1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

0763 nghiên cứu tình hình mắc bệnh tuyến giáp và kiến thức thực hành sử dụng muối i ốt phòng chống bướu giáp ở học sinh các trường trung học phổ thông tạ

102 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tình hình mắc bệnh tuyến giáp và kiến thức thực hành sử dụng muối I-ốt phòng chống bướu giáp ở học sinh các trường trung học phổ thông tại Bến Tre
Tác giả Lê Ngọc Bảy
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Văn Qui
Trường học Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Quản lý Y tế
Thể loại Luận án chuyên khoa cấp II
Năm xuất bản 2013
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (13)
    • 1.1. Tình hình các rối loạn do thiếu hụt I-ốt (13)
    • 1.2. Tình hình mắc bướu giáp (21)
    • 1.3. Định lượng I-ốt niệu (33)
    • 1.4. Kiến thức thực hành sử dụng muối I-ốt phòng chống các rối loạn thiếu hụt I-ốt (36)
  • Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (38)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (38)
      • 2.1.1. Tiêu chuẩn chọn mẫu (38)
      • 2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ (38)
      • 2.1.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (38)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (38)
      • 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu (38)
      • 2.2.2. Phương pháp chọn mẫu và tính cỡ mẫu (39)
      • 2.2.3. Nội dung nghiên cứu (40)
      • 2.2.6. Nhập liệu và phân tích số liệu (50)
    • 2.3. Đạo đức trong nghiên cứu (50)
  • Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (52)
    • 3.1. Đặc điểm chung (52)
    • 3.2. Tỉ lệ học sinh mắc bệnh bướu giáp (55)
    • 3.3. Hàm lượng I-ốt niệu ở học sinh THPT (60)
    • 3.4. Kiến thức phòng chống các rối loạn do thiếu I-ốt (63)
  • Chương 4: BÀN LUẬN (70)
    • 4.1. Đặc điểm chung của mẫu học sinh nghiên cứu (70)
    • 4.2. Tình hình mắc bướu giáp của học sinh THPT (71)
    • 4.3. Hàm lượng I-ốt niệu trong học sinh THPT (78)
    • 4.4. Kiến thức - thực hành phòng chống các rối loạn thiếu hụt I-ốt (84)
  • KẾT LUẬN (90)
  • PHỤ LỤC (100)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Học sinh các trường trung học phổ thông tại thành phố Bến Tre năm học

Học sinh THPT tại thành phố Bến Tre năm 2012 đã đồng ý tham gia các hoạt động khảo sát sức khỏe gồm khám tuyến giáp và siêu âm tuyến giáp, cùng với việc trả lời bộ câu hỏi về sức khỏe và lấy nước tiểu để xét nghiệm I-ốt niệu khi có yêu cầu Đây là các bước quan trọng nhằm đánh giá tình trạng tuyến giáp và bổ sung kiến thức về sức khỏe cho học sinh Việc tham gia này góp phần nâng cao nhận thức về vấn đề thiếu I-ốt và phòng ngừa các bệnh liên quan.

- Học sinh vắng mặt sau khi vận động tham gia vào nghiên cứu 3 lần

- Học sinh không tham gia đầy đủ yêu cầu của nghiên cứu

2.1.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Từ tháng 9 – 12 năm 2012 tại các trường Trung học phổ thông thuộc thành phố Bến Tre.

Phương pháp nghiên cứu

2.2.2 Phương pháp chọn mẫu và tính cỡ mẫu

Mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi là xác định tỷ lệ học sinh trung học phổ thông mắc bệnh bướu giáp và nâng cao kiến thức, thực hành sử dụng muối I-ốt trong phòng chống bướu giáp Để đạt được mục tiêu này, chúng tôi đã áp dụng công thức ước lượng cỡ mẫu dựa trên tỷ lệ mắc bệnh và kiến thức về muối I-ốt, theo công thức đã được trình bày trong các công trình [14], [20].

Trong đó n là cở mẫu tối thiểu cần thiết

Chúng tôi chọn khoảng tin cậy là 95%

Tương ứng với Z = 1,96 (tra từ bảng Z)

Nghiên cứu của Hoàng Thị Thủy Yên (2010) cho thấy tỷ lệ bướu giáp ở học sinh trung học phổ thông tại Huế là 5,8%, phản ánh tình trạng thiếu hụt I-ốt trong cộng đồng Do đó, chúng tôi chọn p = 0,058 dựa trên tỷ lệ bướu giáp qua kiểm tra lâm sàng và siêu âm để đánh giá nguy cơ và đề xuất các phương pháp phòng ngừa phù hợp.

Trong nghiên cứu này [38], phát hiện rằng 93,64% học sinh trung học phổ thông có kiến thức đúng về nguyên nhân phổ biến gây bệnh bướu giáp là do thiếu I-ốt Vì vậy, chúng tôi chọn p = 0,94 để phản ánh tỷ lệ học sinh có kiến thức tốt về phòng chống bướu giáp, giúp nâng cao nhận thức và thực hành phòng bệnh trong cộng đồng học sinh.

Sai số cho phép trong nghiên cứu của chúng tôi là c = 0,01

Khám lâm sàng và siêu âm: n = 1,96 2 x 0,058 x0,942/(0,01) 2 = 2.098,9 Kiến thức: n = 1,96 2 x 0,94 x 0,06 / (0,01) 2 = 2.166,66

Trong tổng số 3.733 học sinh đang học tại 5 trường trung học phổ thông ở thành phố Bến Tre trong năm học 2012 – 2013, tôi dự định tiến hành nghiên cứu với độ tin cậy cao bằng cách phỏng vấn qua bản câu hỏi, kết hợp khám lâm sàng và siêu âm tuyến giáp cho toàn bộ các em học sinh, nhằm đảm bảo kết quả chính xác và toàn diện.

Phân tích I-ốt niệu theo nghiên cứu của Võ Xuân Liễu (2005) tại tỉnh Đồng Nai cho thấy tỷ lệ I-ốt niệu đạt tiêu chuẩn ≥10 μg/dL là 61,5% Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng sai số cho phép là c = 0,05 và tính toán kích thước mẫu là n = 364 để đảm bảo độ chính xác trong kết quả.

Chúng tôi chọn chẵn 400 học sinh tại 05 trường

Phương pháp lấy mẫu để thử I-ốt niệu

Chúng tôi áp dụng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên hệ thống để chọn 400 học sinh THPT tại thành phố Bến Tre, trong tổng số 3.733 học sinh, nhằm kiểm tra hàm lượng I-ốt niệu Quá trình chọn mẫu được thực hiện qua các bước cụ thể nhằm đảm bảo tính đại diện và chính xác của dữ liệu Phương pháp này giúp đảm bảo sự khách quan và tính hợp lý trong nghiên cứu về tình trạng thiếu hụt I-ốt trong cộng đồng học sinh.

- Lập danh sách và đánh số thứ tự từ 1 – 3.733 học sinh THPT tại thành phố Bến Tre

- Khoảng cách lấy mẫu là: k = 3.733/400 = 9,3 Chúng tôi chọn k = 9

- Chọn ngẫu nhiên học sinh đầu tiên có số thứ tự i: từ 1 – 9

- Các học sinh tiếp theo có số thứ tự: i; [i + k]; [i + 2k]; …; [i + (400 – 1)k]

- Học lớp: là biến định tính có ba giá trị: 10; 11 và 12

- Trường đang học: là biến định tính có 5 giá trị (05 trường THPT của thành phố Bến Tre)

Bướu giáp là tình trạng tuyến giáp có khả năng xuất hiện hoặc không, thể hiện rõ qua khám lâm sàng và siêu âm tuyến giáp Việc xác định bướu giáp dựa trên các phương pháp chẩn đoán này giúp xác định chính xác tình trạng và hướng điều trị phù hợp Bướu giáp có thể tồn tại dưới dạng có bướu hoặc không có bướu, do đó việc khảo sát kỹ lưỡng bằng khám lâm sàng và siêu âm là cần thiết để đánh giá chính xác bệnh lý tuyến giáp.

Không có bướu giáp nghĩa là tuyến giáp không xuất hiện nhân giáp, kích thước của tuyến giáp nhỏ, không thể sờ thấy hoặc nhìn thấy rõ Thể tích tuyến giáp theo tuổi thường nhỏ hơn giá trị tính theo công thức V = (0,479 × a × b × c) × 2, nơi a, b, c là các số đo của tuyến giáp Điều này giúp xác định rõ tình trạng bình thường của tuyến giáp dựa trên kích thước và thể tích phù hợp với tuổi.

Trong đó: V: thể tích tuyến giáp (cm 3 ) a: chiểu dài của mỗi thùy b: chiều rộng của mỗi thùy c: chiều sâu của mỗi thùy

0,479 là hệ số hiệu chỉnh

Bướu giáp xuất hiện khi khám lâm sàng phát hiện tuyến giáp to rõ qua sờ hoặc nhìn thấy bằng mắt thường, hoặc khi siêu âm cho thấy thể tích tuyến lớn hơn mức chuẩn hoặc có nhân giáp Độ bướu giáp là một biến định tính gồm 4 cấp độ: độ 0, độ I, độ II và độ III, phản ánh mức độ nặng nhẹ của khối bướu.

Cách phân độ bướu giáp (theo tiêu chuẩn của WHO và ICCIDD năm

Đánh giá độ bướu giáp dựa trên các mức độ từ 0 đến III theo mô tả của các nguồn: Độ 0 không có bướu giáp, không sờ thấy; Độ IA có bướu sờ nắn được, thùy tuyến giáp to hơn đốt ngón cái; Độ IB có bướu sờ nắn được và thấy rõ khi ngửa cổ ra sau; Độ II có bướu nhìn thấy rõ ở tư thế bình thường gần cổ; Độ III có bướu lớn gây biến dạng cổ, nhìn thấy rõ từ xa Đồng thời, xét nghiệm I-ốt niệu được thực hiện bằng phương pháp định lượng, dựa trên tỷ lệ hàm lượng I-ốt niệu, phân loại thành các nhóm: 0,05, cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ bướu giáp giữa các khối lớp trong nghiên cứu.

Bảng 3.8: Tỉ lệ mắc bướu giáp theo giới

Giới Tổng số Có bướu giáp Không có bướu

Tỷ lệ nữ giới mắc bệnh bướu giáp là 4,00%, nam giới là 1,63% và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,01

Bảng 3.9: Tỉ lệ mắc bướu giáp theo nhóm tuổi

Tuổi Tổng số Có bướu giáp Không có bướu

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bướu giáp ở nhóm tuổi 15 là 2,19%, tăng lên 3,13% ở nhóm tuổi 16 và 3,22% ở nhóm tuổi 17 trở lên Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê, cho thấy mức độ phổ biến của bướu giáp không khác biệt đáng kể theo tuổi trong các nhóm nghiên cứu.

Bảng 3.10: Tỉ lệ học sinh mắc bướu giáp theo độ bướu Độ bướu n % Độ 0 3.627 97,16 Độ I 102 2,73 Độ II 2 0,05 Độ III 2 0,05

Tỷ lệ mắc bướu giáp độ I chiếm tỉ lệ 2,73%, bướu giáp độ II và độ III là 0,05%

Bảng 3.11: Tỷ lệ học sinh mắc bướu giáp theo độ bướu và giới

 2 p Độ 0 Độ I Độ II Độ III n % n % n % n %

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nữ sinh mắc bệnh bướu giáp độ I là 3,64%, trong khi đó tỷ lệ nam sinh mắc bệnh chỉ là 1,43% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với giá trị p < 0,01, cho thấy nữ giới có nguy cơ mắc bệnh cao hơn nam giới.

Hàm lượng I-ốt niệu ở học sinh THPT

Bảng 3.12: Hàm lượng I-ốt niệu theo nhóm tuổi

I-ốt niệu trung vị nhúm tuổi 15 là 7,88àg%; nhúm tuổi 16 là 8,42àg% và nhúm ≥17 là 7,48 àg%

Bảng 3.13: Hàm lượng I-ốt niệu theo giới tính

I-ốt niệu trung vị của cỏc em học sinh nam là: 7,38àg% và của cỏc em học sinh nữ là: 8,49àg%

Bảng 3.14: Hàm lượng I-ốt niệu theo trường

I-ốt niệu trung vị của học sinh trường Chuyờn là 8,06àg%, trường Lạc Long Quõn là 6,78 àg%, trường Nguyễn Đỡnh Chiểu là 7,86 àg%, trường Vừ Trường Toản là 8,42 àg% và Hermann là 8,23 àg%;

Bảng 3.15: Hàm lượng I-ốt niệu theo khối

Nghiên cứu hàm lượng I-ốt niệu theo khối lớp cho thấy mức trung vị từ 7,46 đến 8,42 µg%, phản ánh tình hình cung cấp I-ốt cho cơ thể Lượng I-ốt niệu trung bình đạt khoảng 8,06 µg%, cho thấy mức tiêu thụ I-ốt hợp lý và ổn định trong khảo sát Kết quả này giúp đánh giá chính xác trạng thái cung cấp I-ốt trong dân cư, góp phần xây dựng các chiến lược dinh dưỡng phù hợp.

Bảng 3.16: Hàm lượng I-ốt niệu theo tình trạng bướu giáp

Tình trạng bướu giáp n Trung vị

I-ốt niệu trung vị ở những học sinh cú bướu giỏp là 6,38àg% và học sinh khụng bị bướu giỏp là 8,35àg% Sự khỏc biệt cú ý nghĩa thống kờ với p < 0,05

Bảng 3.17: Phân bố hàm lượng I-ốt niệu theo trường

Kết quả nghiên cứu hàm lượng I-ốt niệu cho thấy chỉ có 37,5% học sinh đạt mức I-ốt niệu tối ưu (≥10µg/dl), trong đó 37% có hàm lượng I-ốt niệu thiếu mức độ nhẹ, 20,75% thiếu mức độ trung bình, và 4,75% thiếu mức độ trầm trọng Phân bố hàm lượng I-ốt niệu giữa các trường không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, cho thấy tình trạng thiếu I-ốt ở học sinh còn phổ biến và đồng đều.

Biểu đồ 3.4: Hàm lượng I-ốt niệu đạt chuẩn và không đạt chuẩn

Hàm lượng I-ốt niệu của cỏc em chưa đạt chuẩn < 10àg% chiếm tỷ lệ

62,5%, đạt chuẩn ≥ 10àg% chiếm tỷ lệ 37,5%.

Kiến thức phòng chống các rối loạn do thiếu I-ốt

Bảng 3.18: Kiến thức về hậu quả của sản phụ thiếu hụt I-ốt

Trong khảo sát, có 7,63% các em còn thiếu kiến thức về hậu quả của sản phụ thiếu hụt I-ốt, trong khi đó, đa số các em – chiếm 92,37% – đã có hiểu biết tốt về ảnh hưởng tiêu cực của việc thiếu hụt I-ốt đối với sức khỏe của sản phụ Điều này cho thấy sự tiến bộ rõ rệt trong nhận thức của các em về tầm quan trọng của I-ốt trong thai kỳ và sự cần thiết của việc bổ sung đủ I-ốt để bảo vệ sức khỏe mẹ và bé Việc nâng cao kiến thức này là yếu tố then chốt nhằm giảm thiểu các hậu quả tiêu cực liên quan đến thiếu hụt I-ốt trong cộng đồng.

Bảng 3.19: Kiến thức về hậu quả của trẻ em thiếu hụt I-ốt

Chỉ có 8,47% các em có kiến thức chưa tốt về hậu quả của trẻ em thiếu hụt I-ốt, trong khi đó, phần lớn các em – 91,53% – đã có kiến thức tốt về tác động tiêu cực của thiếu hụt I-ốt đối với trẻ nhỏ Điều này cho thấy nhận thức về hậu quả của thiếu I-ốt ở các em khá cao, góp phần nâng cao ý thức phòng tránh và bảo vệ sức khỏe cho trẻ em.

Bảng 3.20: Kiến thức về hậu quả của người lớn thiếu hụt I-ốt

Có kiến thức chưa tốt về hậu quả của người lớn thiếu hụt I-ốt là 12,72%; Có kiến thức tốt về hậu quả của người lớn thiếu hụt I-ốt là 87,28%

Bảng 3.21: Kiến thức về nguồn thực phẩm chứa I-ốt

Có kiến thức chưa tốt của các em học sinh về nguồn thực phẩm chứa I-ốt là 3,54%,

Có kiến thức tốt của các em học sinh về nguồn thực phẩm chứa I-ốt là 3,54%,

Bảng 3.22: Kiến thức về các thực phẩm bổ sung I-ốt

Có kiến thức chưa tốt của các em học sinh về nguồn thực phẩm bổ sung I-ốt là 10,85%,

Có kiến thức tốt của các em học sinh về nguồn thực phẩm bổ sung I-ốt là 89,15%,

Bảng 3.23: Kiến thức về cách bảo quản muối I-ốt

Kiến thức chưa tốt về bảo quản muối I-ốt: 9,54%,

Kiến thức tốt về bảo quản muối I-ốt: 90,46%

Bảng 3.24: Dùng muối I-ốt hàng ngày có ảnh hưởng đến sức khoẻ không? Ảnh hưởng sức khoẻ n %

Có kiến thức chưa tốt về dùng muối I-ốt hàng ngày là 16,18%

Có kiến thức tốt của các em về dùng muối I-ốt hàng ngày là 83,82%

Bảng 3.25: Cách dùng muối I-ốt

Nêm vào thức ăn sau khi để nguội 1.064 28,50

Có kiến thức tốt về cách dùng muối I-ốt như muối thường là 71,50%,

Có kiến thức chưa tốt về cách dùng muối I-ốt nêm vào thức ăn khi để nguội là 28,50%

Bảng 3.26: Muối I-ốt có thể sử dụng cho người không thiếu I-ốt?

Muối I-ốt có thể sử dụng cho người không thiếu I-ốt? n %

Kiến thức tốt của các em về việc dùng muối I-ốt cho người không thiếu I-ốt là 97,27%

Bảng 3.27: Trong muối thường có I-ốt không?

Học sinh có kiến thức tốt nhận định rằng trong muối thường có muối I-ốt, chiếm tỷ lệ 25,90%, trong khi đó, học sinh có kiến thức chưa tốt cho rằng muối thường không có I-ốt, chiếm tỷ lệ 74,10% Nhận thức này cho thấy còn nhiều học sinh chưa hiểu rõ về hàm lượng I-ốt trong muối, ảnh hưởng đến việc phòng chống thiếu I-ốt Việc nâng cao kiến thức về muối I-ốt là cần thiết để đảm bảo sức khỏe cộng đồng.

Bảng 3.28: Kiến thức chung về sử dụng muối I-ốt phòng chống CRLTHI

Kiến thức trung bình (đúng 5 – 6 câu / 10 câu) 13 0,35 Kiến thức khá (đúng 7 – 8 câu / 10 câu) 682 18,27 Kiến thức tốt (đúng 9 – 10 câu / 10 câu) 3.038 81,38

Trong cộng đồng, kiến thức về việc sử dụng muối I-ốt để phòng chống CRLTHI còn khá phân hóa Cụ thể, tỷ lệ người có kiến thức trung bình chiếm 0,35%, trong khi đó, số người có kiến thức khá đạt 18,27% Những người có kiến thức tốt về việc sử dụng muối I-ốt để phòng chống CRLTHI chiếm tỷ lệ lớn nhất, đạt 81,38%, cho thấy nhận thức về tầm quan trọng của việc bổ sung I-ốt trong chế độ ăn ngày càng được nâng cao.

Biểu đồ 3.5: Đánh giá kiến thức chung theo khối lớp

Kiến thức tốt: khối lớp 10 chiếm tỷ lệ 79,2%, khối 11 chiếm tỷ lệ 80,14%; khối lớp 12 chiếm tỷ lệ 84,6%;

Kiến thức khá: khối lớp 10 chiếm tỷ lệ 20,47%, khối 11 chiếm tỷ lệ 19,6%; khối lớp 12 chiếm tỷ lệ 14,94%;

Kiến thức trung bình: khối lớp 10 chiếm tỷ lệ 0,31%, khối 11 chiếm tỷ lệ 0,26%; khối lớp 12 chiếm tỷ lệ 0,46%

Bảng 3.29: Đánh giá kiến thức chung theo trường

THPT Chuyên học sinh có kiến thức tốt 70,48%, có kiến thức trung bình là 1,08%;

THPT Nguyễn Đình Chiểu học sinh có kiến thức tốt 78,35%, có kiến thức trung bình 0,40%;

THPT Võ Trường Toản học sinh có kiến thức tốt 87,46%, có kiến thức trung bình 0%;

THPT Lạc long Quân học sinh có kiến thức tốt 88,72%, có kiến thức trung bình 0,17%;

THPT Hermenn có kiến thức tốt 83,11%, có kiến thức trung bình 0%

Bảng 3.30: Tỉ lệ hộ gia đình sử dụng muối I-ốt

Tỉ lệ hộ gia đình các em học sinh có sử dụng muối I-ốt chiếm tỷ lệ 92,71%, không dùng muối I-ốt là 7,29%

Bảng 3.31: Số lượng nguồn thông tin tiếp cận các rối loạn do thiếu hụt I-ốt

Kết quả cho thấy đa số thông tin tiếp nhận được từ 1 nguồn chiếm tỉ lệ 91,94% và thông tin từ 5 nguồn là 2,87%.

BÀN LUẬN

Đặc điểm chung của mẫu học sinh nghiên cứu

Nhóm nghiên cứu bao gồm 3.733 học sinh từ 5 trường THPT tại thành phố Bến Tre, với phân bố theo độ tuổi gần như đều nhau: 15 tuổi chiếm 33,46%, 16 tuổi chiếm 29,98%, và từ 17 tuổi trở lên chiếm 36,57%, cho thấy các em tham gia nghiên cứu một cách nghiêm túc Kết quả này tương tự với nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Thủy Yên, trong đó học sinh 15 tuổi chiếm 31,25%, 16 tuổi chiếm 32,36%, và từ 17 tuổi trở lên chiếm 36,39%, phản ánh tính nhất quán và tính chính xác của dữ liệu.

Trong nghiên cứu, tỷ lệ học sinh nữ chiếm nhiều hơn học sinh nam với tỷ lệ 58,83% so với 41,17% Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Thủy Yên, ghi nhận tỷ lệ nữ trung học phổ thông là 52,79% và nam là 47,21% Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả Võ Thị Ngọc Nga lại cho thấy tỷ lệ nữ là 50,6% và nam là 49,4%, phản ánh sự khác biệt trong khảo sát thực tế.

Tỉ lệ học sinh giữa các khối học đều khá đều nhau, thể hiện sự cân bằng trong phân bổ học sinh theo các khối lớp Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với các nghiên cứu trước đó của tác giả Hoàng Thị Thủy Yên, cho thấy xu hướng ổn định của tỷ lệ học sinh qua các khối lớp Các số liệu này giúp đảm bảo tính khách quan và đáng tin cậy của phân tích về phân bổ học sinh trong các khối học khác nhau.

[38] trên 896 học sinh THPT tại thành phố Huế: trong nghiên cứu này, tỉ lệ khối 10 là 32,25%; khối 11 là 36,39%; khối 12 là 31,36%

Trong 5 trường THPT ở thành phố Bến Tre, trường Nguyễn Đình Chiểu có số học sinh tham gia vào nghiên cứu nhiều nhất với số lượng là 1.261 em

Tỉ lệ nam và nữ ở cả 3 khối là tương đương nhau

Trong các nghiên cứu khác, thường các tác giả chọn lứa tuổi khảo sát từ

Trong độ tuổi từ 6 đến 12 tuổi, các đối tượng này dễ tiếp cận và có tần suất bướu giáp cao nhất theo WHO, đặc biệt trong giai đoạn dậy thì và thời kỳ sinh nở Chúng tôi chọn đối tượng là học sinh THPT vì dễ tiếp cận, phù hợp với khuyến cáo của WHO về nhóm tuổi có nguy cơ cao, đồng thời thuận lợi trong việc thực hiện các phương pháp xét nghiệm như siêu âm, lấy nước tiểu để đo hàm lượng I-ốt niệu ngay tại trường.

Tình hình mắc bướu giáp của học sinh THPT

4.2.1 Tỉ lệ hiện mắc bướu giáp ở học sinh THPT

Hiện nay, bướu giáp vẫn là vấn đề sức khỏe cộng đồng đáng quan tâm trên nhiều quốc gia, bao gồm Việt Nam Để đánh giá mức độ nghiêm trọng của các rối loạn do thiếu hụt I-ốt trong một vùng, các chỉ số như tần suất bướu giáp trong học sinh được sử dụng rộng rãi Theo khuyến cáo của WHO/UNICEF/ICCIDD, tỉ lệ bướu giáp từ 5% đến dưới 20% thể hiện mức độ nhẹ, từ 20% đến dưới 30% là trung bình, còn tỉ lệ trên 30% được xem là vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng.

Đánh giá tình trạng thiếu hụt I-ốt của một dân số là bước quan trọng để xác định mức độ dinh dưỡng I-ốt và xây dựng các chương trình kiểm soát hiệu quả Theo Hetzel, việc đánh giá này cần dựa trên ba thành phần chính, bao gồm việc xác định mức độ thiếu hụt I-ốt ban đầu, giám sát sự thay đổi của dân số sau khi triển khai các biện pháp can thiệp và đánh giá tác động của các chương trình này đối với sức khỏe cộng đồng Những yếu tố này đóng vai trò then chốt trong việc thiết lập các chiến lược phòng ngừa và kiểm soát rối loạn do thiếu hụt I-ốt, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của chương trình quốc gia về kiểm soát thiếu hụt I-ốt.

- Xác định hàm lượng I-ốt niệu;

- Xác định kích thước tuyến giáp và đánh giá tỉ lệ bướu giáp;

Năm 1993, bệnh viện Nội tiết cùng UNICEF đã tiến hành điều tra dịch tễ học toàn quốc về bệnh bướu cổ dựa trên tỷ lệ bướu giáp và hàm lượng I-ốt niệu ở trẻ em từ 6 đến 13 tuổi, với kết quả cho thấy 94% xã đều bị thiếu hụt I-ốt, trong đó 16% bị thiếu nặng, 45% thiếu vừa và 23% thiếu nhẹ Mức I-ốt niệu trung vị toàn quốc năm 1993 là 3,2 mg%, đồng thời tỷ lệ bướu giáp ở trẻ em là 22,4% Đến năm 1994, nghiên cứu của bệnh viện Nội tiết tiếp tục khảo sát dịch tễ học bướu giáp ở học sinh 6-14 tuổi tại 167 huyện thuộc 36 tỉnh vùng bướu giáp địa phương, với tỷ lệ bướu toàn phần là 26,3% (dao động từ 5,6% đến 50,6%).

Việt Nam nằm trong khu vực thiếu hụt I-ốt, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng Theo kết quả điều tra dịch tễ học năm 1993, có tới 94% dân số Việt Nam sống trong vùng thiếu hụt I-ốt, đối diện với nguy cơ cao mắc các rối loạn do thiếu hụt I-ốt Việc thiếu hụt I-ốt tại Việt Nam đòi hỏi các biện pháp can thiệp kịp thời nhằm cải thiện tình trạng sức khỏe cộng đồng và phòng ngừa các biến chứng liên quan.

Năm 1995, chương trình phủ muối I-ốt đã triển khai trên toàn quốc Năm

2005, nước ta đã đạt mục tiêu thanh toán các rối loạn do thiếu hụt I-ốt [19]

Trong nghiên cứu của chúng tôi, qua khám lâm sàng và siêu âm trên 3.733 học sinh ở 5 trường THPT tại thành phố Bến Tre năm 2012, đã phát hiện 113 trường hợp bướu giáp, chiếm tỷ lệ chung là 3,03%, dao động từ 1,2% đến 3,65% giữa các trường Với mẫu lớn này, kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với các nghiên cứu trước đó, như của tác giả Hoàng Trọng Sĩ với tỷ lệ bướu giáp là 3,6% trên 577 học sinh từ 8-12 tuổi tại huyện miền núi Nam Giang, Quảng Nam, và thấp hơn so với tỷ lệ 5,8% trong nghiên cứu của Hoàng Thị Thủy Yên trên 896 học sinh trung học phổ thông tại thành phố Huế năm 2010 Theo bác sĩ Basil S Hetzel, nhà tiên phong chống thiếu hụt I-ốt từ năm 1964, một mẫu nghiên cứu gồm 200 học sinh từ 10-14 tuổi là đủ để đánh giá tỷ lệ bướu giáp, góp phần nâng cao nhận thức về phòng ngừa và xử lý các rối loạn tuyến giáp do thiếu i-ốt trong cộng đồng.

Tỉ lệ bướu giáp trong nghiên cứu này chưa được so sánh với các số liệu trước đây tại Bến Tre do thiếu dữ liệu khảo sát về tình hình phòng chống rối loạn thiếu hụt I-ốt trên đối tượng học sinh THPT Tuy nhiên, tỷ lệ này phù hợp với nghiên cứu của Võ Thị Ngọc Nga (2007), là 3,8%, và thấp hơn so với mức trung bình khoảng 4% của các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long theo đánh giá của Mai Thế Trạch (1988) Điều này cho thấy tình trạng bướu giáp đang dần được cải thiện theo thời gian.

Theo WHO, vùng có từ 10% dân số trở lên hoặc 5% trẻ em từ 6-12 tuổi mắc bệnh bướu giáp được gọi là vùng bướu giáp địa phương, chủ yếu liên quan đến tình trạng thiếu hụt I-ốt trong môi trường và cơ thể con người Hiện nay, thành phố Bến Tre không nằm trong diện vùng bướu giáp địa phương.

4.2.2 Sự khác nhau giữa siêu âm tuyến giáp và khám lâm sàng tuyến giáp trong việc phát hiện bướu giáp

Theo khuyến cáo của WHO/UNICEF/ICCIDD (1994), việc đánh giá tần suất của bướu giáp dựa trên thăm khám bằng tay còn gặp nhiều hạn chế, đặc biệt trong việc xác định kích thước của tuyến giáp nhỏ, như ở trẻ em Do đó, phương pháp siêu âm hiện nay được ưu tiên sử dụng, với độ chính xác tối đa lên đến 90%.

Trong nhóm nghiên cứu, tỷ lệ khám lâm sàng chung là 2,85%, thấp hơn so với tỷ lệ phát hiện qua siêu âm là 3,03% Kết quả này đã nhận được sự đồng thuận từ các tổ chức quốc tế uy tín như WHO, UNICEF và ICCIDD, khẳng định tính chính xác và đáng tin cậy của các phương pháp chẩn đoán.

Theo Umesh Kapil, có sự nhầm lẫn trong phân loại bướu giáp, đặc biệt là trong việc chẩn đoán bằng phương pháp thăm khám bằng tay so với siêu âm WHO cho rằng siêu âm cung cấp cách đo tuyến giáp rõ ràng hơn so với thăm khám truyền thống, nhất là đối với bướu giáp độ I, nơi độ chính xác và nhạy cảm của thăm khám tay thấp Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng bác sĩ có kinh nghiệm trong thăm khám tuyến giáp có thể nhầm lẫn lên đến 40% trong chẩn đoán bướu giáp Tuy nhiên, nghiên cứu của Võ Thị Ngọc Nga (2007) lại cho thấy tỷ lệ khám lâm sàng cao hơn siêu âm (3,8% so với 3,3%), điều này có thể do tiêu chuẩn siêu âm dựa trên các tiêu chuẩn của châu Âu, không phù hợp với kích thước tuyến giáp của người Việt Nam Siêu âm là phương tiện chẩn đoán hình ảnh tuyến giáp giá rẻ, không đau, có thể thực hiện nhiều lần, nhưng dễ bị ảnh hưởng bởi yếu tố chủ quan của bác sĩ như kinh nghiệm, thiết bị và tiêu chuẩn đánh giá kích thước, thể tích tuyến giáp – trong đó các tiêu chuẩn của châu Âu thường lớn hơn so với của người Việt Nam, làm ảnh hưởng đến độ chính xác của chẩn đoán.

Kết hợp thiết bị siêu âm cao cấp và đầu dò siêu âm độ phân giải cao cùng với đội ngũ bác sĩ siêu âm giàu kinh nghiệm giúp đảm bảo kết quả siêu âm chính xác và đáng tin cậy Khám sàng lọc bằng siêu âm cho phép phát hiện nhiều trường hợp bướu giáp hơn so với khám lâm sàng, đặc biệt là các nhân giáp nhỏ hoặc không rõ sót qua thăm khám trực tiếp Ngoài ra, siêu âm không chỉ giúp phát hiện các khối bướu giáp to lan tỏa mà còn phát hiện ra những nhân giáp mà bác sĩ lâm sàng khó sờ thấy, góp phần nâng cao hiệu quả chẩn đoán và quản lý bệnh lý tuyến giáp.

4.2.3 Phân bố bướu trong tuyến giáp

Trong nghiên cứu này, tỷ lệ bướu giáp hai thùy chiếm đến 68,14%, đây là một phát hiện đáng chú ý chưa được đề cập trong các nghiên cứu trước Sự phổ biến của bướu giáp hai bên hợp lý vì cả tuyến giáp hai bên đều bị tác động bởi tình trạng thiếu hụt I-ốt, rối loạn thần kinh nội tiết, cùng với việc tiêu thụ quá nhiều thực phẩm chứa cyanates, chất chống nội tiết tố tuyến giáp và các chất sinh bướu từ thực phẩm Do đó, khả năng bướu giáp lan toả và khu trú là tương đương nhau.

4.2.4 Phân bố bướu giáp giữa các nhóm tuổi và các trường

Nghiên cứu cho thấy tỉ lệ bướu giáp giữa các trường THPT tại thành phố Bến Tre không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê Các tác giả như Akhil Bandhu Biswas và Haresh Chandwani đều xác nhận rằng, trong các nghiên cứu của mình trên các nhóm học sinh từ 6 đến 12 tuổi, tỷ lệ bướu giáp không khác biệt rõ ràng theo độ tuổi hay nhóm khối lớp Điều này cho thấy, việc sử dụng muối I-ốt trong cộng đồng học sinh này khá đồng đều, và tỉ lệ mắc bướu giáp phân bố đều giữa các nhóm tuổi và nhóm lớp học, phản ánh tình hình chung về tình trạng thiếu i-ốt và phòng ngừa bướu giáp trong khu vực.

4.2.5 Phân bố bướu giáp giữa nam và nữ:

Nghiên cứu tỉ lệ bướu giáp ở học sinh lớp 10 – 11 – 12 cho thấy tỷ lệ bướu giáp ở nữ giới là 4%, cao hơn đáng kể so với nam giới với tỷ lệ 1,63%, đây là sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trong nước như của Võ Thị Ngọc Nga (2007), xác nhận rằng tỷ lệ bướu giáp ở nữ giới cao hơn so với nam giới, cho thấy giới tính là yếu tố quan trọng trong sự phân bố bệnh lý này.

Nghiên cứu tại xã Phong Điền – Thừa Thiên Huế cho thấy có 522 học sinh từ 8-10 tuổi mắc bướu giáp, trong đó tỷ lệ nữ sinh mắc bệnh là 5,7%, cao hơn nam sinh là 1,9%, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Các nghiên cứu quốc tế như của Misra và cộng sự (2007), Chandra và cộng sự (2006), cũng như Haresh Chandwani đều ghi nhận tỷ lệ bướu giáp cao hơn ở nữ giới, đặc biệt là trong nhóm tuổi từ 6-12 Theo khảo sát sức khoẻ gia đình quốc gia (NFHS), tỷ lệ mắc bướu giáp hoặc rối loạn tuyến giáp ở nữ cao gấp 2,5 lần so với nam giới, và số bệnh nhân gia tăng theo tuổi, đặc biệt ở nữ Trong nghiên cứu của Yinebeb Mezgebu (2012) tại Tây Nam Ethiopia, tỷ lệ bướu giáp chung là 59,1%, với nữ giới chiếm đến 70%, khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nam giới (46,4%) Các kết quả này cho thấy sự gia tăng rõ rệt tỷ lệ mắc bệnh ở nữ giới và xu hướng tăng theo tuổi, nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác phòng ngừa và chẩn đoán sớm bệnh bướu giáp ở trẻ em và nữ giới.

(2002), nghiên cứu trên 4.456 học sinh từ 8 – 12 tuổi ở huyện Hoài Đức, tỉnh

Hàm lượng I-ốt niệu trong học sinh THPT

I-ốt niệu là một chỉ tố sinh hóa quan trọng nhất mà chỉ ra tình trạng dinh dưỡng I-ốt hiện tại và được sử dụng như một chỉ tố có giá trị cho việc đánh giá các rối loạn do thiếu hụt I-ốt và đủ I-ốt [47] , và được xem là phương pháp nhạy cảm nhất để theo dõi và lượng giá một chương trình kiểm soát các rối loạn thiếu hụt I-ốt [62] Đồng thời thông qua chỉ số này cũng đánh giá được kết quả của Chương trình phủ muối I-ốt toàn quốc của Bộ Y tế [26] Bởi vì 90% I-ốt của cơ thể sẽ được thải qua nước tiểu [44]

Theo nghiên cứu của Sandra L May, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các phương pháp xét nghiệm I-ốt niệu A, B, C, D, E và F Phương pháp A được nhận xét là đơn giản, không đắt tiền và đủ độ chính xác để theo dõi sức khỏe cộng đồng Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã định lượng hàm lượng I-ốt niệu bằng phương pháp A (trắc quang động học xúc tác) theo khuyến cáo của tác giả Sandra L May.

Theo khuyến cáo của Hetzel (2004), hàm lượng I-ốt trong mẫu nước tiểu ngẫu nhiên của trẻ em và người lớn cung cấp đánh giá đầy đủ về tình trạng dinh dưỡng I-ốt trong cộng đồng Việc sử dụng mẫu nước tiểu 24 giờ thường gặp khó khăn và không cần thiết trong các đánh giá này Ngoài ra, việc đo I-ốt niệu liên quan đến Creatinin cũng tốn kém và không cần thiết trong các xét nghiệm đánh giá tình trạng I-ốt.

Trong các nghiên cứu dịch tễ học về phân bố I-ốt niệu của dân số, việc tập trung vào mức độ trung vị (median) là cần thiết hơn so với các giá trị từng cá nhân Điều này vì phân bố tần suất của I-ốt niệu thường không theo hướng giá trị gia tăng, nên median được ưu tiên để phản ánh chính xác tình trạng dinh dưỡng I-ốt của cộng đồng.

Mẫu nước tiểu ngẫu nhiên từ các em học sinh có thể được lấy ở cùng thời điểm với đánh giá bướu giáp

Giá trị của I-ốt niệu có thể được thể hiện một cách dễ dàng qua việc phân tích trung vị hoặc tỷ lệ các điểm cắt như

Ngày đăng: 22/08/2023, 17:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Y tế (2006), Kiểm tra chất lượng xét nghiệm I-ốt muối và I-ốt niệu, Dự án phòng chống bướu cổ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra chất lượng xét nghiệm I-ốt muối và I-ốt niệu
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Dự án phòng chống bướu cổ
Năm: 2006
2. Bộ Y tế (2010), Giám sát muối I-ốt thường quy điều tra KAP và điều tra tỉ lệ bướu cổ học sinh năm 2010, Bệnh viện Nội tiết trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giám sát muối I-ốt thường quy điều tra KAP và điều tra tỉ lệ bướu cổ học sinh năm 2010
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Bệnh viện Nội tiết trung ương
Năm: 2010
3. Phạm Văn Choang (1996), "Siêu âm tuyến giáp", Bệnh tuyến giáp và các rối loạn do thiếu I-ốt, NXB Y học, tr. 143-61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh tuyến giáp và các rối loạn do thiếu I-ốt
Tác giả: Phạm Văn Choang
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 1996
4. Lê Văn Cường (2009), "Nghiên cứu vị trí, hình thể của tuyến giáp ở người Việt Nam", Tạp chí Y học, NXB Y học Tp. Hồ Chí Minh, tập 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu vị trí, hình thể của tuyến giáp ở người Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Cường
Nhà XB: Tạp chí Y học
Năm: 2009
5. Đặng Trần Duệ (1996), "Đại cương về các hậu quả do thiếu I-ốt", Bệnh tuyến giáp và các rối loạn do thiếu I-ốt, NXB Y học, tr. 368-71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương về các hậu quả do thiếu I-ốt
Tác giả: Đặng Trần Duệ
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 1996
6. Nguyễn Trí Dũng (1996), "Định lượng I-ốt trong nước tiểu", Bệnh tuyến giáp và các rối loạn do thiếu I-ốt, NXB Y học, tr. 133-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh tuyến giáp và các rối loạn do thiếu I-ốt
Tác giả: Nguyễn Trí Dũng
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 1996
7. Phạm Đình Duy (2009), "Nghiên cứu chẩn đoán xác định Ung thư tuyến giáp", Tạp chí Y học Tp. Hồ Chí Minh, số 13(6), tr. 164-68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chẩn đoán xác định Ung thư tuyến giáp
Tác giả: Phạm Đình Duy
Nhà XB: Tạp chí Y học Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2009
8. Hứa Thị Ngọc Hà (2011), "Bệnh tuyến giáp", Giải phẫu bệnh học, NXB Giáo dục Việt Nam, tr. 270-85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh tuyến giáp
Tác giả: Hứa Thị Ngọc Hà
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
9. Nguyễn Thanh Hà (2002), "Điều tra tình trạng bướu cổ và sử dụng muối I-ốt tại 3 xã ven sông Đáy thuộc huyện Hoài Đức", Tạp chí Y học dự phòng, 4 (55), tr. 39-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra tình trạng bướu cổ và sử dụng muối I-ốt tại 3 xã ven sông Đáy thuộc huyện Hoài Đức
Tác giả: Nguyễn Thanh Hà
Nhà XB: Tạp chí Y học dự phòng
Năm: 2002
10. Nguyễn Thanh Hà (2002), "Tình hình bướu cổ địa phương tại một huyện đồng bằng Bắc bộ", Vietnam Journal of Physiology, 6(2), tr. 17-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình bướu cổ địa phương tại một huyện đồng bằng Bắc bộ
Tác giả: Nguyễn Thanh Hà
Nhà XB: Vietnam Journal of Physiology
Năm: 2002
11. Bùi Thị Hồng Khang (1999), "Phương pháp chọc hút tế bào tuyến giáp bằng kim nhỏ", Tạp chí Y học Tp. Hồ Chí Minh, 3(1), tr. 17-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp chọc hút tế bào tuyến giáp bằng kim nhỏ
Tác giả: Bùi Thị Hồng Khang
Nhà XB: Tạp chí Y học Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 1999
12. Chu Thị Lan (2004), "Nhận xét về thực trạng bướu cổ và thiếu I-ốt qua nghiên cứu ở 2 nhóm xã trước đó đã có sử khác nhau về tỷ lệ trẻ em 7 - 15 tuổi mắc bướu cổ", Tạp chí nghiên cứu Y học, 32(6), tr. 287-93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận xét về thực trạng bướu cổ và thiếu I-ốt qua nghiên cứu ở 2 nhóm xã trước đó đã có sử khác nhau về tỷ lệ trẻ em 7 - 15 tuổi mắc bướu cổ
Tác giả: Chu Thị Lan
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu Y học
Năm: 2004
13. Võ Xuân Liễu (2005), Kiến thức và thực hành sử dụng muối I-ốt của phụ nữ từ 18 – 49 tuổi tại tỉnh Đồng Nai năm 2005, Luận văn chuyên khoa cấp I. Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức và thực hành sử dụng muối I-ốt của phụ nữ từ 18 – 49 tuổi tại tỉnh Đồng Nai năm 2005
Tác giả: Võ Xuân Liễu
Nhà XB: Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2005
14. Phạm Văn Lình (2010), "Nghiên cứu trên mẫu", Phương pháp nghiên cứu khoa học sức khỏe, NXB Đại học Huế, tr. 88-104 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học sức khỏe
Tác giả: Phạm Văn Lình
Nhà XB: NXB Đại học Huế
Năm: 2010
15. Phùng Văn Linh (2006), Góp phần nghiên cứu phẫu trị phình giáp hạt, Luận văn Thạc sĩ Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu phẫu trị phình giáp hạt
Tác giả: Phùng Văn Linh
Nhà XB: Luận văn Thạc sĩ Y học
Năm: 2006
16. Lê Mỹ (1996), "Bệnh bướu cổ lưu hành", Bệnh tuyến giáp và các rối loạn do thiếu I-ốt, NXB Y học, tr. 378-90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh bướu cổ lưu hành
Tác giả: Lê Mỹ
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 1996
17. Lê Mỹ (1996), "Dịch tễ học các rối loạn do thiếu I-ốt", Bệnh tuyến giáp và các rối loạn do thiếu I-ốt, NXB Y học, tr. 372-77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh tuyến giáp và các rối loạn do thiếu I-ốt
Tác giả: Lê Mỹ
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 1996
19. Võ Thị Ngọc Nga (2009), "Nghiên cứu tình hình phòng chống các rối loạn thiếu I-ốt ở huyện Phong Điền, Thừa Thiên - Huế năm 2007", Tạp chí Y học Thực hành, tr. 147-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình phòng chống các rối loạn thiếu I-ốt ở huyện Phong Điền, Thừa Thiên - Huế năm 2007
Tác giả: Võ Thị Ngọc Nga
Nhà XB: Tạp chí Y học Thực hành
Năm: 2009
20. Nguyễn Đỗ Nguyên (2005), "Cỡ mẫu", Phương pháp nghiên cứu khoa học trong Y khoa, Tp. Hồ Chí Minh, tr. 34-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học trong Y khoa
Tác giả: Nguyễn Đỗ Nguyên
Nhà XB: Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2005
21. Trần Thanh Phương (2004), "Chẩn đoán và xử trí hạt giáp", Tạp chí Y học Tp. Hồ Chí Minh, 8(4), tr. 178-83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chẩn đoán và xử trí hạt giáp
Tác giả: Trần Thanh Phương
Nhà XB: Tạp chí Y học Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2004

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w