ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả cán bộ tại 16 Trung tâm, Chi cục thuộc hệ y tế dự phòng từ tỉnh đến huyện, thành phố đều đảm nhận các nhiệm vụ quan trọng như ban giám đốc, trưởng, phó phòng tổ chức cán bộ, trưởng, phó phòng kế hoạch - tài chính, cũng như các cán bộ quản lý sổ sách, biểu mẫu, thống kê nhân lực và chuẩn bị các báo cáo liên quan Các cán bộ này đóng vai trò then chốt trong công tác tổ chức, quản lý tài chính, thống kê nhân lực và đảm bảo hoạt động hiệu quả của hệ y tế dự phòng trong toàn tỉnh và các địa phương.
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn đối tượng
Tất cả cán bộ, nhân viên tại 16 Trung tâm và Chi cục thuộc hệ thống y tế dự phòng từ tỉnh đến huyện, thành phố đều đóng vai trò quan trọng trong công tác điều hành và quản lý Bao gồm Ban Giám Đốc, trưởng, phó phòng tổ chức cán bộ, trưởng, phó phòng kế hoạch - tài chính, cùng các cán bộ quản lý sổ sách, biểu mẫu, thống kê về nhân lực và các văn bản báo cáo Những nhân viên này đảm bảo hoạt động công tác y tế dự phòng được thực hiện liên tục, chính xác và hiệu quả.
Trong khoảng thời gian từ ngày 28/05/2012 đến ngày 20/06/2012, toàn bộ cán bộ, nhân viên tại 16 trung tâm đã tham gia phỏng vấn để cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác Các đối tượng tham gia nghiên cứu đều đồng ý hợp tác, cam kết trả lời rõ ràng và giải thích kỹ càng các nội dung được hỏi Quá trình khảo sát nhằm thu thập dữ liệu chính xác, giúp đánh giá và phân tích toàn diện hoạt động của các trung tâm trong giai đoạn này.
Không có tiêu chuẩn loại trừ
Tất cả 16 Trung tâm thuộc hệ y tế dự phòng bao gồm:
- Trung tâm y tế dự phòng tỉnh
- Trung tân phòng chống các bệnh xã hội
- Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản
- Trung tâm kiểm nghiệm dược phẩm và mỹ phẩm
- Trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe
- Trung tâm giám định y khoa
- Trung tâm phòng chống HIV/AIDS
- Chi cục an toàn vệ sinh thực phẩm
- Trung tâm y tế thành phố Bạc Liêu
- Trung tâm y tế huyện Đông Hải
- Trung tâm y tế huyện Đông Hải
- Trung tâm y tế huyện Gía Rai
- Trung tâm y tế huyện Phước Long
- Trung tâm y tế huyện Hồng Dân
- Trung tâm y tế huyện Vĩnh Lợi
- Trung tâm y tế huyện Hòa Bình
Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang
Cán bộ trực tiếp quản lý nhân sự và kế hoạch của 16 Trung tâm, Chi cục thuộc hệ y tế dự phòng bao gồm:
- Gíam đốc các Trung tâm, Chi cục ( 16)
- Phó giám đốc các Trung tâm, Chi cục (22)
- Trưởng phòng tổ chức cán bộ ( 16)
- Phó trưởng phòng tổ chức cán bộ (10)
- Trưởng phòng kế hoạch- tài chính ( 16)
- Phó phòng kế hoạch- tài chính (9)
Như vậy, chúng tôi dùng biểu mẫu thống kê tất cả 16 Trung tâm , khoản
Phỏng vấn toàn bộ, cán bộ nhân viên các Trung tâm, Chi cục có mặt tại thời điểm phỏng vấn; dự kiến trên 355 mẫu
Thống kê toàn bộ, cán bộ nhân viên tại 16 trung tâm từ tỉnh đến huyện/TP
2.2.4.1 Xác định tình hình số lượng, chất lượng và cơ cấu nhân lực cán bộ Y tế dự phòng tỉnh Bạc liêu năm 2011
Nghiên cứu tiến hành xác định về:
- Số lượng nhân lực của các Trung tâm
• Số lượng cán bộ y tế dự phòng theo tuyến trong tỉnh
• Phân bố số lượng từng trung tâm
- Số lượng và trình độ cán bộ y tế dự phòng thuộc chuyên ngành:
• Kỹ thuật viên xét nghiệm
- Cơ cấu cán bộ y tế dự phòng theo chuyên môn và hành chính
- Cơ cấu cán bộ y tế dự phòng theo bộ phận, chuyên môn
- Đánh giá chất lượng cán bộ y tế dự phòng cho từng đơn vị
• Tương ứng với trình độ
+ Bác sĩ chuyên khoa II
+ Dược sĩ chuyên khoa II
- Cơ cấu theo bộ phận chuyên môn, theo tuyến
- Cơ cấu trình độ chuyên môn theo tuyến
• Đại học và sau đại học
- Cơ cấu cán bộ y tế dự phòng/ 10.000 dân
- Cơ cấu bác sĩ y tế dự phòng/ 10.000 dân
- Cơ cấu dược sĩ y tế dự phòng/ 10.000 dân
* Đánh giá trình độ cán bộ bao gồm các tiêu chí sau
- Số lượng, trình độ, cơ cấu cán bộ y tế dự phòng chuyên ngành Y gồm 4 giá trị sau :
Bác sĩ bao gồm các đối tượng được chứng nhận là bác sĩ, bác sĩ chuyên khoa dự phòng, chuyên khoa điều trị, cùng với các bác sĩ có chứng nhận chuyên khoa sơ bộ.
• Bác sĩ sau đại học: gồm những người có bằng chứng nhận là bác sĩ chuyên khoa I, bác sĩ chuyên khoa II, thạc sĩ y học, tiến sĩ y học
- Số lượng, trình độ, cơ cấu cán bộ y tế dự phòng chuyên ngành Dược có
• Dược sĩ đại học: gồm các đối tượng có bằng chứng nhận Dược sĩ đại học
Dược sĩ sau đại học gồm các đối tượng có bằng chứng nhận như dược sĩ chuyên khoa I, dược sĩ chuyên khoa II, thạc sĩ và tiến sĩ chuyên ngành dược, nhằm nâng cao trình độ chuyên môn và đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành y tế.
- Số lượng, trình độ, cơ cấu cán bộ y tế dự phòng chuyên ngành Điều dưỡng gồm 5 giá trị
• Điều dưỡng đại học: gồm các đối tượng có bằng chứng nhận là cử nhân điều dưỡng
• Cao đẳng điều dưỡng: gồm các đối tượng có bằng chứng nhận là cao đẵng điều dưỡng
• Điều dưỡng sau đại học: gồm các đối tượng có bằng chứng nhận là thạc sĩ, tiến sĩ chuyên ngành điều dưỡng
- Số lượng, trình độ, cơ cấu cán bộ y tế dự phòng chuyên ngành Nữ hộ sinh gồm 4 giá trị
• Đại học: gồm các đối tượng có bằng chứng nhận là Cử nhân nữ hộ sinh
- Số lượng, trình độ, cơ cấu cán bộ y tế dự phòng chuyên ngành kỹ thuật viên xét nghiệm gồm 4 giá trị
• Đại học: gồm các đối tượng có bằng chứng nhận là cử nhân kỹ thuật viên xét nghiệm
2.2.4.2 Đánh giá kết quả hoạt động y tế dự phòng từ năm 2006 đến năm 2011, so với mục tiêu, chiến lược quốc gia về y tế dự phòng
* Các căn cứ đánh giá
Dựa trên Quyết định 255/2006/QĐ-TTg ngày 09 tháng 11 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ, Việt Nam đã phê duyệt chiến lược quốc gia y tế dự phòng đến năm 2010 và định hướng phát triển đến năm 2020, nhằm nâng cao hệ thống y tế dự phòng và đảm bảo an toàn sức khỏe cộng đồng.
Dựa trên Quyết định số 108/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 17 tháng 07 năm 2007, chương trình mục tiêu quốc gia về phòng, chống các bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AIDS giai đoạn 2006-2010 đã được phê duyệt Chương trình này nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống các bệnh xã hội và hạn chế sự lây lan của các dịch bệnh nguy hiểm, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Dựa trên Quyết định số 36/2004/TTg ngày 17/03/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020, Việt Nam đã xác định rõ các mục tiêu và hướng đi cụ thể trong công tác phòng chống HIV/AIDS trong giai đoạn này.
- Căn cứ vào Quyết định số 43/2006/QĐ- TTg, ngày 20 tháng 02 năm
2006, của Thủ tướng Chính phủ,Về việc phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm đến năm 2010[30]
- Căn cứ vào Quyết định số 170/QĐ-TTg, ngày 08 tháng 11 năm 2007, Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Dân số và Kế hoạch hóa gia đình giai đoạn 2006-2010[33]
- Căn cứ kế hoạch hằng năm, của các chương trình mục tiêu y tế quốc gia của Bộ y tế
Ngành y tế tỉnh Bạc Liêu đã xây dựng kế hoạch dựa trên sự phê duyệt của Ủy ban Nhân dân tỉnh và tổ chức triển khai thành công, đạt nhiều kết quả tích cực Qua các thống kê hàng năm, tỉnh đã ghi nhận những tiến bộ trong thực hiện các chương trình mục tiêu y tế quốc gia đề ra, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và sức khỏe cộng đồng.
+ Dự án phòng, chống bệnh lao:
Giảm tỷ lệ lao phổi mới AFB (+) xuống 70/100.000 dân;
Giảm tỷ lệ tử vong và lây truyền bệnh lao, ngăn ngừa tình trạng lao kháng thuốc
+ Dự án phòng, chống bệnh phong:
Loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chuẩn của Việt Nam;
100% số bệnh nhân phong bị tàn tật được điều trị và phục hồi chức năng
+ Dự án phòng, chống bệnh sốt rét:
Không để dịch sốt rét lớn xảy ra;
Giảm tỷ lệ mắc sốt rét xuống dưới 1,5/1.000 dân; giảm tỷ lệ chết do sốt rét xuống dưới 0,03/100.000 dân
+ Dự án phòng, chống HIV/AIDS:
Khống chế tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS dưới 0,3% dân số vào năm 2010; Giảm tác hại của HIV/AIDS đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
+ Dự án chăm sóc sức khỏe sinh sản:
Giảm tỷ lệ tử vong mẹ xuống 70/100.000 trẻ sơ sinh sống
Giảm tỷ lệ tử vong trẻ dưới 1 tuổi xuống dưới 25‰ số trẻ sơ sinh sống
+ Dự án tiêm chủng mở rộng:
Bảo vệ thành quả thanh toán bệnh bại liệt; loại trừ bệnh uốn ván sơ sinh;
Hơn 90% trẻ em dưới 1 tuổi tại các quận, huyện được tiêm chủng đầy đủ 7 loại vắc xin phòng chống các bệnh nguy hiểm như lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, viêm gan B và sởi Nhờ đó, bệnh sởi đã hầu như bị loại trừ khỏi cộng đồng vào năm 2010, góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng và đảm bảo quyền trẻ em được bảo vệ toàn diện bằng các chương trình tiêm chủng quốc gia.
Chính phủ đã triển khai rộng rãi chương trình tiêm vắc xin phòng viêm não Nhật Bản B cho trẻ em dưới 5 tuổi nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng Đồng thời, các chiến dịch tiêm vắc xin phòng thương hàn và phòng tả cũng được mở rộng tại các vùng có nguy cơ cao, đảm bảo phòng ngừa bệnh hiệu quả cho trẻ nhỏ Các biện pháp này đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn sự lây lan của các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, nâng cao sức khỏe và sự phát triển toàn diện của trẻ em.
Giảm tỷ lệ mắc bệnh bạch hầu xuống 0,01/100.000 dân; bệnh ho gà xuống 0,1/100.000 dân thông qua việc triển khai tiêm nhắc lại vắc xin DPT;
+ Dự án phòng, chống sốt xuất huyết:
Giảm 15% tỷ lệ người bị sốt xuất huyết/100.000 dân so với tỷ lệ người bị sốt xuất huyết/100.000 dân trung bình trong 5 năm giai đoạn 2003 - 2007;
Trong giai đoạn từ 2003 đến 2007, tỷ lệ tử vong do sốt xuất huyết đã giảm 10% so với tỷ lệ tử vong trung bình trên số người mắc sốt xuất huyết trong cùng kỳ, góp phần nâng cao hiệu quả phòng chống và giảm thiểu hậu quả nghiêm trọng của bệnh này.
Tăng cường hệ thống giám sát là yếu tố quan trọng trong công tác phòng, chống sốt xuất huyết, đặc biệt tập trung vào việc theo dõi bệnh nhân, huyết thanh, virút và các vectơ truyền bệnh tại các tuyến y tế và các tỉnh, thành phố trọng điểm Việc này giúp phát hiện sớm các ca bệnh, kiểm soát dịch hiệu quả và giảm thiểu tác động của dịch bệnh trên diện rộng Đẩy mạnh công tác giám sát sẽ nâng cao khả năng dự báo, chủ động ứng phó kịp thời với dịch sốt xuất huyết, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Nâng cao năng lực chẩn đoán, phân loại và điều trị bệnh nhân sốt xuất huyết tại các cơ sở y tế
Duy trì và phát triển mạng lưới cộng tác viên phòng, chống sốt xuất huyết tại cộng đồng, tại các tỉnh, thành phố trọng điểm sốt xuất huyết
+ Dự án an toàn vệ sinh thực phẩm
Quản lý 100% các cơ sở sản xuất, chế biến và kinh doanh thực phẩm
Hằng năm giảm 10- 15% các vụ ngộ độc thực phẩm và giảm 10% số người tử vong do ngộ độc thực phẩm
Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ 6 bệnh truyền nhiễm ở trẻ em dưới 1 tuổi đã có sự cải thiện đáng kể qua các năm, góp phần giảm tỷ lệ mắc và tử vong do các bệnh truyền nhiễm trong chương trình tiêm chủng mở rộng Nhờ công tác tiêm chủng mở rộng, tỷ lệ bảo vệ trẻ khỏi các bệnh nguy hiểm đã tăng cao, nâng cao sức khỏe cộng đồng Các chiến dịch tiêm chủng liên tục thúc đẩy tỷ lệ tiêm chủng đạt mức cao, từ đó giảm thiểu nguy cơ dịch bệnh lây lan và bảo vệ trẻ nhỏ một cách toàn diện.
• Tỷ lệ mắc, chết do bệnh sốt rét qua các năm
• Tỷ lệ mắc, chết do bệnh sốt xuất huyết qua các năm
• Tỷ lệ mắc chết do nhiễm HIV/AIDS qua các năm
• Tỷ lệ mắc, chết do bệnh Lao qua các năm
• Tỷ lệ mắc, chết do bệnh Phong qua các năm
• Kết quả Chăm sóc sức khỏe trẻ em qua các năm
• Kết quả chăm sóc bà mẹ qua các năm
• Kết quả thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm qua các năm
- Tìm hiểu liên quan giữa nguồn nhân lực với kết qủa hoạt động của hệ y tế dự phòng
Nguồn nhân lực đóng vai trò thiết yếu trong thành công của các chương trình mục tiêu y tế quốc gia, đòi hỏi phải có đội ngũ có trình độ cao, đạo đức tốt và tâm huyết với công việc Chất lượng nguồn nhân lực quyết định kết quả hoạt động của các chương trình, do đó cần thực hiện quản lý chú trọng đến yếu tố này Chúng tôi tiến hành khảo sát định tính và định lượng trên bốn chương trình y tế quốc gia gồm phòng chống HIV/AIDS, phòng chống lao, phòng chống sốt xuất huyết và tiêm chủng để xác định mối liên hệ giữa nguồn nhân lực và hiệu quả hoạt động.
Thiết kế phiếu điều tra, bảng tổng hợp và tiến hành khảo sát tám chương trình, dùng phương pháp toán học để kiểm chứng:
Nghiên cứu cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa tổng số cán bộ y tế dự phòng toàn tỉnh và hiệu quả hoạt động của các chương trình y tế quan trọng như HIV/AIDS, lao, sốt xuất huyết và tiêm chủng Việc tăng cường nhân lực y tế dự phòng góp phần nâng cao chất lượng, mở rộng phạm vi thực hiện các chương trình phòng chống bệnh, từ đó giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh và nâng cao sức khỏe cộng đồng Các kết quả này nhấn mạnh vai trò then chốt của đội ngũ cán bộ y tế dự phòng trong việc đảm bảo thành công của các chiến lược y tế quốc gia, thúc đẩy phát triển hệ thống y tế dự phòng bền vững, mạnh mẽ hơn.
- Tìm hiểu mối liên quan giữa cán bộ chuyên môn với kết quả hoạt động của bốn chương trình HIV/AIDS, lao, sốt xuất huyết, tiêm chủng
2.2.4.4 Xác định nhu cầu về số lượng, chất lượng và trình độ cán bộ tại 16 Trung tâm thuộc hệ y tế dự phòng tỉnh Bạc liêu đến năm 2015
* Các căn cứ xác định nhu cầu
Dựa trên Quyết định số 255/2006/QĐ-TTg ngày 09/11/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược quốc gia về y tế dự phòng Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, chiến lược này đặt ra các mục tiêu phát triển y tế dự phòng nhằm nâng cao năng lực hệ thống y tế và cải thiện sức khỏe cộng đồng.
Dựa trên Quyết định số 4696/QĐ-BYT ngày 27 tháng 11 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế, về việc thực hiện “Chuẩn Quốc gia Trung tâm y tế dự phòng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”, cụ thể hóa trách nhiệm và tiêu chuẩn nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ y tế dự phòng Văn bản này đặt ra các tiêu chí và quy trình chuẩn để các trung tâm y tế dự phòng tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đáp ứng các yêu cầu về khả năng phòng chống dịch bệnh hiệu quả Thực hiện Quyết định này là bước quan trọng trong việc xây dựng hệ thống y tế dự phòng vững mạnh, phù hợp với các chuẩn mực y tế quốc gia.
- Căn cứ vào Thông tư 08/2007/TTLT- BYT- BNV, ngày 05 tháng 06 năm 2007, về việc hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở y tế nhà nước [13]
Đạo đức trong nghiên cứu
Phỏng vấn và thu thập số liệu từ các cơ quan y tế thông qua hệ thống thống kê là bước quan trọng trong việc xây dựng kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực y tế Việc này nhằm nâng cao chất lượng bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân một cách bền vững và đảm bảo không vi phạm đạo đức nghề nghiệp y tế Chính nhờ dữ liệu chính xác và các phân tích khoa học, cơ quan y tế có thể đưa ra các chiến lược phát triển nhân lực phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Số lượng nhân lực cán bộ YTDP tại các trung tâm
3.2.1 Số lượng cán bộ y tế dự phòng theo tuyến trong tỉnh
Tuyến Số lượng Tỷ lệ (%)
Sau đây là nhận xét về nguồn nhân lực y tế dự phòng tại tỉnh, với tổng số 521 cán bộ, chiếm 16,46% tổng số cán bộ ngành y tế toàn tỉnh Trong đó, cán bộ y tế dự phòng tuyến tỉnh chiếm 43,95%, còn cán bộ y tế dự phòng tuyến huyện chiếm 56,04%, thể hiện rõ phân bổ nguồn lực phù hợp với nhu cầu công tác phòng chống dịch bệnh và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
3.2.1.1 Phân bố số lượng cán bộ từng Trung tâm theo tuyến
- Số lượng cán bộ y tế dự phòng các đơn vị tuyến tỉnh
Bảng 3.13 Số lượng cán bộ đơn vị YTDP tuyến tỉnh.
TT Đơn vị Số lượng Tỷ lệ % Tỷ lệ %
Trong toàn tỉnh, số lượng cán bộ y tế dự phòng chiếm 44% tổng số cán bộ y tế toàn tỉnh, thể hiện vai trò quan trọng của lực lượng này trong hệ thống y tế Trong đó, Trung tâm Y tế Dự phòng tỉnh chiếm tỷ lệ cao nhất với 2,30%, cho thấy sự đóng góp lớn của đơn vị này vào công tác y tế dự phòng Tiếp theo là Trung tâm Chăm sóc Sức khỏe Sinh sản chiếm 6,14%, còn đơn vị có số cán bộ ít nhất là Trung tâm Giao dục Phòng ngừa Y tế với 5,24%, phản ánh sự phân bổ nguồn lực hợp lý giữa các đơn vị trong hệ thống y tế dự phòng của tỉnh.
- Số lượng cán bộ y tế dự phòng các đơn vị tuyến huyện/TP
Bảng 3.14 Số lượng cán bộ đơn vị Y tế tuyến huyện
TT Đơn vị Số lượng Tỷ lệ % Tỷ lệ /TS CB.YTDP
*Nhận xét: Số lượng CBYTDP tuyến huyện/TP chiếm 56% so tổng số
CBYTDP toàn tỉnh; trong đó huyện Phước Long 8,83 %, Đông Hải 8,83% là nhiều nhất, đơn vị ít nhất là Vĩnh Lợi 6,72%
3.2.1.2 Số lượng cán bộ YTDP thuộc chuyên ngành
Bảng 3.15 Số lượng cán bộ YTDP thuộc chuyên ngành
TT Chuyên ngành Số lượng Tỷ lệ %
*Nhận xét: Ngành y chiếm tỷ lệ cao nhất 49,33% Dược 12,48%, thấp nhất là Điều dưỡng 5,18% và KTV xét nghiệm 5,18%
- Cơ cấu cán bộ YTDP theo chuyên môn và hành chính
Biểu đồ 3.8 Cơ cấu cán bộ YTDP theo bộ phận
*Nhận xét: Tổng số CBNV 521 CB CNV chiếm 87.53%, trong đó 456 làm công tác chuyên môn chiếm tỷ lệ 87,53% Số còn lại làm công tác hành chính chiếm tỷ lệ 12.47%
- Cơ cấu CBYT dự phòng theo bộ phận, chuyên môn
Biểu đồ 3.9 Cơ cấu chuyên môn theo bộ phận
*Nhận xét: Tỷ lệ CBYT dự phòng trong bộ phận xét nghiệm thấp chỉ có 27 cán bộ với tỷ lệ 5,18%
3.2.2 Đánh giá chất lượng cán bộ YTDP trong toàn tỉnh
3.2.2.1 Trình độ cán bộ y tế dự phòng chuyên ngành
Bảng 3.16 Trình độ cán bộ y tế dự phòng chuyên ngành
Y D DD NHS XN KHAC T số
SL % SL % SL % SL % SL % SL % SL %
Tổng số cán bộ nhân viên của cơ sở là 521 người, trong đó ngành Y chiếm tỷ lệ lớn nhất với 49,52%, theo sau là Dược (12,86%), Nữ hộ sinh (9,40%), Xét nghiệm (5,18%) và Điều dưỡng (5,18%) Các cán bộ còn lại thuộc các lĩnh vực khác chiếm 17,85% Về trình độ chuyên môn, đa số nhân viên có trình độ trung cấp chiếm 60,65%, trình độ đại học là 13,82%, chuyên khoa I là 9,78%, và số nhân viên có bằng Thạc sĩ chiếm 0,19%, thể hiện đội ngũ nhân sự có đa dạng trình độ chuyên môn nhằm đáp ứng tốt nhu cầu công việc.
3.2.2.2 Cơ cấu nhân sự y tế dự phòng theo trình độ chuyên môn Bảng 3.17 Cơ cấu cán bộ y tế dự phòng theo trình độ chuyên môn
TT Trình độ Số lượng Tỷ lệ
1 Đại học & sau Đại học 124 23,80
*Nhận xét: Trình độ trung cấp cao nhất 48,75%, Đại học và sau Đại học
23,80%, thấp nhất là Cao đẳng 0,19%
3.2.3 Trình độ cán bộ y tế dự phòng theo tuyến, trong tỉnh
Bảng 3.18 Phân loại trình độ cán bộ y tế dự phòng theo tuyến Đối tượng Tỉnh Huyện
Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
CBYTđại học và sau đại học 69 30,13 55 18,84
*Nhận xét:Cán bộ y tế dự phòng tuyến tỉnh có trình độ đại học và sau đại học cao hơn tuyến huyện
3.2.4 Chất lượng cán bộ YTDP chuyên ngành trong toàn tỉnh
Bảng 3.19 Chất lượng cán bộ có trình độ chuyên khoa YTDP
Chất lượng cán bộ Chất lượng cán bộ Cán bộ chuyên khoa YTDP
Bác sĩ sau đại học 52 9.98 25 4.79
Chất lượng cán bộ chuyên khoa y tế dự phòng được đánh giá qua tỷ lệ các chuyên gia như sau: bác sĩ sau đại học chiếm 4,79%, bác sĩ chuyên khoa y tế dự phòng chiếm 0,95%, y sĩ chuyên khoa y tế dự phòng chiếm 9,4%, kỹ thuật viên xét nghiệm chiếm 5,18% Ngoài ra, còn có các cán bộ không chuyên khoa y tế dự phòng nhưng vẫn đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực này như dược sĩ, điều dưỡng, nữ hộ sinh và cán bộ hành chính kế toán.
3.2.5 Chất lượng chuyên môn cán bộ YTDP theo tuyến
Bảng 3.20 Chất lượng chuyên môn cán bộ theo tuyến Đối tượng Tỉnh Huyện Tổng số Tỷ lệ%
Tỷ lệ cán bộ YTDP tuyến tỉnh chiếm 81,95 % so tổng số cán bộ ; Y sĩ 30,71%; Dược sĩ 12,86%; Chuyên khoa I 9,78%; Thạc sĩ 0,19%; không có chuyên khoa II và Cử nhân YTCC
3.2.6 Cơ cấu CBYTDP/ 10.000 dân, BS/10.000 dân, DS/10.000 dân
Bảng 3.21 Cán bộ YTDP / 10.000 dân
Cán bộ Dân số Số CBYT Số CB/10.000
Số CBYTDP/ 10.000 dân là 5,96; Tỷ lệ bác sỹ/10.000 dân là 1,11; Tỷ lệ dược sỹ/10.000 dân là 0,45
3.3 Tình hình hoạt động y tế dự phòng và các mối liên quan với nhân lực 3.3.1 Tình hình hoạt động
3.3.1.1 Tình hình tiêm chủng 6 bệnh truyền nhiễm trẻ em < 1 tuổi
Bảng 3.22 Tỷ lệ tiêm chủng qua các năm
Tỷ lệ tiêm đầy đủ% 94,07 86,1 96,42 97,46 97,37 96,41 Chỉ tiêu% >90 >90 >95 >95 >95 >95 Nghi Sởi 2/0 168/0 155/0 127 96/0 158/0 Sởi xác định M/C 0/0 0/0 0/0 128/0 5/0 0/0
Viêm gan VR M/C 8/0 75/1 67/2 61/0 55/1 87/0 Viêm não VR M/C 55/11 31/6 30/1 42/3 61/11 37/3
Tỷ lệ tiêm chủng qua các năm ngày càng được duy trì hiệu quả, từ 94,07% năm 2006 lên tới 96,41% năm 2011, thể hiện sự cải thiện rõ rệt trong công tác tiêm chủng Nhờ đó, tình hình mắc và tử vong do các bệnh truyền nhiễm đã giảm đáng kể, đặc biệt là bệnh bại liệt đã được loại trừ hoàn toàn vào năm 2000 Bệnh sởi đã được kiểm soát tốt, và bệnh uốn ván sơ sinh đã được thanh toán, góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng.
3.3.1.2 Tình hình mắc, chết do bệnh sốt rét qua các năm
Bảng 3.23 Tình hình mắc, chết do bệnh sốt rét qua các năm
Giảm tỷ lệ mắc hằng năm
Số TV do SR/100.000 dân 00 00 0,12 00 00 00
Không tử vong sốt rét 0 0 1,2% 0 0 0
*Nhận xét: Số ca mắc sốt rét/100.000 dân giảm dần theo các năm, đạt chỉ tiêu chương trình đề ra ( hằng năm giảm mắc < 1,5%0)
3.3.1.3 Tình hình mắc, chết do sốt xuất huyết qua các năm
Bảng 3.24 Tình hình mắc, chết do sốt xuất huyết qua các năm
2006 2007 2008 2009 2010 2011 Mắc/100.000 dân 389,75 44,82 480,51 121,71 88,53 222,94 Hằng năn giảm 15% 100 769,6 -90,6 294,7 37,4 -60,2 Chết/100.000 dân 0,61 0,12 1,07 0,47 0,23 0,57 Hằng năm giảm chết
Số ca mắc/chết do sốt xuất huyết không ổn định, diễn biến phức tạp, không đạt chỉ tiêu chương trình đề ra
3.3.1.4 Tình hình mắc, chết do nhiễm HIV/AIDS qua các năm
Bảng 3.25 Tình hình mắc, chết do nhiễm HIV/AIDS qua các năm
Tổng số người nhiễm HIV, chuyển thành AIDS và tử vong do AIDS ngày càng tăng, nhưng tỷ lệ nhiễm mới vẫn được kiểm soát ở mức dưới 0,03%, đạt tiêu chuẩn của Bộ giao ( 80%
4.2.1.3 Công tác phòng, chống sốt xuất huyết Đối với bệnh sốt xuất huyết, diễn biến khá phức tạp tăng giảm không đồng đều; năm 2006 tỷ lệ mắc là 389,75/100.000 dân, đến năm 2011 còn 222,94/100.000 dân; tuy nhiên, năm 2008 tăng 480,51/100.000 dân Trong khi đó năm 2011 khu vực phía nam, mắc/100.000 dân là 173[62], Qua đó cho thấy tình hình Sốt xuất huyết chưa ổn định và chưa có tính bền vững, cần có giải pháp hữu hiệu hơn và cần có chiến lược nghiên cứu vác - xin để ngăn ngừa căn bệnh này Công tác giám sát và xử lý ổ dịch chưa kịp thời do thiếu đội ngũ có trình độ và kỷ thuật cao, ý thức người dân còn hạn chế
4.2.1.4 Kết quả phòng chống các bệnh xã hội
Trong giai đoạn từ năm 2006 đến 2011, số ca bệnh lao mới phát hiện đã tăng từ 918 lên 1.100 người, trong đó tỷ lệ mắc lao/100.000 dân cũng tăng từ 113 lên 126, cho thấy tình hình bệnh lao có xu hướng gia tăng mặc dù chương trình phòng chống đã triển khai hoạt động tích cực suốt 6 năm Mặc dù số người bệnh được quản lý đã tăng từ 1.528 lên 1.890, kết quả phòng chống bệnh lao chưa đạt được mục tiêu giảm, và dịch HIV ngày càng gia tăng cũng tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của bệnh lao trong những năm tới Tỷ lệ mắc lao mới/100.000 dân của toàn quốc năm 2011 là 114, phản ánh sự gia tăng đáng kể trong căn bệnh này.
Trong giai đoạn từ năm 2006 đến 2011, số bệnh nhân mắc bệnh phong mới phát hiện giữ ở mức thấp, lần lượt là 5 trường hợp mỗi năm và số bệnh nhân phong đa hóa trị liệu tăng từ 15 lên 77 Tỷ lệ mắc bệnh phong trên 100.000 dân giảm nhẹ từ 0,6 xuống 0,58, trong khi đó, trung bình cả nước năm 2011 có tỷ lệ mắc bệnh lên đến 13,7/100.000 dân Nhìn chung, diễn biến trong 6 năm cho thấy số bệnh nhân mắc bệnh phong được duy trì dưới mức loại trừ theo tiêu chí của Bộ Y tế là 1/100.000 dân, thể hiện nỗ lực kiểm soát dịch bệnh hiệu quả.
2010 tỉnh Bạc Liêu được công nhận loại trừ được bệnh phong
Tình hình nhiễm HIV/AIDS ngày càng gia tăng hàng năm, với năm 2006 ghi nhận 162 ca nhiễm mới và tổng số người nhiễm HIV tích lũy là 979 Tỷ lệ nhiễm HIV trên 100.000 dân là 19,66, trong khi số ca tử vong do AIDS trong năm đó là 84, tổng số ca tử vong tích lũy là 138, chiếm tỷ lệ 10,19 trên 100.000 dân.
Năm 2011, tổng số ca nhiễm mới HIV là 255, tổng số ca mắc HIV tích lũy là 2.221, tỷ lệ nhiễm HIV/100.000 dân là 29,20, trong đó số ca tử vong trong năm là 38 và tổng số tử vong do AIDS là 593, tỷ lệ chết/100.000 dân là 4,35 So sánh cả nước năm 2011, tỷ lệ mắc/100.000 dân là 11,3 và tỷ lệ chết/100.000 dân là 2,2, cho thấy Bạc Liêu có tỷ lệ nhiễm và chết cao hơn trung bình cả nước, cần xem xét lại hiệu quả của các chương trình phòng chống HIV Sau 6 năm hoạt động, số ca nhiễm HIV tăng hàng năm, dịch đã lan rộng ra toàn tỉnh với 7/7 huyện và thành phố đều có người nhiễm HIV, cùng với 61/64 xã, phường, thị trấn và 314/515 khóm, ấp bị nhiễm Tình hình này cho thấy HIV đã lây lan đến vùng sâu, vùng xa, làm khó khăn cho công tác tuyên truyền và tiếp cận cộng đồng.
Các số liệu về bảo vệ sức khỏe tâm thần qua các năm cho thấy, năm 2006 tổng số người bệnh mới phát hiện là 320, trong khi số người đang quản lý và điều trị là 1.765; đến năm 2011, số bệnh nhân mới nhiễm là 294 và số bệnh nhân đang quản lý và điều trị là 2.519 Điều này cho thấy, tỷ lệ bệnh nhân tâm thần tăng giảm không đều qua các năm do thiếu cán bộ chuyên khoa từ tỉnh đến cơ sở, gây khó khăn trong công tác tầm soát bệnh tâm thần Hiện nay, Trung tâm phòng chống các bệnh xã hội chưa có bác sĩ chuyên khoa tâm thần, và việc tuyển sinh, hướng phát triển chuyên khoa tâm thần gặp khó khăn vì ít cán bộ sẵn sàng theo đuổi lĩnh vực này.
Từ năm 2006 đến 2011, tỉnh đã kiểm soát tốt các dịch bệnh lớn, nhiều bệnh giảm rõ rệt như sốt rét đã giảm từ 115,5/100.000 dân năm 2006 xuống còn 16,4/100.000 dân vào năm 2011, đồng thời bệnh phong đã được công nhận loại trừ vào tháng 3 năm 2012 Tuy nhiên, một số bệnh nguy hiểm như sốt xuất huyết vẫn còn diễn biến phức tạp, với số ca mắc gia tăng không đều và có một số năm không ghi nhận dịch lớn, nhưng bệnh này vẫn gây đe dọa sức khỏe cộng đồng Bệnh lao và HIV/AIDS tiếp tục gia tăng đáng lo ngại, trong đó tỷ lệ nhiễm HIV tại địa phương cao hơn trung bình khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, tăng gấp 1,5 lần từ năm 2006 đến 2011, cùng với đó là sự gia tăng bệnh nhân lao, nhiễm HIV ở phụ nữ và cộng đồng.
4.2.1.5 Tình hình chăm sóc sức khỏe bà mẹ - trẻ em
* Chăm sóc sức khỏe trẻ em
Dữ liệu từ 2006 đến 2011 cho thấy tỷ suất chết của trẻ dưới 1 tuổi/1.000 sinh sống dao động không đều, với năm 2006 là 7,06, năm 2010 là 7,8 và năm 2011 giảm còn 4,40, trong khi tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi/1.000 cũng có xu hướng giảm nhưng không bền vững, từ 8,08 năm 2006 giảm xuống còn 8,45 năm 2010 rồi còn 2,52 năm 2011 Ngành y tế cần xem xét lại công tác chăm sóc trẻ em trong năm 2010 và tiến hành tập huấn lại cho cán bộ chuyên môn Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi giảm rõ rệt qua các năm, từ 21,3‰ năm 2006 xuống còn 15,69‰ năm 2011, trung bình mỗi năm giảm 1,1-2‰ Tỷ lệ trẻ sơ sinh nhẹ cân cũng giảm đáng kể từ 4,9% năm 2006 xuống còn 2,95% vào năm 2011, với mục tiêu giảm từ 0,8-1,2% mỗi năm theo chương trình quốc gia Tỷ lệ trẻ sơ sinh nhẹ cân < 2500g trung bình giảm 0,3% mỗi năm Tuy nhiên, công tác báo cáo và thống kê về các chỉ số này vẫn còn chưa đầy đủ và chính xác Theo ước tính của Vụ sức khỏe sinh sản, Bộ Y tế, tỷ suất chết trẻ em < 1 tuổi hiện khoảng 10,28‰ và trẻ em < 5 tuổi khoảng 16,11‰, trong khi ở Bạc Liêu, tỷ suất chết trẻ em < 1 tuổi ước tính trung bình khoảng 6,4‰ của toàn quốc.
Tỷ lệ tử vong của trẻ dưới 5 tuổi ở tỉnh Bạc Liêu khoảng 6,08‰, cho thấy tình hình chết trẻ em còn khá cao cần tiếp tục được quan tâm Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi trung bình giảm khoảng 1-1,2% mỗi năm, thể hiện xu hướng tích cực trong chăm sóc sức khỏe trẻ nhỏ Năm 2011, tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi tại Bạc Liêu là 15,6%, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ chung của cả nước là 19,9% và khu vực đồng bằng sông Cửu Long là 19,1%, cho thấy các nỗ lực nâng cao chất lượng dinh dưỡng trẻ em đã đạt kết quả khả quan Đồng thời, tỷ lệ trẻ sơ sinh nhẹ cân dưới 2500g của tỉnh chỉ còn 2,95%, thấp hơn nhiều so với mục tiêu trung bình của cả nước đến 2010 là 6%, phản ánh công tác chăm sóc và quản lý sức khỏe trước sinh và sau sinh hiệu quả.
* Chăm sóc sức khỏe bà mẹ
Nhu cầu về số lượng và chất lượng cán bộ y tế dự phòng đến năm 2015
Đến năm 2015, hệ dự phòng y tế tỉnh cần bổ sung thêm 92 biên chế cán bộ y tế dự phòng tuyến tỉnh để đáp ứng nhu cầu công tác phòng ngừa dịch bệnh Đồng thời, hệ y tế dự phòng cấp huyện cũng cần tăng thêm 15 biên chế cán bộ để nâng cao năng lực quản lý và phòng chống dịch tại địa phương Việc bổ sung đủ số lượng cán bộ y tế dự phòng là yếu tố quan trọng giúp nâng cao hiệu quả công tác phòng chống dịch bệnh trên toàn tỉnh.
107 người Như vậy, mỗi năm ngành y tế cần tuyển mới 27 cán bộ y tế cho các đơn vị dự phòng
Nhu cầu nâng cao chất lượng cán bộ y tế dự phòng rất quan trọng để đáp ứng yêu cầu công việc Theo Thông tư 08 Bộ Nội vụ, ít nhất 30% cán bộ y tế dự phòng phải có trình độ đại học, trong đó 60% là các cán bộ có trình độ đại học, 20% cao đẳng, 10% cử nhân Y tế công cộng, còn 25% là bác sĩ và 15% kỹ thuật viên xét nghiệm Do đó, số lượng cần đào tạo lại hàng năm gồm 25% bác sĩ (tương đương 120 người), 15% kỹ thuật viên xét nghiệm (72 người), cùng các trình độ khác như sau: 94 người sau đại học, 276 người đại học, 95 người cao đẳng, và 49 kỹ thuật viên xét nghiệm Đối với bác sĩ, mỗi năm cần cử 19 người đi đào tạo lại phù hợp với chuyên ngành y tế dự phòng Ngoài ra, các trung tâm dự phòng tỉnh cần xây dựng cơ cấu nhân lực hợp lý, trong đó bộ môn dịch tễ học cần chiếm khoảng 5% để đảm bảo chất lượng và hiệu quả công tác y tế dự phòng.
Các lĩnh vực y tế yêu cầu đội ngũ nhân lực đa dạng về trình độ và chuyên ngành, như bác sĩ chuyên khoa dịch tễ học và tiến sĩ hoặc thạc sĩ; ngành vi sinh cần ít nhất 2 bác sĩ, trong đó có 1 thạc sĩ cùng 2-3 trung cấp kỹ thuật; chuyên ngành về động vật và côn trùng mỗi ngành cần 1 bác sĩ và 1 trung cấp kỹ thuật Ngành môi trường, vệ sinh lao động và bệnh nghề nghiệp yêu cầu ít nhất 1 đại học và 1-2 trung cấp kỹ thuật mỗi ngành Vệ sinh an toàn thực phẩm và chất độc hóa học cần 2 cán bộ đại học cùng 2 trung cấp kỹ thuật cho các lĩnh vực như sốt rét, dinh dưỡng, an toàn thực phẩm, an toàn lao động, bệnh nghề nghiệp và môi trường Trong kế hoạch củng cố và phát triển y tế tuyến huyện, đặc biệt là Trung tâm y tế phòng chống dịch bệnh, nếu không có chính sách đào tạo và sử dụng nhân lực hợp lý, sẽ khó khăn trong tuyển dụng, dẫn đến tình trạng chảy máu chất xám Y sĩ định hướng y học dự phòng tại cấp xã là loại hình phù hợp nhất, nhiều tỉnh đang đào tạo y sĩ theo chuyên khoa y tế dự phòng tại các trường cao đẳng y tế.
Từ năm 1975 đến 2007, hệ thống đào tạo tại lĩnh vực Y tế dự phòng ít chú trọng đến đào tạo kỹ thuật viên trong các lĩnh vực như xét nghiệm, kiểm định nước môi trường và thực phẩm, cũng như thanh tra vệ sinh môi trường và an toàn thực phẩm Chỉ một số viện y tế dự phòng có lớp đào tạo xét nghiệm viên, với quy mô từ 30 đến 50 học viên mỗi năm, trong khi các trường trung cấp, cao đẳng y tế chưa triển khai đào tạo loại hình nhân lực này Đến năm 2007, Trường đại học kỹ thuật y tế Hải Dương bắt đầu mở lớp đào tạo xét nghiệm viên, còn Trường cao đẳng y tế của tỉnh đã đào tạo nhân lực kỹ thuật y tế dự phòng từ năm đó Các lĩnh vực cần đẩy mạnh đào tạo kỹ thuật viên như xét nghiệm các bệnh truyền nhiễm, y tế nghề nghiệp, y tế môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, y tế học đường và quản lý phòng xét nghiệm để bổ sung nguồn nhân lực chất lượng cho hệ thống y tế dự phòng.
Khảo sát nguồn lực cán bộ y tế dự phòng từ tỉnh đến huyện, thành phố cho thấy không cần bổ sung nhiều cán bộ theo Thông tư 08 của Bộ Y tế - Bộ Nội vụ, tuy nhiên, cần tập trung nâng cao chất lượng đào tạo của đội ngũ này Thiếu cán bộ có trình độ đại học và sau đại học, đặc biệt là chuyên ngành y tế dự phòng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng chỉ đạo, giám sát và xử lý tình hình dịch bệnh kịp thời, đồng thời hạn chế khả năng nghiên cứu khoa học và phát hiện mô hình bệnh tật tại cộng đồng Đặc biệt, thiếu đội ngũ kỹ thuật viên xét nghiệm làm giảm hiệu quả chẩn đoán dịch tễ và kiểm nghiệm thực phẩm chính xác, do đó, trong thời gian tới cần tăng cường tuyển dụng và đào tạo lực lượng này để đạt chuẩn theo tiêu chuẩn của Thông tư 08 Theo quy định, ít nhất 50% bác sĩ làm lãnh đạo các đơn vị dự phòng phải có chuyên khoa về y tế dự phòng, trong khi đó, mục tiêu của Bộ Y tế là có 30% bác sĩ tại các đơn vị này được đào tạo chuyên sâu, với tỷ lệ kỹ thuật viên tại tuyến tỉnh là ≥30% và tại tuyến huyện là ≥20%, trung bình cả hai tuyến đạt khoảng 25% Ngoài ra, cán bộ làm công tác hành chính chiếm khoảng 15-20% tổng biên chế của từng đơn vị, trung bình hai tuyến là 15%, đảm bảo sự cân đối và hiệu quả trong hoạt động của hệ thống y tế dự phòng.