Tại khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long nói chung cũng như tỉnh Vĩnh Long nói riêng trong những năm gần đây chưa có nghiên cứu nào về tình hình sử dụng rượu bia cũng như cá
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu thật sự của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Thị Tâm Tất cả các số liệu và kết luận nghiên cứu đã được trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của chính mình!
Tác giả luận văn
Trần Nguyễn Du
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn tốt nghiệp này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ quý báu và chỉ dẫn tận tình của các Thầy Cô, các anh chị khoá trước và sự chia sẻ của các bạn đồng khoá Tôi xin gởi lời tri ân sâu sắc đến:
Ban Giám hiệu, các Khoa – Phòng và đặc biệt là khoa Y tế công cộng trường Đại học Y Dược Cần Thơ cùng các quý Thầy Cô, các anh chị đồng nghiệp đã tận tâm truyền đạt những kiến thức quý báu và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
PGS.TS Phạm Thị Tâm, Phó Hiệu trưởng - Trưởng Khoa Y tế công cộng trường Đại học Y Dược Cần Thơ, người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong cả quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Ban Giám đốc Trung tâm Y tế thị xã Bình Minh – tỉnh Vĩnh Long đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận văn
Các anh chị khoá trước, các bạn đồng khoá, những người đã cùng chia sẻ và giúp đỡ rất nhiều trong học tập, góp phần không nhỏ trong suốt quá trình học tập của tôi
Và với tất cả tình cảm sâu sắc nhất, tôi xin dành cho những người thân trong gia đình, là chỗ dựa vững chắc về vật chất và tinh thần, là nguồn động lực giúp đỡ tôi vượt qua khó khăn để đạt được kết quả khoá học và hoàn thành luận văn
Xin chân thành CẢM ƠN!
Tác giả luận văn
Trần Nguyễn Du
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Thông tin chung về rượu bia 3
1.2 Đánh giá mức độ sử dụng rượu bia 6
1.3 Một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng, lạm dụng rượu bia 8
1.4 Tác hại của lạm dụng rượu bia 12
1.5 Một số nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam 16
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng 20
2.2 Phương pháp nghiên cứu 20
2.3 Đạo đức trong nghiên cứu 31
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
3.1 Thông tin chung 32
3.2 Tình hình sử dụng rượu bia 34
3.3 Một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng rượu bia 36
3.4 Một số yếu tố liên quan đến sử dụng rượu bia mức có hại 41
3.5 Một số tác hại liên quan đến sử dụng rượu bia 46
3.6 Liên quan giữa sử dụng rượu bia mức có hại và các tác hại 46
Chương 4 BÀN LUẬN 48
4.1 Thông tin chung 48
4.2 Tình hình sử dụng rượu bia 49
4.3 Một số yếu tố liên quan đến sử dụng rượu bia 52
Trang 64.4 Một số yếu tố liên quan đến sử dụng rượu bia mức có hại 55
4.5 Một số tác hại của sử dụng rượu bia 60
4.6 Liên quan giữa sử dụng rượu bia mức có hại và các tác hại 62
KẾT LUẬN 64
KIẾN NGHỊ 66 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AUDIT The Alcohol Disorders Identification Test
(Bộ công cụ xác định rối loạn do sử dụng rượu)
CĐ/ĐH/SĐH Cao đẳng/Đại học/Sau Đại học
(Tổng sản phẩm quốc nội)
PHQ – 9 Patient Health Questionnaire – 9
(Bảng hỏi sức khỏe bệnh nhân) PPS Probabilty Proportional to Size
(Xác suất tỷ lệ theo kích cỡ dân số)
(Tổ chức Y tế thế giới)
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Số gam cồn tương ứng với “1 đơn vị rượu chuẩn” tại một số quốc gia 5
Bảng 1.2: Mức độ nguy cơ về sử dụng rượu bia theo thang điểm AUDIT 6
Bảng 3.1: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 32
Bảng 3.2: Đặc điểm về nơi sinh sống, nghề nghiệp và phân loại kinh tế gia đình 33
Bảng 3.3: Đặc điểm về tình trạng hôn nhân và tình trạng sống chung 33
Bảng 3.4: Phân bố số lần sử dụng ≥ 1 ly rượu bia chuẩn và số ngày uống rượu bia trong tuần qua trong 30 ngày qua 34
Bảng 3.5: Mức độ sử dụng rượu bia theo AUDIT 35
Bảng 3.6: Liên quan giữa nhóm tuổi, dân tộc, tôn giáo, nơi sinh sống, loại kinh tế gia đình và sử dụng rượu bia 36
Bảng 3.7: Liên quan giữa học vấn, nghề, áp lực công việc và sử dụng rượu bia 37
Bảng 3.8: Liên quan giữa tình trạng hôn nhân, sống chung và sử dụng rượu bia 38
Bảng 3.9: Liên quan giữa gia đình, bạn bè/đồng nghiệp và sử dụng rượu bia 38
Bảng 3.10: Liên quan giữa mức độ xem quảng cáo rượu bia và sử dụng rượu bia 39
Bảng 3.11: Liên quan giữa kiến thức về rượu bia và sử dụng rượu bia 39
Bảng 3.12: Phân tích đa biến một số yếu tố liên quan đến sử dụng rượu bia 40
Bảng 3.13: Liên quan giữa nhóm tuổi, dân tộc, tôn giáo, nơi sinh sống, loại kinh tế gia đình và sử dụng rượu bia mức có hại 41
Bảng 3.14: Liên quan giữa học vấn, nghề nghiệp, công việc và SDRB mức có hại 42 Bảng 3.15: Liên quan giữa hôn nhân, sống chung và SDRB mức có hại 43
Bảng 3.16: Liên quan gia đình, bạn bè và sử dụng rượu bia mức có hại 43
Bảng 3.17: Liên quan giữa xem quảng cáo rượu bia và SDRB mức có hại 44
Bảng 3.18: Liên quan giữa kiến thức về rượu bia và SDRB ở mức có hại 44
Bảng 3.19: Phân tích đa biến một số yếu tố liên quan đến SDRB ở mức có hại 45
Bảng 3.20: Liên quan giữa sử dụng rượu bia mức có hại tác hại về sức khỏe 47
Bảng 3.21: Liên quan giữa SDRB bia mức có hại và tác hại về các mối quan hệ/công việc/vi phạm luật 47
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ sử dụng ≥ 1 ly rượu bia chuẩn trong 30 ngày qua 34Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ người uống rượu bia quá độ trong 30 ngày qua 35Biểu đồ 3.3: Các tác hại tìm thấy trên đối tượng nghiên cứu có uống rượu bia 46
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Rượu bia là một trong những sản phẩm đồ uống được sử dụng từ rất lâu trên thế giới Tại nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam, việc sử dụng rượu bia được coi là một phương thức giao tiếp và trở thành thói quen mang đậm nét văn hoá truyền thống Sử dụng rượu bia với mức độ hợp lý có thể đem lại cho người sử dụng cảm giác hưng phấn, khoan khoái, lưu thông huyết mạch… Tuy nhiên rượu bia không phải là đồ uống thông thường mà khi sử dụng rất dễ lạm dụng và phụ thuộc với mức độ dung nạp ngày càng nhiều Uống rượu bia vượt ngưỡng an toàn là tác nhân nguy hiểm gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng đối với sức khoẻ của người uống và có thể gây ra những hậu quả làm ảnh hưởng đến người chung quanh Theo báo cáo của WHO năm 2014, tử vong do rượu bia đứng hàng thứ 5 trong số 10 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới Theo ước tính, mỗi năm có khoảng 3,3 triệu người tử vong do các nguyên nhân liên quan đến rượu bia [103] Việc sử dụng rượu có hại cũng có thể gây tổn hại cho người khác như các thành viên trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và những người xa lạ Hơn nữa, việc sử dụng rượu có hại dẫn đến một gánh nặng đáng kể về sức khỏe, kinh tế xã hội đối với xã hội nói chung Uống rượu là một yếu tố nguyên nhân trực tiếp cho ít nhất 30 bệnh và gián tiếp cho hơn 200 bệnh tật, chấn thương [99], [100], [103] Uống rượu có mối liên kết với một nguy cơ phát triển về các vấn đề sức khỏe như rối loạn tâm thần và hành vi, bao gồm cả phụ thuộc vào rượu, các bệnh không lây nhiễm chủ yếu như xơ gan, một số bệnh ung thư và các bệnh tim mạch, cũng như các thương tổn do bạo lực, xung đột và va chạm trên đường đi Một tỷ lệ đáng kể gánh nặng bệnh tật do sử dụng rượu bia làm phát sinh các chấn thương không chủ ý và có chủ ý, kể cả những chấn thương do tai nạn giao thông đường bộ, bạo lực và tự tử và thương tích gây tử vong có liên quan đến rượu có xu hướng xảy ra ở nhóm tuổi tương đối trẻ
Việt Nam là một trong số ít những quốc gia tiêu thụ đồ uống có cồn tăng nhanh trên thế giới, đặc biệt là ở đối tượng nam giới Tiêu thụ rượu bia tính trên đầu người hiện nay của Việt Nam đứng đầu khu vực Đông Nam Á nói riêng và thứ ba châu Á
Trang 11nói chung [66] Tại khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long nói chung cũng như tỉnh Vĩnh Long nói riêng trong những năm gần đây chưa có nghiên cứu nào về tình hình
sử dụng rượu bia cũng như các tác hại của rượu bia Chính vì những lý do trên,
chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu tình hình, một số yếu tố liên quan và tác hại của sử dụng rượu bia ở nam giới 16 đến 60 tuổi tại thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long năm 2017” nhằm các mục tiêu sau:
1 Xác định tỷ lệ và mức độ sử dụng rượu bia ở nam giới 16 đến 60 tuổi tại thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long năm 2017
2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến sử dụng rượu bia và tác hại của sử dụng rượu bia ở nam giới 16 đến 60 tuổi tại thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long năm 2017
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Thông tin chung về rượu bia
1.1.1 Đồ uống có cồn
Đồ uống có cồn là một loại chất lỏng có chứa ethanol (ethyl alcohol, thường gọi là “chất có cồn”) dùng để uống, được tạo ra chủ yếu nhờ quá trình lên men tinh bột và đường có nhiều trong hoa quả, ngũ cốc
Các quốc gia quy định khác nhau về nồng độ cồn tối thiểu (tính bằng hàm lượng ethanol theo thể tích) để một sản phẩm đồ uống trở thành “chất có cồn” hoặc
“đồ uống có cồn” Theo WHO, khoảng 106 quốc gia có quy định pháp lý rõ ràng về đồ uống có cồn Một nửa trong số đó áp dụng với những sản phẩm có độ cồn tối thiểu dưới 1%; 26,4% quốc gia với sản phẩm có nồng độ 1% - 2% và chỉ 2 quốc gia
áp dụng với sản phẩm 4% - 6% [103]
1.1.2 Phân loại rượu bia
Có nhiều các phân loại khác nhau với rượu bia Theo WHO, rượu bia phân loại dựa trên nồng độ cồn và được phân thành 3 loại:
1.1.2.1 Bia
Bia là loại đồng uống lên men, làm từ nguyên liệu chính là lúa mạch, hoa bia, men bia và nước Độ cồn của bia có thể dao động trong khoảng 0,5% - 14%, phổ biến vào khoảng 4% - 6% [95] Theo WHO, phân loại là bia khi có nồng độ cồn vào khoảng 5% Hiện nay trên thế giới có cả những loại bia với nồng độ cồn lên đến 20% hoặc ngược lại có những loại bia được chiết tách loại bỏ hoàn toàn cồn, tuy nhiên những loại bia này chưa phổ biến tại Việt Nam
1.1.2.2 Rượu vang
Rượu vang hay rượu nhẹ được sản xuất từ quá trình lên men (có thể có chưng cất hoặc không) các loại trái cây (chủ yếu vẫn là nho) Theo WHO, rượu vang thường có nồng độ cồn trong khoảng 12% - 15% [95]
1.1.2.3 Rượu mạnh
Trang 13Rượu mạnh được sản xuất từ quá trình lên men và chưng cất nguyên liệu như mía, củ cải đường, khoai tây, ngô, lúa mạch, lúa mì hoặc các loại ngũ cốc khác Quá trình chưng cất có thể diễn ra nhiều lần để tăng độ tinh khiết của rượu Rượu mạnh thường có nồng độ cồn trên 35% Theo WHO, phân loại là rượu mạnh khi có nồng độ cồn khoảng 40% [95]
Ngoài rượu bia ngày nay còn phổ biến các loại đồ uống có cồn lai tạp khác pha chế giữa nước giải khát thông thường (nước ngọt) với rượu bia như nước ngọt pha rượu, nước ngọt hòa với bia… Tại Việt Nam đến 99% đồ uống có cồn được biết đến là rượu và bia, các loại đồ uống có cồn khác tồn tại với mức không đáng kể, do đó trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng từ “rượu bia” thay cho “đồ uống có cồn” [103]
Tại Việt Nam, theo Quy chuẩn Kỹ thuật quốc gia đối với các sản phẩm đồ uống có cồn, phân chia các loại đố uống có cồn như sau [5]:
Bia hộp, bia chai: là đồ uống có cồn thu được từ quá trình lên men hỗn hợp
các nguyên liệu chủ yếu gồm: malt đại mạch, ngũ cốc, nấm men bia, hoa houblon, nước; được xử lý và đóng hộp/đóng chai
Rượu vang (wine): là đồ uống có cồn thu được từ quá trình lên men rượu
từng phần/hoàn toàn từ nho tươi (hoặc từ dịch ép nho), không qua chưng cất Độ rượu không dưới 8,5 % tính theo thể tích
Rượu vang nổ (sparkling wines): là rượu vang được tiếp tục xử lý trong hoặc
sau quá trình sản xuất Sản phẩm có sủi bọt khi mở nắp chai do quá trình giải phóng
CO2 nội sinh
Rượu mạnh (spirit drinks): Là đồ uống có cồn, độ rượu không dưới 15 %
tính theo thể tích Sản phẩm thu được từ một trong các quá trình sau:
- Chưng cất các sản phẩm lên men tự nhiên (có thể bổ sung hoặc không bổ sung hương liệu);
- Bổ sung hương liệu, đường hoặc các sản phẩm tạo ngọt khác (mật ong, siro quả, các carbohydrat tự nhiên có vị ngọt) vào cồn thực phẩm hoặc các loại rượu thuộc nhóm rượu mạnh;
Trang 14- Phối trộn một hoặc nhiều loại rượu mạnh với nhau và/hoặc với cồn thực phẩm và/hoặc đồ uống khác
1.1.3 Đơn vị rượu
“Đơn vị rượu” hay còn gọi là cốc/ly/chén chuẩn là một đơn vị đo lường dùng để quy đổi các loại rượu bia với nhiều nồng độ khác nhau Một số quốc gia trên thế giới có mức quy định cho đơn vị rượu chuẩn khác nhau:
Bảng 1.1: Số gam cồn tương ứng với “1 đơn vị rượu chuẩn” tại một số quốc gia
Pháp, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Ba Lan, Australia 10g
Theo WHO, một đơn vị rượu tương đương với 10 gram cồn nguyên chất có trong dung dịch đồ uống [96], [98] Cách tính đơn vị rượu trong một dung dịch rượu bia:
Đơn vị rượu = [Dung tích (mL) x Nồng độ (%) x 0,79 (hệ số quy đổi)]/10
Ví dụ: một lon bia 330mL với nồng độ cồn là 5% sẽ tương đương với số đơn vị rượu là: (330 x 4/100 x 0,79)/10 = 1,04 đơn vị
Do đó có thể ước lượng một đơn vị rượu hay một cốc/ly/chén chuẩn tương đương với 1 lon bia 330mL nồng độ 5%, 1 cốc rượu vang 125mL nồng độ 11%, 1
ly rượu vang mạnh 75mL nồng độ 20%, 1 chén rượu mạnh 40mL nồng độ 40% [96], [98]
Tại Việt Nam, điều 2 quyết định số 244/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành năm 2014 về “Chính sách Quốc gia phòng, chống tác hại của đồ uống có
Trang 15cồn đến năm 2020” nêu rõ đơn vị rượu được định nghĩa như sau: “Đơn vị rượu là đơn vị đo lường dùng để quy đổi rượu bia và đồ uống có cồn khác với nồng độ khác nhau, tương đương với 10g etanol nguyên chất chứa trong dung dịch uống (khoảng 2/3 chai bia 500 mL hoặc 1 lon bia 330mL 5%, 1 cốc bia hơi 330mL, 1 ly nhỏ 100mL rượu vang 13,5%, 1 chén 30mL rượu mạnh 40% - 43%)” [8] Như vậy định nghĩa về “đơn vị rượu” của Việt Nam và WHO là như nhau
1.2 Đánh giá mức độ sử dụng rượu bia
Mức độ sử dụng rượu bia được đánh giá bằng bộ công cụ xác định rối loạn
do sử dụng rượu – AUDIT (The Alcohol Use Disorders Identification Test) được WHO xây dựng và phát triển [84], [96] Đây là một phương pháp đơn giản, hiệu quả, thực hiện sàng lọc mức độ lạm dụng rượu bia chỉ trong thời gian vài phút Về cấu trúc, AUDIT gồm 10 câu hỏi ngắn chia làm 3 phần: phần 1 (có 3 câu hỏi thu thập bằng chứng về SDRB đến mức có hại), phần 2 (có 3 câu hỏi thu thập bằng chứng về lạm dụng rượu bia) và phần 3 (có 4 câu hỏi thu thập bằng chứng về SDRB
đến mức nguy hiểm – nghiện rượu bia) (Xem phụ lục)
Về cách đánh giá, 8 câu hỏi đầu tiên của AUDIT có mức điểm từ 0 – 4, riêng
2 câu hỏi cuối có mức điểm 0, 2, 4 Tổng số điểm đối đa là 40 Có 4 mức độ tương ứng về SDRB với tổng số điểm của 10 câu hỏi mà đối tượng trả lời:
Bảng 1.2: Mức độ nguy cơ về sử dụng rượu bia theo thang điểm AUDIT [96] Tổng số điểm AUDIT Mức độ nguy cơ về sử dụng rượu bia
0 – 7 Mức không có hại
8 – 15 Mức có hại
16 – 19 Lạm dụng rượu bia
20 – 40 Nghiện rượu bia
Theo đánh giá, AUDIT là công cụ hiệu quả, độ nhạy và độ đặc hiệu cao (ở điểm cắt là 8 điểm, độ nhạy, độ đặc hiệu tương ứng là 90% và 80%) và thích hợp cho những điều tra về cộng đồng [84], [96] Cụ thể tại Việt Nam, đã có công trình nghiên cứu cho thấy tại điểm cắt 7/8, AUDIT có độ nhạy 100% với mức sử dụng có hại và 93,8% với mức nghiện rượu; độ đặc hiệu là 69,9% với mức có hại và 87,4%
Trang 16với mức nghiện rượu; diện tích dưới đường cong ROC là 0,91 cho mức sử dụng có hại và 0,84 cho mức nghiện rượu [58] Mặt khác, cũng có nghiên cứu đã chứng minh rằng AUDIT là bộ công cụ sàng lọc về SDRB trong chăm sóc sức khỏe ban đầu tốt hơn so với một số công cụ khác như CASE, MAST [84], [96] Tuy nhiên có nhược điểm là dường như AUDIT ít chính xác khi áp dụng cho người lớn tuổi [81]
1.2.3 Lạm dụng rượu bia
Là việc SDRB ở mức gây ra các tổn hại về sức khỏe Những tổn hại này có thể về thể chất (tổn thương gan, suy chức năng gan, tim mạch, v.v.) hay tâm thần (trầm cảm, loạn thần,v.v.) hoặc các hậu quả xã hội khác (tai nạn thương tích, bạo lực, giảm khả năng làm việc,v.v.) [16], [103] Tương đương 16 – 19 điểm AUDIT [19], [96]
1.2.4 Nghiện rượu bia
Là tình trạng lệ thuộc vào rượu bia được đặc trưng bởi sự thèm muốn (nhu cầu uống mãnh liệt), mất kiểm soát (không thể ngừng uống mặc dù rất muốn dừng), tăng mức độ dung nạp, ảnh hưởng đến thể chất [16], [103] Tương đương 20 – 40 điểm AUDIT [19], [96]
Trang 171.3 Một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng, lạm dụng rượu bia
Các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam cũng chỉ ra một số yếu tố liên quan đến việc uống rượu bia như tuổi, giới tính, trình độ học vấn, ảnh hưởng từ bạn bè hoặc người thân trong gia đình…
1.3.1 Các yếu tố cá nhân
1.3.1.1 Tuổi
Trên thế giới, lứa tuổi uống rượu bia nhiều nhất là 15 – 50 tuổi, trong đó lứa tuổi 16 – 24 thường xuyên uống rượu [30] Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra Liên quan giữa tuổi và mức độ sử dụng rượu, cụ thể nhóm tuổi 18 – 34 có mức độ tiêu thụ rượu bia cao hơn các nhóm còn lại và độ tuổi càng tăng lên thì mức độ tiêu thụ rượu bia có xu hướng giảm xuống [38], [48], [49] Một số nghiên cứu khác cho thấy nam giới trong độ tuổi 40 – 45 tiêu thụ rượu bia nhiều nhất [44] Pärna và cộng sự đã nghiên cứu và nhận thấy tại Phần Lan người trong độ tuổi 35 – 44 có tần suất tiêu thụ rượu bia ít nhất một lần mỗi tuần cao nhất [71] Với Việt Nam, nghiên cứu của Kim Bảo Giang và cộng sự tại Hà Nội cũng cho thấy tỷ lệ nam giới uống rượu bia tăng ở nhóm tuổi 26 – 45 và có xu hướng giảm đi ở độ tuổi 46 – 60 [10]
1.3.1.2 Giới tính
Đa phần các nghiên cứu đều chỉ ra rằng nam giới có xu hướng tiêu thụ rượu bia thường xuyên hơn, lượng tiêu thụ lớn hơn và bị nhiều tác hại do rượu bia nhiều hơn nữ giới [32], [33], [67] Nam giới thường uống rượu bia sớm hơn, chi nhiều tiền hơn và uống rượu bia với mức độ cao hơn nữ giới [33] Tại Việt Nam, nghiên cứu của Phạm Văn Mạnh trên 562 người tại Hải Phòng cho thấy 100% người nghiện rượu là nam giới [17]
1.3.1.3 Tình trạng việc làm và thu nhập cá nhân
Hầu hết các nghiên cứu đã nói lên mối quan hệ giữa tình trạng công việc và thói quen SDRB Theo đó những người thất nghiệp thường có xu hướng tiêu thụ rượu bia nhiều hơn và dễ mắc các vấn đề về sức khỏe liên quan đến rượu bia hơn nhóm người có việc làm [92] Nghiên cứu định tính của Saburova và cộng sự đã cho thấy tình trạng “việc làm không ổn định” là một trong những nguyên nhân khiến
Trang 18người ta uống rượu [83] Tương tự, nghiên cứu của Trần Thị Đức Hạnh và cộng sự tại Long Biên, Hà Nội trên nhóm nam giới 25 – 64 tuổi cũng cho thấy có sự khác biệt rõ rệt giữa nhóm có công việc ổn định với nhóm công việc theo mùa vụ về tỷ lệ uống rượu thường xuyên (4,12% so với 26,7%, p=0,004) và tỷ lệ uống rượu quá độ (5,7% so với 26,88%, p=0,01) [12] Tuy nhiên, cũng có nghiên cứu cho thấy điều ngược lại rằng người không có việc làm ít có khả năng uống nhiều rượu bia như những người có việc làm [74]
Có bằng chứng cho thấy có mối quan hệ giữa tình trạng kinh tế và SDRB ở nam giới Nhóm người có thu nhập thấp thường có xu hướng uống rượu bia nhiều hơn [82]
1.3.1.4 Trình độ học vấn
Một số nghiên cứu đã nói lên mối quan hệ giữa trình độ học vấn và tỷ lệ SDRB cũng như các hậu quả của lạm dụng rượu bia Những người có học vấn cao hơn thường có xu hướng uống rượu bia nhiều hơn người có học vấn thấp [56], [92] Người có học vấn thấp thường có nguy cơ cao hơn đối với các tác hại của rượu bia [31]
1.3.1.5 Tình trạng hôn nhân và tình trạng sống chung
Nhiều bằng chứng cho thấy mối liên hệ giữa tình trạng hôn nhân và việc SDRB Một nghiên cứu phân tích dữ liệu từ Estonia, Latvia và Lithuania cho thấy những người đàn ông “ly dị hoặc góa bụa” ở Litva có nguy cơ “uống rượu nặng” 1,41 lần và những người đàn ông đã ly dị hoặc góa bụa ở Estonia có tỷ lệ SDRB gấp 1,77 lần so với những người đàn ông đã kết hôn hoặc sống chung như vợ với một người khác [48]
Ngoài ra, theo nghiên cứu của Kim Bảo Giang và cộng sự trên mẫu gồm 3.423 người sinh sống tại vùng nông thôn Việt Nam cho thấy nhóm phụ nữ ly thân,
ly dị hoặc góa bụa có tỷ lệ cao hơn nhóm còn lại ở các vấn đề liên quan đến SDRB [59]
Đã có nghiên cứu chỉ ra rằng có Liên quan giữa sự tình trạng sống chung và mức độ tiêu thụ rượu bia thông quan sự giám sát của phụ huynh Theo đó, sự giám
Trang 19sát của cha mẹ có liên quan đến mức độ tiêu thụ rượu bia vừa phải ở thanh thiếu niên [73]
1.3.1.6 Tôn giáo
Nhiều nghiên cứu khác nhau đã nhắc đến tầm ảnh hưởng của tôn giáo đối với hành vi uống rượu bia ở thanh thiếu niên Đa phần nghiên cứu chỉ ra rằng tôn giáo góp phần làm giảm lượng cồn tiêu thụ [35], [50], [64] Việc tham gia vào các nghi thức tôn giáo như cầu kinh, đọc giáo lý, được nhắc đến như một yếu tố dự báo cho việc tiêu thụ rượu bia ở mức thấp [57] Đã có nghiên cứu cho thấy với mỗi lần tham gia vào nghi thức tôn giáo thì khả năng không SDRB sẽ tăng 1,29 lần [50]
1.3.2 Yếu tố về gia đình
Một số nghiên cứu cho thấy gia đình có cha/mẹ mắc những rối loạn do SDRB thì con cái của họ trong tương lai có nguy cơ uống rượu ở mức cao và cũng
dễ dẫn đến các rối loạn do rượu [61] Việc cha/mẹ uống rượu dẫn đến ngược đãi, bỏ
bê con cái cũng có thể làm chúng dễ mắc những rối loạn tâm thần và sau đó là vấn đề về uống rượu [88]
Tại Việt Nam theo số liệu từ cuộc điều tra về vị thành niên và thanh niên năm 2003 cho thấy, gia đình vừa có vai trò như yếu tố bảo vệ lại vừa được coi là yếu tố nguy cơ Trong các thanh thiếu niên được điều tra, 16,8% có bố, 2,7% có anh
em trai, 1% có vợ/chồng, 0,3% có mẹ và 1,6% có người khác trong gia đình uống nhiều rượu hàng ngày hoặc nghiện rượu Bên cạnh đó kết quả phân tích từ số liệu này cũng cho thấy, nếu gia đình có bố uống rượu hàng ngày hoặc nghiện rượu và thuộc khu vực thành thị, thì có nguy cơ 63,9% nữ thanh thiếu niên uống hết một cốc vại bia hoặc một ly/chén rượu Như vậy, bố uống rượu hàng ngày hoặc nghiện rượu cũng là yếu tố nguy cơ cho việc uống hết một đơn vị rượu ở nữ thanh thiếu niên [15]
1.3.3 Bạn bè/đồng nghiệp
Nhiều trường hợp phải tuân theo sự “hòa đồng” với bạn bè và đồng nghiệp hoặc bị ép buộc SDRB bởi đồng nghiệp hoặc bạn bè để tránh sự chế nhạo Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng mức tiêu thụ rượu ở nam giới bị ảnh hưởng mạnh mẽ nhất
Trang 20bởi chính bạn bè hoặc đồng nghiệp của họ, có sự tương quan thuận giữa mức độ tiêu thụ rượu bia của bạn bè và cá nhân đối tượng [44]
Tại Việt Nam, theo số liệu từ cuộc điều tra về vị thành niên và thanh niên năm 2003 cho thấy bạn bè vừa có tác động tích cực lại vừa có tác động tiêu cực đối
với việc SDRB Tác động tích cực và cũng là yếu tố bảo vệ, đó là 72,1% thanh thiếu
niên được hỏi cho biết đã được bạn động viên tránh uống rượu bia Tác động tiêu cực là sự rủ rê, ép buộc bạn uống rượu bia Tính chung, có 16,6% thanh thiếu niên bị bạn rủ rê và 1,3% bị ép buộc SDRB [15]
Nghiên cứu của Vũ Thị Mai Anh năm 2007 cho thấy nhóm người có bạn bè thân thường xuyên uống rượu bia có nguy cơ lạm dụng rượu bia cao gấp 7,1 lần so với nhóm có bạn bè thân không thường xuyên uống rượu bia [1] Nghiên cứu của
Lê Hữu Thọ cũng chỉ ra rằng tình trạng uống rượu bia ở thanh niên chủ yếu xảy ra trong hoàn cảnh bạn bè cùng tuổi uống với nhau [23]
1.3.4 Ảnh hưởng của quảng cáo, tiếp thị rượu bia
Nhiều nghiên cứu cho thấy quảng cáo rượu bia thúc đẩy việc bắt đầu SDRB ở người trẻ và làm gia tăng mức độ tiêu thụ rượu bia
Kết quả nghiên cứu trên 1.786 học sinh tại Mỹ cho thấy nguy cơ bắt đầu SDRB ở học sinh lớp 7 tăng 19% nếu như lớp 6 chúng tiếp xúc với quảng cáo rượu bia trên truyền hình về thể thao, tăng 13% nếu tiếp xúc qua những kênh truyền hình khác [76] Những học sinh sở hữu các sản phẩm khuyến mại của các hãng rượu bia (chủ yếu là các sản phẩm may mặc như áo thun, mũ,…) có khả năng dẫn đến SDRB lần đầu cao gấp 1,5 lần nhóm còn lại [68] Nghiên cứu trên 3.111 học sinh từ lớp 7 -
9 cho thấy các em học sinh lớp 7 có tiếp xúc với quầy bán rượu bia ở các sự kiện thể thao, âm nhạc sẽ làm gia tăng 42% nguy cơ bắt đầu SDRB khi lên lớp 9 [42]
Bên cạnh đó, cũng có nghiên cứu cho thấy trẻ trong nhóm 10 – 16 tuổi tiếp xúc với những bộ phim có hình ảnh SDRB càng nhiều thì nguy cơ bát đầu SDRB tăng 42% - 100% [80]
Đã có bằng chứng chỉ ra rằng người dưới 21 tuổi tiếp xúc càng nhiều với quảng cáo rượu bia thì mức độ tiêu thụ rượu bia càng lớn.[89]
Trang 21Nghiên cứu khác cũng cho thấy khi nhóm nam giới 18 – 29 tuổi xem bộ phim gốc có hình ảnh SDRB thì mức SDRB cao gấp 2 lần so với nhóm chỉ được
xem phiên bản kiểm duyệt đã cắt bỏ hình ảnh SDRB [60]
1.4 Tác hại của lạm dụng rượu bia
1.4.1 Tác hại đối với sức khỏe
Xét trên phương diện các tác động trực tiếp và gián tiếp của đồ uống có cồn đến hàng loạt các cơ quan trong cơ thể thì rượu bia là chất độc Mức độ tác hại đối với sức khỏe do SDRB với từng cá nhân là khác nhau, tùy thuộc vào các yếu tố như: tuổi; giới tính; đặc điểm sinh học; mức dung nạp bình quân; địa điểm, bối cảnh
và cách thức uống của người sử dụng, v.v
Chất cồn gây tác hại cho người sử dụng thông qua các cơ chế chính trực tiếp gồm:
Gây độc hại cho các cơ quan và các mô trong cơ thể do làm tổn thương tế
bào và dẫn đến hậu quả là mắc các bệnh mạn tính (ung thư, tim mạch, đái tháo
đường…) Gây nhiễm độc (intoxication), thường là cấp tính, tác động lên cấu trúc
và dẫn truyền của hệ thống thần kinh trung ương, làm rối loạn chức năng phối hợp động tác, giảm tính táo, rối loạn nhận biết,…từ đó ảnh hưởng đến ý thức và hành vi gây nên hậu quả cấp tính về sức khỏe và hậu quả xã hội cho người chung quanh
Chất cồn là chất hướng thần, gây nghiện, người uống phải tăng liều và tái sử dụng
Việc uống thường xuyên rượu bia sẽ dẫn đến thích nghi thần kinh, do đó giảm liều hoặc ngừng uống sẽ dẫn đến hội chứng cai rượu Lệ thuộc rượu bia sẽ gây ra loạn
thần do rượu dẫn đến các bệnh mạn tính Chất cồn còn có thể tương tác xấu với các
chất hóa học khác trong cơ thể, làm trầm trọng thêm những thương tổn thể chất và tinh thần có sẵn [34], [103], [103]
SDRB là nguyên nhân chủ yếu gây ra 30 bệnh và là nguyên nhân kết hợp gây nên 200 bệnh theo ICD 10 [77] Một số vấn đề sức khỏe cụ thể do chính rượu bia gây ra gồm:
Rối loạn tâm – thần kinh: hội chứng cai rượu, động kinh, trầm cảm [87], tác
động đến trí nhớ [67] Phân tích cho thấy rằng sự hiện diện của một trong hai yếu tố
Trang 22là uống rượu bia hoặc trầm cảm sẽ làm tăng gấp đôi nguy cơ dẫn đến yếu tố thứ hai Đã có bằng chứng cho thấy sử dụng rượu là một trong những nguyên nhân dẫn đến trầm cảm chứ không phải ngược lại Cơ chế tiềm ẩn về mối liên hệ nhân quả này là
do sự thay đổi cơ chế thần kinh và sinh lý trong quá trình SDRB [36] Tại Việt Nam, đã có nghiên cứu cho thấy tỷ lệ các rối loạn tâm thần do rượu bia như sau: rối loạn giấc ngủ là triệu chứng rất thường gặp ở những đối tượng lạm dụng rượu, đặc biệt là nghiện rượu (77,78%); 27,64% người nghiện rượu bị trầm cảm; 17,34% đối tượng nghiện rượu có biểu hiện lo âu; 11,65% ảo giác và 7,32% hoang tưởng [24]
Tác động đến sự phát triển bào thai: phụ nữ sử dụng rượu khi mang thai có
thể làm cho trẻ khi sinh ra bị dị dạng vùng sọ - mặt, chậm phát triển, tổn thương hệ thần kinh [45], [72]
Tác động đến hệ tiêu hóa: xơ gan, làm trầm trọng thêm các tổn thương do
virus viêm gan B, C; viêm tụy cấp hoặc mạn [79], [54] Cụ thể, rượu có liên quan chặt chẽ với gan nhiễm mỡ, viêm gan do rượu và xơ gan Cơ chế sinh học chính góp phần làm tổn thương gan do rượu liên quan đến quá trình phân hủy ethanol trong gan sinh ra các gốc tự do, acetaldehyde, ethyl este acid béo và phá hủy tế bào gan [93] Lượng rượu tiêu thụ càng cao thì nguy mắc và tử vong bởi viêm gan do rượu càng cao [62] Nghiên cứu tác hại của rượu trên các mặt cơ thể của Lý Trần Tình ở người trên 15 tuổi tại Hà Nội cho thấy 10,03% đối tượng lạm dụng rượu, nghiện rượu bị xơ gan và 17,34% mắc chứng viêm gan, trong đó hầu hết là viêm gan mạn tính, gan nhiễm mỡ [24] Nghiên cứu khác tại Việt Nam cho thấy nguy cơ mắc bệnh về gan của người lạm dụng rượu bia cao hơn gấp 2,3 lần người không lạm dụng, nguy cơ này đối với nhóm nghiện rượu bia so với nhóm không nghiện là 9,3 lần [20]
Ung thư: rượu bia và ethanol chứa trong đó được Tổ chức Nghiên cứu ung
thư quốc tế (IARC) xếp vào nhóm chất gâu ung thư Một số loại ung thư có thể kể đến như: khoang miệng, họng, thanh quản, thực quản, gan, dạ dày, đại – trực tràng…[102] Có tương quan thuận giữa mức độ tiêu thụ và nguy cơ gây ung thư, mức tiêu thụ rượu càng cao thì nguy cơ dẫn đến ung thư càng lớn [53], [87], [102]
Trang 23Hệ miễn dịch: làm suy giảm miễn dịch dẫn đến tăng nguy cơ mắc các bệnh
truyền nhiễm (lao, HIV, nhiễm trùng hô hấp dưới…) [46], [78], [63]
Chấn thương có chủ định và không có chủ định: SDRB có thể làm tăng nguy
cơ nguy cơ tự tử và bạo lực Nguy cơ chấn thương không chủ định (té ngã, tai nạn giao thông) cũng gia tăng cấp số nhân theo mức độ rượu bia sử dụng Cụ thể tại Việt Nam, theo báo cáo năm 2014, tai nạn giao thông liên quan đến rượu bia chiếm 36,2% trong nam giới và 0,7% ở nữ giới [103] Nghiên cứu của WHO trên 18.412 nạn nhân nhập viện cho thấy nồng độ cồn trong máu cao hơn mức cho phép (>50mg/dL) ở người đi xe mô tô là 36%, ở người lái xe ô tô (>0mg/dL) là 66,8% [25] Phân tích số liệu điều tra quốc gia của 1.061 trường hợp tử vong do tai nạn giao thông tại Việt Nam cho thấy 1/5 trong số đó có nguyên nhân do sử dụng chất
có cồn [70] Nghiên cứu của Hoàng Thị Phượng trên 3 tỉnh tại Việt Nam cho thấy nguy cơ bị tai nạn giao thông của nhóm lạm dụng rượu bia cao hơn 9,2 lần so với nhóm không lạm dụng rượu bia và nhóm nghiện rượu bia có nguy cơ bị tai nạn giao thông cao hơn 15 lần so với nhóm không nghiện rượu bia [20] Nghiên cứu khác của Nguyễn Thị Thiềng cho thấy 60% người điều khiển phương tiện bị tai nạn giao thông có nồng độ cồn trong máu cao và tỷ lệ người có uống rượu bia trong vòng 8 giờ đồng hồ trước khi xảy ra tai nạn là 37,2% [22]
1.4.2 Tác hại về mặt xã hội
Ngoài những tác hại đối với sức khỏe, rượu bia còn là căn nguyên của nhiều vấn đề xã hội nghiêm trọng khác như mất trật tự an toàn xã hội, tội phạm, phân hóa
xã hội [34]:
Phân biệt đối xử, kỳ thị: ở xã hội bị cấm SDRB (như đạo Hồi) người SDRB
đều bị tẩy chay Ngược lại trong phần lớn các xã hội chấp nhận rượu bia, luôn có một ngưỡng nhất định mà nếu vượt quá xã hội sẽ có những phản ứng tiêu cực Người say rượu bia có thể mất việc làm hoặc phải đối mặt với các vấn đề trong quan hệ gia đình (bị phân biệt đối xử, khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vị y tế…) [52]
Trang 24Giảm chức năng xã hội: nhiễm độc và nghiện rượu bia có thể có thể gây ảnh
hưởng đến chức năng xã hội của người sử dụng như: giảm khả năng lao động, học tập, ảnh hưởng tới chức năng làm vợ/chồng, làm cha/mẹ Báo cáo của WHO cho thấy, rượu bia là nguyên nhân của 15% - 20% các trường hợp vắng mặt và 40% tai nạn tại nơi làm việc ở Ấn Độ, 30% các trường hợp vắng mặt và tai nạn tại nơi làm việc ở Costa Rica [99]
Bạo lực, tội phạm: bạo lực do rượu bia chiếm 47% trong số các vụ bạo lực ở
Anh và 63% ở Scotland, 33% và 51% trong số các vụ bạo lực ở Ấn Độ và Nigeria [34] 19% các vụ tội phạm và 11% các hành vi chống đối xã hội ở Bắc Ireland có liên quan đến rượu bia [51]
Tại Việt Nam, bạo lực gia đình là một vấn đề đang bị lên án mạnh mẽ trong những năm gần đây, trong đó rượu bia là nguyên nhân gây ra khoảng 33,7% các vụ bạo lực gia đình [26] Trẻ em cũng đang là nạn nhân trong việc SDRB của người lớn như bị xúc phạm, nhục mạ, mắng chửi (11,1%), bị bỏ mặc, thiếu sự chăm sóc bảo vệ của người lớn (6,5%), phải chứng kiến bạo lực nghiêm trọng trong gia đình (6,1%), bị đánh đập, gây đau đớn về thể xác (3,8%) [103]
kê của WHO, phí tổn kinh tế do rượu bia chiếm 1,3% - 12% GDP của mỗi quốc gia, trong đó chi phí gián tiếp để giải quyết hậu quả do rượu bia thường cao hơn chi phí trực tiếp do mua rượu bia [103]
Tại Việt Nam năm 2012, chi phí hao tốn cho tiêu thụ rượu bia ước tính gần 3
tỷ USD (tương đương 2,8 tỷ lít bia), gần bằng 3% số thu ngân sách của nhà nước (chưa tính chi phí gián tiếp), gấp 3 lần mức đóng góp cho ngân sách nhà nước của ngành sản xuất rượu bia, nước giải khát (950 triệu USD) [14]
Trang 25Bên cạnh những vấn đề nêu trên, lạm dụng rượu bia còn gây ra những tổn thất do bị xói mòn về văn hóa, đạo đức, lối sống và chất lượng giống nòi,…những hậu quả nghiêm trọng này không thể so sánh và rất khó lượng hóa
1.5 Một số nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam
1.5.1 Một số nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu về sự khác biệt trong tỷ lệ sử dụng rượu giữa các người Mỹ gốc
Á của tác giả Jeremy C.Kane và cộng sự đã cho thấy người Mỹ gốc Philipin có tỷ lệ hiện đang uống rượu cao nhất (29,3%) và tỷ lệ uống rượu trong tháng qua cao nhất (10,3%), người gốc Hàn Quốc có tỷ lệ sử dụng rượu trong năm qua cao nhất (22,7%) và người Mỹ gốc Việt có tỷ lệ bắt đầu uống rượu ở độ tuổi sớm cao nhất (13,5%) Nghiên cứu cũng cho thấy rằng tỷ lệ sử dụng rượu cồn đang gia tăng ở thanh thiếu niên gốc Á Châu và có thể có sự khác biệt đáng kể giữa các sắc tộc thiểu số người Mỹ gốc Á Đông [55]
Mami Wakabayashi và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu cắt ngang trên 87.151 sinh viên Thái Lan tại các đại học mở về tình hình sử dụng rượu và Liên quan đến bệnh không lây Kết quả cho thấy tỷ lệ nam giới uống rượu là 89%, tỷ lệ không uống rượu ở nữ giới là 40% hoặc thỉnh thoảng chỉ uống rượu nhẹ là 39% Kết quả cũng cho thấy những bệnh không lây như tăng huyết áp, tăng cholesterol và bệnh về gan…tăng lên đáng kể trong số những người nghiện rượu nặng [65]
Coşkun Bakar và cộng sự đã nghiên cứu trên 4.762 sinh viên tại Thổ Nhĩ Kỳ về các yếu tố liên quan đến hút thuốc lá, uống rượu bia và sử dụng các chất gây nghiện Kết quả cho thấy tỷ lệ SDRB là 46,3% Trong nghiên cứu này cũng chỉ ra một số yếu tố liên quan đến việc SDRB như: nam giới (OR = 1,5; KTC95%: 1,3 – 1,7), học tại trường cao đẳng và dạy nghề (OR = 1,4; KTC95%: 1,2 – 1,6), có cha
mẹ có trình độ học vấn trung học phổ thông (OR = 2,0; KTC95%: 1,6 – 2,5), có thu nhập gia đình hàng tháng từ 1226 USD trở lên (OR = 1,7; KTC95%: 1,4 – 2,1), đã từng hoặc đang hút thuốc lá,… [39]
Svetlanta Popova và cộng sự đã nghiên cứu về tỷ lệ SDRB trong thai kỳ ở các vùng theo phân chia của WHO Kết quả cho thấy tỷ lệ SDRB trong thai kỳ cao
Trang 26nhất ở khu vực châu Âu (25,2%) và thấp nhất ở khu vực Đông Địa Trung Hải (0,2%) Kết quả tại một số khu vực khác: Tây Thái Bình Dương (8,6%), châu Mỹ (11,2%), châu Phi (10,0%), Đông Nam Á (1,8%) Tỷ lệ chung cho toàn thế giới là 9,8% [90]
Kết quả nghiên cứu về tỷ lệ sử dụng rượu và hành vi tình dục của Chio – Wen Lan cùng cộng sự trên mẫu gồm 12.916 người Nga đã cho thấy tỷ lệ sử dụng rượu là 77% (55% uống rượu nặng) Nghiên cứu cũng cho thấy 64% người tham gia cho biết uống rượu trước khi quan hệ tình dục Phân tích hồi quy cũng cho thấy người sử dụng rượu ở mức có hại/nguy hiểm có liên quan đến sự gia tăng hành vi nguy cơ (nhiều bạn tình, sử dụng bao cao su không phù hơp) [40]
1.5.2 Một số nghiên cứu tại Việt Nam
Hoàng Thị Phượng đã thực hiện nghiên cứu về thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng và tác hại của việc làm dụng rượu bia trên 3.581 người từ 15 tuổi trở lên tại 3 tỉnh Sơn La, Thanh Hóa, Bà Rịa – Vũng Tàu Kết quả cho thấy tỷ lệ uống rượu bia trong tuần qua là 27,1%, tỷ lệ lạm dụng rượu bia là 17,2%, tỷ lệ nghiện rượu bia là 7,1% Một số yếu tố liên quan đến việc uống rượu bia cũng đã đươc nghiên cứu chỉ
ra như: giới tính (nam uống nhiều hơn nữ), độ tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, dân tộc…Về hậu quả của lạm dụng rượu bia, nghiên cứu cũng cho thấy tai nạn giao thông chiếm tỷ lệ cao nhất với 57%, tiếp theo là tai nạn thương tích do ngã 30%, ngộ độc và tự tử chiếm 3% 16% đối tượng trong mẫu nghiên cứu trả lời thường gây mất đoàn kết với người thân, bạn bè sau khi uống rượu bia [20]
Nghiên cứu về SDRB tại Việt Nam của Bùi Văn Tân cùng CS với cỡ mẫu 14.706 người trong độ tuổi 25 – 64 cho thấy 80% nam giới uống rượu trong năm qua và có 40% uống rượu bia ở mức có hại/nguy hiểm Gần 60% nam giới và < 5% nữ giới cho biết có uống rượu trong trong tuần vừa qua, một phần tư trong nhóm nam giới cho biết đã uống ít nhất 5 ly rượu chuẩn ít nhất một lần [91]
Nghiên cứu về thực trạng SDRB của nam giới trong độ tuổi 15 – 60 tại Hà Nội năm 2014 trên mẫu gồm 272 người cho thấy tỷ lệ SDRB trong vòng 1 năm trở lại đây là 87,1%, 1 tuần trở lại đây là 66,9%, tỷ lệ phụ thuộc rượu bia là 3%, tuổi
Trang 27trung bình bắt đầu uống rượu bia là 17,9 ± 2,7 Có tới 26,4% người uống rượu hàng ngày và lượng rượu bia uống trung bình mỗi ngày là 3,4 ± 3,7 đơn vị chuẩn Rượu/bia tự nấu là đồ uống phổ biến nhất (66,7%), nơi thường uống rượu bia nhất
là ngay tại nhà mình (61,1%) và 63,3% đối tượng thường uống rượu bia chung với bạn bè/đồng nghiệp [29]
Nghiên cứu cắt ngang trên 400 người của Tạc Văn Nam về thực trạng sử dụng, kiến thức và thái độ của người uống rượu bia tại tỉnh Bắc Kạn cho thấy 25% số đối tượng lạm dụng rượu bia Tỷ lệ đối tượng có anh/em trai đang sử dụng rượu chiếm 37,8%, tiếp đó là bố (35,8%) Lý do chủ yếu dẫn đến uống rượu bia nhiều nhất là khi gặp bạn bè/người thân/khách chiếm 82% Tỷ lệ đối tượng có thời gian SDRB từ 5 - 10 năm là 29,25%; dưới 5 năm là 26,25%; 11- 20 năm là 25,25%, trên
20 năm là 19,0% [18]
Kim Bảo Giang và Hoàng Văn Minh đã tiến hành nghiên cứu tình hình SDRB của người dân huyện Thanh Oai, Hà Nội với 1.564 người từ 15 – 60 tuổi tham gia Kết quả cho thấy tỷ lệ sử dụng rượu/bia trong 12 tháng qua là 49,6% (79,8% ở nam và 17,4% ở nữ) Tỷ lệ sử dụng rượu/bia cao nhất ở nhóm tuổi 26-45 (55,5%), nhóm thợ và công nhân (61,2%) Nam giới thuộc nhóm tuổi 26-45 và nhóm tuổi 46-60 có nguy cơ lạm dụng rượu/bia cao hơn so với nhóm tuổi 18-24 lần lượt là 2,1 và 2,6 lần Nhóm thợ, công nhân có nguy cơ lạm dụng rượu bia cao hơn nhóm nông dân 2 lần [10]
Nghiên cứu của Lý Trần Tình và cộng sự về tác hại của rượu trên các mặt tâm thần và xã hội của những người trên 15 tuổi tại Hà Nội cho thấy những người lạm dụng rượu và nghiện rượu có các vấn đề về sức khỏe như: bệnh về hệ tiêu hóa (33% bệnh về gan, 40,6% viêm loét dạ dày), bệnh về tim mạch (42%), bệnh lý về tâm thần (77,8% rối loạn giấc ngủ, 46,3% rối loạn trí nhớ, 27,6% trầm cảm) Bên cạnh đó lạm dụng rượu và nghiện rượu còn gây ra các hậu quả về kinh tế - xã hội như: giảm sút về kinh tế gia đình (36,3%), bạo hành gia đình (17,3%), giảm khả năng lao động (50,7%), tai nạn giao thông (36,3%) [24]
Trang 28Kết quả nghiên cứu trên 1004 người tại Hải Dương của Lê Thị Kim Khánh
và cộng sự cho thấy có đến 90,1% đối tượng đã từng SDRB, tỷ lệ SDRB ở mức độ nguy cơ theo AUDIT vào khoảng 40% Các yếu tố thúc đẩy SDRB là sự tiếp cận dễ dàng với rượu bia, thói quen và sở thích, yếu tố văn hóa và quan niệm xã hội Các yếu tố rào cản gồm sự lo ngại về sức khỏe, các vấn đề tiêu cực do rượu bia, lo ngại chất lượng rượu và sự quan tâm từ người chung quanh [2]
Nghiên cứu của Lê Minh Giang và cộng sự trên 195 nam giới bán dâm đồng tính tại Hà Nội cho thấy tỷ lệ các mức độ nguy cơ SDRB phân tích theo thang điểm AUDIT như sau: 4,6% có nguy cơ SDRB thấp, 33% ở mức có nguy cơ, 25,1% ở mức có hại và 36,9% mức lệ thuộc Phân tích hồi quy logistic đa cấp với 2 mô hình tìm hiểu các yếu tố liên quan đến mức độ uống rượu có hại và uống rượu ở mức độ lệ thuộc cho thấy trầm cảm và bị kì thị ở mức cao có liên quan chặt chẽ ở cả 2 mô hình [11]
Kết quả nghiên cứu về bối cảnh SDRB của sinh viên trên 3 miền Bắc – Trung – Nam tại Việt Nam của Phạm Bích Diệp cho thấy tỷ lệ sinh viên uống rượu/bia tại Hà Nội là cao nhất (85,9%), tiếp đến là Huế (84,5%) và Hồ Chí Minh (80,0%) Lượng rượu/bia tiêu thụ trung bình trong một lần uống của sinh viên Hà Nội là thấp nhất (2,7 cốc chuẩn); Huế và thành phố Hồ Chí Minh cao nhất (3,2 cốc chuẩn) Số cốc chuẩn trong một lần uống tại nhà thấp hơn so với uống tại nơi công cộng Đa phần sinh viên uống rượu/bia vào buổi tối, cùng với bạn bè cả nam và nữ, vào các dịp cuối tuần/ lễ tết, uống tại nhà và quán ăn và đi theo nhóm lớn từ 4 người trở lên Lý do của những lần uống rượu/bia chủ yếu là liên hoan và gặp gỡ bạn bè [9]
Tác giả Trần Quốc Bảo và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu năm 2009 -
2010 với mục tiêu xác định tỷ lệ hiện mắc các yếu tố nguy cơ phổ biến của bệnh không lây nhiễm và trong quần thể 25-64 tuổi tại TP Cần Thơ Thiết kế nghiên cứu
mô tả cắt ngang, áp dụng phương pháp tiếp cận STEP wise của WHO trong quy trình chọn mẫu và thu thập, phân tích số liệu Kết quả cho thấy 17,3% nam giới uống rượu bia ở mức có hại và 33,3% uống ở mức nguy hiểm [3]
Trang 29Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu của chúng tôi tiến hành trên nam giới, trong độ tuổi từ 16 đến 60 tuổi, hiện đang sinh sống tại thị xã Bình Minh tỉnh Vĩnh Long năm 2017
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu
Nam giới trong độ tuổi 16 – 60 có hộ khẩu thường trú tại thị xã Bình Minh tỉnh Vĩnh Long và đồng ý tham gia vào nghiên cứu
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
Người không có khả năng giao tiếp; người bỏ địa bàn tại thời diểm nghiên cứu
2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long từ 01/5 đến 31/12 năm 2017
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích
2.2.2 Cỡ mẫu
Theo kết quả điều tra yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm tại thành phố Cần Thơ năm 2009 – 2010, tỷ lệ nam giới sử dụng rượu bia ở mức độ có hại là 17,3% [3], chúng tôi chọn cỡ mẫu theo công thức:
Trong đó:
n: cỡ mẫu z: hệ số tin cậy, với α = 0,05 z = 1,96
p (tỉ lệ ước lượng) = 0,173
Trang 30d (sai số cho phép) = 0,05
Do nghiên cứu thực hiện chọn mẫu cụm nhiều giai đoạn nên để hạn chế sai số ngẫu nhiên chúng tôi chọn hiệu lực thiết kế D = 2, do đó cỡ mẫu tính được và làm tròn là 440 Tuy nhiên để phòng thất lạc số liệu chúng tôi chọn cỡ mẫu thu thập thực tế là n = 450
Bước 2: Chọn tổ:
Trong mỗi cụm đã được chọn, bốc thăm chọn ngẫu nhiên một tổ (tổng cộng được 30 tổ) Trong trường hợp tổ được chọn không đủ mẫu, sẽ chọn thêm một tổ khác trong cùng khu vực bằng phương pháp ngẫu nhiên đơn
Bước 3: Chọn đối tượng nghiên cứu:
Trong mỗi tổ đã được chọn, lập danh sách tất cả những người thỏa điều kiện chọn vào của nghiên cứu Từ danh sách chọn ra 15 người bằng cách chọn ngẫu nhiên đơn Sau đó tiến hành phỏng vấn các đối tượng đã được chọn
2.2.4 Nội dung nghiên cứu
2.2.4.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Nhóm tuổi: phân nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu tính theo dương lịch
Trang 31Khác Tôn giáo: tình trạng tôn giáo hiện tại của đối tượng Các giá trị:
Không theo đạo;
Có theo đạo
Nơi sinh sống: Cách xếp loại thành thị hoặc nông thôn theo qui định tại nơi
đối tượng đang cư trú Các giá trị: Thành thị; Nông thôn
Thành thị: khi cư trú tại các phường tại thị xã Bình Minh Nông thôn: khi cư trú tại các xã tại thị xã Bình Minh
Trình độ học vấn: Trình độ học vấn cao nhất của đối tượng Các giá trị:
Nghề nghiệp: Nghề nghiệp chính trong 12 tháng qua của đối tượng nghiên
cứu Các giá trị:
Tình trạng hôn nhân: Tình trạng hôn nhân hiện tại của đối tượng Các giá trị:
Độc thân/ly dị/góa vợ;
Có vợ/Sống chung như vợ
Tình trạng sống chung: Tình trạng sống chung hiện tại của đối tượng Các
giá trị:
Sống một mình/sống với bạn bè;
Trang 32Sống với gia đình
Loại kinh tế gia đình: Tình trạng kinh tế gia đình theo xếp loại của địa
phương Các giá trị:
Nghèo;
Không nghèo
2.2.4.2 Tình hình sử dụng rượu bia
Sử dụng rượu bia: Tình trạng uống rượu bia của đối tượng nghiên cứu Các
giá trị: Có; Không
Có: khi sử dụng ít nhất 1 ly rượu/bia chuẩn trở lên trong 30 ngày qua
Ly rượu bia chuẩn (đơn vị rượu chuẩn) tương đương với 10 gram cồn nguyên chất có trong dung dịch đồ uống (1 ly rượu/bia chuẩn tương đương 1 lon bia 330mL 5% hoặc 1 cốc rượu vang 140mL 12% hoặc 1
ly rượu nhỏ 40mL 40% [96], [98]);
Không: khi không sử dụng đồ uống có cổn hoặc sử dụng ít hơn 1 ly rượu/bia chuẩn trong 30 ngảy qua
Số lần sử dụng ≥ 1 ly rượu bia chuẩn trong 30 ngày qua: Tổng số lần uống
từ 1 ly rượu bia chuẩn trở lên trong 30 ngày qua Các giá trị:
1 – 2 lần;
3 – 4 lần;
5 – 6 lần;
≥ 7 lần
Số ngày uống rượu bia trong tuần: Tổng số ngày có uống từ 1 ly rượu bia
chuẩn trở lên trong tuần qua Các giá trị:
Trang 33Mức độ sử dụng rượu bia: Mức độ về sử dụng rượu bia dựa trên đánh giá
tổng số điểm của 10 nội dung (*) qua bộ công cụ AUDIT [84], [96]:
*Tần suất uống rượu bia trong 12 tháng qua:
Không bao giờ: 0 điểm;
Không bao giờ: 0 điểm;
< Hàng tháng: 1 điểm;
Hàng tháng: 2 điểm;
Hàng tuần: 3 điểm;
Hàng ngày/gần như hàng ngày: 4 điểm
*Tình trạng bị tai nạn thương tích do uống rượu bia; *Sự lo lắng của người thân/bạn bè về việc uống rượu bia của bản thân:
Không bao giờ: 0 điểm;
Có, nhưng không phải trong 12 tháng qua: 2 điểm;
Trang 34Có, trong 12 tháng qua: 4 điểm Từ thang đo này, đo lường các giá trị sau: Không SDRB/Sử dụng ở mức không có hại; Sử dụng ở mức có hại; Lạm dụng rượu bia; Nghiện rượu bia
0 – 7 điểm: không SDRB/sử dụng ở mức không có hại;
8 – 15 điểm: sử dụng ở mức có hại;
16 – 19 điểm: Lạm dụng rượu bia;
20 – 40 điểm: Nghiện rượu bia
Uống rượu bia quá độ: sử dụng từ 6 ly rượu bia chuẩn trở lên trong 1 lần
uống rượu bia Các giá trị: Có; Không
Có: sử dụng từ 6 ly rượu bia chuẩn trở lên trong 1 lần uống rượu bia trong 30 ngày qua;
Không: không sử dụng hoặc sử dụng ít hơn 6 ly rượu bia chuẩn trở lên trong 1 lần uống rượu bia trong 30 ngày qua
2.2.4.3 Một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng rượu bia và sử dụng ở mức có
hại theo AUDIT
Nhóm yếu tố về đặc điểm chung: Tuổi; Dân tộc; Tôn giáo; Nghề nghiệp;
Trình độ học vấn; Tình trạng hôn nhân; Tình trạng sống chung; Kinh tế hộ gia đình
Tiền sử gia đình có người uống rượu bia: Tiền sử gia đình có người sử dụng
rượu bia của đối tượng nghiện cứu Các giá trị: Có; Không
Có: khi gia đình có người thân ruột thịt (cha/mẹ/anh/chị/em) đã hoặc đang sử dụng rượu bia;
Không: khi gia đình không có người thân ruột thịt uống rượu bia
Bạn bè/đồng nghiệp có uống rượu bia: Tình trạng có bạn bè hoặc đồng
nghiệp sử dụng rượu bia Các giá trị: Có; Không
Có: khi có bạn bè hoặc đồng nghiệp đang là người sử dụng rượu bia; Không: khi không có bạn bè thân hoặc không có đồng nghiệp đang là người sử dụng rượu bia
Đánh giá tình trạng công việc: Đánh giá của đối tượng về tình trạng công
việc đang làm có áp lực, căng thẳng hoặc nặng nhọc Các giá trị: Có; Không
Trang 35Có: khi đối tượng trả lời công việc hiện đang làm mang tính nặng nhọc hoặc gây nên áp lực cho đối tượng;
Không: khi đối tượng trả lời công việc không mang tính nặng nhọc hoặc không gây áp lực cho đối tượng
Kiến thức về lượng rượu bia tiêu thụ ở mức không gây hại: Kiến thức của
đối tượng về lượng rượu bia tiêu thụ ở mức không gây hại Các giá trị: Đúng; Không đúng
Đúng: khi đối tượng biết “Ít hơn/Không quá 2 đơn vị rượu/bia chuẩn/ngày” hoặc ý khác với ý nghĩa tương đương;
Không đúng: khi đối tượng không biết hoặc ý khác nhưng không tương đương với ít hơn 2 đơn vị rượu chuẩn/ngày
Kiến thức về tác hại của rượu bia: Kiến thức về những tác hại của rượu bia
của đối tượng nghiên cứu Các giá trị: Đúng; Không đúng
Đúng: khi đối tượng biết được một trong số các tác hại của rượu bia như: gây hại cho sức khỏe qua các bệnh về gan (xơ gan, suy gan, ung thư gan,…), dạ dày, tụy, tim mạch, tai nạn giao thông, tai nạn thương tích; tác hại về công việc/học tập; tác hại về các mối quan hệ (cãi nhau, đánh nhau,…); gây hại về mặt xã hội (gây rối trật tự, vi phạm luật,…);
Không đúng: khi đối tượng không biết hoặc liệt kê không đúng các tác hại nêu trên
Kiến thức chung về rượu bia của đối tượng nghiên cứu: Kiến thức chung của
đối tượng về rượu bia Các giá trị: Đúng; Không đúng
Đúng khi cả 2 ý “kiến thức về lượng rượu bia tiêu thụ ở mức không gây hại” và “Kiến thức về tác hại của rượu bia” là “Đúng”;
Không đúng: khi một trong 2 ý trên là “Không đúng”
Xem quảng cáo rượu bia hàng ngày hoặc hàng tuần: mức độ xem quảng cáo
về rượu bia của đối tượng nghiên cứu Các giá trị:
Trang 36Có: khi đối tượng có xem thấy hoặc nghe qua quảng cáo rượu bia hàng ngày hoặc hàng tuần trong 12 tháng qua;
Không: khi đối tượng không xem thấy, nghe qua hoặc có xem thấy, nghe qua nhưng ít hơn mức độ hàng ngày hoặc hàng tuần trong 30 ngày qua
2.2.4.4 Một số tác hại của lạm dụng, nghiện rượu bia
Tác hại về mặt sức khỏe:
Trầm cảm: Tình trạng trầm cảm của đối tượng nghiên cứu đánh giá bằng
tổng số điểm của 9 nội dung (*) dựa trên bộ công cụ PHQ – 9 (Patient Health Questionnaire – 9) [85]:
*Ít muốn làm điều gì hoặc ít có cảm giác thích thú khi làm bất cứ điều gì (1);
*Cảm thấy nản chí, trầm buồn hoặc tuyệt vọng (2); *Khó đi vào giấc ngủ hoặc khó ngủ thẳng giấc hoặc ngủ quá nhiều; *Cảm thấy mệt mỏi hoặc có ít sinh lực; *Chán
ăn hoặc ăn quá nhiều; *Có suy nghĩ tiêu cực, tự ti, thất vọng về bản thân mình, cảm thấy mình là người thất bại; *Khó tập trung vào công việc, như đọc báo hoặc xem ti vi; *Vận động/nói chậm đến mức người khác nhận thấy; đi đi lại lại nhiều hơn thông thường; *Suy nghĩ đến việc chết đi hoặc suy nghĩ đến làm tổn thương bản thân:
Không ngày nào trong 2 tuần qua: 0 điểm Vài ngày trong 2 tuần qua: 1 điểm
Hơn nửa số ngày trong 2 tuần qua: 2 điểm Gần như mọi ngày trong 2 tuần qua: 3 điểm Từ thang đo này, đo lường các giá trị sau: Có trầm cảm; Không trầm cảm
Có trầm cảm: 10 – 27 điểm, trong đó phải có ý (1) hoặc (2) ≥ 2 điểm; Không trầm cảm: 0 – 9 điểm, hoặc ≥ 10 điểm nhưng ý (1) và (2) < 2 điểm
Rối loạn giấc ngủ: Tình trạng rối loạn giấc ngủ sau khi uống rượu bia 1 ngày
hoặc sau khi cắt giảm lượng rượu bia tiêu thụ của đối tượng nghiên cứu [69] Các giá trị: Có; Không
Trang 37Có: khi đối tượng gặp phải vấn đề về giấc ngủ gồm khó đi vào giấc ngủ hoặc khó duy trì giấc ngủ sau khi uống rượu bia 1 ngày hoặc sau khi đối tượng cắt giảm lượng rượu bia tiêu thụ so với mức bình thường
Không: khi đối tượng không gặp phải vấn đề trên
Bệnh lý dạ dày: Tình trạng bệnh lý dạ dày của đối tượng nghiên cứu Các giá
trị: Có; Không
Có: khi đối tượng có đau dạ dày và/hoặc nôn ói ra máu trong lúc uống hoặc trong vòng 6 tiếng sau khi uống rượu bia hoặc được chẩn đoán
có bệnh lý của dạ dày trong vòng 12 tháng qua
Không: khi đối tượng không gặp phải vấn đề trên
Bệnh lý về gan: Tình trạng bệnh lý về gan của đối tượng nghiên cứu Các giá
trị: Có; Không
Có: khi đối tượng được chẩn đoán có bệnh lý về gan trong vòng 12 tháng qua
Không: khi đối tượng không gặp phải trường hợp trên
Tai nạn thương tích: Tình trạng tai nạn thương tích của đối tượng nghiên
cứu Các giá trị: Có; Không
Có: khi gặp phải các vấn đề về tai nạn thương tích với bản thân trong vòng 12 tháng trở lại đây như: tai nạn giao thông, té ngã, đuối nước…và phải cần đến sự chăm sóc của người khác như nhân viên y tế, người thân,… Thời gian xảy ra tính từ lúc bắt đầu uống cho đến 6 giờ đồng hồ sau khi dừng uống rượu bia
Không: khi đối tượng không gặp phải các vấn đề trên
Gặp rắc rối về công việc/học tập: Tình trạng gặp rắc rối về công việc/học tập
của đối tượng nghiên cứu Các giá trị: Có; Không
Có: khi đối tượng gặp phải các vấn đề liên quan đến công việc/học tập
do uống rượu bia trong 12 tháng trở lại đây như: mất việc/gián đoạn học tập; không hoàn thành công việc theo đúng tiến độ; bị hạ cấp bậc
Trang 38Không: khi đối tượng không gặp phải các vấn đề trên
*Gặp rắc rối về các mối quan hệ: Tình trạng gặp rắc rối về các mối quan hệ
trong gia đình và xã hội do ảnh hưởng của rượu bia Các giá trị: Có; Không
Có: khi đối tượng gặp phải các vấn đề làm ảnh hưởng đến mối quan hệ trong gia đình và xã hội trong 12 tháng gần đây như: cãi nhau, đánh nhau với người thân/bạn bè/đồng nghiệp Thời gian xảy ra tính từ lúc bắt đầu cho đến 6 giờ đồng hồ sau khi dừng uống rượu bia Không: khi đối tượng không gặp phải các vấn đề trên
*Tác hại về mặt xã hội:
Gây rối trật tự/Gặp rắc rối về luật: Tình trạng gây rối trật tự hoặc gặp phải
những rắc rối liên quan đến luật sau khi uống rượu bia Các giá trị: Có; Không
Có: khi gây rối trật tự công cộng hoặc gặp phải những rắc rối liên quan đến luật sau khi uống rượu bia trong 12 tháng gần đây Thời gian xảy ra tính từ lúc bắt đầu cho đến 6 giờ đồng hồ sau khi dừng uống rượu bia
Không: khi đối tượng không gặp phải các vấn đề trên
2.2.4.5 Liên qua giữa sử dụng rượu bia mức độ có hại và tác hại của sử dụng
rượu bia
Mối liên quan giữa việc sử dụng rượu bia mức có hại theo AUDIT và tác hại về sức khỏe, công việc/học tập, các mối quan hệ, tác hại về xã hội
2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.5.1 Phỏng vấn trực tiếp về tình hình sử dụng rượu bia và các yếu tố liên quan
Phỏng vấn trực tiếp: dựa trên bộ câu hỏi xây dựng sẵn và những hình ảnh minh họa về lượng rượu bia sử dụng
Các bước tiến hành: điều tra viên chào hỏi và giới thiệu về mục đích của nghiên cứu, cố gắng vận động đối tượng tham gia và trả lời phỏng vấn cách trung thực nhất Tiếp theo, phỏng vấn đối tượng bằng bộ câu hỏi được soạn sẵn Sau khi phỏng vấn xong điều tra viên cảm ơn đối tượng đã tham gia nghiên cứu Lưu ý: trong quá trình phỏng vấn, đối tượng có thể từ chối trả lời bất kỳ câu hỏi nào không
Trang 39muốn trả lời cũng như có thể dừng tham gia nghiên cứu bất kỳ lúc nào đối tượng muốn
2.2.5.2 Xác định số lượng đơn vị rượu chuẩn đối tượng sử dụng trong nghiên cứu
Vì nghiên cứu lấy căn cứ “đơn vị rượu chuẩn” để xác định tình hình sử dụng
rượu bia của đối tượng nghiên cứu, nên với những loại đồ uống có cồn có tem nhãn ghi rõ nồng độ rượu, chúng tôi sẽ căn cứ vào đó để quy đổi thành đơn vị chuẩn Với những loại đồ uống có cồn mang tính chất địa phương (rượu tự nấu, tự pha chế,…)
và không có tem, nhãn ghi nồng độ cồn, chúng tôi ước lượng bằng cách cho đối
tượng xem hình ảnh minh họa về “đơn vị rượu chuẩn”, các loại hình rượu bia
thường gặp và các dụng cụ chứa đựng thường sử dụng để uống rượu bia để đối tượng lựa chọn nhằm có được thông tin chính xác nhất có thể
2.2.6 Sai số và phương pháp kiểm soát sai số
Sai số do lựa chọn: chỉ chọn những đối tượng thỏa tiêu chí chọn mẫu Trường hợp đối tượng nghiên cứu không có mặt ở nhà, nghiên cứu viên sẽ hẹn quay trở lại Nếu đến lần thứ 3 vẫn không gặp được sẽ thay thế bằng một người khác có các đặc điểm chung gần với đối tượng đó nhất
Sai số do thu thập số liệu: tập huấn kỹ người thực hiện phỏng vấn, quan sát, giải thích kỹ từng vấn đề Trước khi chính thức tiến hành nghiên cứu, thực hiện việc thu thập số liệu thử nghiệm trên 10 mẫu và sau đó đánh giá để kịp thời rút kinh nghiệm cho nghiên cứu chính thức
Sai số nhớ lại: giải thích kỹ mục đích nghiên cứu, chia nhỏ các khoảng thời gian nhằm làm đối tượng nhớ và trả lời chính xác nhất về lượng rượu bia tiêu thụ
Sai số do nhập, xử lý, phân tích số liệu: tập huấn kỹ người thực hiện việc nhập, xử lý, phân tích số liệu Sau khi nhập liệu phải đối chiếu lại với thông tin, đảm bảo chính xác với kết quả trên bảng phỏng vấn Tiến hành nhập, xử lý, phân tích số liệu thử nghiêm 10 mẫu, sau đó tiến hành đánh giá để rút kinh nghiệm cho việc xử lý và phân tích số liệu khi bước vào nghiên cứu chính thức
Sai số do đối tượng nghiên cứu bỏ cuộc hoặc không có mặt tại địa phương: giải thích rõ cho đối tượng biết mục đích của nghiên cứu, giải thích rõ nội dung và
Trang 40các yêu cầu của nghiên cứu, cố gắng vận động đối tượng tham gia Trường hợp đối tượng bỏ cuộc hoặc không có mặt tại địa phương sẽ bị loại ra khỏi nghiên cứu sau đó chọn đối tượng khác thay thế có cùng tuổi, giới với trường hợp bị loại trên
2.2.7 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Các số liệu của nghiên cứu được kiểm tra tính chính xác trước khi được nhập vào cơ sở dữ liệu điện tử Các số liệu được kiểm tra nội bộ để tìm ra các số liệu không đồng nhất hoặc là bị lỗi Số liệu được nhập và phân tích bằng phần mềm SPSS phiên bảng 18.0
Các biến số được trình bày dưới dạng bảng tần số hoặc biểu đồ
Sử dụng test thống kê Chi bỉnh phương (Chi-square - χ2) để xác định sự khác biệt về hai tỷ lệ Xác định các yếu tố liên quan bằng cách sử dụng thuật toán phân tích đơn biến Các biến số có mức ý nghĩa p<0,1 được tiếp tục đưa vào phân tích đa biến để loại trừ yếu tố gây nhiễu Xác định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa p<0,05
2.3 Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu được sự đồng ý của Hội đồng Khoa học Trường Đại học Y Dược Cần Thơ Nghiên cứu cũng được sự chấp thuận và cho phép lấy mẫu của Ban Giám đốc Trung tâm Y tế thị xã Bình Minh tỉnh Vĩnh Long
Tất cả các đối tượng nghiên cứu sẽ được giải thích cụ thể về mục đích, nội dung để tự nguyện tham gia và hợp tác tốt trong quá trình nghiên cứu Các đối tượng có quyền từ chối tham gia nghiên cứu hoặc có thể chấm dứt nghiên cứu trong bất cứ giai đoạn nào Mọi thông tin của đối tượng đều được bảo mật Tất cả các thông tin nghiên cứu chỉ có những người nghiên cứu mới được phép tiếp cận và chỉ
sử dụng cho mục đích nghiên cứu