độ, độ ẩm và các yếu tố liên quan đều ảnh hưởng đến quá trình điều hòa nhiệt của cơ thể người, sức khỏe và bệnh tật Nghiên cứu của Trình Công Tuấn (2003) cho thấy nguy cơ tiếp xúc với bụi toàn phần (>TCCP gấp 6 lần), bụi hô hấp (>TCCP gấp 3,7 lần) và hàm lượng SiO2 cao (24-42%) góp phần gây ra các bệnh phổ biến như bệnh răng hàm mặt (50,27%) và bệnh tai mũi họng, hô hấp (37,14%) Ngoài ra, nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện làm việc tới sức khỏe nam công nhân nhà máy luyện kim phát hiện rằng khi tiếp xúc với nhiệt độ cao hơn so với môi trường ngoài trời từ 0,6 đến 12,3°C, độ ẩm thấp, gió bị giới hạn, và nồng độ khí CO, CO₂, SO₂ vượt quá mức quy chuẩn, tỷ lệ mắc các bệnh về răng hàm mặt (23,44%), tai mũi họng (21,72%), tiêu hóa (14%) và mắt (9,22%) rất cao, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe công nhân.
4.2.1 Yếu tố vi khí hậu
* Dao động nhiệt độ giữa 2 mùa nắng và mưa
Trong nghiên cứu về thực trạng môi trường lao động, nhiệt độ trung bình mùa nắng cao nhất là 27,4°C, thấp nhất 22°C, còn mùa mưa cao nhất 26,2°C, thấp nhất 22°C Nhiệt độ trung bình giữa hai mùa dao động không nhiều, chỉ từ 0,1 đến 0,9°C tại các thời điểm quan trắc Tại thời điểm khảo sát, nhiệt độ tại các khu vực sản xuất của Công ty cổ phần Thủy sản Vĩnh Hoàn, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp năm 2011, đều đảm bảo vệ sinh cho phép, với 100% mẫu đo đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép trong cả hai mùa nắng và mưa.
* Dao động nhiệt độ buổi sáng và chiều tại địa điểm khảo sát
Nhiệt độ trung bình buổi sáng cao nhất đạt 26,5°C, thấp nhất 21,8°C, trong khi buổi chiều cao nhất là 27,3°C, thấp nhất 22,1°C, với dao động trung bình từ 0,1 đến 0,2°C Nhiệt độ tại các khu vực không biến động nhiều trong ngày, có xu hướng tăng nhẹ vào buổi chiều Tất cả các mẫu đo đều đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh đặt ra (đạt 100%), phù hợp với các kết quả nghiên cứu trước đó.
Nghiên cứu của Trịnh Hồng Lân, Huỳnh Thanh Hà và cộng sự đã mô tả sự biến đổi nhiệt độ trong ngày và các mùa khác nhau tại công ty may H.W – Bình Dương, cho thấy nhiệt độ tại các phân xưởng thay đổi đáng kể trong ngày Cụ thể, vào buổi chiều, nhiệt độ tại hầu hết các khu vực tăng từ 0,8 đến 2,4°C so với buổi sáng, phản ánh xu hướng nhiệt độ tăng cao hơn vào buổi chiều do biến đổi khí hậu.
Độ ẩm trung bình trong mùa nắng và mùa mưa tại các khu vực của công ty đều đạt tiêu chuẩn ≤ 80%, đảm bảo điều kiện kiểm soát độ ẩm tốt cho sản xuất Trong mùa nắng, độ ẩm cao nhất là 78,7% tại khu vực sơ chế 1, trong khi thấp nhất là 53,7% tại khu vực đóng gói Trong mùa mưa, độ ẩm trung bình nhìn chung thấp hơn so với mùa nắng, cao nhất là 75,7% tại sơ chế 2 và thấp nhất là 59,6% Sự chênh lệch độ ẩm giữa hai mùa nắng và mưa tại các khu vực dao động từ 0,2% đến 5,0%, cho thấy sự ổn định của mức độ ẩm quanh năm.
Độ ẩm trung bình buổi sáng dao động từ 53,6% đến 78,1%, trong khi đó, buổi chiều cao nhất là 75,3% và thấp nhất là 63,3% Độ ẩm trung bình giữa hai thời điểm sáng và chiều có sự biến động nhỏ, từ 0,2% đến 1,4%, đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh cho phép Cường độ chiếu sáng tại hầu hết các khu vực đều đạt tiêu chuẩn vệ sinh, cùng với đó, cường độ tiếng ồn và nhiệt độ cũng phù hợp với các quy chuẩn an toàn môi trường (100% mẫu đo) Hầu hết các khu vực đều đảm bảo mức độ ẩm phù hợp, chiếm tỷ lệ 100% mẫu đo, cho thấy điều kiện môi trường luôn duy trì ở mức an toàn và tiêu chuẩn vệ sinh.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi đều đạt chuẩn, phù hợp với các kết quả của Lê Quang Liêm về môi trường vi khí hậu tại các phân xưởng của Công ty cổ phần Đông lạnh Qui Nhơn, Công ty cổ phần Thủy sản Bình Định và Công ty cổ phần Thủy sản Hoài Nhơn Trong đó, các chỉ tiêu về nhiệt độ và độ ẩm đo tại thời điểm khảo sát đều tuân thủ các tiêu chuẩn TCVSCP [39], đảm bảo điều kiện sản xuất an toàn và chất lượng.
4.2.2 Các yếu tố vật lý
Các kết quả nghiên cứu tại công ty Vĩnh Hoàn TPCL Đồng Tháp cho thấy hầu hết các khu vực đều đạt tiêu chuẩn vệ sinh về cường độ chiếu sáng tối thiểu ≥ 200 Lux Cường độ ánh sáng trung bình tại các phân xưởng của các công ty thủy sản như cổ phần Đông lạnh Quy Nhơn (251,5 Lux) và Bình Định (326,2 Lux) đều đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn, phù hợp với TCVSCP Tuy nhiên, một số đơn vị như Công ty cổ phần thủy sản Hoài Nhơn (176 Lux) và phân xưởng cấp đông của công ty Bình Định (162 Lux) cùng phòng vận hành máy (140 Lux) tại thời điểm khảo sát không đạt tiêu chuẩn theo quy định của TCVSCP.
Khi chỉ số ánh sáng đo đạc không đạt tiêu chuẩn cho phép, có thể gây ảnh hưởng tới cơ thể ở các mức độ khác nhau, bao gồm tác động cục bộ, toàn thân hoặc đến mắt Theo nghiên cứu của Hitoshi Nakaishi và Yuichi Yamada năm 1999, việc sử dụng máy vi tính có thể gây hại cho hệ thống thị giác, khi khảo sát 722 người lao động làm việc với máy tính, phát hiện có 242 người bị khô mắt và 489 người không có triệu chứng này, nhưng đều cho thấy mối liên hệ rõ rệt giữa triệu chứng khô mắt và mỏi mắt.
Cường độ tiếng ồn ở các khu vực của công ty đều đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép ≤ 85 (dBA) Tiếng ồn các khu vực đều đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh cho phép Tiếng ồn là yếu tố bất lợi hay gặp trong môi trường lao động ở nhiều ngành nghề sản xuất Việc đưa vào sản xuất ngày càng nhiều các loại máy móc thiết bị có công suất lớn làm cho số lượng ngày càng nhiều, cường độ tiếng ồn ngày càng lớn, ảnh hưởng tiếng ồn lên cơ thể chủ yếu là cơ quan thính giác, ngoài ra có thể gây ra sự ức chế tiêu hóa, rối loạn chức năng hệ tim mạch và là nguyên nhân gây ra tai nạn lao động [64], [69] Theo nghiên cứu Nguyễn Thị Toán 2006 cho thấy mối liên quan chặt chẽ giữa tiếng ồn nơi làm việc với bệnh nghề nghiệp, tỷ lệ bệnh điếc nghề nghiệp giữa hai nhóm đối tượng làm việc ở môi trường có cường độ tiếng ồn ≥ 85 dBA và < 85 dBA là có sự khác biệt rõ, người làm việc ở nơi có cường độ tiếng ồn ≥ 85 dBA có nguy cơ bị điếc nghề nghiệp cao hơn nhóm làm việc ở nơi có cường độ tiếng ồn < 85 dBA là 4,29 lần Tỷ lệ công nhân bệnh điếc nghề nghiệp 12,31%, so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Toán tỷ lệ bệnh điếc nghề nghiệp ngành sản xuất xi măng và khai thác đá 11%, Nghiên cứu Nguyễn Thị Toán điều tra sức nghe của công nhân tại một số cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng 6,45% [60],
4.2.3 Tình hình sức khỏe bệnh tật của những công nhân
4.2.3.1 Đặc điểm chung của công nhân lao động tại công ty
Công nhân nữ nhiều hơn công nhân nam khoảng 20% Cơ cấu giới tính trong nghiên cứu này hoàn toàn giống với nghiên cứu của Lê Quang Liêm So với nghiên cứu của Lê Quang Liêm đặc điểm môi trường lao động mùa lạnh tại các phân xưởng sản xuất của Công ty cổ phần Đông lạnh Qui Nhơn; Công ty cổ phần Thủy sản Bình Định; Công ty cổ phần Thủy sản Hoài Nhơn tỷ lệ lao động nữ nhiều hơn nam cả 3 công ty chế biến thủy sản (CBTS) Trong đó đối tượng lao động nữ chiếm > 70% ở cả 3 công ty; Công ty cổ phần Đông lạnh Qui Nhơn nữ chiếm 78,2%; công ty cổ phần thuỷ sản Bình Định nữ chiếm 70,4%; công ty cổ phần thuỷ sản Hoài Nhơn nữ chiếm 80% Như vậy, tại công ty mà chúng tôi nghiên cứu có tỉ lệ nữ công nhân là 59,5% gần tương đương so với nghiên cứu tại 3 Công ty ở Bình Định [39]
Mật độ tuổi của công nhân từ 25-34 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất 48,5%, kế đến là ≤ 25 chiếm 46,1% Số công nhân ≥ 35 có tỷ lệ rất thấp 5,5% Công nhân làm trong khu vực sơ chế 2 chiếm tỷ lệ nhiều nhất (50,7%), đứng nhì là tỷ lệ công nhân làm trong khu vực đóng gói (28,1%), số còn lại có tỷ lệ công nhân làm việc thấp