TỔNG QUAN
Đặc điểm lâm sàng, vị trí và loại dị vật
Dị vật đường ăn (DVĐA) xuất hiện ở tất cả các lứa tuổi, với tỷ lệ gặp cao hơn ở người lớn so với trẻ em trong các nghiên cứu nội địa Theo nghiên cứu của Nguyễn Tư Thế (2005), trên 218 bệnh nhân, người lớn chiếm 82,1% so với trẻ em 17,9% Nghiên cứu của Nguyễn Đức Phú, Võ Lâm Phước và Nguyễn Tư Thế (2009) tại Bệnh viện Trung Ương Huế và Bệnh viện trường Đại Học Y Dược Huế cho thấy tỷ lệ người lớn là 92,5%, trẻ em cũng 17,9% Trần Thanh Hải (2010) tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương xác nhận tỷ lệ người lớn mắc DVĐA là 92,5%, trẻ em 17,9% Tuy nhiên, nghiên cứu của Phạm Thị Kim Dung (2009) tại Nam Định lại cho thấy trẻ em chiếm tới 71%, người lớn 29% Ngoài ra, các tài liệu nước ngoài thường ghi nhận tỷ lệ trẻ em gặp phải dị vật đường ăn cao hơn so với người lớn.
Bệnh gặp ở cả hai giới theo Nguyễn Tư Thế (2005) [28] nam 50%, nữ 50%, Chử Ngọc Bình (2008) nam 46,8%, nữ 53,2% [3], Trần Việt Hồng
Nghiên cứu năm 2012 cho thấy tỷ lệ nam chiếm 51,2% và nữ 48,8% [10], trong khi Trần Minh Trường (2009) tại Bệnh viện Chợ Rẫy ghi nhận tỷ lệ nam là 50,86% và nữ là 49,14% [35] Các nghiên cứu quốc tế như của Athanassiadi K, Gerazounis M, Metaxas E, Kalantzi N (2002) cũng cho thấy tỷ lệ giới tính cân bằng, mỗi giới chiếm khoảng 50% [40], phản ánh sự phân bố giới đồng đều trong các nghiên cứu về chủ đề này.
1.2.1.2 Dịch tễ học dị vật đường ăn
Nông thôn và thành thị có phong cách sống và sinh hoạt khác nhau, dẫn đến sự khác biệt về tỉ lệ mắc các rối loạn về tâm thần Theo Chử Ngọc Bình (2008), nghiên cứu tại Bệnh viện Việt Nam – Cuba cho thấy tỉ lệ mắc rối loạn tâm thần ở thành phố là 85%, trong khi nông thôn chỉ 15% Nguyễn Đức Phú (2009) khảo sát tại Bệnh viện Trung Ương Huế ghi nhận tỷ lệ này là 40,8% ở thành phố và 59,2% ở nông thôn Phạm Thị Kim Dung (2009) tại Bệnh viện Đa khoa Nam Định báo cáo tỉ lệ rối loạn tâm thần ở nông thôn là 69,5%, thành thị 30,5% Các tác giả quốc tế chưa có kết quả rõ ràng về đặc điểm này, nhưng các số liệu trong nước cho thấy rõ sự chênh lệch về tỷ lệ các rối loạn tâm thần giữa nông thôn và thành thị.
Trong xã hội có nhiều nghề khác nhau, nhưng việc nghiên cứu thường tập trung vào các nhóm nghề có tính chất công việc tương tự để dễ dàng phân tích và hiểu rõ hơn Theo Nguyễn Tư Thế (2005), các nhóm nghề được phân loại bao gồm trẻ nhỏ và người già yếu, học sinh sinh viên, cán bộ - công chức, công nhân, nông dân và buôn bán Trong khi đó, Nguyễn Đức Phú cùng Võ Lâm Phước (2009) chia thành các nhóm nghề như lao động chân tay (công nhân, nông dân), học sinh sinh viên, lao động trí óc (cán bộ, công chức, viên chức), và nhóm nhỏ tuổi Các phương pháp phân chia nghề nghiệp có thể khác nhau tùy vào mục đích nghiên cứu của từng tác giả Nghiên cứu nghề nghiệp giúp xác định nhóm nghề nào dễ bị mắc các vấn đề về DVĐA, từ đó góp phần đề xuất các biện pháp phòng ngừa hiệu quả hơn cho cộng đồng.
1.2.2.Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, vị trí và các loại dị vật 1.2.2.1.Đặc điểm lâm sàng
Sau khi mắc dị vật, bệnh nhân thường gặp phải cảm giác nuốt đau, nuốt vướng, buồn nôn, và có thể không dám ăn uống hoặc không thể nuốt thức ăn Việc đến khám và xử trí sớm giúp giảm nguy cơ tổn thương sức khỏe, trong khi xử trí muộn có thể gây ra viêm nhiễm tại chỗ hoặc các biến chứng nguy hiểm đến tính mạng Các giai đoạn của bệnh nhân mắc dị vật đường hô hấp cần được nhận biết để có biện pháp điều trị phù hợp và hiệu quả.
*Giai đoạn chưa viêm nhiễm:
Ngay sau khi nuốt phải dị vật, bệnh nhân thường gặp các triệu chứng như vướng họng, khó nuốt và đau khi nuốt Trong nhiều trường hợp, bệnh nhân cố gắng nuốt vài cục cơm, miếng rau hoặc chuối với hy vọng dị vật sẽ tự trôi xuống dạ dày Tuy nhiên, việc xử lý kịp thời và đúng cách là rất quan trọng để tránh các biến chứng nguy hiểm.
Một số bênh nhân thường có cảm giác tức ở cổ, sau xương ức.
Nước bọt thường tiết ra nhiều và bệnh nhân thường nhổ ra để tránh cảm giác đau khi nuốt xuống Trong trường hợp trẻ em hóc dị vật tròn, mỏng như đồng xu hoặc nút áo, việc nuốt không gây đau, nhưng các triệu chứng như nôn trớ, nôn ói và cảm giác nghẹn ở vùng cổ cần được cảnh giác.
Khi nuốt phải dị vật lớn, bệnh nhân có thể gặp các triệu chứng ngạt thở, tím tái và nôn ọe do dị vật kẹt lại ở miệng thực quản và tiền đình thanh quản, gây phản xạ co thắt thanh quản Điều này đe dọa đến tính mạng và yêu cầu xử lý cấp bách để loại bỏ dị vật an toàn.
Các triệu chứng viêm nhiễm xuất hiện trong vòng 24 - 48 giờ.
Hội chứng nhiễm trùng với sốt vừa 38 -39 độ C, bộ mặt nhiễm khuẩn, hơi thở hôi, bạch cầu tăng thường trên 10.000/mm 3 , nhất là đa nhân trung tính tăng cao.
Nuốt rất đau, thường không ăn được chỉ uống nước.
Vùng cổ có khi sưng nhẹ, ấn dọc máng cảnh rất đau, lọc cọc thanh quản cột sống mất.
X-Q cổ nghiêng: K hoảng cách giữa thanh khí quản và cột sống dày Cột sống cổ thẳng, mất độ cong sinh lý, có thể thấy dị vật nếu cản quang.
Dị vật gây hoại tử thành thực quản do chèn ép và viêm nhiễm, dẫn đến hình thành áp xe tại chỗ Trong trường hợp nghiêm trọng, có thể gây thủng thực quản và lan rộng quá trình viêm tấy, dẫn đến áp xe thực quản cổ Những biến chứng này có thể phát sinh từ viêm trung thất hoặc các biến chứng khác hiếm gặp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe bệnh nhân.
+ Viêm tấy và áp xe quanh thực quản cổ
Bệnh nhân sốt cao 39-40°C kèm tình trạng nhiễm trùng nhiễm độc rõ rệt, thể trạng suy sụp do không thể ăn uống Triệu chứng chính bao gồm đau cổ nhiều, chảy nhiều nước dãi, hơi thở hôi và khó thở nhẹ, khàn tiếng do phù nề thanh quản hoặc liệt dây thần kinh hồi quy Các biểu hiện này cần được chẩn đoán chính xác để có phương pháp điều trị phù hợp và nhanh chóng.
Quay cổ khó khăn, dấu lọccọc thanh quản cột sống mất.
Máng cảnh sưng một hoặc cả hai bên, thường là bên trái, đóng bánh, ấn rất đau.
X-Q cổ nghiêng: mất chiều cong sinh lý cột sống cổ, khoảng cách giữa thanh khí quản và cột sống cổ dày, thấy ổ áp xe trước cột sống cổ, có mức hơi nước, có thể thấy dị vật nếu cản quang.
+ Viêm trung thất và áp xe trung thất
Viêm trung thất do viêm nhiễm và mủ lan rộng từ vùng cổ xuống có thể ảnh hưởng toàn bộ hoặc chỉ khu trú một phần trung thất, với tỷ lệ tử vong cao từ 30-40% hoặc hơn Bệnh nhân thường có triệu chứng toàn thân như sốt cao, mặt nhiễm trùng, nhiễm độc, mạch nhanh nhỏ, thể trạng suy kiệt.
Cơ năng: đau ngực, khó thở, ho, nuốt đau, đau nhức sau xương ức, hoàn toàn không ăn uống được.
Thực thể: cổ thường bị sưng bạnh do có tràn khí dưới da, gõ ngực có tiếng kêu bong bon g.
X-Q trên phim phổi thẳng thấy trung thất giãn rộng, tư thế nghiêng thấy khí quản cong về phía trước.
+ Những biến chứng phổi, màng phổi
Viêm màng phổi mủ gây ra các triệu chứng chính như sốt cao, đau ngực và khó thở Trong quá trình khám, bác sĩ sẽ nhận thấy hội chứng ba giảm (giảm lượng khí, giảm đàn hồi phổi, giảm âm hưởng thanh quản) X-quang phổi thẳng thường cho thấy hình ảnh tràn dịch màng phổi rõ nét Chẩn đoán được xác định chính xác qua thủ thuật chọc dò màng phổi, cho ra mủ đặc trưng của viêm màng phổi mủ, đòi hỏi điều trị khẩn cấp để tránh biến chứng nặng.
Rò thực quảnhô hấp gây ra các triệu chứng như ho và sặc khi ăn uống, làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Việc chẩn đoán chính xác bệnh được thực hiện thông qua chụp thực quản có cản quang, giúp xác định vị trí và mức độ của rò rỉ Mặc dù rò thực quản hô hấp là biến chứng hiếm gặp, nhưng cần được phát hiện và điều trị kịp thời để tránh các biến chứng nghiêm trọng.
Thủng mạch máu lớn là hậu quả của dị vật chọc trực tiếp hoặc viêm hoại tử làm vỡ các động mạch lớn như động mạch cảnh gốc, thân động mạch cánh tay đầu, và quai động mạch chủ, gây chảy máu khủng khiếp vào thực quản Biến chứng này thường xuất hiện muộn, đột ngột và có thể gây ra chảy máu tươi mạnh, ít có dấu hiệu báo trước như khạc ra mủ máu vài ngày trước Đây là tình trạng nguy hiểm, có tiên lượng nặng và tỷ lệ tử vong cao do chảy máu ồ ạt vào các cơ quan nội tạng.
Nguyên nhân mắc dị vật đường ăn
Dị vật đường ăn thường xảy ra do nguyên nhân chủ yếu trong sinh hoạt hàng ngày hoặc do bất cẩn, vì đường vào là qua miệng Việc sử dụng và chế biến xương không hợp lý như chặt quá nhỏ, nấu món dễ gây hóc, cùng với việc trẻ chơi đồ chơi nhỏ dễ nuốt vào hoặc ăn uống khi chưa kiểm soát được hoàn toàn, là những yếu tố gia tăng nguy cơ mắc dị vật đường ăn Các nghiên cứu trong nước, chẳng hạn như của Nguyễn Đức Phú, Võ Lâm Phước, Nguyễn Tư Thế (2009), cho thấy tỉ lệ nguyên nhân gây dị vật đường ăn thường khá tương đồng.
[20] cười đùa trong khi ăn 57,8 %, ăn vội vàng 25,8 %, ngậm dị vật vô tình nuốt 11,6 %, ăn khi say rượu 4,1%, các nguyên nhân khác 0,7 %, Nguyễn Tư
Theo Thế (2005), có đến 55% người dân thường cười đùa khi ăn, trong khi đó 35,3% ăn vội vàng, 2,8% vô tình nuốt dị vật, và 6,9% ăn khi say rượu Phạm Thị Kim Dung cũng ghi nhận rằng có 10,2% người cười đùa khi ăn, 30,5% ăn vội vàng, 57,2% ngậm dị vật vô tình nuốt, và 1,7% ăn khi say rượu Ở trẻ em, các dị vật thường gặp là đồ chơi và đồng xu, gây nguy hiểm đến hệ tiêu hóa của trẻ.
Một số trường hợp liên quan đến bệnh tâm thần có thể dẫn đến hành vi bỏ vật vào họng và nuốt, gây nguy hiểm cho sức khỏe Bên cạnh đó, các bệnh lý thực quản như sẹo hẹp thực quản, u lành tính và u ác tính cũng là nguyên nhân phổ biến gây khó khăn trong việc nuốt và cần được chẩn đoán và điều trị kịp thời.
Tình hình mắc dị vật đường ăn
Năm 1917, Chevalier-Jackson đã tiến hành nghiên cứu dịch tễ học trên 612 trường hợp dị vật đường ăn và đường thở, góp phần làm sáng tỏ các yếu tố gây ra tình trạng này Đến năm 1934, ông mở rộng nghiên cứu với tổng số 3.038 trường hợp hóc dị vật, cung cấp dữ liệu toàn diện hơn về tần suất và đặc điểm của các trường hợp này Các nghiên cứu của Chevalier-Jackson đã trở thành nền tảng quan trọng trong lĩnh vực chẩn đoán và điều trị dị vật đường tiêu hóa và đường thở.
Năm 1975 Baraka A nghiên cứu 54 trường hợp dị vật đường ăn Trẻ em có
45 trường hợp (83,3%) mắc nhiều hơn người lớn và dị vật hay gặp là đồng xu [42].
Nayak (1984) đã nghiên cứu về dị vật đường ăn ở họng và thực quản qua 226 trường hợp, cung cấp thông tin quan trọng về sinh lý và cách xử lý dị vật trong vùng này Năm 1998, các nhà nghiên cứu như Al-Qudah A, Daradkeh S, và Abu-Khalaf M đã thành công trong việc lấy dị vật thực quản bằng phương pháp xông Foley, với tỷ lệ thành công đạt 84% (21 trên 25 trường hợp) Những kết quả này cho thấy phương pháp xông Foley là một kỹ thuật hiệu quả trong điều trị dị vật thực quản, góp phần nâng cao khả năng xử lý các trường hợp khó.
Năm 2004 Anwer AE lấy dị vật đường ăn cho 25 trường hợp dị vật qua n ội soi tỉ lệ thành công 100% [38].
Năm 2005 Waltzman ML, Baskin M, Wypij D, Mooney D, Johnes D, Fleisher G dùngống soi cứng lấy dị vật là đồng xu ở thực quản cho 168 trẻ em [73].
Năm 2006, Sankinsi U, Kocer B, Dural K, Kayhan B, Han S đã công bố kỹ thuật mở thực quản để lấy dị vật thực quản khi dị vật quá lớn không thể lấy qua nội soi, đánh dấu bước tiến quan trọng trong quản lý các trường hợp dị vật thực quản phức tạp.
Năm 2007 Conway WC, Sugawa C, Ono H, Lucas CE (2007) nghiên cứu 51 trường hợp mắc dị vật đường ăn tại Bệnh viện Detroit Receiving Hospitial Hoa Kỳ [48].
In 2008, Bennett A, Sharma A, Price T, and Montgomery PQ conducted a study involving 100 cases of airway foreign bodies, utilizing flexible endoscopy for foreign body removal at Norwich University Hospital in the United States.
Năm 2009 Bennett A, Sharma A, Price T, Montgomery PQ dùng ống soi mềm để lấy dị vật cho 21 trường hợp hóc ở họng và 79 dị vật thực quản Tỉ lệ thành công 100% [36].
Năm 2004, Nguyễn Tư Thế đã tiến hành nghiên cứu đánh giá dịch tễ và đặc điểm lâm sàng của dị vật đường ăn đến khám và điều trị tại Khoa Tai Mũi Họng, Bệnh viện Trung Ương Huế Công trình này giúp hiểu rõ hơn về tần suất, các loại dị vật phổ biến và đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân mắc dị vật thực quản, góp phần nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị Nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của khám lâm sàng và các phương pháp chẩn đoán hình ảnh trong việc xác định vị trí và loại dị vật, từ đó tối ưu hóa quá trình xử lý và giảm thiểu rủi ro cho người bệnh.
Năm 2006 Trần Phương Nam nghiên cứu Đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị Dị vật thực quảntại Bệnh viện Trung ương Huế [17].
Năm 2008 Chử Ngọc Bình, Đặng Hanh Biên đánh giá kết quả điều trị dị vật đường ăn tại Bệnh viện Việt Nam- Cu Ba từ 1/2004 - 6/2008 [3].
Năm 2008, Đặng Mỹ Hạnh đã tiến hành khảo sát mối tương quan giữa độ tuổi và đặc điểm của dị vật đường ăn, đồng thời đề xuất các biện pháp giáo dục cộng đồng nhằm phòng ngừa Nghiên cứu dựa trên phân tích 279 trường hợp tại Bệnh viện Tai Mũi Họng thành phố Hồ Chí Minh, giúp làm rõ các yếu tố nguy cơ liên quan đến dị vật đường ăn ở các nhóm tuổi khác nhau Kết quả này góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng và đề xuất các chiến lược can thiệp hiệu quả để giảm thiểu các trường hợp mắc dị vật đường ăn.
Năm 2009, Phạm Thị Kim Dung đã nhận xét về kết quả điều trị và chăm sóc người bệnh mắc dị vật thực quản tại Khoa tai.mũi.họng của Bệnh viện đa khoa Nam Định Đồng thời, các nghiên cứu của Ngô Vương Mỹ Nhân, Bùi Thị Xuân Nga và Lê Văn Đức đã đánh giá hiệu quả lấy dị vật đường ăn qua nội soi cứng và nội soi mềm tại Bệnh viện Đa khoa An Giang, đem lại những kết quả tích cực trong điều trị.
Năm 2010, bác sĩ Trần Thanh Hải đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và đánh giá hiệu quả điều trị dị vật thực quản bằng phương pháp nội soi ống mềm tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương Nghiên cứu này giúp làm rõ các triệu chứng phổ biến và tần suất gặp phải khi bệnh nhân bị dị vật thực quản, đồng thời xác định tính an toàn, hiệu quả của kỹ thuật nội soi ống mềm trong quá trình lấy dị vật Kết quả từ nghiên cứu cho thấy phương pháp nội soi ống mềm là giải pháp tối ưu, mang lại tỷ lệ thành công cao và giảm thiểu các biến chứng nguy hiểm cho người bệnh Các phát hiện này góp phần nâng cao nhận thức và cải thiện quy trình điều trị dị vật thực quản trong các bệnh viện lớn tại Việt Nam.
Năm 2011, Gia Đỗ Anh Giang và Phạm Thị Thu Hồ đã tiến hành nghiên cứu hình ảnh nội soi và kết quả điều trị dị vật thực quản - dạ dày qua nội soi tại Bệnh viện Bạch Mai, góp phần nâng cao kỹ thuật chẩn đoán và xử lý các trường hợp dị vật đường tiêu hóa.
Sơ cấp cứu và điều trị dị vật đường ăn
Năm 2013 Trần Việt Hồng nhận xét tình hình dị vật thực quản và kết quả điều trị tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định [10].
Tháng 05 năm 2014 Lê Thị Phương Trâm, Nguyễn Hoài Sơn khảo sát đặc điểm dị vật đường ăntại Bệnh viện Đa Khoa Đồng Nai [33].
Nhiều tác giả đã nghiên cứu về dị vật đường ăn, tập trung phân tích đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị Các nghiên cứu này cũng đề xuất các biện pháp giáo dục sức khỏe cộng đồng nhằm phòng ngừa và giảm thiểu các tình trạng liên quan đến dị vật đường ăn Việc tăng cường nhận thức cộng đồng về các nguy cơ và cách xử trí phù hợp là rất cần thiết để nâng cao hiệu quả phòng bệnh.
1.5.SƠ CẤP CỨU VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH DỊ VẬT ĐƯỜNG ĂN
Xác định tỷ lệ bệnh nhân có sơ cấp cứu ban đầu tại nơi cư trú hay tuyến y tế cơ sở.
Xác định tỷ lệ bệnh nhân được sơ cấp cứu đúng cách là rất quan trọng, bao gồm việc đến cơ sở y tế để khám và không tự xử lý vết thương bằng các phương pháp dân gian hoặc gây tổn thương thêm Người bệnh cần nhanh chóng đến cơ sở y tế chuyên khoa trong vòng 48 giờ để được chẩn đoán và điều trị đúng cách Nhiều bệnh nhân thường không quan tâm đến việc mắc dị vật, có người đến khám ngay, có người để đến vài ngày sau mới khám, hoặc sử dụng các biện pháp không an toàn như nhờ người đẻ ngược dị vật hoặc uống bùa chú, dẫn đến nguy cơ biến chứng nặng như apxe thực quản hoặc nhiễm trùng thực quản nếu không được tư vấn và sơ cấp cứu đúng cách.
Một số cơ sở y tế cơ sở chưa được tập huấn đầy đủ về xử trí dị vật đường ăn, dẫn đến việc sơ cứu ban đầu và tư vấn cho bệnh nhân chưa chính xác Điều này khiến người bệnh thiếu nhận thức đúng đắn về cách xử lý khi mắc dị vật đường ăn và thường có thể tự thực hiện không đúng các nguyên tắc quan trọng trong điều trị Việc thiếu kiến thức chuyên môn chính xác từ các cơ sở y tế ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng cấp cứu kịp thời và hiệu quả cho người bệnh gặp phải tình trạng dị vật đường ăn.
Nhận thức về sơ cấp cứu ban đầu và tầm quan trọng của việc xử lý đúng cách mắc dị vật đường ăn của người bệnh chưa được quan tâm đầy đủ Điều này dẫn đến nhiều trường hợp mắc dị vật đến muộn, gây ra các biến chứng nặng nề cho người bệnh và cả người nhà phải gánh chịu hậu quả.
Các nghiên cứu trong nước cho thấy tình hình sơ cấp cứu dị vật đường ăn tại cộng đồng còn gặp nhiều hạn chế do người sơ cứu chưa có kiến thức đầy đủ về dị vật đường ăn Phạm Thị Kim Dung (2023) đã thực hiện nghiên cứu tại Nam Định để đánh giá nhận thức và thực hành sơ cấp cứu này trong cộng đồng, từ đó nhận diện những khó khăn và thiếu sót cần khắc phục để nâng cao hiệu quả cấp cứu.
Thời gian từ khi mắc dị vật đến khám tại cơ sở chuyên khoa là yếu tố quyết định đến tiên lượng bệnh, với việc đến khám càng sớm thì cơ hội điều trị thành công càng cao Hầu hết các nghiên cứu trong nước đều cho thấy phần lớn bệnh nhân nhập viện trong 1-2 ngày đầu sau khi mắc dị vật Nghiên cứu của Lương Thị Minh Hương và Trần Thanh Hải (2012) cho thấy tỷ lệ bệnh nhân nhập viện trong 2 ngày đầu đạt 89,59%, trong khi số nhập viện sau đó chỉ chiếm 10,41%.
1.5.3 Sơ cấp cứu đúng Đối với dị vật đường ăn thì sơ cấp cứu tại cộng đồng tương đối đơn giản, tuy nhiên ít có ai biết và thực hiện đúng Việc sơ cấp cứu tại cộng đồng đúng giúp bác sĩ xử trí DVĐA hiệu quả hơn Trong các nghiên cứu trong nước việc đánh giá sơ cấp cứu còn chưa đư ợc quan tâm, chỉ một số đề tài đề cập đến vấn đề này như nghiên cứu của Phạm Thị Kim Dung ( 2009 ) [4] cho kết quả sơ cấp cứu đúng là 66,1.%, nghiên cứu của Lê Thị Phương Trâm tại Đồng Nai [33] cho kết quả sơ cấp cứu đúng là 60,2% Để cho người bệnh và người nhà hiểu thêm về sơ cấp cứu tại cộng đồng và thực hiện đúng thì cần có th êm nhiều nghiên cứu và đưa ra các khuyến cáo cho mọi người biết.
1.5.4 Các phương pháp sơ cấp cứu không đúng
Người Việt Nam có văn hóa theo truyền thống phương Đông, nơi những giá trị văn hoá và kinh nghiệm sống được truyền miệng qua các thế hệ và áp dụng trong cộng đồng Do đó, cách xử trí sơ cấp cứu các chấn thương ngoài da (DVĐA) thường dựa vào phương pháp dân gian thay vì các phương pháp khoa học Một số phương pháp sơ cấp cứu theo dân gian mà người dân thường áp dụng bao gồm các biện pháp truyền thống nhằm xử lý các vết thương ngoài da một cách nhanh chóng tại cộng đồng.
- Tự móc cổ nôn ói nhầm đẩy dị vật ra nhưng vô tình là xây xác và chấn thương vùng họng miệng, gây phù nề viêm nhiễm.
- Ăn thêm thức ăn cứng để đẩy dị vật vào dạ dày làm cho tình trạng dị vật càng trầm trọng hơn.
- Nhờ người đẻ ngược vuốt.
- Uống một số thuốc gia truyền với hy vọng làm tiêu hủy dị vật
- Sử dụng một số phương pháp mê tính dị đoan, bùa chú… làm kéo dài tình trạng của bệnh [20], [27].
Các nghiên cứu trong nước cho kết quả người dân sử dụng các phương pháp này chiếm tỷ lệ cao như Phạm Thị Kim Dung 33,9% [4], Nguyễn Đức Phú 32% [20].
1.5.5.Điều trị dị vật đường ăn
*Các phương pháp điều trị dị vật đường ăn
- Soi thực quản ống cứng:
Là phương pháp tốt nhất và phổ biến nhất để lấy dị vật trên nguyên tắc dị vật vào bằng đường tự nhiên
Dụng cụ thường sử dụng để nội soi thực quản là ống nội soi cứng Chevalier-Jackson, có khả năng quan sát toàn diện lòng thực quản và di vật một cách hiệu quả Thiết bị này đa dạng về kiểu dáng và kích thước, giúp kiểm tra lại trực tiếp lòng thực quản sau khi đã loại bỏ dị vật để đảm bảo an toàn Chiếc ống nội soi này không gây nguy hiểm và mang lại tỷ lệ thành công cao từ 95% đến 100%, giúp xử lý các trường hợp mắc dị vật một cách hiệu quả và an toàn.
Khi dị vật lâu ngày trong thực quản, niêm mạc thực quản có thể xuất hiện phù nề, đỏ và gây hẹp lòng thực quản Thức ăn hoặc thịt bám quanh dị vật có thể được lấy ra dễ dàng Trong một số trường hợp, có thể thấy giả mạc hoặc sùi lên trên niêm mạc Ngoài ra, lỗ vỡ của áp xe có thểVisible, và khiấn vùng cổ sẽ thấy mủ trào ra từ lỗ này, cảnh báo tình trạng nhiễm trùng nghiêm trọng.
Trường hợp thấy có áp xe dưới niêm mạc, chúng ta cần gắp dị vật ra, hút sạch mủ cần đặt xông mũi thực quản dạ dày.
- Soi thực quản ống mềm:
Phương pháp này, mặc dù không phải là tốt nhất và phổ biến nhất, vẫn được nhiều nơi và tác giả lựa chọn nhờ ưu điểm thực hiện đơn giản, không cần đặt nội khí quản, phù hợp để loại bỏ dị vật ở đoạn dưới thực quản đến dạ dày và tá tràng, đồng thời có chi phí thấp.
* Kết quả điều trị dị vật đường ăn trong và ngoài nước.
Dị vật đường ăn được điều trị thành công cao, với tỷ lệ tử vong rất thấp Các nghiên cứu trong nước chưa ghi nhận trường hợp tử vong liên quan đến dị vật đường ăn, mặc dù có thể có trường hợp tử vong nhưng không nằm trong phạm vi các đề tài nghiên cứu chính thức.
1.5.6 Các biến chứng của dị vật đường ăn
* Biến chứng do sơ cấp cứu không đúng gây ra
DVĐA (viêm đa dạng đờm) là cấp cứu quan trọng trong chuyên ngành Tai Mũi Họng, việc xử trí đúng cách giúp giảm thiểu biến chứng và đảm bảo an toàn cho bệnh nhân Tuy nhiên, trong thực tế, việc sơ cứu không đúng quy trình vẫn gây ra tỷ lệ biến chứng khá cao, đặc biệt là các biến chứng thường gặp như viêm nhiễm nặng, tổn thương cấu trúc giải phẫu, hoặc suy giảm chức năng tai mũi họng Do đó, nhận biết và xử trí kịp thời là yếu tố quyết định trong việc tránh các di chứng lâu dài sau cấp cứu.
- Chảy máu do móc cổ ói hay cố ăn thêm thức ăn cứng.
- Áp xe thực quản hay trung thất do đến muộn.
* Biến chứng do soi lấy dị vật gây ra.
Trong y học, biến chứng do thầy thuốc gây ra ngoài ý muốn chiếm tỷ lệ nhất định, tuy nhiên, sự cẩn thận của người y sĩ có thể hạn chế các biến chứng này Mặc dù vậy, trên thế giới vẫn chấp nhận một tỷ lệ biến chứng nhất định xuất phát từ sai sót của thầy thuốc Trong quá trình nội soi lấy dị vật đường ăn, có thể xảy ra các biến chứng như tổn thương thực quản, chảy máu hoặc nhiễm trùng nếu không thực hiện kỹ lưỡng.
- Tổn thương mô, mạch máu vùng hầu họng thực quản.
Tỷ lệ xuất hiện biến chứng khác nhau ở các nghiên cứu khác nhau trong nước.
* Tỷ lệ biến chứng theo thời gian nhập viện.
Tỷ lệ mổi loại biến chứng so với thời gian nhập viện.
So sánh mức độ gặp biến chứng giữa nhập viện sớm trong 48 giờ đầu và thời gian nhập viện trong sau 48 giờ.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân mắc vấn đề về tai mũi họng được khám và chẩn đoán tại Phòng khám Tai Mũi Họng, Bệnh viện Mắt Tai Mũi Họng Răng Hàm Mặt An Giang từ tháng 4 năm 2013 đến tháng 7 năm 2014 Các tiêu chuẩn chẩn đoán và điều trị đã được áp dụng đầy đủ để đảm bảo chất lượng dịch vụ y tế Quá trình tiếp cận và chăm sóc bệnh nhân theo các hướng dẫn y tế mới nhất giúp nâng cao hiệu quả điều trị và giảm thiểu biến chứng Thời gian khám chữa bệnh giai đoạn này phản ánh nỗ lực của bệnh viện trong việc cải thiện dịch vụ y tế chuyên ngành tai mũi họng tại khu vực.
Tiêu chuẩn chọn mẫu bao gồm những bệnh nhân đã được chẩn đoán và điều trị dị vật đường ăn, bất kể nguyên nhân gây ra, với vị trí dị vật thường nằm ở họng hoặc thực quản Việc xác định đúng các tiêu chí này giúp đảm bảo quy trình chuẩn xác trong chẩn đoán và điều trị dị vật đường ăn, nâng cao hiệu quả và an toàn cho bệnh nhân.
Những trường hợp bị mắc dị vật đường ăn nhưng soi không lấy được dị vật hay không thấy dị vật.
Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang.
Cỡ mẫu được tính theo công thức ước lượng cho một tỉ lệ
- Z: Hệ số tin cậy, với α= 0,05 ( Độ tin cậy 95%), Z = 1,90
- p = tỷ lệ ước đoán sơ cấp cứu đúng là 66,1 % theo [ 4]
- d = sai số của nghiên cứu so với tỷ lệ thực của quần thể (d=0,05) Áp dụng vào công thức ta có : 324
2.2.2.2.Phương pháp chọn mẫu: chọn tất cả bệnh nhân mắc dị vật đến khám tại phòng khám Tai Mũi Họng Bệnh viên Mắt-Tai Mũi Họng Răng Hàm
Mặt An Giang thỏa mãn tiêu chuẩn chọn mẫu.
* Tu ổi: Được chia làm các nhóm
- So sánh tỷ lệ nam và nữ mắc dị vật đường ăn.
Xác định nhóm nghề nào thường mắc DVĐA nhất, nhóm nghề nào ít mắc hơn.
- Còn nhỏ: Trẻ em lứa tuổi mẫu giáo.
-Lao động phổ thông: nông ngư dân, buôn bán , nội trợ.
2.2.3.2 Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, vị trí và các loại dị vật đường ăn.
+Sưng ở máng cảnh một hay hai bên.
+ Khiấn dọc máng cảnh hai bên có thể phát hiện điểm đau chói. + Xem dấu hiệu lọc cọc thanh quản cột sống còn hay mất.
+ Khi sờ có thể phát hiện ra tình trạng tràn khí dưới da.
Cảm giác nuốt bị vướng, đau và khó khiến người bệnh gặp khó khăn trong việc ăn uống hàng ngày Đồng thời, bệnh nhân còn gặp phải tình trạng tăng tiết nước bọt, đặc biệt khi dị vật lớn hơn gây khó khăn trong việc nuốt nước bọt Trong những trường hợp nặng, bệnh nhân không thể nuốt nước bọt và thường phải nhổ nước bọt ra ngoài để giảm khó chịu.
Khám máng cảnh có thể phát hiện điểm đau khu trú, thường gặp bên trái nhiều hơn do thực quản ở vùng này hơi lệch về bên trái Ngoài ra, có thể thấy giảm hoặc mất lọc cọc thanh quản và cột sống, là những dấu hiệu quan trọng trong quá trình chẩn đoán.
Giai đoạn bi ến ch ứng
Viêm tấy hoặc áp xe thành tực quản: Xuất hiện 24- 48 giờ sau mắc dị vật.
Toàn thân : Hội chứng nhiễm trùng: sốt cao 39-40°C, môi khô lưỡibẩn, hơithởhôi Có thểthấytình trạng suy kiệtdo khôngănuống được.
Cơ năng: Nuốt đau, nuốt vướng ở một vị trí nhất định ngày càngtăngdần Tăngxuấttiết nước bọt.
Thực thể: Ấn máng cảnh thấy đau chói, vùng máng cảnh sưng nề.
Dấuhiệu lọccọc thanh quản cột sốnggiảmhoặc mất.
Viêm tấy hoặcáp xe quanh thực quản.
Toàn thân: Dấu hiệu nhiễm trùng nặng Có thể có choáng do suy kiệthoặc nhiễmtrùng.
Cơ năng của bệnh nhân bao gồm việc nuốt đau, nuốt vướng, gây khó khăn trong việc ăn uống Ngoài ra, bệnh nhân không thể quay cổ, cằm thường cúi xuống hoặc không thể ngửa đầu, dẫn đến dáng đi lom khom Các triệu chứng khác gồm đau khi thở sâu, nói khàn, ho hoặc khó thở thanh quản, ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống.
Khi dị vật ở đoạn thự c q u ả n cổ, người bệnh sẽ xuất hiện sưng vùng máng cảnh kèm đau dữ dội khi ấn vào Các triệu chứng nổi bật bao gồm mất lọc cọc thanh quản cột sống, viêm tấy lan rộng tại vùng cổ và có thể thấy tràn khí dưới da Đặc biệt, người bệnh có thể cảm nhận rõ ràng sự lấp lóe của khí dưới da khi sờ vào vùng cổ, đòi hỏi phải nhanh chóng xác định và xử lý đúng cách để tránh biến chứng nguy hiểm.
Nếu dị v ậ t ở vùng t hự c q u ả n ngực: Bệnh nhân cảm thấy đau khi hít sâu Dángđilom khom.
Viêm tấymô liên kết lỏnglẻoởcổ: xuấthiện rấtsớmtrong vòng 24h Toàn thân: sốt cao 39 - 40°C, thể trạng nhiễm trùng rõ, thể trạng suy sụpdo khôngănuống được.
Cơ năng: Đau cổ nhiều không ăn uống được, chảy nhiều nước dãi,hơithở hôi, cổnghẹo sang bên, quay cổkhó.
Thực thể: Máng cảnh đầy hoặc sưng to nhất là bên trái Ấn máng cảnh bệnh nhân rất đau Dấu hiệu lọc cọc thanh quản – cột sống mất.
Có thể có tràn khí dưới da, sờ thấy lép bép khí Có khi có khó thở, khán giọng do chèn ép khí quản và dây thầnkinh quặt ngược.
X.quang cổ nghiêng : Mất chiều cong sinh lý cột sống cổ. Khoảng cách từ khí quản đến cột sống dày lên nhiều Có thể thấy hình ảnh ổ mủ(hình mức nước).Hoặchìnhhơinằmrải rác dọcphíatrước cộtsống.
Viêm trung thất và áp xe trung thất thường xuất phát từ quá trình nhiễm trùng lan từ vùng cổ xuống hoặc do thủng thực quản ngực gây ra Các nguyên nhân này có thể làm viêm xuất hiện một cách từ từ hoặc cấp tính, ảnh hưởng đến toàn bộ trung thất hoặc chỉ khu trú ở một phần nhất định Hiểu rõ các triệu chứng và nguyên nhân giúp chẩn đoán chính xác và đưa ra phương pháp điều trị phù hợp, hạn chế biến chứng nghiêm trọng.
Toàn thân: Sốt cao hoặckhông sốt,thể trạng nhiễm trùng nhiễm độc, toàn trạng suy kiệt.
Cơ năng: Đau ngực, khó thở, ho, nuốt đau, không ăn uống được, nướctiểuítđỏ.
Thực thể: Mạch nhanh yếu, huyết áp hạ, cổ sưng bạnh do có tràn khídưới da, gõ ngực có tiếng kêu bong bong.
Hay gặp viêm màng phổi mủ: Dị vật đâm xuyên qua thành thực quản, thủng màng phổi gây viêm màng phổi mủ Biểuhiện:
Bệnh nhân sốt cao,đaungực, khó thở.
Khám có hội chứng 3 giảm.
Chụpphim phổi thẳng:Có hìnhảnhtràn dịch màng phổi.
Chọc dò màng phổi có mủ.
Tổn thương mạch máu do dị vật nhọn sắc đâm thủng thành tĩnh mạch hoặc chọc trực tiếp vào các mạch máu lớn như động mạch cảnh trong, thân động mạch cánh tay đầu và quai động mạch chủ gây ra nguy cơ chảy máu và biến chứng nghiêm trọng Quá trình viêm hoại tử cũng có thể làm tổn thương các mạch máu này, dẫn đến vỡ mạch và ảnh hưởng đến sức khỏe tổng thể của bệnh nhân.
Dấu hiệu báo trước: Bệnh nhân khạc hoặc nôn ra ít máu tươi số lượng tăngdần.
Hoặc độtngột nôn ra máu, sặcvào khí phếquản.
Ch ẩn đoán phân bi ệt
Hóc xương giả, còn gọi là loạn cảm họng, thường xuất hiện trong các tình trạng như viêm amiđan mạn, viêm xoang sau, hội chứng cổ hoặc ở các bệnh nhân bị tâm thần Triệu chứng này cũng có thể là dấu hiệu sớm của ung thư họng, thanh quản hoặc ung thư thực quản Việc nhận biết chính xác các nguyên nhân giúp chẩn đoán và điều trị hiệu quả.
Cảmgiác nuốt đau,nuốt vướng.
Chụp phim không thấy hình ảnh DV, cũng như không thấy hình ảnhdày phầnmềm trước cột sốngcổ.
Thực chất bệnh nhân có bị hóc xương, nhưng xương đã trôi đi để lại vếtloét nên bệnh nhânănuốngcảmthấy đau
Vết loét có thể tự lành nhưng có khi nhiễm trùng tạo thành ổ viêm tấyhoặcáp xe.
Chụp phim không thấy hìnhảnhdị vật.
Có thểthấyhìnhảnhdày phần mềm trước cột sống cổ hoặc áp xe.
Cảmgiác chủyếulà nuốt vướng, nuốt nghẹn.
Cách lấy dị vật trong họng hoặc hạ họng hiệu quả là đến phòng khám sử dụng đèn clar hoặc máy nội soi tai mũi họng để soi rõ khu vực bị lưu lại dị vật Quá trình này giúp bác sĩ dễ dàng xác định vị trí chính xác của dị vật và thực hiện lấy dị vật ra một cách an toàn, nhanh chóng Phương pháp nội soi là cách điều trị hiệu quả nhất khi dị vật nằm sâu hoặc khó lấy bằng thủ thuật thông thường.
Khi mắc dị vật ở thực quản, cần thực hiện lấy dị vật tại phòng mổ dưới tiền mê hoặc gây mê nội khí quản để đảm bảo an toàn và chính xác Phương pháp lấy dị vật hiệu quả sử dụng ống soi Chevalier-Jackson phù hợp với độ tuổi của bệnh nhân, giúp xác định chính xác vị trí dị vật Quá trình này diễn ra bằng cách đưa ống soi vào lòng thực quản qua đường miệng hoặc mũi để lấy dị vật ra, dựa trên chiều dài của ống soi để đảm bảo lấy dị vật triệt để và chính xác.
- Amidan : Lấy dị vật từ amidan khẩu cái bên trái hay bên phải.
- Hạ họng – xoang lê : Dị vật mắc ở thành sau họng, xoang lê, đáy lưỡihay rãnh dáy lưỡi thanh thiệt.
- Thực quản cổ: Dị vật mắc ở đoạn từ miệng thực quản đến cách cung răng trên 16 cm đến 23cm.
- Thực quản ngực : Dị vật mắc ở đoạn thực quản cách cung răng trên
- Thực quản bụng: Dị vật mắcở đoạn thực quản cách cung răng trên 37cm đến 40 cm.
+ Xương heo, càng cua, vỏ tôm tép.
* Tìm hiểu liên quan giữa vị trí mắc dị vật với độ tuổi, giới tính, loại dị vật
- Tìm hiểu tỷ lệ vị trí mắc dị vật so với độ tuổi để biết được ở độ tuổi nào thì thường mắc dị vật ở vị trí nào nhiều nhất.
Tìm hiểu tỷ lệ vị trí mắc dị vật giữa nam và nữ giúp xác định có sự khác biệt rõ rệt về nơi bị mắc dị vật ở từng giới Nghiên cứu cho thấy, nam giới và nữ giới thường mắc dị vật ở các vị trí khác nhau, với mỗi giới có vị trí thường gặp nhiều nhất Việc nắm rõ các đặc điểm này hỗ trợ trong chẩn đoán và điều trị chính xác hơn, đồng thời tăng cường hiểu biết về sự khác biệt giới tính trong các tình trạng liên quan đến dị vật.
Tìm hiểu tỷ lệ mắc dị vật theo loại giúp xác định chính xác các đoạn trong đường ăn dễ bị mắc dị vật nhất, từ đó hỗ trợ các bác sĩ lâm sàng trong việc dự đoán và thực hiện các phương pháp điều trị như nội soi lấy dị vật một cách hiệu quả hơn.
* Tìm hiểu liên quan giữa loại dị vật với tuổi, giới tính, nghề nghiệp
Tìm hiểu các loại dị vật theo độ tuổi giúp xác định độ tuổi nào thường gặp phải loại dị vật nhiều nhất Điều này giúp xây dựng các biện pháp giáo dục sức khỏe phù hợp, nâng cao nhận thức cộng đồng về cách phòng tránh và xử lý các trường hợp dị vật mắc phải Việc nắm rõ đặc điểm dị vật theo từng nhóm tuổi đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu các tai nạn do dị vật gây ra.
Trong quá trình nghiên cứu về các loại dị vật mắc phải, có sự khác biệt đáng kể giữa nam và nữ, phản ánh rõ ràng xu hướng về loại dị vật phổ biến ở từng giới Nam giới thường gặp phải các dị vật như dị vật cứng, kim loại hoặc các vật thể lạ trong đường tiêu hóa do thói quen chơi thể thao hoặc lao động, trong khi nữ giới dễ mắc các dị vật mềm hơn như rối loạn nuốt hoặc dị vật do hành vi tiêu dùng Đặc biệt, mỗi giới có xu hướng mắc loại dị vật phổ biến khác nhau, giúp các bác sĩ chẩn đoán chính xác hơn khi xem xét các triệu chứng của bệnh nhân Hiểu rõ loại dị vật phổ biến theo giới sẽ hỗ trợ quá trình chẩn đoán và điều trị đạt hiệu quả cao hơn, góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về vấn đề này.
- Tìm hiểu loại dị vật với nghề nghiệp đánh giá loại dị vật nào thường gặp ở nhóm nghề nghiệp nào nhiều nhất.
2.2.3.3 Sơ cấp cứu tại cộng đồng những bệnh nhân mắc dị vật đường ăn:
-Có sơ cấp cứu đúng.
+ Đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế chuyên khoa trong 24 giờ.
+ Không tác động thêm vào vùng họng, thực quản.
+ Di chuyển bệnh nhân nhẹ nhàng đến cơ sở y tế.
-Không sơ cấp cứu hay sơ cấp cứu không đúng.
+ Móc cổ nôn ói cố đẩy dị vật ra.
+ Ăn thêm thức ăn cứng rau.
+ Nhờ người đẻ ngược vuốt.
+ Bùa chú, cúng bái uống bùa hay vẻ bùa vào cơ thề hay đọc tên khấn vái.
* Xác định tỷ lệ các loại sơ cấp cứu không đúng, tỷ lệ nào chiếm nhiều nhất trong nghiên cứu.
Trong quá trình xử trí sơ cấp cứu, cần xác định tỷ lệ áp dụng các phương pháp khác nhau trên cùng một trường hợp, bao gồm số người sử dụng một phương pháp, cũng như số người sử dụng hai, ba hoặc bốn phương pháp cùng lúc Việc phân tích này giúp đánh giá hiệu quả và mức độ đa dạng trong thực hành sơ cấp cứu, đồng thời tối ưu hoá quá trình đào tạo và nâng cao kỹ năng của người thực hiện Theo đó, thống kê chính xác về tỷ lệ sử dụng các phương pháp sơ cứu sẽ cung cấp dữ liệu quan trọng để cải thiện hướng dẫn và chuẩn hoá các quy trình cấp cứu phù hợp với tình hình thực tế.
* Các loại biến chứng của dị vật đường ăn
- Nhiễm trùng: Bệnh nhân sốt đau vùng cổ, cử động cổ giới hạn hay nuốt đau không dám ăn uống.
- Chảy máu có thể do dị vật gây nên hay do sơ cấp cứu không đúng hay do phẫu thuật viên gây ra.
- Áp xe thực quản, áp xe trung thất phù nề vùng cổ, nhiểm khuẩn huyết.
- Thủng thực quản do dị vật hay do phẩu thuật viên làm quá thô bạo gây nên.
* Thời gian mắc dị vật đến khi vào bệnh viện khám và điều trị
- Vào viên sớm 24 đến 48 giờtính từ lúc mắc dị vật.
-Người đến nhập viện sớm có thể xảy ra biến chứng hay không, tỷ lệ là bao nhiêu.
- Vào viện muộn sau 48 giờ tính từ lúc mắc dị vật.
-Người đến nhập viện có thể xảy ra biến chứng hay không, tỷ lệ là bao nhiêu.
* Biến chứng theo thời gian nhập viện
- Nhập viện sớm có bao nhiêu có biến chứng và bao nhiêu không biến chứng.
- Nhập viện muộn có bao nhiêu có biến chứng và bao nhiêu không biến chúng.
- So sánh tỷ lệ biến chứng giữa hai nhóm đến sớm và đến muộn.
* Biến chứng theo ngày nhập viện
- So sánh với kết quả của các nghiên cứu khác trong nước và ngoài nước.
* Phương pháp ăn thêm rau, thức ăn cứng và biến chứng
-Ăn thêm thức ăn rau,cứng có bao nhiêu phần trăm gây biến chứng.
-Không ăn thêm thức ăn rau, cứng có bao nhiêu phần trăm gây biến chứng.
- Tìm tỷ lệ mắc biến chứng của người sử dụng thêm thức ăn cứng với người không sử dụng phương pháp trên.
* Phương phápmóc cổ nôn óivà biến chứng.
- Móc cổ nôn ói có bao nhiêu phần trăm bị bi ến chứng.
- Không móc cổ nôn ói có bao nhiêu phần trăm bị biến chứng.
- Tìm tỷ lệ biến chứng giữa nghững người sử dụng phương pháp móc cổ nôn ói với người không sử dụng phương pháp trên.
* Phương pháp nhờ người đẻ ngược vuốt và biến chứng.
- Nhờ người đẻ ngược vuốt có bao nhiêu phần trăm bị biến chứng.
- Không nhờ người đẻ ngược vuốt có bao nhiêu phần trăm bị biến chứng.
* Bùa chú và cúng bái
- Bùa chú và cúng bái có bao nhiêu phần trăm bị biến chứng.
- Không dùng bùa chú và cúng bái có bao nhiêu phần trăm bị biến chứng.
2.2.3.4 Nguyên nhân dị vật đường ăn
* Nguyên nhân gây dị vật đường ăn
Y đức
Chủ thể của đề tài là tất cả các đối tượng đến khám tại phòng khám tai mũi họng của Bệnh viện Mắt Tai Mũi Họng Răng Hàm Mặt An Giang Mục tiêu của nghiên cứu là thu thập dữ liệu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ y tế tại bệnh viện Để bảo đảm vấn đề y đức và tránh gây ảnh hưởng tiêu cực đến đối tượng phỏng vấn, chúng tôi chỉ đặt các câu hỏi mang tính nghiệp vụ, không gây tổn thương hoặc tác động xấu đến người tham gia.
Tất cả dữ liệu thu thập được đều được bảo mật chặt chẽ nhằm đảm bảo quyền riêng tư và an toàn thông tin của đối tượng phỏng vấn, kể cả những người từ chối tham gia Việc giữ bí mật dữ liệu không chỉ thể hiện cam kết về bảo vệ thông tin cá nhân mà còn tạo sự tin tưởng trong quá trình nghiên cứu Chính sách bảo mật dữ liệu giúp đảm bảo rằng thông tin cá nhân của các đối tượng được giữ kín, góp phần thúc đẩy sự hợp tác và minh bạch trong nghiên cứu.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG
3.1.1 Phân loại bệnh nhân theo giới và nhóm tuổi
Bảng 3.1 Phân bố bệnh nhân theo giới
Giới Số lượng Tỷ lệ %
Nhận xét: Nam giới chiếm tỷ lệ 53,4%, nữ giới chiếm tỷ lệ 46,6%.
3.1.2 Phân bố bệnhnhân theo tuổi
Bảng 3.2 : Phân bố bệnh nhân theo tuổi Đối tượng Nhóm tuổi Số lượng Tổng Tỷ lệ%
Nhận xét: Đối tượng trẻ em ( 60 tuổi mắc xương cá chiếm 57,1%.
Bảng 3.12 Vị trí dị vật theocác loại dị vật
Vị trí Amiđan Đáy lưỡi Hạ họng- xoang lê
Viên thuốc còn nguyên vỏ 0 0 0 0 0 0 28 100 0 0
Dị vật chủ yếu ở các bệnh nhân là xương cá, chiếm 31,9% tại Amidan, 19,5% ở hạ họng-xoang lê, và 19,5% ở đáy lưỡi, trong khi ở thực quản cổ là 11,5%, và 1,3% ở thực quản ngực Xương gia súc chủ yếu nằm tại vị trí thực quản cổ, chiếm 87,5%, còn ở thực quản ngực chỉ 3,6% Xương gia cầm phân bố chủ yếu tại thực quản cổ (87,5%), thực quản ngực (12,5%), hạ họng-xoang lê (7,1%), và đáy lưỡi (3,6%) Răng giả chủ yếu nằm ở vị trí thực quản cổ và Amidan, chiếm tỷ lệ lần lượt là 92,3% và 7,7% Đồng xu và viên thuốc chủ yếu phân bố ở thực quản cổ Các dị vật khác như thức ăn, mảnh vỡ phân bố tại amidan, hạ họng-xoang lê, thực quản cổ và thực quản ngực với tỷ lệ lần lượt là 8,3%, 50%, 33,3% và 8,3%, phản ánh sự đa dạng trong vị trí và loại dị vật gặp phải.
Bảng 3.13 Vị trí dị vật theo tuổi
Vị trí Amiđan Hạ họng- xoang lê
Trẻ em dưới 15 tuổi có tỷ lệ mắc dị vật chủ yếu ở Amidan, Hạ họng – xoang lê, Thực quản cổ, với các tỷ lệ lần lượt là 62,3%, 13,2%, 13,2%, và 11,3% Trong khi đó, đối tượng trên 15 tuổi thường gặp dị vật ở Thực quản ngực, Thực quản cổ, với tỷ lệ phân bố lần lượt là 38%, 30,3%, 14%, và tỷ lệ thấp hơn ở Amidan, Hạ họng – xoang lê là 15,1%, còn tại vị trí Thực quản bụng, tỷ lệ là 2,6% Đây cho thấy sự khác biệt rõ rệt về vị trí mắc dị vật theo độ tuổi.
3.2.9 Vị trí dị vật so với giới tính.
Bảng 3.14 Vị trí dị vật so với giới tính
Vị trí Amiđan Hạ họng- xoang lê
Trong tổng số các trường hợp, tỷ lệ mắc dị vật tại các vị trí là xoang lê, thực quản cổ, thực quản ngực, thực quản bụng lần lượt là 30, 8%, 14,2%, 18,9%, 33,1% và 3% Đối tượng nữ giới bị dị vật chủ yếu tại amidan, hạ họng và các vị trí của xoang lê, thực quản cổ, thực quản ngực, thực quản bụng với tỷ lệ phân bố lần lượt là 14,6%, 13,9%, 35,1%, 35,1% và 1,3%.
3.3 SƠ CẤP CỨU TẠI CỘNG ĐỒNG
3.3.1 Xử trí sơ cấp cứu trước khi đến bệnh viện.
Bảng 3.15 Có xử trí đúng trước khi đến bênh viện
Xử trí Số lượng Tỷ lệ %
Nhận xét: Có 39,2% trường hợp có xử trí saitrước khi đếnbệnh viện, 60,8%
3.3.2.Các phương pháp sơ cấp cứu không đúng
Bàng 3.16 Xử trínhiều hơn 01 phương pháp sơ cấp cứu sai
Số lượng Số lượt PP sai n % n %
Tổng 127 100 300 100 dụng cùng lúc 02 phương pháp sai, 18,9% người sử dụng 01 phương pháp sai, không có ai sử dụng 04 phương pháp.
Bảng 3.17 : Các phương pháp sơ cấp cứu không đúng (có người thực hiện hơn 1 phương pháp)
PP sơ cấp cứu không đúng Số lượng Tỷ lệ % Ăn thêm cơm, rau 105 32,4
Nhờ người đẻ ngược vuốt 87 26,9
Mê tín dị đoan cúng –vái- bùa chú.
Trong số các phương pháp xử lý dị vật đường họng, có 36,4% người dùng phương pháp móc họng nôn ói để loại bỏ dị vật hiệu quả Ngoài ra, 32,4% lựa chọn phương pháp ăn cơm thêm rau nhằm tăng khả năng đẩy dị vật ra ngoài tự nhiên Bên cạnh đó, 26,9% nhờ người đẻ ngược vuốt để hỗ trợ lấy dị vật khi gặp sự cố trong quá trình xử lý.
3.3.3 Thời gian từ lúc mắc dị vật đến khi vào viện
Bảng 3.18 Thời gian từ khi mắc dị vật đến khi vào viện.
Thời gian Ngày 1 Ngày 2 Ngày 3 Ngày 4 Ngày 5 Tổng
Nhận xét: Có 58,5% số trường hợp vào viện trong ngày đầu mắc dị vật, 29,7% ở ngày thứ 2, 7,7% trường hợp ngày thứ 3, 1,9% ngày thứ4 và 2,2%ở ngày thứ 5.
Biến chứng Số bệnh nhân Tỷ lệ %
Nhận xét:Có 29% trường hợp bệnh nhân dị vật đường ăncó biếnchứng và
71 % bệnh nhân không có biến chứng.
Bảng 3.20 Các loại biến chứng
Loại biến chứng Số lượng bệnh nhân Tỷ lệ %
Trong nghiên cứu với 94 trường hợp bị biến chứng do dị vật đường ăn, có tới 80,9% mắc biến chứng viêm nhiễm, cho thấy đây là biến chứng phổ biến nhất Ngoài ra, 12,8% bệnh nhân gặp phải biến chứng chảy máu, trong khi 5,3% phát hiện biến chứng áp xe Chứng tỏ, biến chứng thủng thực quản chiếm tỷ lệ thấp nhất, chỉ 1,1%, nhưng vẫn cần được chú ý để đảm bảo chẩn đoán và xử lý kịp thời.
Chảy máu Áp xe thực quản
Trong quá trình theo dõi các bệnh nhân nhập viện theo từng ngày, tỷ lệ biến chứng viêm nhiễm tăng dần từ ngày 1 đến ngày 5, chiếm từ 61,8% đến 100% Ngày 1, các biến chứng phổ biến là viêm nhiễm chiếm 61,8%, kèm theo chảy máu (29,45%), áp xe thực quản (5,9%) và thủng thực quản (2,9%) Đến ngày 2, tỷ lệ biến chứng viêm nhiễm tăng mạnh lên 92,9%, trong khi các biến chứng khác giảm dần về tỷ lệ Ngày 3, tỷ lệ này đạt 90,5%, ngày 4 giảm xuống còn 75%, và ngày 5, biến chứng viêm nhiễm chiếm 100%, cho thấy mức độ nghiêm trọng của tình trạng bệnh nhân qua các ngày theo dõi.
Bảng 3.22 Biến chứngtheo thời gian nhập viện.
Nhận xét cho thấy, bệnh nhân nhập viện trễ có tỷ lệ mắc biến chứng do dị vật đường ăn cao gấp 3,647 lần so với những bệnh nhân nhập viện sớm Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát hiện và điều trị kịp thời để giảm nguy cơ biến chứng nghiêm trọng Thời gian nhập viện sớm đóng vai trò quan trọng trong việc giảm tỷ lệ biến chứng, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị và chăm sóc bệnh nhân.
3.3.7 Biến chứng và phương pháp xử trí ăn thêm thức ăn
Bảng 3.23 Biến chứng và phương pháp xử trí ăn thêm thức ăn. Ăn thêm cơm, rau
Tổng 94 230 không có biến chứng, không có ăn thêm thức ăn, rau thì có 26,5% có biến chứng và 73,5% không có biến chứng.
3.3.8 Biến chứng và phương pháp xử trí nhờ người vuốt ở bệnh nhân mắc dị vật đường ăn.
Bảng 3.24.Biến chứng và phương pháp xử trí nhờ người vuốt và ở bệnh nhân mắc dị vật đường ăn.
Nhờ người đẻ ngược vuốt
Việc nhờ người đẻ ngược vuốt giúp giảm tỷ lệ biến chứng xuống còn 19,5%, trong khi không nhờ người đẻ ngược vuốt tỷ lệ biến chứng là 32,5% Điều này cho thấy, sử dụng phương pháp nhờ người đẻ ngược vuốt có thể giúp giảm đáng kể nguy cơ gặp biến chứng trong quá trình sinh Phòng ngừa biến chứng khi sinh là yếu tố quan trọng để đảm bảo sức khỏe mẹ và bé.
3.3.9 Biến chứng và phương pháp xử trí móc họng, nôn ói
Bảng 3.25 Biến chứng và phương pháp xử trí móc họng, nôn ói
Tổng 94 230 biến chứng, không có móc họng nôn ói thì có 18,9% có biến chứng vả,81,1% không có biến chứng, cụ thể bệnh nhân móc họng nôn ói có tỷ lệ gặp biến chứng do dị vật đường ăn gấp 3,7 lần so với người khác (p