1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

0642 nghiên cứu tình hình sâu răng viêm lợi mảng bám và đánh giá kết quả can thiệp bằng giáo dục chăm sóc răng miệng ở học sinh lớp 4 lớp 5 tại các trường

114 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tình hình sâu răng, viêm lợi, mảng bám và đánh giá kết quả can thiệp bằng giáo dục chăm sóc răng miệng ở học sinh lớp 4 lớp 5 tại các trường
Tác giả Lâm Hữu Đoàn
Người hướng dẫn TS. Trương Nhựt Khuê
Trường học Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Quản lý y tế
Thể loại Luận án chuyên khoa cấp II
Năm xuất bản 2014
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (12)
    • 1.1. Khái quát về bệnh sâu răng, viêm lợi, mảng bám (12)
    • 1.2. Tình hình bệnh răng miệng trên Thế giới và ở Việt Nam (0)
    • 1.3. Kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc sức khoẻ răng miệng (23)
    • 1.4. Vai trò, chức năng và sự cần thiết phải triển khai chương trình nha học đường (25)
  • Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (33)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (33)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (34)
    • 2.3. Vấn đề y đức (47)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (48)
    • 3.1. Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (48)
    • 3.2. Tỷ lệ sâu răng, viêm lợi và mảng bám răng của học sinh (50)
    • 3.3. Một số yếu tố liên quan đến sâu răng, viêm lợi và mảng bám răng 48 3.4. Đánh giá kết quả can thiệp bằng biện pháp giáo dục chăm sóc răng miệng và súc miệng bằng nước fluor của học sinh ở hai nhóm nghiên cứu (57)
  • Chương 4. BÀN LUẬN (71)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Học sinh đang học lớp 4 - 5 tại các trường tiểu học tại huyện U Minh, tỉnh Cà Mau năm 2013 - 2014

2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu nghiên cứu

Tất cả học sinh lớp 4 và lớp 5 tại các trường tiểu học trong huyện U Minh, tỉnh Cà Mau đã được lựa chọn làm mẫu nghiên cứu và có mặt đầy đủ trong thời điểm điều tra, đảm bảo tính đại diện và chính xác của dữ liệu.

- Học sinh khỏe mạnh, có sự đồng ý tham gia nghiên cứu của học sinh, phụ huynh và được sự chấp thuận của Ban giám hiệu nhà trường

- Học sinh không sử dụng thuốc điều trị bệnh toàn thân cũng như can thiệp y khoa, nha khoa (như chỉnh hình răng,…) nào khác vào thời điểm nghiên cứu

- Học sinh không có khiếm khuyết bẩm sinh ở răng miệng như thiểu sản men, sinh men bất toàn, sinh ngà bất toàn,…

- Học sinh chuyển trường, chuyển lớp trong thời gian nghiên cứu

- Những HS không được sự đồng ý tham gia nghiên cứu của phụ huynh hoặc HS

- Những HS không có mặt trong buổi phỏng vấn và khám lâm sàng

- Bệnh lý răng miệng do bẩm sinh, chấn thương, tai nạn…

- Học sinh lớp 4, lớp 5 nhỏ hơn 10 tuổi và lớn hơn 11 tuổi

2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành tại 6 trường tiểu học trên địa bàn huyện U Minh, tỉnh Cà Mau

Thời gian nghiên cứu được tiến hành từ tháng 9 năm 2013 đến tháng 4 năm 2014.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả có phân tích và can thiệp có đối chứng

2.2.2.1 Cỡ mẫu cho mục tiêu 1 được tính theo công thức Được áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho việc ước lượng một tỷ lệ trong quần thể [25]

Trong đó: n: Cỡ mẫu cần phải có

Z: là trị số tùy thuộc vào mức độ tin cậy mong muốn của ước lượng, với mức tin cậy mong muốn là 95% thì Z tương ứng là 1,96 p: Tỷ lệ sâu răng, chọn p = 0,576 theo điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc của Trần Văn Trường, Lâm Ngọc Ấn và Trịnh Đình Hải tỷ lệ sâu răng ở lứa tuổi 9 - 11 ở vùng nông thôn là 57,6% [49] d: Chọn d = 0,04 kỳ vọng độ sai lệnh của mẫu so với thực tế dưới 4% Theo công thức: n = 586

Dự kiến sai số 10%, do đó cơ mẫu cần nghiên cứu là 645; thực tế điều tra 784 học sinh nên chúng tôi chọn hết số học sinh hiện có

2.2.2.2 Cỡ mẫu cho mục tiêu 2 được tính theo công thức Được tính theo công thức ước lượng sự khác biệt của hai tỷ lệ trong quần thể nghiên cứu [25]

Tỷ lệ sâu răng sau can thiệp ở nhóm được can thiệp là 75,8%, trong khi đó, tỷ lệ này ở nhóm không can thiệp là 86% Nghiên cứu của Dương Quốc Thống (2012) về tình hình bệnh răng miệng ở học sinh tiểu học tại huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau trước và sau can thiệp đã cho thấy sự giảm đáng kể khả năng mắc sâu răng sau khi thực hiện các biện pháp can thiệp.

- α mức ý nghĩa thống kê, chọn α = 0,05, do đó Z (1- α/2) = 1,96

- c là độ sai số mong muốn của hai tỷ lệ, do chưa có một nghiên cứu tương tự nào tại địa phương nên chọn c = 0,07

Theo công thức n = 240 HS, sẽ phân ngẫu nhiên vào 2 nhóm, chúng tôi điều tra trên thực tế nhóm CT có 292 học sinh, nhóm không CT 256 học sinh

Lấy mẫu Cụm 2 giai đoạn Đơn vị Cụm là trường, tất cả học sinh trong lớp 4, lớp 5 của trường được chọn đều được đưa vào nghiên cứu

- Chọn trường (Cụm): Theo phương pháp ngẫu nhiên chọn 6 trường bao gồm 2 trường trung tâm huyện và 04 trường ngoài trung tâm huyện Các trường chọn gồm:

+ Hai trường trung tâm huyện: Trường tiểu học Thái Văn Lung và Nguyễn Văn Huyên (thị trấn U Minh)

+ Bốn trường ngoài trung tâm: Trường tiểu học Lê Quí Đôn và Nguyễn Việt Khái (xã Khánh An), Võ Thị Sáu và Nguyễn Văn Hài (xã Khánh Hòa)

- Chọn lớp: Chọn tất cả học sinh lớp 4, lớp 5 của 6 trường được đưa vào nghiên cứu

2.1 Sơ đồ các bước chọn mẫu nghiên cứu

2 trường trung tâm 4 trường ngoài trung tâm

Nguyễn Việt Khai + Lê Quí Đôn

Võ Thị Sáu + Nguyễn Văn Hài

Nhóm chứng Nguyễn Văn Huyên (5 lớp) Nguyễn Việt Khái (4 lớp)

Các trường tiểu học huyện U Minh (6 trường)

Hai trường can thiệp (n)2) Hai trường chứng (n= 256)

Học sinh lớp 4 - 5 Học sinh lớp 4 - 5 Điều tra trước CT - So sánh trước CT - Điều tra lần 1

Can thiệp Không can thiệp Điều tra sau can thiệp Điều tra lần 2

So sánh hiệu quả can thiệp

2.2 Sơ đồ chọn mẫu và tổ chức nghiên cứu can thiệp

2.2.4.1 Thông tinh chung của học sinh

- Dân tộc: Kinh, Khmer, Hoa, Khác

- Nghề nghiệp của cha, mẹ: Công chức, công nhân, làm ruộng, kinh doanh, nội trợ và khác

- Dung dịch súc miệng (theo dõi 6 tháng)

2.2.4.2 Các thông tin về sâu răng, viêm lợi, mảng bám răng

Xác định tỷ lệ bệnh SR, viêm lợi và MBR của HS

Trong nghiên cứu này đưa ra một số tiêu chuẩn và chỉ tiêu đánh giá tỷ lệ

SR, viêm lợi và mảng bám răng như sau:

Răng sâu là tình trạng xuất hiện lỗ hở trên bất kỳ mặt nào của răng, trong đó lỗ sâu thường là các vết nhỏ nhưng có thể tiến triển đến mức thăm khám chạm tới ngà mềm hoặc trở nên rõ ràng, to hơn Việc xác định rõ ràng các đặc điểm của lỗ sâu giúp đưa ra phương pháp điều trị phù hợp và ngăn ngừa biến chứng nghiêm trọng Do đó, việc nhận biết sớm các dấu hiệu của răng sâu đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe răng miệng tốt.

Viêm lợi: Là tổ chức phần mềm quanh răng bị tấy đỏ, sưng nề, chạm vào có thể gây đau hoặc chảy máu

Mảng bám răng: Trong nghiên cứu này chúng tôi dùng chỉ số OIH-S để đánh giá tình trạng vệ sinh răng miệng và mảng bám

Chỉ số OHI-S: Tiêu chuẩn cho điểm

Cách cho điểm chỉ số OHI-S

OHI-S = Tổng số các điểm số/ số mặt răng khám

Chúng tôi chỉ cần đánh giá mảng bám nên OHI-S biến thiên từ 0 - 3 0,0 - 0,6: Vệ sinh răng miệng tốt

0,7 - 1,8: Vệ sinh răng miệng trung bình

1,9 - 3: Vệ sinh răng miệng kém

2.2.4.3 Các thông tin về kiến thức, thái độ và thực hành

* Các thông tin về kiến thức

- Biết nguyên nhân sâu răng

+ Biết (ăn không đánh răng, ăn kẹo và ăn đường)

+ Không biết (ăn nóng, lạnh và khác)

- Biết cách vệ sinh răng miệng

+ Không biết (súc miệng, dùng tâm và khác)

- Biết mục mục đích chải răng

+ Đúng (không sâu răng và viêm lợi)

+ Không đúng (sạch răng, thơm miệng và khác)

* Các thông tin về thái độ

- Biết sự nguy hiểm của sâu răng

- Sự cần thiết chải răng

* Các thông tin về thực hành

- Số lần chải răng/ngày

- Các loại thức ăn hàng ngày

+ Có ăn ngọt (bánh ngọt, kẹo, đường, sữa, kem) + Không ăn ngọt (ngô, khoai, sắn và các loại khác)

- Súc miệng bằng nước fluor

2.2.4.4 Các yếu tố liên quan đến sâu răng, viêm lợi và mảng bám Đánh giá qua phiếu câu hỏi cơ bản về kiến thức, thái độ, thực hành về sức khỏe răng miệng Đánh giá qua phiếu câu hỏi cơ bản về sức khỏe răng miệng để tìm hiểu kiến thức, thái độ, thực hành cho tất cả các nhóm can thiệp và nhóm chứng

So sánh trước và sau can thiệp

2.2.4.5 Biện pháp can thiệp Để theo dõi được 6 tháng của 4 trường tiểu học

Trước khi can thiệp, khảo sát đồng thời các nhóm nghiên cứu và nhóm đối chứng để có dữ liệu ban đầu

Sau khi can thiệp, khám lại đồng thời các nhóm để so sánh

Thứ tự tiến hành can thiệp về chăm sóc răng miệng theo các bước

Bước 1: Tiến hành khám điều tra lần đầu gồm 2 phiếu cho tất cả các nhóm

Bước 2: Chọm nhóm CT, lập danh sách vào sổ theo mẫu qui định để theo dõi

Bước 3: Duy trì cho HS súc miệng bằng dung dịch Natri Fluor 0,2% tại trường mỗi tuần một lần

Bước 4: Tiếp tục giảng dạy kiến thức chăm sóc răng miệng, do giáo viên nhà trường dạy trên lớp

Bước 5: Tiến hành khám răng đánh giá kết quả (khám cả các nhóm) Bước 6: Hoàn tất hồ sơ của từng học sinh

Bước 7: Xử lý số liệu và so sánh với các nhóm

* Nội dung giáo dục chăm sóc răng miệng

Kiến thức nha khoa cơ bản là nền tảng quan trọng giúp học sinh nhóm CT hiểu rõ về VSRM, tác dụng của fluor và những kiến thức thiết yếu về răng, lợi, mảng bám Việc truyền đạt đúng các thông tin này giúp nâng cao ý thức phòng bệnh và bảo vệ sức khỏe răng miệng hiệu quả Hiểu biết về tác hại của các bệnh nha khoa, cùng với các biện pháp phòng chống phù hợp, góp phần duy trì hàm răng khỏe mạnh, tránh các biến chứng lâu dài.

Phương pháp giúp hình thành thói quen tích cực cho học sinh là khuyến khích các em chải răng hàng ngày ngay sau mỗi bữa ăn, từ đó tạo ý thức giữ gìn vệ sinh răng miệng (VSRM) và bảo vệ hàm răng Đồng thời, xây dựng ý thức tự giác trong việc thực hiện các biện pháp chăm sóc răng miệng như chải răng, súc miệng để duy trì sức khỏe răng miệng tốt nhất.

- Về sự chăm sóc: Được thầy, cô giáo và cán bộ y tế bằng cách súc miệng fluor tại trường và kem đánh răng có fluor

2.2.4.6 Đánh giá kết quả bằng giáo dục chăm sóc răng miệng ở học sinh lớp 4, lớp 5 của các trường nghiên cứu

Trong nghiên cứu này, phương pháp can thiệp kết hợp ba biện pháp chính nhằm nâng cao chăm sóc răng miệng cho đối tượng nghiên cứu Các biện pháp bao gồm giáo dục chăm sóc răng miệng để nâng cao ý thức, biện pháp cơ học là chải răng hàng ngày ngay sau ăn nhằm loại bỏ mảng bám hiệu quả, và biện pháp hóa học sử dụng nước súc miệng chứa fluoride để bảo vệ men răng, phòng ngừa sâu răng Phương pháp tích hợp này hướng tới việc cải thiện sức khỏe răng miệng toàn diện cho người tham gia.

- Đánh giá kết quả can thiệp bằng giáo dục chăm sóc răng miệng và kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc RM của học sinh

- Trong 6 tháng can thiệp sẽ khám, điều tra cắt ngang 1 lần trước can thiệp, lần 2 sau 6 tháng can thiệp ở cả 2 nhóm can thiệp và nhóm chứng

Các chỉ số đánh giá quan trọng gồm chỉ số sâu răng, chỉ số mảng bám và chỉ số viêm lợi giúp đo lường tình trạng sức khỏe răng miệng Đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành về chăm sóc răng miệng thông qua việc chấm điểm các câu hỏi trong bộ câu hỏi, nhằm xác định mức độ hiểu biết và sự chủ động trong việc duy trì vệ sinh răng miệng hàng ngày Việc sử dụng các chỉ số này giúp theo dõi và cải thiện hiệu quả các phương pháp chăm sóc răng miệng của người bệnh.

- Đánh giá chỉ số hiệu quả (CSHQ) và chỉ số can thiệp (CSCT):

Sử dụng CSHQ để đánh giá một số chỉ số (tỷ lệ %) thay đổi sau can thiệp so với trước can thiệp

P1: Là tỷ lệ trước can thiệp

P2: Là tỷ lệ sau can thiệp

Sử dụng CSCT (tỷ lệ %) để đánh giá hiệu quả can thiệp giữa nhóm chứng và nhóm can thiệp

CSCT (%) = CSHQ (nhóm can thiệp) – CSHQ (nhóm chứng)

Trong thời gian theo dõi, bệnh lý sẽ có xu hướng tăng ở nhóm chứng, trong khi nhóm can thiệp mong đợi bệnh không chỉ không tăng mà còn giảm đi Hiệu quả thực sự của can thiệp được đánh giá dựa trên hiệu số giữa tỷ lệ bệnh trong nhóm chứng và nhóm can thiệp, phản ánh mức giảm bệnh sâu răng, viêm lợi và mảng bám răng cùng một thời điểm.

Đánh giá kết quả can thiệp qua tỷ lệ sâu răng, viêm lợi và mảng bám răng của học sinh cho thấy rằng khi chỉ số hiệu quả >0, chương trình đã có tác dụng rõ ràng Hiệu quả càng cao, chỉ số CSHQ (Chỉ số sức khỏe răng miệng) càng tăng, phản ánh sự cải thiện rõ rệt trong tình trạng răng miệng của học sinh Cụ thể, trước khi thực hiện can thiệp, tỷ lệ sâu răng cao, nhưng sau khi thực hiện, tỷ lệ sâu răng giảm rõ rệt, chứng tỏ chương trình đã thành công trong việc kiểm soát và giảm thiểu các vấn đề về sức khỏe răng miệng.

+ Khi chỉ số hiệu quả 0: Không có hiệu quả

Chỉ số hiệu quả 0,05)

Bảng 3.5 Tỷ lệ sâu răng sữa của học sinh

Bảng trên cho thấy tỷ lệ sâu răng sữa ở học sinh là (51,9%)

Bảng 3.6 Tỷ lệ sâu răng của học sinh theo nghề nghiệp cha, mẹ

Bảng dữ liệu cho thấy học sinh có cha, mẹ làm công nhân hoặc làm nông nghiệp có tỷ lệ sâu răng cao nhất, đạt 75,5% Trong khi đó, tỷ lệ sâu răng thấp nhất là ở các học sinh có cha mẹ làm công chức, đạt 44,7% Sự khác biệt về tỷ lệ sâu răng giữa các nhóm này là có ý nghĩa thống kê (p< 0,05), cho thấy nghề nghiệp của cha mẹ có ảnh hưởng đáng kể đến tình trạng sâu răng của học sinh.

Bảng 3.7 Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn của học sinh

Bảng trên cho thấy tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn ở học sinh là (51,3%)

Bảng 3.8 Tỷ lệ bệnh sâu răng của học sinh theo trường

Tỷ lệ sâu răng cao nhất tại Trường Nguyễn Văn Huyên đạt 85,8%, trong khi thấp nhất tại Trường Thái Văn Lung với 64,3% Các trường học còn lại có tỷ lệ mắc sâu răng tương đương nhau, tạo nên sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

3.2.2 Tỷ lệ viêm lợi của học sinh

Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ viêm lợi của học sinh

Tỷ lệ viêm lợi của học sinh chiếm (65,6%)

Bảng 3.9 Tỷ lệ viêm lợi của học sinh theo giới

Bảng trên cho thấy tỷ lệ viêm lợi không có sự khác nhau giữa nam và nữ Đồng thời cũng không có ý nghĩa thống kê (p> 0,05)

Bảng 3.10 Tỷ lệ viêm lợi của học sinh theo trường

Trong các trường học, tỷ lệ viêm lợi của học sinh tại trường Nguyễn Văn Huyên cao nhất với 92,2%, trong khi đó, trường Nguyễn Văn Hài có tỷ lệ thấp nhất là 53,4% Các trường còn lại có tỷ lệ viêm lợi tương đương nhau, và sự khác biệt này đã được xác nhận có ý nghĩa thống kê với p0,05)

Bảng 3.13 Tỷ lệ mảng bám răng ở học sinh theo trường

Tỷ lệ mảng bám răng của HS trường Nguyễn Văn Huyên cao nhất (97,2%) các trường còn lại tương đương nhau Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p< 0,05)

Bảng 3.14 Tỷ lệ mảng bám răng ở học sinh theo tuổi

Bảng trên cho thấy tỷ lệ mảng bám răng ở hai lứa tuổi không có sự khác nhau, đồng thời cũng không có ý nghĩa thống kê (p> 0,05)

Bảng 3.15 Tỷ lệ mảng bám răng theo nghề nghiệp của cha, mẹ

Tỷ lệ mảng bám răng ở học sinh có cha mẹ làm nội trợ là cao nhất với 84,2%, trong khi đó, tỷ lệ này ở học sinh có cha mẹ làm công nhân, nông nghiệp là 81,2%, và thấp nhất là 52,1% ở học sinh có cha mẹ làm công chức Sự khác biệt này mang ý nghĩa thống kê rõ ràng với p 0,05, OR = 0,569).

Nhóm học sinh biết cách VSRM có tỷ lệ SR là 49,2%, thấp hơn nhiều so với nhóm học sinh không biết cách VSRM có tỷ lệ SR lên đến 95,8% Chỉ số odds ratio (OR) cho thấy nguy cơ bị SR ở nhóm hiểu biết về VSRM thấp hơn đáng kể, với OR = 0,042 (p 0,05).

Bảng 3.17 Các yếu tố liên quan giữa thái độ của học sinh với sâu răng

Thái độ n Có Không OR

Biết sự nguy hiểm của SR

Sự cần thiết chải răng

Nhóm học sinh nhận thức được sự nguy hiểm của SR có tỷ lệ SR thấp hơn (70,2%) so với nhóm không nhận thức được nguy hiểm của SR (73,7%) Điều này cho thấy, hiểu rõ về tác hại của SR giúp giảm nguy cơ bị SR xuống còn 0,84 lần, mặc dù sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê (p>0,05).

OR = 0,84) Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê

Nhóm học sinh nhận thức được tầm quan trọng của việc chải răng có tỷ lệ SR (70%) thấp hơn so với nhóm học sinh không nhận thức được, tỷ lệ SR ở nhóm biết cần thiết chải răng là 88,9% Nguy cơ mắc SR ở nhóm học sinh hiểu rõ về tầm quan trọng của chải răng thấp hơn, với tỷ lệ mất an toàn 0,292 lần so với nhóm không nhận thức đúng, (p 3 lần 183 48 26,2 135 73,8 Ăn vặt hàng ngày

(0,61-1,299) 0,548 Không 171 124 72,5 47 27,5 Ăn đồ ngọt hàng ngày

Nhóm học sinh chải răng từ 1 đến 3 lần/ngày có tỷ lệ sâu răng (SR) cao đến 84,2%, trong khi nhóm học sinh chải răng trên 3 lần/ngày chỉ đạt 26,2% Nguy cơ mắc sâu răng ở nhóm chải răng 1-3 lần/ngày cao gấp 14,98 lần so với nhóm chải răng nhiều hơn, với sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê rõ ràng (p 0,05, OR = 0,891), và sự khác biệt này không mang ý nghĩa thống kê.

Nhóm học sinh ăn đồ ngọt có tỷ lệ SR cao hơn (74,4%) so với nhóm không ăn đồ ngọt (67,7%), cho thấy nguy cơ bị SR của nhóm ăn đồ ngọt cao hơn gấp 1,38 lần (p

Ngày đăng: 22/08/2023, 17:49

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm