Phân độ tăng huyết áp Ả
Tăng huyết áp thường xuất hiện do các nguyên nhân khác, gọi là tăng huyết áp thứ phát hoặc tăng huyết áp triệu chứng, nhưng phần lớn các trường hợp không xác định được nguyên nhân rõ ràng và được chẩn đoán là tăng huyết áp nguyên phát.
* Tăng huyết áp nguyên phát:
Chiếm tới 90% số người bị tăng huyết áp
* Tăng huyết áp thứ phát:
Dưới 10% các trường hợp tăng huyết áp có nguyên nhân Các nguyên nhân chính của tăng HA thứ phát gồm:
Các bệnh thận như viêm thận mãn tính, suy thận, lao thận gây ảnh hưởng trực tiếp đến chức năng thận Ngoài ra, huyết áp cao kéo dài cũng là nguyên nhân chính dẫn đến tổn thương thận Hẹp động mạch thận bẩm sinh hoặc do xơ vữa động mạch còn gây ra tăng huyết áp, góp phần vào các vấn đề về thận và huyết áp.
- Nguyên nhân nội tiết: Các bệnh của tuyến thượng thận như hội chứng
Hội chứng Cushing, Cường Aldosterone thứ phát (hội chứng Conn), và các u phần vỏ hoặc tủy của tuyến thượng thận đều có thể gây ra các rối loạn nội tiết nghiêm trọng U tủy thượng thận thường dẫn đến các cơn tăng huyết áp kịch phát, có thể lên đến 260/140mmHg, đi kèm các biến chứng nặng nề cho bệnh nhân.
Hẹp eo động mạch chủ bẩm sinh gây ra huyết áp tăng ở các chi trên trong khi huyết áp ở các chi dưới lại giảm rõ rệt Phẫu thuật cắt bỏ đoạn hẹp giúp giải quyết tình trạng này, làm cho huyết áp trở lại bình thường và cải thiện tuần hoàn máu.
Sử dụng kéo dài các loại thuốc như corticosteroid, thuốc ngừa thai, và thuốc chống viêm có thể gây tăng huyết áp tạm thời Tuy nhiên, sau khi ngưng dùng các loại thuốc này, huyết áp thường trở về mức bình thường, giúp duy trì sức khỏe tim mạch ổn định.
1.2.2 Theo giai đoạn của bệnh
Theo phân loại của tổ chức Y tế thế giới năm 1993, tăng huyết áp được phân theo 3 giai đoạn đề theo dõi sự tiến triển của bệnh
- Giai đoạn I: Tăng HA thật sự nhưng không có tôn thương thực thể các cơ quan
Trong Giai đoạn II của bệnh, có ít nhất một trong các biến đổi về cơ quan như dày thất trái được phát hiện qua lâm sàng, X-quang, điện tâm đồ hoặc siêu âm Bên cạnh đó, người bệnh có thể gặp phải hẹp lan tỏa hoặc từng vùng các động mạch võng mạc, tương ứng với các giai đoạn I và II của đáy mắt theo phân loại Keith-Wagener-Baker Ngoài ra, xét nghiệm nước tiểu có thể cho thấy protein niệu, và các chỉ số như urê hoặc creatinine trong máu thường tăng nhẹ, báo hiệu sự suy giảm chức năng thận.
Giai đoạn III của bệnh có dấu hiệu rõ rệt về chức năng và thực thể do tổn thương các cơ quan quan trọng như tim, gây suy tim trái, hoặc não, dẫn đến xuất huyết não, tiểu não hoặc thân não Ngoài ra, tổn thương có thể ảnh hưởng đến đáy mắt, gây xuất huyết võng mạc kèm theo hoặc không kèm phù gai thị, phản ánh mức độ nặng của bệnh ở giai đoạn này.
III va IV), các dấu hiệu này là đặc biệt của giai đoạn ác tính (giai đoạn tiến triển nhanh)
Các biểu hiện khác thường gặp ở giai đoạn II nhưng không đặc hiệu của
THA gồm: tìm (cơn dau thắt ngực, nhồi máu co tim), não (huyết khối động mạch trong sọ), mạch máu (phình, hẹp, bít tắc động mạch), thận (suy thận)
Tăng huyết áp ác tính tiến triển nhanh với các triệu chứng chính gồm huyết áp tối đa và tối thiểu tăng rất cao, trong đó huyết áp tối thiểu có thể vượt trên 130mmHg Ở giai đoạn III và IV của bệnh, đáy mắt thể hiện các tổn thương rõ rệt, cho thấy mức độ nặng của biến chứng huyết áp.
Chỉ số huyết áp của mỗi người có sự thay đổi theo thời gian trong ngày, thường cao vào buổi sáng và thấp vào ban đêm do phản ứng của cơ thể khi ngủ, gặp căng thẳng hoặc sau khi ăn no Ngoài ra, huyết áp còn phụ thuộc vào giới tính, chủng tộc và tuổi tác, khiến việc xây dựng tiêu chuẩn riêng phù hợp với từng đối tượng trở nên khá khó khăn Khái niệm về trị số huyết áp bình thường và cao dựa trên các số liệu thống kê, giúp xác định mức độ huyết áp an toàn và nguy hiểm Hiện nay, có hai phương pháp phân loại tăng huyết áp phổ biến nhất, dựa trên các tiêu chuẩn này để chẩn đoán và điều trị hiệu quả.
Bảng 1.1 Phan loai THA theo JNC VII 2003
Mức độ Huyết áp tâm thu | Huyết áp tâm trương
Tăng huyết áp giai doan I 140 — 159 90 — 99
Tăng huyết áp giai đoạn II = 160 > 100
Theo báo cáo lần thứ 7 của United States Department of Health and Human Services năm 2003 [81], [82].
Trong nghiên cứu của nhiều tác giả trong nước, phân độ JNC VII được sử dụng để đánh giá huyết áp, tuy nhiên việc áp dụng phân độ này không phổ biến rộng rãi Khái niệm tiền tăng huyết áp vẫn chưa được áp dụng phổ biến, mặc dù việc sử dụng phân độ này mang ý nghĩa dịch tễ học quan trọng trong chẩn đoán và theo dõi bệnh Tuy nhiên, việc sử dụng phân độ JNC VII có thể gây bất lợi về mặt tâm lý cho bệnh nhân, khi làm họ quá lo lắng và gây stress không cần thiết.
Bảng 1.2 Phân loại THA theo WHO-ISH và khuyến cáo của Hội Tim
Khái niệm Huyet ap tam thu Huyết áp tâm
Tăng huyết áp độ II 160 — 179 100 — 109
Tăng huyết áp độ III >180 >110
Theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp của Bộ Y tế năm 2010 và Hội Tim mạch Quốc gia Việt Nam năm 2011, việc hiểu biết và kiểm soát huyết áp là yếu tố quan trọng để giảm thiểu các biến chứng nguy hiểm của bệnh Các hướng dẫn này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chẩn đoán chính xác và xây dựng phác đồ điều trị phù hợp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân tăng huyết áp.
Phân loại huyết áp này dựa trên kết quả đo tại phòng khám Khi huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương không nằm trong cùng một mức phân loại, chúng tôi chọn mức huyết áp cao hơn để xác định xếp loại chính xác Việc này giúp đánh giá chính xác tình trạng huyết áp của bệnh nhân và đề ra phương pháp điều trị phù hợp Theo đó, việc sử dụng mức huyết áp cao hơn đảm bảo an toàn và chính xác trong chẩn đoán huyết áp cao, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý sức khỏe.
Một số yếu tố nguy cơ và phân tầng nguy cơ của bệnh THA
1.3.1 Một số yếu tố nguy cơ của bệnh THA
* Yếu tố nguy cơ không thay đổi được:
- Tiền sử gia đình có người ruột thịt mắc bệnh tìm mạch sớm: nữ < 65 tuổi, nam < 55 tuổi.
Tuổi là yếu tố nguy cơ chính trong bệnh tăng huyết áp, đặc biệt ở nữ trên 60 tuổi và nam trên 55 tuổi, vì huyết áp và độ cứng thành mạch tăng theo tuổi Khi tuổi tăng thêm 10 năm, huyết áp thường tăng khoảng 5 mmHg do sự giảm tính đàn hồi của các động mạch lớn, do đó hình thành bệnh tăng huyết áp theo tuổi do biến đổi sinh lý hệ thống mạch máu và tác động của môi trường sống Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc bệnh tăng huyết áp ở người trên 60 tuổi khoảng 50%, và các triệu chứng lâm sàng thường bắt đầu rõ nét ở độ tuổi 40-50 đối với nam giới và 60-70 đối với nữ giới, với mức độ biểu hiện ngày càng rõ rệt khi tuổi càng cao Ngoài tuổi, các yếu tố nguy cơ khác như rối loạn lipid máu, đái tháo đường cũng góp phần thúc đẩy sự xuất hiện các biến chứng của bệnh tim mạch.
* Yếu tố nguy cơ có thê thay đổi được:
- Căng thẳng tâm lý kéo dài: khi gặp stress sẽ kích thích thần kinh giao cảm phóng thich noradrenaline, tang strc co bép co tim gay THA
Thói quen ăn mặn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe tim mạch, với chế độ ăn giảm natri giúp giảm huyết áp, giảm tỷ lệ mắc bệnh tim mạch mới và giảm tử vong [1] Nhiều bằng chứng cho thấy natri đóng vai trò quan trọng trong bệnh tăng huyết áp, và mức độ tăng huyết áp theo tuổi có liên quan trực tiếp đến lượng natri tiêu thụ hàng ngày.
Giảm lượng muối tiêu thụ trong ngày từ 11 gam xuống 5 gam thì trị số HA tối đa giảm hơn 5mmHg, HA tối thiểu giảm hơn 3 mmHg [48]
Béo phì là một nguy cơ chính gây bệnh tim mạch, có mối liên hệ chặt chẽ với tăng huyết áp (THA) Béo phì dẫn đến tăng đề kháng mạch máu, tăng cung lượng tim và mở rộng thể tích lòng mạch, làm risức nguy cơ mắc các bệnh tim mạch Ở bệnh nhân THA có thừa cân, giảm cân đáng kể có thể giúp hạ huyết áp và giảm phì đại thất trái Những người dưới 50 tuổi bị béo phì có tỷ lệ mắc bệnh tim mạch cao gấp 2,5 lần so với người không béo phì Việc can thiệp và điều trị giảm cân giúp giảm mức độ béo phì, từ đó giảm tỷ lệ mắc bệnh mạch vành và tử vong do bệnh tim mạch.
Hút thuốc lá là một yếu tố nguy cơ quan trọng của bệnh tăng huyết áp (THA) Việc theo dõi huyết áp liên tục đã chỉ ra rằng thuốc lá là chất thúc đẩy quá trình tăng huyết áp, góp phần làm tình trạng bệnh trở nên nghiêm trọng hơn.
Khói thuốc không chỉ ảnh hưởng đến những người hút thuốc trực tiếp mà còn tác động đến cả những người không hút thuốc nhưng thường xuyên hít phải khói thuốc, gây tăng huyết áp và các vấn đề về sức khỏe tim mạch.
Uống nhiều rượu là yếu tố nguy cơ chính gây tăng huyết áp (THA), ảnh hưởng tiêu cực lâu dài đến sức khỏe và tâm thần Việc tiêu thụ rượu quá mức trong thời gian dài làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, tai biến mạch máu não và các bệnh lý khác, góp phần làm xấu đi tình trạng sức khỏe tổng thể của người bệnh.
- Rối loạn lipid máu, vữa xơ động mạch
Hoạt động thể lực đều đặn giúp giảm cân, giảm lipid máu và huyết áp, từ đó giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch và nội khoa như đột quỵ và đái tháo đường [57] Luyện tập ít nhất 20 phút mỗi ngày có thể giảm jusqu 30% nguy cơ tử vong do bệnh mạch vành, nhờ vào việc kiểm soát huyết áp và thúc đẩy các yếu tố chuyển hóa tích cực như tăng HDL cholesterol [8], [59] Việc duy trì hoạt động thể lực thường xuyên là chìa khóa để nâng cao sức khỏe tim mạch và phòng ngừa các bệnh lý mãn tính.
1.3.2 Phân tầng nguy cơ đối với bệnh nhân THA
1.3.2.1 Phân tầng nguy cơ theo WHO/ISH năm 1999
Trong điều trị bệnh nhân tăng huyết áp, quyết định không chỉ dựa trên mức huyết áp mà còn xem xét các yếu tố nguy cơ tim mạch khác, tổn thương cơ quan đích và các tình trạng lâm sàng liên quan, giúp cá nhân hóa phương pháp điều trị và nâng cao hiệu quả kiểm soát huyết áp.
Bảng 1.3 Phân tầng nguy cơ THA theo khuyến cáo của WHO/ISH(2003)
D6 THA Độ I (HATT ĐộlI(HATT | D6 WW (ATT 140-159 hoặc | 160-179 hoặc >180 hoặc HATTr 90-99) | HATTr 100-109) | HATTr >100)
YTNC x ged 7 A và tiên sử bệnh
1.Không có YTNC | Nguy cơ thấp Nguy cơ trung bình | Nguy cơ cao
Nguy cơ trung | Nguy cơ trung bình
2 Co 1-2 YTNC binh Nguy cơ cao Ì
3 Có > 3 YTNC hoặc tổn thương cơ quan đích, hoặc | Nguy cơ cao Nguy cơ cao Nguy cơ cao có tình trạng lâm sàng đi kèm
Hoặc nếu có YTNC duy nhất là đái tháo đường cũng xếp vào nhóm nguy cơ cao
Dựa trên khuyến cáo của WHO/ISH năm 1999, bảng phân tầng nguy cơ đã được điều chỉnh thành 3 mức nguy cơ chính nhằm dự đoán khả năng xảy ra một biến cố tim mạch lớn trong vòng 10 năm tới Các mức nguy cơ này giúp xác định rõ những yếu tố tăng cao khả năng mắc đột quỵ, nhồi máu cơ tim tử vong hoặc không tử vong, từ đó hỗ trợ quản lý và phòng ngừa hiệu quả các bệnh tim mạch Việc phân loại nguy cơ này đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng chiến lược can thiệp y tế phù hợp, nhằm giảm thiểu các biến cố tim mạch nghiêm trọng trong cộng đồng.
Việc phân tầng nguy cơ thay đổi chút ít theo các khuyến cáo của nhiều tổ chức THA Bảng phân tầng sau dựa vào khuyến cáo của WHO/ISH 2003
So với các khuyến cáo của WHO/ISH năm 1999 và ESH năm 2003, hệ thống phân tầng nguy cơ hiện tại đơn giản hơn, chỉ gồm ba mức: thấp, trung bình và cao, giúp dễ dàng đánh giá và quản lý nguy cơ cao huyết áp mà không cần phân loại mức nguy cơ rất cao.
1.3.2.2 Phân tầng nguy co’ theo JNC VI
Nguy cơ tim mạch của bệnh nhân tăng huyết áp không chỉ phụ thuộc vào trị số huyết áp mà còn dựa trên sự có mặt của tổn thương cơ quan đích và các yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá, rối loạn lipid máu, đái tháo đường Những yếu tố này tác động độc lập đến nguy cơ mắc bệnh tim mạch, do đó, việc đánh giá đầy đủ các yếu tố này là quan trọng trong quản lý bệnh nhân tăng huyết áp.
Khuyến cáo của JNC VI nhấn mạnh việc đánh giá toàn diện về tổn thương cơ quan đích và các yếu tố nguy cơ tim mạch đi kèm ở bệnh nhân tăng huyết áp Việc phân loại bệnh nhân dựa trên các yếu tố này giúp các thầy thuốc chọn lựa phương pháp điều trị phù hợp với từng nhóm nguy cơ, đồng thời cung cấp dự đoán về triển vọng của từng đối tượng Theo hướng dẫn này, bệnh nhân tăng huyết áp được chia thành ba nhóm chính, hỗ trợ quá trình quản lý và điều trị hiệu quả hơn.
Nhóm nguy cơ A: bao gồm những bệnh nhân bị THA giới hạn hoặc
THA độ I, H, HI theo phân độ của JNC VI nhưng không có bệnh lý tim mạch trên lâm sàng, không tổn thương cơ quan đích và không có yếu tố nguy cơ tim mạch di truyền.
Nhóm nguy cơ B gồm những bệnh nhân tăng huyết áp không có bệnh tim mạch trên lâm sàng, không có tổn thương cơ quan đích, nhưng có nhiều hơn một yếu tố nguy cơ tim mạch đi kèm, trừ đái tháo đường Phần lớn bệnh nhân tăng huyết áp thuộc nhóm nguy cơ này, đòi hỏi sự theo dõi và quản lý cẩn thận để phòng ngừa các biến chứng tim mạch.
Nhóm nguy cơ C gồm những bệnh nhân THA có biểu hiện lâm sàng của bệnh tim mạch hoặc có tổn thương cơ quan đích, đái tháo đường cũng được xem là yếu tố nguy cơ đáng kể trong nhóm này Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đánh giá đầy đủ các yếu tố nguy cơ để quản lý hiệu quả bệnh tăng huyết áp.
Biến chứng cơ quan đích do tăng huyết áp ccccccceccrceerrrrcee 13 1.5 Diu tri ting huyét 4p .ssssesssssssssssssssssssscscecsscssesesseccescssesecseseseseeeeeeee 16 1.6 Các nghiên cứu về kiểm soát huyết áp ở bệnh nhân THA
THA thường không có triệu chứng rõ ràng, khiến nhiều người không nhận biết mình mắc bệnh trong nhiều năm Chính vì thế, tăng huyết áp được coi là "kẻ giết người thầm lặng" do gây ra các biến chứng nguy hiểm mà không có dấu hiệu báo trước Để phát hiện chính xác, cách duy nhất là kiểm tra huyết áp định kỳ nhằm phòng ngừa các hậu quả nghiêm trọng của bệnh.
Tăng huyết áp (THA) có thể gây tử vong hoặc để lại những di chứng nặng nề do ảnh hưởng của nó lên các cơ quan quan trọng Các biến chứng của tăng huyết áp không chỉ phụ thuộc vào mức độ của THA mà còn vào sự hiện diện của các yếu tố nguy cơ như tỉ mạch, thời gian mắc bệnh và chế độ điều trị Tăng huyết áp có thể phát triển thành hai dạng chính là cấp tính và mãn tính, đòi hỏi sự quản lý và chăm sóc phù hợp để giảm thiểu rủi ro.
Tăng huyết áp gây ra các thay đổi mô học trong mạch máu thận, như xơ cứng động mạch, hyaline hóa, phì đại nội mạc và hoại tử, dẫn đến thiếu máu cục bộ ở vi cầu thận và tổn thương cầu thận Các biểu hiện của tổn thương thận do tăng huyết áp bao gồm tiểu albumin vi thể, tiểu protein và suy thận Đánh giá tổn thương thận ở bệnh nhân tăng huyết áp chủ yếu dựa trên xét nghiệm, trong đó nồng độ creatin huyết thanh phản ánh giảm chức năng lọc cầu thận, còn sự gia tăng albumin hoặc protein niệu chứng tỏ mức lọc cầu thận giảm Albumin niệu vi thể là yếu tố phát hiện sớm tổn thương thận ở bệnh nhân THA Biểu hiện lâm sàng thường gặp là tiêu đêm do giảm khả năng cô đặc nước tiểu, là dấu hiệu sớm của suy thận.
Phì đại thất trái thường gặp ở bệnh nhân tăng huyết áp, đặc trưng bởi sự phì đại đồng tâm của cơ tim kèm theo tăng chu vi các sợi cơ, có thể dẫn đến tính co bóp bình thường hoặc tăng Tình trạng này gây ra độ dày thành tương đối, thể tích cuối tâm trương thường bình thường hoặc giảm, đi kèm với rối loạn chức năng tâm trương Khoảng 15% bệnh nhân tăng huyết áp phát triển phì đại thất trái, và nhiều nghiên cứu cho thấy mức độ cũng như thời gian bị tăng huyết áp có liên quan chặt chẽ đến sự phát triển của biến đổi này Nếu không được điều trị đúng cách hoặc không điều trị, phì đại thất trái trở thành yếu tố nguy cơ quan trọng dẫn tới suy tim cơ, giãn nở thất trái và đột tử Thường thì phì đại thất trái không gây ra triệu chứng rõ ràng trong nhiều năm trước khi các biểu hiện suy tim hoặc đột tử xuất hiện.
Suy tim là một bệnh lý nghiêm trọng, đứng thứ hai sau bệnh động mạch vành trong các nguyên nhân gây tử vong do bệnh tim mạch Tăng huyết áp (THA) là yếu tố nguy cơ chính dẫn đến bệnh động mạch vành, loạn nhịp tim, từ đó có thể gây suy tim Khoảng 90% bệnh nhân mắc THA tại Mỹ có tiền sử THA trước khi phát triển suy tim, tăng nguy cơ suy tim gấp 2-3 lần THA gây rối loạn chức năng tim, dẫn đến các giai đoạn suy tim bao gồm rối loạn chức năng tâm trương thất trái, rối loạn chức năng tâm thu thất trái không có triệu chứng, kèm phì đại thất trái đồng tâm, dãn thất trái không triệu chứng kèm phì đại thất trái lệch tâm, và cuối cùng là rối loạn chức năng tâm thu thất trái có triệu chứng cùng phì đại, lệch tâm và dãn lớn thất trái Hiện vẫn chưa xác định chính xác mức huyết áp tối ưu cần đạt trong điều trị suy tim, nhưng giảm huyết áp hệ thống thường mang lại lợi ích rõ ràng.
Bệnh động mạch vành là một tình trạng nguy hiểm, đặc biệt đối với những bệnh nhân bị tăng huyết áp (THA), khi nguy cơ mắc nhồi máu cơ tim (NMCT) và các tai biến mạch vành nghiêm trọng khác sẽ tăng lên đáng kể Người mắc THA có khả năng cao gặp các biến cố tim mạch nguy hiểm, đồng thời nguy cơ tử vong cũng gia tăng sau một lần nhồi máu cơ tim Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm soát huyết áp và chăm sóc sức khỏe tim mạch để giảm thiểu các biến chứng nguy hiểm.
THA là một trong bốn nguyên nhân chính gây ra rung nhĩ, đồng thời còn góp phần tạo điều kiện cho ngoại tâm thu thất và loạn nhịp nhanh thất phát triển Đột tử do THA thường liên quan đến các rối loạn nhịp tim hoặc huyết khối gây tắc mạch, trong đó rung nhĩ là một nguyên nhân chủ yếu gây hình thành huyết khối và dẫn đến các biến cố nguy hiểm.
THA là yếu tố nguy cơ chính của đột quỵ, gây biến đổi hình dạng các mạch máu não và rối loạn huyết động tuần hoàn não Ngoài ra, tăng huyết áp còn là nguyên nhân chính gây xơ vữa động mạch, hình thành huyết khối, rối loạn tiểu cầu và chức năng nội mạc mạch máu Các bệnh lý mạch máu não phổ biến gồm đột quỵ, thiếu máu cục bộ, xuất huyết não và sa sút trí tuệ.
Tổn thương mạch máu võng mạc mắt, tôn thương động mạch cảnh, tổn thương động mạch chủ bụng,
Tén thuong day mat, Keith Wagener va Baker chia ra bốn giai doan:
- Giai đoạn I: các mạch máu co nhỏ
~ Giai đoạn II: bắt chéo động tĩnh mạch
- Giai đoạn II: xuất huyết xuất tiết võng mạc
- Giai đoạn IV: phù gai thị
Bảng lâm sàng của tăng huyết áp (THA) rất phong phú và đa dạng, trong khi lâm sàng của chính bệnh THA lại nghèo nàn Tuy nhiên, các tổn thương cơ quan đích do bệnh THA gây ra thường thể hiện rõ ràng, là đặc điểm quan trọng quyết định phương pháp điều trị và thái độ quản lý bệnh Hiểu rõ các triệu chứng liên quan đến tổn thương các cơ quan đích sẽ giúp chẩn đoán chính xác và xây dựng kế hoạch điều trị hiệu quả cho bệnh nhân.
1.5 Điều trị tăng huyết áp
- Tăng huyết áp là bệnh mạn tính nên cần theo dõi đều, điều trị đúng và đú hàng ngày, điều trị lâu dài
- Mục tiêu điều trị là đạt “huyết áp mục tiêu” và giảm tối đa “nguy cơ tim mạch”
Huyết áp mục tiêu cần đạt dưới 140/90mmHg, và có thể nâng cao hơn nếu người bệnh dung nạp tốt Trong trường hợp nguy cơ mắc bệnh tim mạch rất cao, huyết áp mục tiêu giảm xuống còn dưới 130/80mmHg Sau khi đạt huyết áp mục tiêu, việc duy trì phác đồ điều trị lâu dài và theo dõi định kỳ đóng vai trò quan trọng để điều chỉnh phù hợp, ngăn ngừa biến chứng.
Điều trị cho bệnh nhân có tổn thương cơ quan đích cần được thực hiện một cách tích cực và cẩn trọng Tránh giảm huyết áp quá nhanh để phòng ngừa biến chứng thiếu máu cơ quan đích, trừ khi trong tình huống cấp cứu cần thiết để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân [8], [59].
Áp dụng các biện pháp tích cực để thay đổi lối sống là chiến lược quan trọng, phù hợp với tất cả bệnh nhân nhằm ngăn ngừa sự tiến triển của bệnh và kiểm soát huyết áp hiệu quả Việc duy trì lối sống lành mạnh giúp giảm huyết áp, giảm thiểu số thuốc cần thiết, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống và hạn chế các biến chứng liên quan Các biện pháp như ăn uống cân đối, tập thể thao đều đặn, giảm căng thẳng và bỏ thuốc lá đóng vai trò thiết yếu trong quá trình điều trị và phòng bệnh cao huyết áp.
- Chế độ ăn hợp lý, đảm bảo đủ kali và các yếu tố vi lượng:
+ Giảm ăn mặn (< 6 gam muối hay 1 thìa cà phê muối mỗi ngày)
+ Tăng cường rau xanh, hoa quả tươi
+ Hạn chế thức ăn có nhiều cholesterol và axít béo no
- Tích cực giảm cân (nếu quá cân), duy trì cân nặng lý tưởng với chỉ số khối co thé (BMI: body mass index) tir 18,5 dén 22,9 BMI > 18,5Kg/m’ la bình thường
+ 25 > BMI > 23Kg/m’ Ia thita can
+ 30 > BMI > 25Kg/m’ la béo phi dé I
+ BMI > 30Kg/m? 1a béo phì độ II.
2.2.4.2 Mức độ tăng huyết áp và các biến chứng tăng huyết áp
* Mức độ tăng huyết áp
Chẩn đoán THA theo tiêu chuẩn của WHO/ISH 2003: Chia các mức độ
Bảng 2.1 Phân loại THA theo WHO-ISH và khuyến cáo của Hội Tim
Huyết áp tâm thu Huyết áp tâm Mire dé
Tăng huyết áp độ II 160 — 179 100 — 109
Tăng huyết áp độ III > 180 >110
Dựa trên hướng dẫn chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp của Bộ Y tế năm 2010 và hướng dẫn của Hội Tìm Mạch Quốc gia Việt Nam năm 2011, việc tìm hiểu và kiểm soát tăng huyết áp đóng vai trò quan trọng trong việc giảm các biến chứng tim mạch Các hướng dẫn này cung cấp các tiêu chuẩn chẩn đoán chính xác, phương pháp quản lý phù hợp cùng các chiến lược kiểm soát huyết áp hiệu quả để nâng cao sức khỏe cộng đồng.
Phân loại huyết áp dựa trên kết quả đo tại phòng khám Khi huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương thuộc các mức khác nhau, cần chọn mức huyết áp cao hơn để xác định phân loại chính xác Điều này giúp đảm bảo chẩn đoán và quản lý huyết áp hiệu quả, phù hợp với các hướng dẫn y tế.
* Biến chứng các cơ quan
- Biến chứng thận: Có biến chứng thận dựa vào xét nghiệm:
Đạm niệu là tình trạng bất thường trong việc bài tiết albumin qua nước tiểu, được phân chia theo định nghĩa của Hiệp Hội Đái Tháo Đường Hoa Kỳ (2005) Bình thường, lượng albumin trong nước tiểu thấp hơn 30mg/g Microalbumin mức độ từ 30 đến 299mg/g cho thấy sự xuất hiện của albumin vừa phải, trong khi macroalbumin hoặc albumin niệu lâm sàng vượt quá 300mg/g, biểu thị tình trạng nặng hơn và cần được theo dõi chặt chẽ.
Phương pháp: đo tỷ số albumin/creatinin trong nước tiểu với mẫu nước tiêu lây ngầu nhiên.
+ Biến chứng suy thận: hệ số thanh thải creatinin < 60mL/phút Tính hệ số thanh thải creatinin dựa theo công thức ước lượng của Cokcroft và Gault
[140 —tuoi(nam)]x P(kg) 72x Pcre(mg/dl)
Cre Nếu là nữ phải nhân kết quả với 0,85
+ Day that trái bằng đo điện tâm đồ: xác định theo chỉ số: Sokolov -
Lyon: SV2 + RVS > 35mm, chi sé Cornell Voltage (nam RaVL + SV3 > 28mm, nit RaVL + SV3 > 20mm, 0,08 giây < QRS < 0,11 giây [20]
+ Tiền sử có nhồi máu cơ tỉm (ECG có sóng Q bệnh lý)
+ Thiếu máu cơ tim: (Điện tỉm có ST chênh xuống > Imm, 3 nhịp liên tiếp đi ngang > 0,008 giây sau điểm J (ở hai đạo trình có liên quan) [58]
+ Suy tim dua theo tiêu chuẩn chân đoán của Framingham [58]
Biến chứng não bao gồm hai loại chính, trong đó một trong số đó là cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua với các triệu chứng thần kinh rõ ràng, nhưng hồi phục hoàn toàn trong vòng 24 giờ, cho thấy dấu hiệu cảnh báo sắp xảy ra các vấn đề nghiêm trọng về não.
+ Đột quy não cũ (Nhồi máu não hoặc xuất huyết não)
2.2.4.3 Một số yếu tố liên quan đến mức độ THA và biến chứng ở bệnh nhan THA
- Các đặc điểm chung: Tuổi, giới, số năm THA
Thói quen ăn mặn là yếu tố cần chú ý đến trong chế độ dinh dưỡng hàng ngày Bệnh nhân thường xuyên sử dụng nước chấm hoặc ăn mặn hơn so với các thành viên khác trong gia đình, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe Việc duy trì thói quen ăn mặn có thể dẫn đến các vấn đề về huyết áp và bệnh về thận, do đó nên hạn chế lượng muối trong bữa ăn để đảm bảo sức khỏe tốt hơn.
- Thói quen ăn mỡ: có, không Ăn mỡ: thức ăn có nhiều cholesterol và axit béo no
- Vận động thể lực: có 2 giá trị + Không vận động thể lực hoặc ít vận động thể lực
+ Có vận động thể lực khi tập thể dục, chơi thể thao, vận động cơ bắp >
30 phut/ngay, tập đủ mạnh (ấm người, thở hơi nhanh, ra mồ hôi vừa) và ít nhất 3 ngày/tuần [21]
Uống rượu có thể mang hai ý nghĩa khác nhau: một là không có thói quen uống rượu, và hai là có thói quen uống rượu khi tiêu thụ vượt quá một đơn vị tiêu chuẩn Đơn vị tiêu chuẩn này tương đương với 330ml bia, 140ml rượu vang hoặc 40ml rượu mạnh, các mức tiêu thụ này có thể ảnh hưởng đến sức khỏe và thói quen sinh hoạt của người dùng.
- Hút thuốc lá: có 2 giá trị
+ Có hút thuốc khi hút trên 10 điếu/ngày liên tục trên 3 năm [55]
- Uống thuốc: có 2 giá trị + Không đều
+ Uống thuốc đều là uống thuốc liên tục theo toa bác sĩ trong 3 tháng gần
- Tái khám: có 2 giá trị + Không tái khám hoặc tái khám không đều
Bệnh nhân đã tái khám theo lịch hẹn của nhân viên y tế trong vòng 3 tháng gần đây, tính từ thời điểm nghiên cứu, dựa trên số lần khám bệnh và đơn thuốc đã được kê.
- Biến chứng cơ quan đích: tim, thận, não
2.2.4.4 Đánh giá kết quả kiểm soát huyết áp một số yếu tố nguy cơ và biến chứng tăng huyết áp ở bệnh nhân THA sau 12 tháng can thiệp
Thực hiện đánh giá kết quả trên người dân bi THA sau 12 thang dua vào các yếu tố sau:
- Huyết áp khảo sát lần 2 so lần 1 Đối tượng có kết quả đo HA TT < 140mmHg va HATTr