ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu này được tiến hành từ tháng 9 năm 2013 đến tháng 3 năm 2014, tập trung vào các trường tiểu học tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Học sinh các trường tiểu học ở quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ năm học 2013 - 2014
Học sinh các khối từ lớp 1 đến khối lớp 5 năm học 2013 - 2014 ở quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
Học sinh đang bị bệnh hoặc vắng mặt lúc phỏng vấn Học sinh không đồng ý tham gia phỏng vấn.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp cắt ngang mô tả
Cỡ mẫu được áp dụng theo công thức:
Trong đó: n: cỡ mẫu nghiên cứu z: trị số từ phân phối chuẩn
1 z : Giá trị tương ứng của hệ số tin cậy, với 0 , 05 ( 5 %), vậy
Trong lĩnh vực thống kê, giá trị z ứng với khoảng tin cậy 95% tương ứng với α = 0,05, đại diện cho xác suất sai lầm loại I Sai số cho phép d = 5% (0,05), được sử dụng để xác định độ chính xác của ước lượng Nghiên cứu của Lê Thị Thanh Xuyên và cộng sự trên học sinh tiểu học tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ mắc tật cận thị của học sinh là 29,86% (0,299), giúp chúng ta có cơ sở dữ liệu thực tế để phân tích và đưa ra các dự đoán phù hợp.
Thay vào công thức ta tính được cỡ mẫu là:
Vậy ta có cỡ mẫu: n = 322
Chúng tôi chọn mẫu nhiều giai đoạn để dự phòng trường hợp đối tượng nghiên cứu bỏ cuộc hoặc từ chối phỏng vấn, đảm bảo tính đại diện của mẫu Để tăng độ chính xác và độ tin cậy, chúng tôi nhân số mẫu tối thiểu với hệ số hiệu lực thiết kế D = 2 cộng thêm 5% sai số, sau đó làm tròn kết quả thành 700 học sinh Việc này giúp đảm bảo quy mô mẫu đủ lớn để phản ánh đúng đặc điểm của quần thể nghiên cứu, phù hợp với các tiêu chuẩn về thiết kế mẫu trong nghiên cứu xã hội và giáo dục.
Phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn:
Theo điều tra, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ có 23 trường tiểu học, trong đó chúng tôi chọn 4 trường để đảm bảo tính đại diện cho mẫu nghiên cứu Để mẫu nghiên cứu phân bố đều các khối lớp, chúng tôi đã chọn mỗi khối lớp một lớp đại diện, nhằm phản ánh đa dạng và toàn diện trong quá trình nghiên cứu.
Bốn trường được chọn ngẫu nhiên qua kết quả bốc thăm gồm có Trường Tiểu học Võ Trường Toản, Trường Tiểu học Thới Bình 1, Trường Tiểu học Hưng Lợi 2 và Trường Tiểu học An Bình 1 Quá trình lựa chọn này đảm bảo tính công khai và minh bạch trong việc chọn lựa các trường tiểu học phù hợp Các trường được chọn đều nằm trong khu vực thuận tiện, đáp ứng đủ các tiêu chí đề ra Việc bốc thăm ngẫu nhiên giúp đảm bảo tính khách quan, tránh các yếu tố chủ quan trong quá trình lựa chọn.
- Mỗi trường bốc thăm ngẫu nhiên chọn ra 5 lớp/5 khối (lớp 1, 2, 3, 4, 5)
- Chọn được 20 lớp trong 4 trường
- Sau khi bốc thăm chọn trường sẽ tiến hành bốc thăm chọn lớp
- Lớp được chọn sẽ được điều tra toàn bộ học sinh (khoảng 35 học sinh) trong mỗi lớp
2.2.4.1 Đặc điểm chung của học sinh
- Giới tính: là biến số nhị giá, quan sát thu được 2 giá trị là nam hoặc nữ
- Tuổi: là biến số liên tục, được tính theo dương lịch ghi trong giấy khai sinh của học sinh
- Lớp học: là biến số thứ tự, phỏng vấn lớp học hiện tại của học sinh thu được các giá trị từ lớp 1 đến lớp 5
- Thị lực: là biến số nhị giá, đo mắt bằng bảng đo thị lực Snellen, lấy kết quả của mắt có thị lực thấp hơn
Có giảm thị lực: những học sinh có kết quả đo thị lực < 8/10
Không giảm thị lực: những học sinh có kết quả đo thị lực ≥ 8/10
Cận thị là một biến số nhị giá, được xác định qua việc phỏng vấn học sinh về việc đã từng đi khám mắt tại bác sĩ hay chưa Việc này giúp xác định chính xác liệu học sinh có mắc cận thị hay không, góp phần nâng cao công tác phát hiện và phòng tránh bệnh lý về mắt trong cộng đồng học sinh Thường xuyên kiểm tra sức khỏe mắt sẽ giúp phát hiện sớm các dấu hiệu của cận thị, từ đó lên kế hoạch điều trị và phòng ngừa hiệu quả.
+ Nếu bị cận thị: dùng bảng thị lực kiểm tra xem mắt có thực sự giảm thị lực không
Nếu không có dấu hiệu cận thị, việc đo thị lực bằng bảng thị lực sẽ giúp xác định chính xác tình trạng thị lực của học sinh Trong trường hợp phát hiện giảm thị lực, cần yêu cầu học sinh đi khám mắt để xác định chính xác có bị cận thị hay không, nhằm đảm bảo chăm sóc mắt đúng cách và phòng ngừa các vấn đề về thị lực trong tương lai.
2.2.4.2 Xác định các yếu tố liên quan cận thị
- Tiền sử gia đình mắc tật cận thị: là biến số nhị giá, khi có người thân trong gia đình (cha, mẹ, anh, chị, em ruột) bị cận thị
Có người bị cận thị
Không có người bị cận thị
- Điều kiện kinh tế - xã hội: là biến số thứ hạng
Cao (khá, giàu): có đầy đủ trang thiết bị (tivi, tủ lạnh, máy điều hòa, xe đắt tiền), chi tiêu thoải mái so với các gia đình xung quanh
Trung bình, nhiều gia đình chỉ sở hữu những thiết bị cơ bản như tủ lạnh và xe máy cũ, đồng thời phải hạn chế chi tiêu, thậm chí đôi khi rơi vào tình trạng túng thiếu Trong khi đó, mức độ thấp (kém) thể hiện rõ hơn khi gia đình không có đủ trang thiết bị trong nhà, thường xuyên đối mặt với tình trạng thiếu hụt chi tiêu, gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống.
- Các yếu tố học tập, sinh hoạt:
+ Góc học tập trong nhà: là biến số nhị giá, nơi dành riêng cho việc học tập của học sinh
Có góc học tập trong nhà
Không có góc học tập trong nhà
+ Đặc điểm góc học tập: là biến số danh định
Gần cửa sổ không: góc học tập cách xa cửa sổ không quá nửa mét
Trang bị đèn không: góc học tập có sử dụng đèn học riêng hoặc đèn sinh hoạt chung nhưng vẫn chiếu sáng được cho góc học tập
+ Thời gian học tập tại nhà: là biến số thứ hạng, thời gian mỗi ngày học sinh dành cho việc học của mình khi ở nhà
Từ 30 phút đến 1 giờ/ngày
Thời gian đi học thêm là khoảng thời gian học sinh học bổ sung kiến thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên, không phải là giờ học chính thức tại trường Đây là biến số thứ hạng ảnh hưởng đến quá trình tiếp thu kiến thức và hiệu quả học tập của học sinh Việc xác định chính xác thời gian học thêm phù hợp giúp nâng cao thành tích học tập mà không gây quá tải cho học sinh.
Ánh sáng khi học bài hoặc đọc sách, báo, truyện là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng tập trung và sức khỏe thị lực của bạn Đọc trong môi trường tối, nơi thiếu ánh sáng tự nhiên hoặc không có đèn chiếu sáng phù hợp, có thể gây mỏi mắt và giảm hiệu quả học tập Ngược lại, đọc ở nơi có đủ ánh sáng, nơi ánh sáng tự nhiên hoặc nhân tạo chiếu sáng rõ ràng, giúp duy trì thị lực khỏe mạnh và nâng cao khả năng tiếp thu kiến thức Việc lựa chọn môi trường đọc phù hợp là yếu tố then chốt để đảm bảo quá trình học tập diễn ra hiệu quả, an toàn cho thị lực.
+ Khoảng cách giữa mắt và sách vở khi học bài, đọc truyện, sách báo: là biến số danh định
Có giữ khoảng cách (25 – 30cm)
Nhìn rất gần: thường hay cuối đầu sát vào mặt trang giấy, khoảng cách giữa mắt và trang giấy rất ngắn (< 25 cm)
Thời gian đọc truyện tranh như Doremon, Conan thể hiện là yếu tố quyết định thứ hạng, đặc biệt khi đọc những truyện có nội dung chữ viết phong phú, hình ảnh phức tạp, ngoằn ngoèo và không rõ ràng.
Việc không đọc sách hoặc chỉ đọc không đều có thể ảnh hưởng đến thói quen và khả năng tiếp cận kiến thức Người thích đọc truyện tranh thường dành thời gian từ 0,5 đến 2 giờ mỗi ngày để duy trì sở thích và mở rộng kiến thức giải trí Trong khi đó, những người đọc thường xuyên hơn, với thói quen đọc hàng ngày trên 2 giờ, cho thấy sự đam mê và khả năng duy trì thói quen đọc sách một cách đều đặn Việc duy trì thói quen đọc truyện tranh đều đặn giúp nâng cao khả năng tư duy, mở rộng vốn từ và phát triển kỹ năng đọc hiểu.
+ Thời gian chơi game, điện tử, là biến số thứ hạng, thời gian mỗi ngày chơi các loại trò chơi điện tử, trò chơi trên máy vi tính
+ Thời gian xem tivi: là biến số thứ hạng, thời gian xem các chương trình trên tivi mỗi ngày
Từ 30 phút đến 1 giờ/ngày
Từ 1 giờ đến 2 giờ/ngày
2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu
- Quan sát và phỏng vấn học sinh có bị cận thị hay không (đang đeo kính cận hoặc đã từng đi bác sĩ khám mắt):
Để kiểm tra mắt, bạn cần sử dụng bảng thị lực để xác định xem có bị giảm thị lực hay không Nếu bị cận thị, hãy sử dụng bảng thị lực để đánh giá mức độ và tình trạng mắt Trong trường hợp không mang kính cận, nếu phát hiện giảm thị lực qua thăm khám, bạn nên yêu cầu học sinh đi khám mắt để xác định chính xác có bị cận thị hay không.
Đối với học sinh lớp 1 và lớp 2, việc phỏng vấn cha mẹ nhằm xác định các yếu tố liên quan đến cận thị của học sinh là rất quan trọng Nhà trường có thể mời cha mẹ đến trực tiếp để phỏng vấn hoặc phối hợp tổ chức trong buổi họp phụ huynh, đảm bảo thu thập thông tin đầy đủ Đồng thời, lưu giữ số điện thoại và địa chỉ liên hệ của cha mẹ để tiện cho việc liên lạc và hỗ trợ trong các bước tiếp theo của quá trình phòng ngừa và kiểm soát cận thị.
Đối với học sinh từ lớp 3 đến lớp 5, cần tiến hành phỏng vấn trực tiếp để thu thập thông tin liên quan đến tình trạng cận thị và các yếu tố ảnh hưởng đến độ cận của học sinh Phương pháp này giúp nắm rõ hơn về mức độ cận thị cũng như các yếu tố môi trường và sinh hoạt góp phần vào tình trạng mắt của các em Việc thu thập dữ liệu chính xác từ đối tượng trực tiếp là bước quan trọng để nghiên cứu các nguyên nhân và đề xuất các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.
2.2.6 Các bước tiến hành thu thập số liệu
Bộ câu hỏi được thu thập theo các bước như sau:
Để tiến hành nghiên cứu, bước đầu cần liên hệ xin phép và nhận sự đồng ý từ Phòng Giáo dục quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ, cũng như Ban Giám hiệu các trường tiểu học tham gia như Trường Tiểu học Võ Trường Toản, Thới Bình 1, Hưng Lợi 2 và An Bình 1 Việc này đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ và tuân thủ quy định pháp luật trong quá trình thực hiện nghiên cứu.
Xử lý và phân tích số liệu
- Kiểm tra phiếu thu thập thông tin để điều chỉnh lại cho đầy đủ, phù hợp, chính xác và loại bỏ những phiếu không đạt yêu cầu
- Nhập và xử lý số liệu bằng chương trình phần mềm Excell, SPSS
- Số liệu được phân tích theo mục tiêu và nội dung nghiên cứu
So sánh tỷ lệ mắc cận thị và các yếu tố nguy cơ liên quan giúp xác định mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đối với sự phát triển của cận thị Phân tích này sử dụng các chỉ số như tỷ lệ phần trăm, tỷ số chênh (OR - Odds Ratio) và khoảng tin cậy 95% để đo lường mức độ liên kết và độ chính xác của các kết quả Các số liệu này cung cấp thông tin chi tiết về mối liên hệ giữa các yếu tố nguy cơ như tuổi tác, thời gian tiếp xúc với thiết bị điện tử, và thói quen sinh hoạt với tỷ lệ cận thị trong quần thể nghiên cứu Việc đánh giá chính xác các chỉ số này giúp đưa ra các khuyến nghị phòng ngừa cận thị hiệu quả dựa trên các yếu tố nguy cơ rõ ràng và có tính dự đoán cao.
OR, kiểm định 2 với mức ý nghĩa α = 0,05 để xem xét sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05.
Đạo đức trong nghiên cứu
Dự án nghiên cứu đã được Hội đồng khoa học của Khoa y tế công cộng Trường Đại học Y Dược Cần Thơ phê duyệt bằng văn bản Ngoài ra, dự án còn nhận được sự đồng ý của Phòng Giáo dục quận Ninh Kiều và Ban Giám hiệu các trường Tiểu học trong quận Ninh Kiều, Cần Thơ để tiến hành mẫu nghiên cứu.
Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu đều đồng ý một cách tự nguyện Trước khi bắt đầu, các đối tượng hoặc phụ huynh của trẻ đã được giải thích rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu Đồng thời, họ cũng nhận thức rõ quyền từ chối tham gia bất cứ lúc nào mà không gặp bất kỳ trở ngại nào.
Công cụ thu thập số liệu là bộ câu hỏi phỏng vấn đã được thiết kế sẵn nhằm thu thập thông tin một cách hiệu quả và chính xác Các câu hỏi này không đi sâu vào những vấn đề riêng tư hoặc gây hại cho đối tượng được phỏng vấn, đảm bảo tính đạo đức và an toàn trong quá trình nghiên cứu Việc sử dụng công cụ này giúp tiết kiệm thời gian, nâng cao độ tin cậy của dữ liệu và thuận tiện cho quá trình phân tích số liệu nghiên cứu.
Mọi thông tin của đối tượng nghiên cứu đều được đảm bảo giữ bí mật và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Phân bố học sinh theo giới
Bảng 3.1 Phân bố học sinh theo giới
Giới tính Số lượng Tỷ lệ (%)
Mẫu nghiên cứu gồm 766 học sinh, trong đó học sinh nam chiếm 53,4% nhiều hơn học sinh nữ 46,6%
3.1.2 Phân bố học sinh theo tuổi
Bảng 3.2 Phân bố học sinh theo tuổi
Tuổi Số lượng Tỷ lệ (%)
Học sinh trong khoảng độ tuổi từ 6 đến 10 tuổi, phân bố cũng gần đều nhau và theo tỷ lệ tăng dần, trong đó học sinh 10 tuổi chiếm đa số 21,4%
3.1.3 Phân bố học sinh theo lớp học
Bảng 3.3 Phân bố học sinh theo lớp học
Lớp học Số lượng Tỷ lệ (%)
Tỷ lệ học sinh phân bố theo lớp học tương đối đều nhau và theo xu hướng tăng dần, chiếm đa phần là học sinh lớp 5 với 21,4%.
Tình tình cận thị của học sinh
3.2.1 Tình hình cận thị của học sinh
Bảng 3.4 Tình hình cận thị của học sinh
Thị lực Số lượng Tỷ lệ (%)
Tỷ lệ học sinh bị cận thị khá cao chiếm 17,6%
3.2.2 Tình hình mắc cận thị theo giới
Bảng 3.5 Tình tình mắc cận thị theo giới
Giới tính Cận thị Không cận thị Tổng
Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)
Học sinh nữ bị cận thị chiếm 19% nhiều hơn học sinh nam bị cận thị 16,4%
3.2.3 Tình hình mắc cận thị theo tuổi
Bảng 3.6 Tình tình mắc cận thị theo tuổi
Tuổi Cận thị Không cận thị Tổng
Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ
Tỷ lệ học sinh cận thị tăng theo nhóm tuổi, trong đó học sinh 10 tuổi chiếm đa phần 27,4%
3.2.4 Tình hình mắc cận thị theo lớp học
Bảng 3.7 Tình tình mắc cận thị theo lớp học
Lớp học Cận thị Không cận thị Tổng
Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ
Học sinh cận thị tăng theo khối lớp học, trong đó lớp 5 chiếm đa số 27,4%
3.2.5 Tuổi phát hiện bị cận thị
Bảng 3.8 Tuổi phát hiện bị cận thị Tuổi phát hiện cận thị Số lượng Tỷ lệ (%)
Tuổi phát hiện học sinh bị cận thị chủ yếu là khi học sinh 8 tuổi chiếm 32,6%, trong khi đó học sinh 1, 2 tuổi cũng đã phát hiện bị cận thị.
Đặc điểm các yếu tố liên quan đến cận thị của học sinh
3.3.1 Tiền sử gia đình có người bị cận thị
Bảng 3.9 Tiền sử gia đình có người bị cận thị
Tiền sử gia đình Số lượng Tỷ lệ (%)
Học sinh có người thân trong gia đình bị cận thị chiếm 31,3%
3.3.2 Điều kiện kinh tế gia đình của học sinh
Bảng 3.10 Điều kiện kinh tế gia đình của học sinh Điều kiện kinh tế gia đình
Tổng 766 100 Điều kiện kinh tế gia đình của học sinh chủ yếu là trung bình, kém chiếm 55,1%
3.3.3 Góc học tập của học sinh
Bảng 3.11 Góc học tập của học sinh
Góc học tập Số lượng Tỷ lệ (%)
Tổng 766 100 Đa số học sinh có góc học tập ở nhà chiếm 86%
3.3.4 Đặc điểm góc học tập của học sinh
Bảng 3.12 Đặc điểm góc học tập của học sinh Đặc điểm góc học tập Số lượng Tỷ lệ (%)
Góc học tập gần cửa sổ
Góc học tập trang bị đèn
Học sinh có góc học tập không nằm gần cửa sổ chiếm 53,6% Phần lớn góc học tập đều có trang bị đèn chiếm 86,2%
3.3.4 Thời gian học tập tại nhà
Bảng 3.13 Thời gian học tập tại nhà Thời gian học tập tại nhà Số lượng Tỷ lệ (%)
Thời gian học sinh học tập ở nhà đa phần từ 30 phút đến 1 giờ/ngày chiếm 45%
3.3.5 Thời gian đi học thêm
Bảng 3.14 Thời gian đi học thêm Thời gian đi học thêm Số lượng Tỷ lệ (%)
Học sinh không đi học thêm chiếm 60,7%, tuy nhiên học sinh có đi học thêm chủ yếu từ 6 đến 10 giờ/tuần chiếm 23,9%
3.3.6 Ánh sáng khi học bài hoặc đọc truyện, ách, báo
Bảng 3.15 Ánh sáng khi học bài hoặc đọc truyện, sách, báo Ánh sáng khi học bài hoặc đọc truyện, sách, báo
Thường đọc trong tối 95 12,4 Đọc ở ngoài sáng 671 87,6
Tổng 766 100 Đa số học sinh học bài hoặc đọc truyện, sách, báo ở ngoài sáng chiếm 87,6%
3.3.7 Khoảng cách giữa mắt và sách vở khi học bài hoặc đọc truyện, sách, báo
Bảng 3.16 Khoảng cách giữa mắt và sách vở khi học bài hoặc đọc truyện, sách, báo
Khoảng cách giữa mắt và sách vở
Khoảng 74,4% học sinh giữ khoảng cách hợp lý giữa mắt và sách vở khi học bài, đọc truyện hoặc xem sách báo, giúp bảo vệ thị lực Tuy nhiên, vẫn có 25,6% học sinh có thói quen nhìn gần, điều này có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe mắt nếu duy trì lâu dài Việc duy trì khoảng cách đọc phù hợp là yếu tố quan trọng để phòng tránh các vấn đề về thị lực và duy trì khả năng tập trung tốt hơn.
3.3.8 Thời gian đọc truyện tranh
Bảng 3.17 Thời gian đọc truyện tranh Thời gian đọc truyện tranh Số lượng Tỷ lệ (%)
Không đọc 310 40,5 Đọc không thường xuyên (0,5 – 2 giờ) 321 41,9 Đọc thường xuyên (> 2 giờ) 135 17,6
Tổng 766 100 Đa số học sinh đọc truyện tranh không thường xuyên chiếm 41,9%, bên cạnh đó học sinh không đọc truyện tranh cũng chiếm tỷ lệ khá cao 40,5%
3.3.9 Thời gian chơi game, điện tử
Bảng 3.18 Thời gian chơi game, điện tử Thời gian chơi game, điện tử Số lượng Tỷ lệ (%)
Học sinh không chơi game, điện tử chiếm 45,4%, tuy nhiên tỷ lệ học sinh chơi game, điện tử chủ yếu dưới 1 giờ/ngày cũng chiếm tới 37,7%
Bảng 3.19 Thời gian xem tivi Thời gian xem tivi Số lượng Tỷ lệ (%)
Từ 30 phút đến 1 giờ/ngày 264 34,5
Từ 1 giờ đến 2 giờ/ngày 140 18,3
Tổng 766 100 Đa số học sinh xem tivi với tỷ lệ khá cao, trong đó chiếm chủ yếu là học sinh xem tivi từ 30 phút đến 1 giờ/ngày 34,5%.
Các yếu tố liên quan đến cận thị của học sinh
3.4.1 Mối liên quan giữa cận thị và đặc điểm chung của học sinh
3.4.1.1 Mối liên quan giữa cận thị và giới tính
Bảng 3.20 Mối liên quan giữa cận thị và giới tính Giới tính Cận thị (%) Không cận thị (%)
Chưa tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa giới tính và nguy cơ bị cận thị, p > 0,05
3.4.1.2 Mối liên quan giữa cận thị và tuổi
Bảng 3.21 Mối liên quan giữa cận thị và tuổi Tuổi Cận thị (%) Không cận thị (%) p
Tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa cận thị và tuổi, p < 0,001 Tuổi càng lớn thì tỷ lệ cận thị càng tăng
3.4.1.3 Mối liên quan giữa cận thị và lớp học
Bảng 3.22 Mối liên quan giữa cận thị và lớp học Lớp học Cận thị (%) Không cận thị (%) p
Tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa cận thị và lớp học, p < 0,001
3.4.2 Mối liên quan giữa cận thị và các yếu tố nguy cơ
3.4.2.1 Mối liên quan giữa cận thị và tiền sử gia đình mắc cận thị
Bảng 3.23 Mối liên quan giữa cận thị và tiền sử gia đình mắc cận thị Tiền sử gia đình
Gia đình có người thân bị cận thị có nguy cơ cao mắc bệnh này gấp 2,161 lần so với những gia đình không có ai bị cận thị, và sự khác biệt này đã được chứng minh là có ý nghĩa thống kê (KTC 95% = 1,478 – 3,162; p < 0,001), cho thấy yếu tố di truyền đóng vai trò quan trọng trong nguy cơ mắc cận thị.
3.4.2.2 Mối liên quan giữa cận thị và điều kiện kinh tế gia đình
Bảng 3.24: Mối liên quan giữa cận thị và điều kiện kinh tế gia đình Điều kiện kinh tế gia đình
Học sinh có điều kiện kinh tế gia đình khá hoặc giàu có nguy cơ bị cận thị cao hơn gấp 1,878 lần so với học sinh có điều kiện kinh tế trung bình hoặc kém Sự khác biệt này đã được chứng minh là có ý nghĩa thống kê (KTC 95% = 1,289 – 2,736; p = 0,001), cho thấy tình trạng kinh tế gia đình ảnh hưởng đáng kể đến nguy cơ mắc cận thị ở học sinh.
3.4.2.3 Mối liên quan giữa cận thị và góc học tập trong nhà
Bảng 3.25 Mối liên quan giữa cận thị và góc học tập trong nhà Góc học tập
Cận thị (%) Không cận thị (%)
Học sinh có góc học tập trong nhà đối diện với nguy cơ bị cận thị cao gấp 3.444 lần so với những học sinh không có góc học tập trong nhà Sự khác biệt này mang ý nghĩa thống kê rõ ràng (KTC 95% = 1,563 – 7,589; p = 0,001), nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giữ gìn không gian học tập phù hợp để giảm thiểu nguy cơ cận thị ở học sinh.
3.4.2.4 Mối liên quan giữa cận thị và đặc điểm góc học tập trong nhà
Bảng 3.26 Mối liên quan giữa cận thị và đặc điểm góc học tập trong nhà Đặc điểm góc học tập trong nhà
Góc học tập gần cửa sổ
Góc học tập trang bị đèn
Chưa tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa cận thị và đặc điểm góc học tập trong nhà của học sinh, p > 0,05
3.4.2.5 Mối liên quan giữa cận thị và thời gian học tập tại nhà
Bảng 3.27 Mối liên quan giữa cận thị và thời gian học tập tại nhà Thời gian học tập tại nhà
Học sinh học tập ở nhà trên 1 giờ/ngày thì sẽ tăng 1,722 lần nguy cơ bị cận thị (KTC 95% = (1,176 – 2,522); p < 0,05)
3.4.2.6 Mối liên quan giữa cận thị và thời gian đi học thêm
Bảng 3.28 Mối liên quan giữa cận thị và thời gian đi học thêm Thời gian đi học thêm
Cận thị (%) Không cận thị (%)
Học sinh đi học thêm trên 5 giờ/tuần thì nguy cơ bị cận thị tăng 1,891 lần và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (KTC 95% = 1,280 – 2,796; p 0,001)
3.4.2.7 Mối liên quan giữa cận thị và ánh sáng khi học bài, đọc truyện, sách, báo
Bảng 3.29 Mối liên quan giữa cận thị và ánh sáng khi học bài và đọc truyện, sách, báo Ánh sáng khi học bài và đọc sách, báo, truyện
Nguy cơ bị cận thị ở học sinh tăng cao khi thường xuyên học bài, đọc truyện, sách báo trong điều kiện tối, với tỷ lệ nguy cơ cao hơn gấp 1.821 lần so với học ngoài sáng Sự khác biệt này đã được xác nhận là có ý nghĩa thống kê (KTC 95% = 1,104 – 3,004; p < 0,05), cho thấy rằng thói quen đọc trong điều kiện ánh sáng yếu ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe mắt của học sinh.
3.4.2.8 Mối liên quan giữa cận thị và khoảng cách giữa mắt và sách vở
Bảng 3.30 Mối liên quan giữa cận thị và khoảng cách giữa mắt, sách vở Khoảng cách giữa mắt và sách vở
Việc giữ khoảng cách hợp lý giữa mắt và sách vở có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe mắt của bạn Theo nghiên cứu, giữ khoảng cách gần có thể làm tăng nguy cơ mắc các vấn đề về thị lực gấp 1.733 lần so với nhìn ở khoảng cách xa hơn Kết quả này đã được chứng minh có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 95% (khoảng tin cậy 1,078 – 2,786; p < 0,05) Do đó, duy trì khoảng cách hợp lý khi đọc sách hoặc làm việc gần giúp giảm thiểu nguy cơ mắc các bệnh về mắt.
3.4.2.9 Mối liên quan giữa cận thị và thời gian đọc truyện tranh
Bảng 3.31 Mối liên quan giữa cận thị và thời gian đọc truyện tranh Thời gian đọc truyện tranh
Không đọc 37 (11,9) 273 (88,1) - - Đọc không thường xuyên
Các nghiên cứu cho thấy, học sinh đọc truyện tranh càng nhiều có nguy cơ mắc cận thị càng cao Cụ thể, tỷ lệ cận thị ở học sinh đọc truyện tranh thường xuyên cao gấp 2,484 lần so với những học sinh không đọc truyện tranh, trong khi đó, học sinh đọc truyện tranh không thường xuyên có nguy cơ cận thị cao gấp 1,837 lần Dữ liệu này cho thấy mối liên hệ rõ ràng giữa thói quen đọc truyện tranh và tỷ lệ mắc cận thị ở học sinh, với mức độ ý nghĩa thống kê p < 0,05, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm soát thời gian tiếp xúc với truyện tranh để phòng ngừa cận thị hiệu quả.
3.4.2.10 Mối liên quan giữa cận thị và thời gian chơi game, điện tử
Bảng 3.32 Mối liên quan giữa cận thị và thời gian chơi game, điện tử Thời gian chơi game, điện tử
Việc chơi game và sử dụng thiết bị điện tử làm tăng nguy cơ mắc cận thị ở học sinh lên đến 1.465 lần so với những học sinh không chơi game hay dùng thiết bị, và sự khác biệt này đã được chứng minh có ý nghĩa thống kê (KTC 95% từ 1.000 đến 2.145; p < 0,05).
3.4.2.11 Mối liên quan giữa cận thị và thời gian xem tivi
Bảng 3.33 Mối liên quan giữa cận thị và thời gian xem tivi
Từ 30 phút đến 1 giờ/ngày
Chưa tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa cận thị và thời gian xem tivi, p > 0,05.
BÀN LUẬN
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ học sinh nam chiếm 53,4%, trong khi học sinh nữ chiếm 46,6%, phản ánh xu hướng cân đối giữa giới tính học sinh Kết quả này tương tự như nghiên cứu của Nguyễn Văn Đông (2012), với tỷ lệ học sinh nam là 55,5% và nữ là 44,5%, cho thấy sự đồng thuận về tỷ lệ giới tính trong mẫu nghiên cứu Độ tuổi của học sinh trong mẫu nghiên cứu chủ yếu từ 6 đến 10 tuổi, với phân bố phân đều và tỷ lệ tăng dần theo độ tuổi, trong đó học sinh 6 tuổi chiếm 19,1%, phản ánh quá trình phát triển đồng đều của nhóm tuổi này.
HS 7 tuổi là 19,7%, HS 8 tuổi là 19,8%, HS 9 tuổi là 20,0% và HS 10 tuổi là 21,4% Sự phân bố này cũng tương đối hợp lý
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ học sinh phân bố đều theo các lớp học, với xu hướng tăng dần từ lớp 1 đến lớp 5 Cụ thể, học sinh lớp 1 chiếm 19,3%, lớp 2 là 19,7%, lớp 3 là 19,6%, lớp 4 là 20,0%, và lớp 5 là 21,4%, cho thấy sự phân bổ khá đồng đều và chỉ có những chênh lệch nhỏ không đáng kể Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Nguyễn Văn Đông (2012), với tỷ lệ học sinh lớp 1 là 15,6%, lớp 2 21,5%, lớp 3 18%, lớp 4 20,2%, và lớp 5 24,7%, chứng tỏ phân bố học sinh theo khối lớp chỉ có sự chênh lệch nhỏ.
Tình tình cận thị của học sinh
4.2.1 Tình hình cận thị của học sinh
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ học sinh bị chứng tật khúc xạ là 17,6%, cao hơn so với kết quả của các nghiên cứu trước đó do Nguyễn Tất Tuấn và Trịnh Thị Hiền thực hiện.
Các nghiên cứu trước đây của Syaratul-Emma Hashim (2008), Nguyễn Văn Đông (2012), và Nguyễn Thị Lơ cùng cộng sự (2012) đều ghi nhận tỷ lệ CT lần lượt là 11,7%, 5,4%, 14,2% và 7,08%, thể hiện sự đa dạng trong tỷ lệ mắc bệnh theo các nghiên cứu khác nhau [7], [10], [32] Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ thấp hơn so với nghiên cứu của Hoàng Văn Tiến và cộng sự, cho thấy sự khác biệt trong các yếu tố ảnh hưởng hoặc phương pháp khảo sát.
(2005) và Lê Thị Thanh Xuyên và cộng sự (2009) với tỷ lệ CT là 32,3% và
29,86% [21], [34] Sự khác nhau này có thể là do sự khác biệt về yếu tố di truyền và hoàn cảnh môi trường sống của HS
4.2.2 Tình tình mắc cận thị theo giới
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi có 19% HS nữ CT nhiều hơn HS nam
Tỉ lệ mắc bệnh CT là 16,4%, phù hợp với các nghiên cứu trước đây Theo Lê Minh Thông và cộng sự (2004), tỷ lệ mắc bệnh ở nữ là 21,88%, trong khi ở nam là 16,93% Ngoài ra, Trần Minh Tâm và Đỗ Văn Dũng (2006) ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh ở nữ là 21,39%, còn ở nam là thấp hơn, thể hiện sự phổ biến của bệnh này trong các nhóm đối tượng khác nhau.
CT là 10,94% [20]; Phạm Văn Tần, Phạm Hồng Quang (2010), HS nữ CT là 24,6%, HS nam CT là 16% [19]; Võ Việt Xuân (2012), HS nữ CT là 20,1%,
HS nữ có tỷ lệ mắc CT cao hơn, đạt 13,7% [33], có thể do nữ sinh thường gặp nhiều khó khăn trong học tập và dành nhiều thời gian hơn cho việc học tập so với nam sinh Ngoài ra, nữ ít tham gia các hoạt động thể lực ngoài trời như nam giới, điều này khiến nguy cơ mắc CT ở nữ cao hơn Ngược lại, việc tích cực tham gia hoạt động thể chất ngoài trời có thể giúp giảm tỷ lệ mắc CT ở học sinh.
HS nam thường hay năng động hơn, tham gia nhiều hoạt ngoài trời nên tỷ lệ
Để bảo vệ sức khỏe mắt, học sinh cần duy trì chỉ số glucose trong máu phù hợp, đặc biệt là khi bị cận thị hoặc có nguy cơ thấp hơn về thị lực Việc sắp xếp thời gian học tập và vui chơi hợp lý giúp đôi mắt được thư giãn và nghỉ ngơi, đồng thời giảm thiểu áp lực cho thị lực Học sinh nên chú ý đến chế độ sinh hoạt hàng ngày và duy trì các thói quen tốt để bảo vệ thị lực hiệu quả.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ học sinh nữ mắc chứng trầm cảm cao hơn so với học sinh nam, mặc dù tổng tỷ lệ này thấp hơn so với các nghiên cứu trước đây Cụ thể, tỷ lệ học sinh nữ CT trong nghiên cứu của Lê Thị Thanh Xuyên và cộng sự (2009) là 41,55%, còn học sinh nam là 36,04%; Vũ Thị Hoàng Lan và Nguyễn Thị Minh Thái (2010) ghi nhận tỷ lệ học sinh nữ CT là 53,6%, học sinh nam 45,9%; Nguyễn Văn Trai (2011) báo cáo tỷ lệ học sinh nữ CT là 34%, còn học sinh nam là 29,7% Dù tỷ lệ mắc chứng trầm cảm ở cả nam và nữ đều cao trong nghiên cứu của chúng tôi, điểm chung là tỷ lệ học sinh nữ bị CT vẫn cao hơn so với học sinh nam.
Cũng tương tự như vậy nhưng nghiên cứu của chúng tôi có tỷ lệ HS nữ và
HS nam bị CT cao hơn nghiên cứu của Vũ Phong Túc (2011) với HS nữ CT là 7,2% , HS nam CT là 2,5% [29]
4.2.3 Tình tình mắc cận thị theo tuổi
Tỷ lệ học sinh mắc chứng tật tăng theo nhóm tuổi, trong đó học sinh 6 tuổi có tỷ lệ chỉ 2,7%, tăng lên 12,6% khi học sinh 7 tuổi, và cao hơn nữa với 19,7% ở nhóm 8 tuổi Đây là xu hướng rõ ràng cho thấy sự gia tăng nguy cơ mắc chứng tật khi trẻ bước vào các độ tuổi sau, cần chú trọng các biện pháp phòng ngừa và can thiệp sớm để giảm tỷ lệ mắc bệnh trong nhóm học sinh nhỏ tuổi.
Trẻ bắt đầu đi học và tiếp xúc với nhiều bài vở, dẫn đến mắt dễ bị mệt mỏi và căng thẳng Tỷ lệ cận thị (CT) ở nhóm tuổi từ 24,2% và tăng lên đến 27,4% ở trẻ 10 tuổi cho thấy rõ mối liên hệ giữa quá trình học tập và sự phát triển của tật cận thị Các yếu tố như thời gian dành cho việc học, tiếp xúc lâu với các thiết bị học tập là nguyên nhân chính gây ra tình trạng cận thị ở trẻ em Việc kiểm soát thời gian học tập và tăng cường hoạt động ngoài trời là cần thiết để giảm tỷ lệ mắc cận thị trong nhóm tuổi này.
4.2.4 Tình tình mắc cận thị theo lớp học
Nghiên cứu của chúng tôi đưa ra kết quả HS CT tăng theo khối lớp học, trong đó HS lớp 1 cận thị chiếm 2,7%, HS lớp 2 CT chiếm 12,6%, HS lớp 3
CT chiếm 20%, HS lớp 4 CT chiếm 24,2% và HS lớp 5 CT chiếm 27,4% Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu trước đây như: Nguyễn Văn Đông
Theo các nghiên cứu, tỷ lệ học sinh mắc chứng TKX tăng dần theo cấp học, với học sinh lớp 1 không có TKX, lớp 2 chỉ chiếm 0,3%, lớp 3 là 17,6%, lớp 4 là 22,6% và lớp 5 là 24,5% [7] Nghiên cứu của Lê Minh Thông và cộng sự (2004) cũng cho thấy tỷ lệ chứng TKX ở học sinh tăng theo từng cấp học, với cấp 1 là 6,56%, cấp 2 là 28,33%, cấp 3 là 19,43% [24] Ngoài ra, học sinh lớp học cao hơn thường phải làm nhiều bài vở hơn và dành nhiều thời gian học tập hơn, điều này làm cho nguy cơ mắc chứng TKX càng cao.
4.2.5 Tuổi phát hiện bị cận thị
Nghiên cứu của Võ Việt Xuân (2012) cho thấy tỷ lệ học sinh bắt đầu bị cận thị từ lớp 1 là 2,7%, lớp 2 là 4,1%, lớp 5 chiếm 27%, còn các lớp 3 và 4 không có trường hợp nào Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tuổi phát hiện bệnh cận thị chủ yếu là khi học sinh 8 tuổi, chiếm 32,6%, trong khi đó, có 1,6% học sinh mới phát hiện bị cận thị khi mới 1 tuổi.
Tần suất mắc chứng tật khúc xạ (CT) thay đổi theo độ tuổi, từ 1,6% ở 2 tuổi đến 13,2% ở 6 tuổi rồi tăng lên 18,6% ở 7 và 9 tuổi, sau đó giảm còn 14% ở 10 tuổi CT do yếu tố bệnh lý thường nặng hơn và có thể phát hiện sớm, trong khi CT do yếu tố môi trường thường nhẹ, khó chẩn đoán và tăng theo tuổi, đặc biệt khi trẻ bắt đầu đi học Vì vậy, nhiều trẻ bị CT có thể bị bỏ sót trong giai đoạn đầu, nhưng khi trẻ khoảng 8 tuổi, sự nhận thức của trẻ rõ ràng hơn, giúp trẻ tự nói ra vấn đề về thị lực, từ đó cha mẹ quan tâm và đưa trẻ đi khám kịp thời, phát hiện và điều trị nhiều trường hợp bị CT hơn.
Đặc điểm các yếu tố liên quan đến cận thị của học sinh
4.3.1 Tiền sử gia đình có người bị cận thị
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có 31,3% học sinh có người thân trong gia đình mắc chứng trầm cảm, con số này khá tương đồng với tỷ lệ 34,2% được đưa ra bởi Nguyễn Văn Trai (2011) Mặc dù nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào học sinh tiểu học, còn nghiên cứu của Nguyễn Văn Trai có phạm vi rộng hơn, nhưng kết quả đều phản ánh rõ mức độ phổ biến của trầm cảm trong các gia đình học sinh.
(2011) điều tra trên đối tượng là HS trung học nhưng kết quả đều cho thấy rằng HS có người thân có tiền sử bị CT là rất cao
Nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả cao hơn so với các nghiên cứu trước đó như Võ Việt Xuân (2012) với tỷ lệ gia đình học sinh có người bị cận thị chiếm 12,4% và Nguyễn Văn Đông (2012) với tỷ lệ 2,1% Sự khác biệt này có thể do yếu tố ngẫu nhiên hoặc khác biệt về địa điểm nghiên cứu, điều kiện sống và sinh hoạt của người dân Nghiên cứu của chúng tôi thực hiện tại quận Ninh Kiều, trung tâm thành phố Cần Thơ, nơi người dân tiếp xúc nhiều hơn với các yếu tố nguy cơ gây cận thị như sử dụng máy tính nhiều, công việc đòi hỏi tập trung mắt cao, thời gian nhìn bằng mắt lâu và điều kiện nhà ở chật chội thiếu ánh sáng.
Võ Việt Xuân (2012) thực hiện nghiên cứu tại huyện Thốt Nốt, khu vực ngoại ô thành phố Cần Thơ, trong khi Nguyễn Văn Đông (2012) tiến hành khảo sát tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long, nơi có điều kiện kinh tế - xã hội thấp hơn Các nghiên cứu này cho thấy người dân tại những khu vực này ít có khả năng tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ hơn, phản ánh rõ tác động của mức độ phát triển kinh tế - xã hội đến yếu tố nguy cơ trong cộng đồng.
4.3.2 Điều kiện kinh tế gia đình của học sinh Điều kiện kinh tế gia đình của HS trong nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu là trung bình, kém chiếm 55,1%, còn lại là khá, giàu chiếm 44,9% Đối tượng chúng tôi nghiên cứu có tỷ lệ giàu, nghèo phân bố tương đối đều nhau Mặc dù nghiên cứu ở trung tâm thành phố nhưng tỷ lệ giàu nghèo chênh lệch không đáng kể
4.3.3 Góc học tập của học sinh
Theo kết quả của các nghiên cứu trước như: Nguyễn Văn Trai (2011) học sinh có góc học tập trong nhà chiếm 88,5% [26], Nguyễn Văn Đông
Năm 2012, tỷ lệ học sinh có góc học tập tại nhà đạt 84,5% [7], tương tự như kết quả nghiên cứu của chúng tôi, trong đó đa số học sinh (86%) có góc học tập riêng tại nhà Phần lớn các em đều được trang bị một không gian riêng biệt để học tập, giúp đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của bản thân.
4.3.4 Đặc điểm góc học tập của học sinh
Theo nghiên cứu của chúng tôi, hơn 53,6% học sinh có góc học tập không gần cửa sổ, trong khi chỉ có 46,4% học sinh ngồi học ở gần cửa sổ Kết quả này cho thấy sự phân bố không đều của không gian học tập và thấp hơn so với các nghiên cứu trước đó, như của Nguyễn Văn Trai.
Các nghiên cứu từ năm 2011 và 2012 cho thấy tỷ lệ học sinh có góc học tập gần cửa sổ đạt mức cao đáng kể Năm 2011, có tới 66,5% học sinh học gần cửa sổ, trong khi chỉ 33,5% không gần cửa sổ [26] Đến năm 2012, tỷ lệ này tăng lên đáng kể với 92,1% học sinh có góc học tập gần cửa sổ và chỉ 7,9% không gần cửa sổ [7] Những số liệu này cho thấy tầm quan trọng của ánh sáng tự nhiên đối với hiệu quả học tập của học sinh.
Phần lớn góc học tập trong nghiên cứu của chúng tôi đều có trang bị đèn chiếm 86,2% Kết quả này cao hơn các nghiên cứu: Nguyễn Văn Trai
Trong các nghiên cứu của năm 2011 và 2012, tỷ lệ học sinh có góc học tập có đèn bàn lần lượt là 72,7% và 85,5% Tuy nhiên, sự chênh lệch này không quá lớn, nguyên nhân có thể do các tiêu chuẩn về trang bị đèn bàn của các tác giả khác nhau.
Mặc dù đa số phụ huynh đã trang bị góc học tập cho con em nhưng vẫn còn nhiều góc học tập chưa đạt yêu cầu do thiếu kiến thức về tiêu chuẩn hoặc hạn chế về điều kiện kinh tế Nhà trường cần hướng dẫn phụ huynh cách tạo dựng góc học tập đạt chuẩn, đồng thời khuyến khích phụ huynh tự trang bị kiến thức và tận dụng mọi nguồn lực để đảm bảo con có không gian học tập chất lượng Việc xây dựng góc học tập phù hợp và đạt chuẩn là yếu tố quan trọng giúp học sinh phát triển toàn diện và nâng cao hiệu quả học tập.
4.3.5 Thời gian học tập tại nhà
Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Trãi (2011), phần lớn học sinh tự học tại nhà trong khoảng thời gian từ 30 phút đến 1 giờ (54,3%), tiếp theo là từ 1 đến 2 giờ (42,3%), và chỉ có một số ít học sinh tự học trên 2 giờ (3,4%) Kết quả này phù hợp với khảo sát của chúng tôi, cho thấy thời gian tự học tại nhà của học sinh chủ yếu diễn ra trong khoảng tối đa 2 giờ mỗi ngày.
Phần lớn học sinh dành từ 30 phút đến 1 giờ mỗi ngày để học tập tại nhà, chiếm 45%, trong khi 23% học dưới 30 phút, 20,6% từ 1 đến 2 giờ, và 11,4% trên 2 giờ Do thời gian học chính trên trường, học sinh thường dành ít hơn thời gian ở nhà cho việc học, chủ yếu để ôn tập kiến thức đã học và hoàn thiện bài vở còn dang dở Thời gian còn lại dành cho hoạt động vui chơi giải trí giúp cân đối giữa học tập và giải trí, qua đó giảm bớt áp lực, căng thẳng và nâng cao hiệu quả học tập của các em.
4.3.6 Thời gian đi học thêm
Trong nghiên cứu của chúng tôi, HS không đi học thêm chiếm 60,7%, tuy nhiên học sinh có đi học thêm chủ yếu từ 6 đến 10 giờ/tuần chiếm 23,9%, từ 1
Các nghiên cứu trước đây, như của Vũ Thị Hoàng Lan và Nguyễn Thị Minh Thái (2010), cho thấy hơn 81% học sinh dành hơn 10 giờ học thêm mỗi tuần, phản ánh áp lực học thêm lớn Trong khi đó, Nguyễn Văn Trai (2011) ghi nhận tỷ lệ học sinh không học thêm chiếm chỉ 3%, với 41,5% học từ 1-5 giờ/tuần và 24,5% từ 6-10 giờ/tuần, còn hơn 31% học trên 10 giờ/tuần Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy mức độ học thêm thấp hơn nhiều, với chỉ 5 giờ/tuần chiếm 12%, và trên 10 giờ/tuần chỉ chiếm 3,4%, phản ánh sự thay đổi trong thói quen học tập của học sinh qua các thời kỳ.
Khoảng 51,1% học sinh tiểu học ít quan tâm đến học thêm do đặc điểm của đối tượng nghiên cứu này, bởi vì các em mới bắt đầu đi học, bài vở còn ít Trái lại, các nghiên cứu trước chủ yếu tập trung vào học sinh trung học cơ sở, nơi các em học nhiều kiến thức hơn và kiến thức ngày càng khó, khiến phụ huynh thường cho con đi học thêm để không bị tụt lại phía sau Đây là vấn đề đáng quan tâm hiện nay, cần xem xét lại nội dung và phương pháp giảng dạy tại trường, cách quản lý hoạt động học thêm cũng như quan niệm của phụ huynh về học thêm Thời gian của học sinh tiểu học dành cho học tập trong trường và ở nhà là đã khá lớn, và việc học thêm vào cuối tuần hoặc ngày nghỉ gây áp lực lớn lên các em, ảnh hưởng đến sức khỏe và khả năng vui chơi, nghỉ ngơi của trẻ.
4.3.7 Ánh sáng khi học bài hoặc đọc truyện, sách, báo
Nghiên cứu của Võ Việt Xuân (2012) cho thấy có tới 79,9% học sinh đọc sách, báo thiếu ánh sáng tự nhiên, trái ngược hoàn toàn với kết quả nghiên cứu của chúng tôi, trong đó 87,6% học sinh học bài hoặc đọc truyện, sách báo ngoài trời sáng Nguyên nhân có thể là do chúng tôi khảo sát học sinh tiểu học – những học sinh còn nhỏ, hiểu biết hạn chế nên nhận được sự quan tâm, giám sát chặt chẽ từ người thân, và các em thường vâng lời người lớn hơn Trong khi đó, nghiên cứu của Võ Việt Xuân (2012) tập trung vào học sinh trung học cơ sở, những em đã trưởng thành hơn, ít bị chú ý giám sát và biết cách tránh né sự giám sát của người lớn Ngoài ra, có thể sự chênh lệch còn do khác biệt về tiêu chuẩn ánh sáng mà các tác giả đưa ra trong các nghiên cứu.
4.3.8 Khoảng cách giữa mắt và sách vở khi học bài hoặc đọc truyện, sách, báo
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có đến 74,4% học sinh duy trì khoảng cách phù hợp giữa mắt và sách vở khi học bài, đọc truyện hoặc sách báo, trong khi 25,6% học sinh vẫn nhìn rất gần, tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu của Võ Việt Xuân (2012), trong đó 83,8% học sinh chú ý giữ khoảng cách đúng chuẩn còn 16,2% không chú ý Sự chênh lệch giữa các nghiên cứu này có thể do nguyên nhân ngẫu nhiên hoặc khác biệt trong tiêu chuẩn về khoảng cách của các nghiên cứu.
Các yếu tố liên quan đến cận thị của học sinh
4.4.1 Mối liên quan giữa cận thị và đặc điểm chung của học sinh
4.4.1.1 Mối liên quan giữa cận thị và giới tính
Trong nghiên cứu của chúng tôi, không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa giới tính và nguy cơ mắc căn bệnh CT, với giá trị p > 0,05 Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đây của Vũ Thị Hoàng Lan và Nguyễn Thị Minh Thái, cho thấy giới tính không ảnh hưởng đáng kể đến nguy cơ mắc bệnh.
(2010), Võ Việt Xuân (2012), Nguyễn Văn Đông (2012) và Vũ Phong Túc
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi khác biệt so với các nghiên cứu trước đó của các tác giả như Lê Minh Thông và cộng sự (2004), Trần Minh Tâm, Đỗ Văn Dũng (2006), Vũ Thị Thanh (2009), Nguyễn Thị Nhiễu và cộng sự.
(2012) [14], [20], [22], [24] Các nghiên cứu này cho kết quả có mối liên quan giữa CT và giới tính có ý nghĩa thống kê, p < 0,05
Sự khác biệt trong kết quả nghiên cứu của chúng tôi so với các tác giả khác có thể do điều kiện kinh tế xã hội, môi trường, và thời gian học tập giữa nam và nữ không có sự khác biệt đáng kể.
4.4.1.2 Mối liên quan giữa cận thị và tuổi
Các nghiên cứu của Vũ Thị Hoàng Lan, Nguyễn Thị Minh Thái (2010) và Võ Việt Xuân (2012) cho thấy mối liên quan giữa chiều cao và tuổi không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi lại phát hiện mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa chiều cao và tuổi (p < 0,001), cho thấy rằng khi các em lớn lên, dễ bị ảnh hưởng từ các yếu tố môi trường xung quanh, dẫn đến tăng khả năng mắc cận thị.
4.4.1.3 Mối liên quan giữa cận thị và lớp học
Nghiên cứu của chúng tôi tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa
CT và lớp học, p < 0,001 Kết quả này tương tự như các nghiên cứu trước như: Nguyễn Văn Đông (2012) nghiên cứu TKX và khối lớp học ở HS tiểu học, Võ
Nghiên cứu của Việt Xuân (2012) cho thấy có mối liên hệ giữa quá trình học tập và khối lượng kiến thức của học sinh trung học cơ sở, trong đó khối lượng kiến thức tăng dần theo cấp học Lê Minh Thông và cộng sự (2004) cũng chứng minh rằng quá trình tăng dần theo cấp học có ý nghĩa thống kê, với p < 0,05, cho thấy khi học lớp cao hơn, học sinh không những tích lũy nhiều kiến thức hơn mà còn dành nhiều thời gian học tập hơn, dẫn đến tỷ lệ mắc các vấn đề liên quan đến quá trình học tập tăng theo Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi lại ghi nhận rằng tỷ lệ mắc các vấn đề này cũng tăng dần theo lớp học, nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê, với p > 0,05, cho thấy mối liên hệ này chưa rõ ràng hoặc chưa đủ mạnh để khẳng định.
4.4.2 Mối liên quan giữa cận thị và các yếu tố nguy cơ
4.4.2.1 Mối liên quan giữa cận thị và tiền sử gia đình mắc cận thị
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy gia đình có người thân mắc chứng tự kỷ (CT) có nguy cơ cao gấp 2,161 lần so với gia đình không có người thân mắc CT, với sự khác biệt này mang ý nghĩa thống kê (KTC 95% = 1,478 – 3,162; p < 0,001) Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đó như của Võ Việt Xuân (2012), khi gia đình có người bị CT của học sinh trung học cơ sở có OR = 2,626 (KTC 95%: 1,382 – 4,991), và Nguyễn Văn Trai (2011), cũng chỉ ra rằng gia đình có người mắc CT của học sinh trung học cơ sở có nguy cơ cao hơn.
Các nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ mắc cận thị cao hơn ở những học sinh có thành viên gia đình bị tật khúc xạ, với OR = 1,501 theo nghiên cứu của [24] và OR = 4,516 của Nguyễn Văn Đông (2012) [7], chứng tỏ yếu tố di truyền đóng vai trò quan trọng trong nguy cơ mắc cận thị Do không có biện pháp phòng chống hiệu quả nào đối với yếu tố di truyền, cách hạn chế duy nhất là lựa chọn bạn đời không có tiền sử tật khúc xạ để giảm thiểu ảnh hưởng đến thế hệ sau.
Nghiên cứu của Nguyễn Tất Tuấn và Trịnh Thị Hiền (2006) cho thấy tỷ lệ tật khúc xạ liên quan đến cha mẹ có thị lực không rõ ràng và chưa đạt ý nghĩa thống kê với p > 0,05 Sự khác biệt này có thể do thời điểm nghiên cứu chưa có sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, khi người dân ít tiếp xúc với máy móc và yêu cầu tập trung cao cho mắt, khiến thế hệ sau ít bị ảnh hưởng hơn.
4.4.2.2 Mối liên quan giữa cận thị và điều kiện kinh tế gia đình
Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng học sinh có điều kiện kinh tế khá, giàu có có nguy cơ mắc chứng tự kỷ cao hơn gấp 1.878 lần so với học sinh có điều kiện kinh tế trung bình, kém, với sự khác biệt này được xác nhận có ý nghĩa thống kê (KTC 95% 1,289 – 2,736; p = 0,001) Nguyên nhân có thể là do học sinh từ gia đình khá giả thường xuyên tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ như máy vi tính, trò chơi điện tử, sách và truyện, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các vấn đề liên quan đến chứng tự kỷ Trong khi đó, các em học sinh từ gia đình có điều kiện kinh tế thấp hơn chủ yếu dành chi tiêu cho sinh hoạt như ăn uống, ít tiếp xúc với các yếu tố này hơn so với các bạn có hoàn cảnh kinh tế tốt hơn.
4.4.2.3 Mối liên quan giữa cận thị và góc học tập trong nhà
Trong nghiên cứu của chúng tôi, nguy cơ bị cận thị của học sinh có góc học tập trong nhà cao hơn gấp 3,444 lần so với học sinh không có góc học tập trong nhà, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (KTC 95% = 1,563 – 7,589; p = 0,001) Kết quả này khác với các nghiên cứu trước, như của Phạm Văn Tần và Phạm Hồng Quang (2010) và Nguyễn Văn Trai (2011), khi họ nhận thấy học sinh không có góc học tập tại nhà mắc cận thị cao hơn hoặc nguy cơ cận thị cao gấp 1,775 lần so với nhóm có góc học tập Sự khác biệt có thể do các trẻ có góc học tập trong nhà thường thuộc tầng lớp kinh tế xã hội cao hơn, tiếp xúc nhiều với các phương tiện giải trí hoặc phải đi học nhiều hơn, dễ mắc cận thị hơn Tuy nhiên, các nghiên cứu của Trần Minh Tâm, Đỗ Văn Dũng (2006) và Nguyễn Văn Đông (2012) chưa tìm thấy mối liên hệ này, cho thấy vẫn còn nhiều yếu tố cần được khám phá trong nghiên cứu về nguyên nhân gây cận thị ở học sinh.
4.4.2.4 Mối liên quan giữa cận thị và đặc điểm góc học tập trong nhà
Nghiên cứu của chúng tôi chưa xác định được mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa chỉ số CT và đặc điểm góc học tập trong nhà của học sinh (p > 0,05), cho thấy không có ảnh hưởng rõ ràng từ các yếu tố này đến nhau Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Văn Đông (2012), xác nhận rằng góc học tập trong nhà không có tác động đáng kể đến chỉ số CT của học sinh.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Trai (2011), học sinh không có góc học tập đạt chuẩn có nguy cơ chậm tiến cao hơn gấp đôi so với những học sinh có góc học tập đạt chuẩn Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc tạo môi trường học tập phù hợp để nâng cao hiệu quả học tập của học sinh Các yếu tố về không gian và cách thiết kế góc học tập đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy quá trình tiếp thu kiến thức và phát triển kỹ năng Việc đảm bảo góc học tập đạt chuẩn không chỉ giúp nâng cao thành tích học tập mà còn góp phần rèn luyện tinh thần tự lập và ý thức học tập của học sinh.
[26] Sự khác biệt này với nghiên cứu của chúng tôi có thể lý giải là do tiêu chuẩn về đặc điểm góc học tập khác nhau
4.4.2.5 Mối liên quan giữa cận thị và thời gian học tập tại nhà
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy học sinh học tập tại nhà trên 1 giờ mỗi ngày có nguy cơ bị cận thị cao gấp 1,722 lần so với những người học ít hơn, với khoảng tin cậy 95% là (1,176 – 2,522) và p < 0,05 Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đó, như của Phạm Văn Tần và Phạm Hồng Quang (2010), chỉ ra rằng học sinh tự học trên 3 giờ mỗi ngày có tỷ lệ mắc cận thị cao hơn so với học ít hơn 3 giờ, với OR=2,5 (95% CI=1,7-3,6) Đồng thời, Trần Minh Tâm và Đỗ Văn Dũng (2006) chứng minh cận thị có mối liên hệ rõ ràng với thời gian học trong ngày, với OR=1,09 (KTC 95%: 1,01 – 1,09).
Theo nghiên cứu của Hoàng Văn Tiến và cộng sự (2005) thì không tìm thấy mối liên quan này [21]
HS đã dành nhiều thời gian cho việc học trong trường, nhưng khi về nhà, các em cần biết cân đối thời gian học tập và vui chơi giải trí hợp lý Điều này giúp tránh làm mắt mỏi mệt, căng thẳng, giảm nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe mắt và nâng cao hiệu quả học tập Việc sắp xếp thời gian hợp lý không chỉ nâng cao chất lượng học tập mà còn giúp các em duy trì tinh thần thoải mái, cân bằng cuộc sống hàng ngày.
4.4.2.6 Mối liên quan giữa cận thị và thời gian đi học thêm
Theo nghiên cứu của Vũ Thị Hoàng Lan và Nguyễn Thị Minh Thái (2010), trẻ học thêm trên 10 giờ mỗi tuần có nguy cơ gặp phải các vấn đề về sức khỏe và tâm lý Thời gian học thêm quá dài ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển toàn diện của trẻ, gây căng thẳng và mệt mỏi kéo dài Nội dung học thêm cần được điều chỉnh hợp lý để đảm bảo sự cân đối giữa học tập và nghỉ ngơi, giúp trẻ phát triển khỏe mạnh và cân đối tâm lý Việc quản lý thời gian học thêm đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả học tập và hạn chế các tác động tiêu cực đến trẻ nhỏ.