1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

0587 nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc tại nhà của người dân quận ninh kiều tp cần thơ

76 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc tại nhà của người dân quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ
Tác giả Trần Văn Phú Lâm
Người hướng dẫn PGS.TS. Phạm Thị Tâm
Trường học Trường đại học y dược Cần Thơ
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ y tế công cộng
Năm xuất bản 2014
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (12)
    • 1.1. Một số khái niệm được sử dụng trong nghiên cứu (12)
    • 1.2. Hình thức kinh doanh thuốc (15)
    • 1.3. Hệ thống kinh doanh, phân phối thuốc trên địa bàn quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ (16)
    • 1.4. Tình hình sử dụng thuốc và lý do chọn nơi mua thuốc của người dân (19)
    • 1.5. Một số nghiên cứu liên quan đến tình hình sử dụng thuốc của người dân 14 Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (21)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (26)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (27)
    • 2.3. Đạo đức trong nghiên cứu (37)
  • Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (26)
    • 3.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu tại quận Ninh Kiều (38)
    • 3.2. Tình hình sử dụng thuốc tại nhà và lý do chọn nơi mua thuốc (40)
    • 3.3. Chi phí sử dụng thuốc của người dân (49)
  • Chương 4: BÀN LUẬN (38)
    • 4.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (53)
    • 4.2. Tình hình sử dụng thuốc tại nhà và lý do chọn nơi mua thuốc (0)
    • 4.3. Chi phí sử dụng thuốc của người dân (0)
  • KẾT LUẬN (66)
  • PHỤ LỤC (34)

Nội dung

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu tại quận Ninh Kiều

Bảng 3.1: Nhóm tuổi của người tham gia nghiên cứu

Nhóm tuổi Tần số Tỉ lệ (%)

Trong 296 người tham gia nghiên cứu tại quận Ninh Kiều thì nhóm trẻ

60 tuổi có 60 người, chiếm 30,41%

Bảng 3.2: Giới tính của người tham gia nghiên cứu

Giới tính Tần số Tỉ lệ (%)

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nam giới tham gia là 46,9% với 139 người, trong khi nữ giới chiếm tỷ lệ cao hơn với 53,1% tương đương 157 người Điều này cho thấy nữ giới có xu hướng tham gia nghiên cứu nhiều hơn nam giới, phản ánh sự đa dạng và phân bố giới tính trong mẫu nghiên cứu.

Bảng 3.3: Trình độ học vấn của người tham gia nghiên cứu

Trình độ học vấn Tần số Tỉ lệ (%)

Trung học CN/Cao đẳng 57 19,26 Đại học trở lên 93 31,42

Kết quả nghiên cứu về trình độ học vấn của người tham gia cho thấy, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi chiếm 1,69%, mù chữ chiếm 0,68%, trình độ tiểu học là 13,18%, trung học cơ sở là 16,22%, trung học phổ thông là 17,57%, trung học chuyên nghiệp và cao đẳng là 19,26%, trong khi tỷ lệ người có trình độ đại học trở lên cao nhất đạt 31,42%.

Bảng 3.4: Tình trạng hôn nhân của người tham gia nghiên cứu

Tình trạng hôn nhân Tần số Tỉ lệ (%)

Trẻ em dưới 15 tuổi chiếm tỷ lệ 11,49%, trong khi người chưa có gia đình cao nhất với 46,62% Người có gia đình chiếm 35,47%, còn người góa chiếm 4,05%, người ly thân là 1,01% và người ly hôn chiếm 1,35%.

Bảng 3.5: Nghề nghiệp của người tham gia nghiên cứu

Nghề nghiệp Tần số Tỉ lệ (%)

Cán bộ cơ quan nhà nước 76 25,68

Nhân viên cơ quan tư nhân 42 14,19

Kết qủa nghiên cứu về nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu cho thấy,

Dân số theo các nhóm nghề nghiệp và độ tuổi tập trung chủ yếu vào cán bộ cơ quan nhà nước với tỷ lệ 25,68%, người đã hưu trí chiếm 14,53%, và học sinh sinh viên chiếm 13,18% Trong khi đó, tỷ lệ người làm nội trợ là 10,1%, nhân viên cơ quan tư nhân chiếm 14,19%, và người có công việc tự do chiếm 7,77% Những nhóm khác gồm trẻ dưới 5 tuổi chiếm 1,69% và tỷ lệ người thất nghiệp chỉ là 1,01%, phản ánh những đặc điểm rõ ràng về cơ cấu dân cư và lao động trong cộng đồng.

Tình hình sử dụng thuốc tại nhà và lý do chọn nơi mua thuốc

3.2.1 Tình hình sử dụng thuốc tại nhà của người dân

Bảng 3.6: Tỉ lệ mua thuốc có toa sử dụng tại nhà

Toa thuốc Tần số Tỉ lệ (%)

Nghiên cứu của chúng tôi phân tích hành vi sử dụng thuốc tại nhà của 296 người trong vòng 12 tháng, ghi nhận tổng số 2.718 lần mua thuốc Trong đó, mua thuốc có toa chiếm 719 lần, đạt tỷ lệ 26,5%, còn mua thuốc không có toa là 1.999 lần, chiếm tới 73,5% Các kết quả này cho thấy phần lớn người dùng thuốc tại nhà chủ yếu mua thuốc không có toa, phản ánh xu hướng tự mua và sử dụng thuốc không theo hướng dẫn của bác sĩ.

Bảng 3.7: Tỉ lệ các nhóm thuốc sử dụng theo toa

Nhóm thuốc Có toa Không toa Chung

Dựa trên kết quả nghiên cứu, tỷ lệ các nhóm thuốc mà người dân mua về sử dụng tại nhà như sau: Thuốc giảm đau và hạ sốt chiếm 13,72%, trong đó có toa là 3,75% và không có toa là 9,97% Thuốc điều trị các vấn đề về hô hấp chiếm 11,85%, gồm 3,27% có toa và 8,57% không có toa Nhóm vitamin chiếm 9,38%, gồm 2,50% có toa và 6,88% không có toa, trong khi kháng sinh chiếm 8,98%, với 2,39% có toa và 6,59% không có toa Thuốc hormone và nội tiết chiếm 8,43%, trong đó có toa là 2,32% và không có toa là 6,11% Các thuốc dùng ngoài chiếm 8,28%, gồm 2,10% có toa và 6,18% không có toa Thuốc thần kinh chiếm 8,13%, trong đó có toa là 2,21% và không có toa là 5,92% Nhóm Cơ-Xương-Khớp chiếm 7,51%, gồm 1,77% có toa và 5,74% không có toa Thuốc tiêu hóa chiếm 5,67%, gồm 1,47% có toa và 4,19% không có toa, trong khi nhóm thuốc kháng viêm cũng chiếm 5,67%, với 1,40% có toa và 4,23% không có toa Nhóm Histamin chiếm 5,37%, gồm 1,40% có toa và 3,97% không có toa Thuốc tim mạch chiếm 3,86%, trong đó có toa là 0,85% và không có toa là 3,02%, còn nhóm thuốc khác chiếm 3,20%, gồm 1,03% có toa và 2,17% không có toa.

Bảng 3.8: Tỉ lệ các nhóm thuốc sử dụng theo giới tính

Theo khảo sát, tỷ lệ sử dụng các nhóm thuốc tại nhà theo giới tính cho thấy thuốc hạ sốt và giảm đau chiếm khoảng 13,72%, trong đó nam giới sử dụng với tỷ lệ 6,77% và nữ giới 6,95% Thuốc hô hấp có tỷ lệ sử dụng khoảng 11,85%, nam 5,74% và nữ 6,11% Vitamin được sử dụng với tỷ lệ 9,38%, nam 4,60% và nữ 4,78% Kháng sinh chiếm 8,98%, với nam 4,38% và nữ 4,6% Các loại thuốc hormone và nội tiết chiếm 8,43%, trong đó nam 4,08% và nữ 4,34% Thuốc dùng ngoài chiếm 8,28%, nam 3,97% và nữ 4,30% Thuốc thần kinh có tỷ lệ khoảng 8,13%, nam 4,16% và nữ 3,97% Nhóm thuốc cơ-xương-khớp chiếm 7,54%, nam 3,68% và nữ 3,86% Thuốc tiêu hóa chiếm 5,67%, nam 2,76% và nữ 2,91% Thuốc kháng viêm đạt 5,63%, nam 2,80% và nữ 2,83% Thuốc histamin chiếm 5,37%, nam 2,61% và nữ 2,76% Thuốc tim mạch chiếm 3,83%, trong đó nam 1,40% và nữ 2,43% Cuối cùng, các nhóm thuốc khác chiếm 3,2% với nam 1,99% và nữ 1,21%.

Biểu đồ 3.1: Tỉ lệ 15 loại thuốc được sử dụng phổ biến

Trong nghiên cứu diễn ra trong 12 tháng tại quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ, có tổng cộng 296 người tham gia đã thực hiện 2.718 lần mua thuốc, phản ánh hành vi tiêu dùng thuốc tại nhà Trong số 644 loại thuốc phổ biến được người dân sử dụng, đã xác định 15 loại thuốc chiếm tỷ lệ cao nhất, trong đó Panadol là loại phổ biến nhất với tỷ lệ 3,95%, theo sau là Apitim 3,04%, Vitamin C 2,71%, Hapacol 2,50%, Eugica 2,29%, Marvelon 1,78%, Stamlor và Concor đều chiếm 1,40%, Losartan 1,26%, Dian-35 1,08%, Decolgen 1,05%, Fugacar 0,98%, Bihasan 0,89%, Irbesartan 0,84% và Nifedipin 0,82% Những kết quả này giúp hiểu rõ hơn về thói quen sử dụng thuốc của người dân tại địa phương.

Bảng 3.9: Tỉ lệ các nhóm bệnh

Nhóm bệnh Tần số Tỉ lệ (%)

Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ các nhóm bệnh liên quan đến đường hô hấp chiếm cao nhất với 21,72%, tiếp đến là các bệnh tim mạch với 17,25%, bệnh tiêu hóa, gan và mật chiếm 15,22%, bệnh liên quan đến hormone và nội tiết chiếm 11,21%, bệnh da liễu với 8,21%, bệnh thần kinh chiếm 7,79%, bệnh cơ-xương-khớp chiếm 7,58%, bệnh tiết niệu-sinh dục chiếm 3,63%, và các bệnh khác chiếm tỷ lệ thấp nhất là 3,42% Để làm rõ hơn, nghiên cứu đã phân tích các tên thuốc (biệt dược) mà người tham gia tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ đã mua và sử dụng trong 12 tháng qua tại nhà.

Viêm họng Đau dạ dày

Nhức đầu Tẩy giun Mỏi mắt Đau nhức thần kinh

Phụ khoa Thanh nhiệt Đau nhức xương khớp

Biểu đồ 3.2: Tỉ lệ một số bệnh phổ biến

Trong quá trình ghi lại, nghiên cứu đã xác định 15 bệnh phổ biến nhất, trong đó cảm chiếm tỷ lệ cao nhất với 4,34%, tiếp theo là viêm hô hấp 3,19%, viêm họng 3,12%, đau dạ dày 2,42%, nhức đầu 2,42%, tẩy giun 2,38%, mỏi mắt 1,86%, đau nhức thần kinh và bệnh phụ khoa khoảng 1,75%, cảm sốt 1,72%, đau nhức xương khớp 1,68%, tăng huyết áp 1,68%, suy nhược cơ thể 1,65%, ho 1,61% và tiêu chảy 1,47%.

3.2.2 Lý do chọn nơi mua thuốc của người dân quận Ninh Kiều

Trong nghiên cứu kéo dài 12 tháng tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ, có 296 đối tượng tham gia với tổng số lần mua thuốc là 2.718 Phần lớn người bệnh đã lựa chọn nơi mua thuốc khi gặp bệnh, do nhiều lý do khác nhau, phản ánh rõ quan điểm và thói quen mua sắm thuốc tại khu vực này Các dữ liệu đã được trình bày rõ trong các bảng phân tích, giúp làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua thuốc của người dân Kết quả này cung cấp thông tin hữu ích để phát triển các chiến lược nâng cao an toàn và hiệu quả trong việc sử dụng thuốc tại địa phương.

Bảng 3.10: Nơi mua thuốc của người tham gia nghiên cứu

Nơi mua thuốc Tần số Tỉ lệ (%)

Kết quả nghiên cứu cho thấy, hầu hết người tham gia chọn mua thuốc tại nhà thuốc với tỷ lệ 89,9%, trong khi đó, quầy thuốc của trạm y tế phường chỉ chiếm 0,2% Các cơ sở y tế khác có tỷ lệ mua thuốc là 8,6%, các hiệu tạp hóa chiếm 0,5%, và các địa điểm mua thuốc khác chiếm tỷ lệ thấp 0,8%.

Bảng 3.11: Tỉ lệ nơi mua thuốc về sử dụng theo toa

Có toa Không toa Chung

Trong tổng số người bệnh mua thuốc tại nhà, tỷ lệ mua tại nhà thuốc chiếm gần 90%, trong đó có khoảng 18,62% mua thuốc có toa và 71,27% mua không có toa Quầy thuốc chiếm tỷ lệ rất thấp với chỉ 0,18%, tất cả đều là mua thuốc có toa Cơ sở y tế chiếm khoảng 8,58%, trong đó 7,65% mua thuốc có toa và 0,92% không có toa Hiệu tạp hóa chỉ chiếm 0,55%, mua thuốc không có toa Ngoài ra, mua thuốc tại các nơi khác chiếm 0,81%, tất cả đều mua không có toa.

Bảng 3.12: Lý do chọn nơi mua thuốc theo nhóm tuổi

Lý do chọn nơi mua thuốc theo tuổi

Nhóm tuổi trên 60 có xu hướng chọn mua thuốc gần nhà và giá rẻ, chiếm tỷ lệ lần lượt 25,28% và 1,73% Trong khi đó, nhóm từ 18-60 tuổi ưu tiên mua thuốc tại các địa điểm có cán bộ chuyên môn và phù hợp với tình trạng bệnh, với tỷ lệ lần lượt là 7,21% và 0,33% Các lý do khác để chọn nơi mua thuốc chiếm tỷ lệ rất thấp trong các nhóm tuổi này.

Bảng 3.13: Lý do chọn nơi mua thuốc sử dụng tại nhà

Lý do chọn nơi mua thuốc Tần số Tỷ lệ (%)

Có cán bộ chuyên môn 325 11,96

Hầu hết người tham gia nghiên cứu lựa chọn mua thuốc gần nhà, chiếm tỷ lệ 84,55% Lựa chọn mua thuốc tại những nơi có giá bán rẻ chỉ chiếm 1,73%, trong khi đó, mua thuốc tại các địa điểm có cán bộ có trình độ chuyên môn cao chiếm 11,96% Một số người mua thuốc theo tình trạng bệnh, chiếm 1,07%, và các lý do khác chỉ chiếm 0,3%.

Bảng 3.14: Trình độ chuyên môn của người chẩn đoán

Trình độ chuyên môn Tần số Tỉ lệ (%)

Theo khảo sát, 65,6% người bệnh tự khai bệnh và mua thuốc theo yêu cầu tại các nhà thuốc, phản ánh thói quen tự điều trị và có thể ảnh hưởng đến an toàn sức khỏe Trong khi đó, chỉ 28,21% người bệnh được bác sĩ chẩn đoán và bán thuốc tại cơ sở y tế để tự sử dụng tại nhà, còn 4,1% mua thuốc tại các nhà thuốc có dược sĩ hỗ trợ tư vấn Ngoài ra, 2,29% người bệnh được y sĩ khám và bán thuốc tại các cơ sở y tế, và chỉ 0,04% mua thuốc từ các sơ cấp y dược, thể hiện sự khác biệt rõ rệt về phương thức tiếp cận điều trị của người dân Các hoạt động mua thuốc qua các kênh khác chiếm khoảng 3,76%, phản ánh sự đa dạng trong hành vi mua sắm thuốc của người dân.

BÀN LUẬN

Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Trong nghiên cứu của chúng tôi, mẫu gồm 296 người được thực hiện tại nhà của người tham gia tại 13 phường thuộc quận Ninh Kiều, đảm bảo tỉ lệ mẫu hợp lệ và đạt 100% chỉ tiêu đề ra Trong quá trình theo dõi ghi chép thông tin về việc sử dụng thuốc tại nhà trong 12 tháng, chúng tôi đã kiểm tra lại toàn bộ số liệu và nhận thấy người tham gia đã thực hiện ghi chép đầy đủ theo yêu cầu Đối tượng nghiên cứu gồm các nhóm tuổi đa dạng, từ trẻ dưới 5 tuổi (chiếm 1,69%), đến nhóm từ 5-14 tuổi (9,8%), 15-17 tuổi (21,28%), 18-60 tuổi (36,82%), và trên 60 tuổi (30,41%), trong đó nhóm từ 18-60 tuổi chiếm đa số do phần lớn tham gia là người dân sinh sống, làm việc tại trung tâm thành phố, học sinh, sinh viên hoặc người đã về hưu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc ghi chép thông tin sử dụng thuốc.

Theo nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Thanh Hương (2006), nhóm tuổi tham gia khảo sát về thực trạng tự sử dụng thuốc và lựa chọn dịch vụ dược của hộ gia đình tại tỉnh Bình Định phân chia rõ ràng, trong đó nhóm từ 18-60 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 61,5% Trẻ dưới 6 tuổi chiếm 8,4%, còn nhóm từ 6-17 tuổi chiếm 14,3%, phản ánh rằng người trưởng thành đóng vai trò chủ đạo trong việc sử dụng thuốc và tiếp cận dịch vụ dược Đây cho thấy cần có các chiến lược hướng tới nhóm tuổi trưởng thành để nâng cao ý thức sử dụng thuốc an toàn và hiệu quả.

60 tuổi chiếm 15,9% So với kết quả nghiên cứu của chúng tôi thì nhóm tuổi từ 18-60 tuổi có tỉ lệ người tham gia nghiên cứu nhiều nhất [22]

Trong nghiên cứu tại quận Ninh Kiều, tỷ lệ nữ giới chiếm 53,1%, cao hơn so với nam giới với 46,9%, phản ánh sự cân đối về giới tính trong mẫu khảo sát Các nghiên cứu trước của Phạm Thị Thanh Hương (2006) cho thấy tỷ lệ nữ giới chiếm 55,7% và nam giới 44,3%, trong khi Trần Kim Tấn (2004) ghi nhận tỷ lệ nữ giới là 50,69% và nam giới là 45,59%, xác nhận xu hướng tỷ lệ nữ cao hơn nam trong các nghiên cứu về giới.

[22], [38] Như vậy so với kết quả nghiên cứu về đặc điểm giới tính của chúng tôi là tương đương nhau

Trình độ học vấn của người tham gia nghiên cứu đóng vai trò quan trọng trong các quyết định liên quan đến sử dụng thuốc và lựa chọn nơi mua thuốc, góp phần nâng cao công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng Theo nghiên cứu của Trần Kim Tấn (2004), tỷ lệ mù chữ trong toàn huyện là 3,77%, trong khi các trình độ học vấn từ tiểu học đến đại học trở lên đã có sự cải thiện rõ rệt so với trước, trong đó người có trình độ đại học trở lên chiếm hơn 31%, phản ánh rõ xu hướng nâng cao trình độ học vấn trong xã hội hiện nay Kết quả nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng tỷ lệ người mù chữ và học hết cấp 1 đã giảm đáng kể, chứng tỏ quá trình nâng cao trình độ học vấn của người dân đã đạt hiệu quả tích cực Ngoài ra, các yếu tố nhân khẩu như tình trạng hôn nhân cũng ảnh hưởng đến việc sử dụng thuốc, với hơn 46% người nghiên cứu chưa có gia đình và các nhóm có gia đình chiếm tỷ lệ cao, đặc biệt là các phụ nữ đã lập gia đình và có con nhỏ, cần dùng thêm thuốc bổ, thuốc tránh thai hàng ngày, từ đó cho thấy ảnh hưởng của tình trạng hôn nhân đến thói quen sử dụng thuốc tại nhà.

Trong quận Ninh Kiều, nghề nghiệp của người dân đa dạng nhưng chủ yếu tập trung vào lực lượng lao động ổn định như cán bộ cơ quan nhà nước chiếm tỷ lệ cao nhất với 25,68%, tiếp theo là những người đã nghỉ hưu (14,53%) và nhân viên làm việc trong các cơ quan tư nhân (14,19%) Các nhóm khác bao gồm học sinh, sinh viên chiếm 13,18%, trẻ em dưới 5 tuổi chiếm 1,69%, nội trợ chiếm 10,1%, người lao động tự do chiếm 7,77%, và lao động thất nghiệp chiếm 1,01% Điều này cho thấy, người dân trong độ tuổi lao động với việc làm ổn định chiếm tỷ lệ lớn, trong khi đó, số lượng người trong độ tuổi đến trường và người hưu trí, thất nghiệp chiếm tỷ lệ thấp hơn, thể hiện sự quan tâm và chăm sóc đặc biệt dành cho con em trong độ tuổi đến trường tại quận Ninh Kiều.

Theo nghiên cứu của Lê Thanh Toàn (2010), ở tỉnh Tiền Giang, tỷ lệ các nghề nghiệp của người tham gia khảo sát gồm công chức - viên chức chiếm 26,75%, nông dân chiếm 31,5%, buôn bán 22%, và các nghề khác 19,75% Kết quả cho thấy nghề nghiệp phụ thuộc vào vị trí địa lý, với dân thành phố tập trung nhiều vào các ngành nghề liên quan đến làm việc và buôn bán, đồng thời con em cán bộ, công nhân viên chức thường được quan tâm hơn về giáo dục Trong khi đó, ở nông thôn, tỷ lệ người làm công việc đồng áng cao hơn và trình độ học vấn thấp hơn so với thành phố [46]. -Khám phá giải pháp tối ưu viết và SEO bài viết với công nghệ AI tại Talkpal để tăng hiệu quả nội dung ngay hôm nay! [Learn more](https://pollinations.ai/redirect/2699274)

4.2 Tình hình sử dụng thuốc tại nhà và các lý do chọn nơi mua thuốc

4.2 1 Tình hình sử dụng thuốc tại nhà của người dân

Việc sử dụng thuốc tại nhà của người dân phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giới tính, độ tuổi, tình trạng bệnh, nơi mua thuốc và giá thuốc Trong 12 tháng qua, chúng tôi đã theo dõi 296 người trên địa bàn quận Ninh Kiều và tỷ lệ sử dụng thuốc đạt 100% Thói quen dùng thuốc tại nhà đã tồn tại từ lâu đời, khi các gia đình thường giữ sẵn các loại thuốc thiết yếu để sử dụng khi bị bệnh trong trường hợp không thể đến cơ sở y tế hoặc nhà thuốc để khám và mua thuốc điều trị.

Trong nghiên cứu của chúng tôi với 296 người dân, tổng số lần mua thuốc trong 12 tháng là 2.718 lần Trong đó, tỷ lệ mua thuốc có toa chiếm 26,45%, thể hiện sự cần thiết của việc sử dụng thuốc theo hướng dẫn của bác sĩ, còn tỷ lệ mua thuốc không có toa chiếm đến 73,55%, cho thấy thói quen tự mua thuốc và sử dụng thuốc không theo chỉ định chuyên môn vẫn phổ biến trong cộng đồng.

Dựa trên nghiên cứu của Phạm Thị Thanh Hương (2006), tỷ lệ người bệnh mua thuốc theo đơn bác sĩ chiếm 42,4%, trong khi đó mua thuốc không theo đơn chiếm 57,6% Trong khi đó, nghiên cứu của Lê Thanh Toàn (2010) tại Bình Định cho thấy tỷ lệ này là 18% mua thuốc theo đơn và 82% mua thuốc không theo đơn Các nghiên cứu này phản ánh rõ xu hướng sử dụng thuốc không kê đơn ngày càng cao trong cộng đồng, ảnh hưởng đến chất lượng điều trị và an toàn người bệnh.

(2011) tại Hồ Chí Minh thì tỉ lệ mua thuốc có toa chiếm 26,3%, mua thuốc không có toa chiếm 73,7% [42]

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ mua thuốc về nhà không có toa chiếm đến 73,5%, gấp 3 lần so với tỷ lệ mua thuốc có toa là 26,5% So với các nghiên cứu khác, tỷ lệ mua thuốc không có toa vẫn cao hơn so với mua thuốc có toa, phản ánh xu hướng tự ý mua thuốc không theo đơn của người tiêu dùng.

Từ kết quả bảng 3.7 cho thấy tỉ lệ các nhóm thuốc được người dân mua về nhà sử dụng như sau:

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ các nhóm thuốc người dân mua và sử dụng tại nhà như sau: Nhóm thuốc Hạ sốt-Giảm đau chiếm 13,72%, trong đó có toa là 3,75% và không có toa là 9,97% Nhóm thuốc Hô hấp chiếm 11,85% với 3,27% có toa và 8,57% không có toa Vitamin chiếm 9,38%, gồm 2,50% có toa và 6,88% không có toa Kháng sinh chiếm 8,98%, trong đó 2,39% có toa và 6,59% không có toa Các nhóm thuốc Hormon và nội tiết, dùng ngoài, Thần kinh, Cơ-Xương-Khớp, Tiêu hóa, Kháng viêm, Histamin, Tim mạch và nhóm khác đều có tỷ lệ phần trăm cao, phần lớn không có toa, cho thấy xu hướng tự mua và sử dụng thuốc tại nhà của người dân.

Theo nghiên cứu của tác giả Trần Kim Tấn (2004) tại Ba Vì-Hà Tây, các nhóm thuốc phổ biến được người dân sử dụng gồm thuốc hạ sốt và giảm đau chiếm tỷ lệ 24,02%, thuốc kháng sinh chiếm 21,46%, thuốc tim mạch chiếm 19,68%, thuốc tiêu hóa chiếm 19,89%, và các nhóm thuốc khác chiếm 14,95%.

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nhóm thuốc Hạ sốt-Giảm đau được người dân sử dụng nhiều nhất trong vòng 12 tháng qua, phản ánh xu hướng sử dụng thuốc phổ biến tại nhà Theo kết quả của Trần Trọng Đàm và cộng sự (2006), nhóm thuốc này chiếm tới 51,1% tổng số thuốc được sử dụng, trong đó nhóm thuốc kháng sinh chiếm 17,4%, các nhóm thuốc hô hấp 15,2%, vitamin 7,41%, dùng ngoài 6,67%, và thuốc tim mạch chỉ chiếm 2,22% Tuy nhiên, sự khác biệt về địa điểm, thời gian nghiên cứu, đối tượng và phương pháp cũng như phân loại thuốc khiến có sự khác biệt giữa các nghiên cứu, song điểm chung là thuốc hạ sốt giảm đau vẫn là nhóm thuốc được sử dụng phổ biến nhất trong cộng đồng.

Các nhóm thuốc phổ biến nhất được người dân mua về nhà sử dụng là thuốc Hạ sốt và Giảm đau Tại quận Ninh Kiều, tỷ lệ người dân sử dụng nhóm thuốc này chiếm 13,83%, trong khi theo tác giả Trần Kim Tấn, tỷ lệ này lên đến 24,02% Đáng chú ý, theo nghiên cứu của Trần Trọng Đàm và cộng sự, nhóm thuốc Hạ sốt và Giảm đau vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất, đạt 51,1%, thể hiện sự phổ biến trong thói quen sử dụng thuốc của người dân.

Kết quả bảng 3.8 cho thấy, tỉ lệ sử dụng các nhóm thuốc theo giới tính của người dân tương đương nhau, trong đó nhóm thuốc Hạ sốt và Giảm đau chiếm 13,72% với nam giới chiếm 6,77% và nữ giới 6,95% Ngoài ra, nhóm thuốc Hô hấp chiếm 11,85%, trong đó nam giới chiếm 5,74%.

Chi phí sử dụng thuốc của người dân

Sau khi thực hiện đề tài “Nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc tại nhà của người dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ năm 2013”, chúng tôi đã rút ra một số kết luận quan trọng về thói quen dùng thuốc của cộng đồng Đây là nghiên cứu cung cấp cái nhìn toàn diện về mức độ tự ý dùng thuốc, các loại thuốc phổ biến và các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng thuốc tại nhà Kết quả cho thấy việc sử dụng thuốc còn thiếu sự kiểm soát chặt chẽ, gây ra những nguy cơ tiềm ẩn về an toàn sức khỏe cộng đồng Các phát hiện của nghiên cứu hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách trong việc xây dựng các biện pháp tuyên truyền, giáo dục và kiểm soát việc sử dụng thuốc hợp lý hơn tại địa phương.

Tình hình sử dụng thuốc của người dân quận Ninh Kiều

- Tỉ lệ người bệnh dùng thuốc không toa chiếm 73,55%

- Tỉ lệ dùng thuốc của nam chiếm 48,93%, nữ chiếm 51,07%

- Tỉ lệ nhóm thuốc Hạ số-Giảm đau được người dân sử dụng tại nhà nhiều nhất, chiếm 13,72%

- Tỉ lệ thuốc được người dân sử dụng tại nhà nhiều nhất là thuốc Panadol chiếm 3,95%

- Nhóm bệnh đường Hô hấp là phổ biến nhất, chiếm 21,72%

- Bệnh cảm là bệnh chiếm tỉ lệ cao nhất 4,34%

Các lý do chọn nơi mua thuốc của người dân quận Ninh Kiều

- Người bệnh chon nơi mua thuốc tại các nhà thuốc chiếm 89,9%

- Chọn nơi mua thuốc gần nhà chiếm 84,55%

- Người bệnh tự khai bệnh và mua thuốc sử dụng chiếm 65,45%

Chi phí sử dụng thuốc tại nhà của người dân

- Chi phí trung bình 1 lần sử dụng thuốc/người theo nhóm tuổi:

- Chí phí trung bình cho 1 lần sử dụng thuốc/người là 75.539 đồng

- Chi phí trung bình sử dụng thuốc của 1 người/năm theo nhóm tuổi: + TE

Ngày đăng: 22/08/2023, 17:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Trần Trọng Đàm, Nguyễn Đỗ Nguyên, Mai Thị Thanh Thúyvà cộng sự (2006), “Sự lựa chọn thuốc của người dân qua nhận xét của các hiệu thuốc tây bán lẻ ở Quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh, năm 2004”. Tạp chí y học TP.Hồ Chí Minh, tập 10, phụ bản số 1, tr.7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự lựa chọn thuốc của người dân qua nhận xét của các hiệu thuốc tây bán lẻ ở Quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh, năm 2004”." Tạp chí y học TP.Hồ Chí Minh, tập 10
Tác giả: Trần Trọng Đàm, Nguyễn Đỗ Nguyên, Mai Thị Thanh Thúyvà cộng sự
Năm: 2006
15. Nguyễn Tiến Dẫn, Trần Trọng Dương, Nguyễn Khắc Thủy và cộng sự (2012), “Nghiên cứu mô hình bệnh tật và một số yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe cán bộ chiến sỹ công an tại K20 và C65, Bộ công an”, Tạp chí y học Việt Nam, số 1, năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu mô hình bệnh tật và một số yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe cán bộ chiến sỹ công an tại K20 và C65, Bộ công an”, "Tạp chí y học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Dẫn, Trần Trọng Dương, Nguyễn Khắc Thủy và cộng sự
Năm: 2012
16. Nguyễn Thị Lệ Dung (2006), Khảo sát hệ thống bán lẻ thuốc và dịch vụ y tế tư nhân trên địa bàn huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định, luận văn CK1-ĐHYD TP. Hồ Chí Minh, tr.10-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát hệ thống bán lẻ thuốc và dịch vụ y tế tư nhân trên địa bàn huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
Tác giả: Nguyễn Thị Lệ Dung
Năm: 2006
17. Nguyễn Hữu Đức (2005), 12 chuyên đề dược lâm sàng, Nhà xuất bản y học chi nhánh TP. Hồ Chí Minh 2005, tr.55-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 12 chuyên đề dược lâm sàng
Tác giả: Nguyễn Hữu Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản y học chi nhánh TP. Hồ Chí Minh 2005
Năm: 2005
19. Bùi Thanh Huân, Bùi Thị Thanh Thu (2010), “Nhận thức và sự lựa chọn của người tiêu dùng thành phố Đà Nẵng giữa thuốc nội và thuốc ngoại”, Tạp chí khoa học công nghệ Đà Nẵng, số 05, tr.3-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận thức và sự lựa chọn của người tiêu dùng thành phố Đà Nẵng giữa thuốc nội và thuốc ngoại”, "Tạp chí khoa học công nghệ Đà Nẵng
Tác giả: Bùi Thanh Huân, Bùi Thị Thanh Thu
Năm: 2010
20. Hoàng Thị Minh Hiền (2012), Hoạt động cung ứng thuốc tại Bệnh viện Hữu Nghị - Thực trạng và một số giải pháp, luận án tiến sĩ dược học - Đại học dược Hà Nội, năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động cung ứng thuốc tại Bệnh viện Hữu Nghị - Thực trạng và một số giải pháp
Tác giả: Hoàng Thị Minh Hiền
Năm: 2012
21. Phan Quốc Hội, Ngô Toàn Định (2010), “Thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của nhân dân và một số yếu tố ảnh hưởng đến tình hình sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại trạm y tế xã – huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh”, Tạp chí thông tin y học, năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của nhân dân và một số yếu tố ảnh hưởng đến tình hình sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại trạm y tế xã – huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh
Tác giả: Phan Quốc Hội, Ngô Toàn Định
Nhà XB: Tạp chí thông tin y học
Năm: 2010
23. Trương Phi Hùng, Bùi Đức Khánh (2005), “Nhu cầu khám chữa bệnh và sự lựa chọn dịch vụ y tế của người dân tại cộng đồng quận 12, Thành phố HCM năm 2004”, Tạp chí y học TP. Hồ Chí Minh, tập 9, phụ bản số 1, năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu khám chữa bệnh và sự lựa chọn dịch vụ y tế của người dân tại cộng đồng quận 12, Thành phố HCM năm 2004”, "Tạp chí y học TP. Hồ Chí Minh
Tác giả: Trương Phi Hùng, Bùi Đức Khánh
Năm: 2005
24. Trần Hiến Khóa, Đặng Văn Bê (2008), “Khảo sát những yếu tố tác động đến việc cấp phát thuốc tâm thần tại tuyến xã, phường giai đoạn 2011-2015”, Tạp chí y học TP. Hồ Chí Minh, tập 12, số 4, năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát những yếu tố tác động đến việc cấp phát thuốc tâm thần tại tuyến xã, phường giai đoạn 2011-2015”, "Tạp chí y học TP. Hồ Chí Minh
Tác giả: Trần Hiến Khóa, Đặng Văn Bê
Năm: 2008
25. Đỗ Thế Khánh (2008), “Khảo sát kiến thức thực hành của người cung ứng dịch vụ y tế trong sử dụng kháng sinh cho trẻ em dưới 5 tuổi”, luận văn thạc sĩ dược học-Học viện Quân y, tr.78-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khảo sát kiến thức thực hành của người cung ứng dịch vụ y tế trong sử dụng kháng sinh cho trẻ em dưới 5 tuổi”
Tác giả: Đỗ Thế Khánh
Năm: 2008
26. Lê Văn Lèo (2013), Nghiên cứu tình hình tăng huyết áp ở người cao tuổi và một số yếu tố liên quan tại Huyện Phong Điền Thành phố Cần Thơ năm 2013, Luận văn Thạc sỹ Y tế công cộng-ĐHYD Cần Thơ, tr.45-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình tăng huyết áp ở người cao tuổi và một số yếu tố liên quan tại Huyện Phong Điền Thành phố Cần Thơ năm 2013
Tác giả: Lê Văn Lèo
Năm: 2013
27. Nguyễn Thị Hiền Lương (2012), Nghiên cứu đánh giá sử dụng kháng sinh tại Bệnh viện Việt Đức giai đoạn 2009-2011, Khóa luận tốt nghiệp dược sĩ, ĐHYD Hà Nội, tr.17-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đánh giá sử dụng kháng sinh tại Bệnh viện Việt Đức giai đoạn 2009-2011", Khóa luận tốt nghiệp dược sĩ, "ĐHYD Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thị Hiền Lương
Năm: 2012
28. Phạm Đình Luyến, Đỗ Thiện Tùng (2012), “Thực trạng mạng lưới bán lẻ thuốc tại Thành phố Rạch Giá, Tỉnh Kiên Giang, từ năm 2007-2008”, Tạp chí thông tin y dược, số 9, năm 2012, tr.13-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng mạng lưới bán lẻ thuốc tại Thành phố Rạch Giá, Tỉnh Kiên Giang, từ năm 2007-2008”, "Tạp chí thông tin y dược
Tác giả: Phạm Đình Luyến, Đỗ Thiện Tùng
Năm: 2012
29. Phạm Đình Luyến, Nguyễn Ngọc Tất (2010), “Khảo sát sự lựa chọn dịch vụ y tế và thói quen sử dụng kháng sinh của các hộ gia đình thị xã Tây Ninh tỉnh Tây Ninh”, Tạp chí y học TP. Hồ Chí Minh, tập 14, số 2, năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát sự lựa chọn dịch vụ y tế và thói quen sử dụng kháng sinh của các hộ gia đình thị xã Tây Ninh tỉnh Tây Ninh”, "Tạp chí y học TP. Hồ Chí Minh
Tác giả: Phạm Đình Luyến, Nguyễn Ngọc Tất
Năm: 2010
30. Vũ Thị Tuyết Mai, Nguyễn Thị Thu Hương, Bùi Văn Chiến (2013), “Nghiên cứu thực trạng và công tác quản lý điều trị bệnh đái tháo đường tuýp 2 tại trung tâm y tế huyện Gia Lâm, Hà Nội năm 2011”, tạp chí thông tin y dược, số 4, năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng và công tác quản lý điều trị bệnh đái tháo đường tuýp 2 tại trung tâm y tế huyện Gia Lâm, Hà Nội năm 2011
Tác giả: Vũ Thị Tuyết Mai, Nguyễn Thị Thu Hương, Bùi Văn Chiến
Nhà XB: tạp chí thông tin y dược
Năm: 2013
32. Lý Văn Nhanh (2013), Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh tại bệnh viện đa khoa huyện Trà Cú tỉnh Trà Vinh năm 2011, luận văn thạc sỹ y tế công cộng, năm 2013, tr.65-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh tại bệnh viện đa khoa huyện Trà Cú tỉnh Trà Vinh năm 2011
Tác giả: Lý Văn Nhanh
Năm: 2013
33. Cao Hồng Nhung, Phương Thu, Lê Thành Đạt (2012), “Khảo sát tình hình sử dung thuốc của người dân khi mua thuốc tại hiệu thuốc tư nhân Thiên Thành, năm 2012”, Tạp chí y học TP.Hồ Chí Minh, tập 19, phụ bản số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tình hình sử dung thuốc của người dân khi mua thuốc tại hiệu thuốc tư nhân Thiên Thành, năm 2012”," Tạp chí y học TP.Hồ Chí Minh
Tác giả: Cao Hồng Nhung, Phương Thu, Lê Thành Đạt
Năm: 2012
34. Lê Hoàng Ninh, Phùng Đức Nhật, Bùi Thị Hy Hân (2010), “Nghiên cứu tình hình sử dụng dịch vụ y tế ở những nhóm thu nhập khác nhau tại Thành phố Mỹ Tho, Tỉnh Tiền Giang, năm 2009”, Tạp chí y học TP. Hồ Chí Minh, tập 14, phụ bản số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình sử dụng dịch vụ y tế ở những nhóm thu nhập khác nhau tại Thành phố Mỹ Tho, Tỉnh Tiền Giang, năm 2009”, "Tạp chí y học TP. Hồ Chí Minh
Tác giả: Lê Hoàng Ninh, Phùng Đức Nhật, Bùi Thị Hy Hân
Năm: 2010
35. Trần Thị Tuyết Phụng (2013), Nghiên cứu tình hình hoạt động và sự hài lòng của người dân mua thuốc tại các cơ sờ bán lẻ thuốc trong bệnh viện Thành phố Cần Thơ năm 2013, luận văn thạc sỹ Y tế công cộng-ĐHYD Cần Thơ, năm 2013, tr.53-65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình hoạt động và sự hài lòng của người dân mua thuốc tại các cơ sờ bán lẻ thuốc trong bệnh viện Thành phố Cần Thơ năm 2013
Tác giả: Trần Thị Tuyết Phụng
Năm: 2013
36. Nguyễn Việt Phương (2013), Khảo sát nhu cầu và khả năng chi trả cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà của người dân và khả năng đáp ứng của cán bộ trạm y tế Huyện Phong Điền Thành phố Cần Thơ năm 2012, Luận văn thạc sỹ y tế công cộng-ĐHYD Cần Thơ, tr.40-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát nhu cầu và khả năng chi trả cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà của người dân và khả năng đáp ứng của cán bộ trạm y tế Huyện Phong Điền Thành phố Cần Thơ năm 2012
Tác giả: Nguyễn Việt Phương
Năm: 2013

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1:  Nhóm tuổi của người tham gia nghiên cứu - 0587 nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc tại nhà của người dân quận ninh kiều tp cần thơ
Bảng 3.1 Nhóm tuổi của người tham gia nghiên cứu (Trang 38)
Bảng 3.4:  Tình trạng hôn nhân của người tham gia nghiên cứu - 0587 nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc tại nhà của người dân quận ninh kiều tp cần thơ
Bảng 3.4 Tình trạng hôn nhân của người tham gia nghiên cứu (Trang 39)
Bảng 3.6: Tỉ lệ mua thuốc có toa  sử dụng tại nhà - 0587 nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc tại nhà của người dân quận ninh kiều tp cần thơ
Bảng 3.6 Tỉ lệ mua thuốc có toa sử dụng tại nhà (Trang 40)
Bảng 3.5:  Nghề nghiệp của người tham gia nghiên cứu - 0587 nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc tại nhà của người dân quận ninh kiều tp cần thơ
Bảng 3.5 Nghề nghiệp của người tham gia nghiên cứu (Trang 40)
Bảng 3.7: Tỉ lệ các nhóm thuốc sử dụng theo toa - 0587 nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc tại nhà của người dân quận ninh kiều tp cần thơ
Bảng 3.7 Tỉ lệ các nhóm thuốc sử dụng theo toa (Trang 41)
Bảng 3.12:  Lý do chọn nơi mua thuốc theo nhóm tuổi - 0587 nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc tại nhà của người dân quận ninh kiều tp cần thơ
Bảng 3.12 Lý do chọn nơi mua thuốc theo nhóm tuổi (Trang 47)
Bảng 3.13: Lý do chọn nơi mua thuốc sử dụng tại nhà - 0587 nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc tại nhà của người dân quận ninh kiều tp cần thơ
Bảng 3.13 Lý do chọn nơi mua thuốc sử dụng tại nhà (Trang 48)
Bảng 3.15: Chi phí trung bình một lần sử dụng thuốc theo nhóm tuổi - 0587 nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc tại nhà của người dân quận ninh kiều tp cần thơ
Bảng 3.15 Chi phí trung bình một lần sử dụng thuốc theo nhóm tuổi (Trang 49)
Bảng 3.17: Chi phí trung bình một lần sử dụng thuốc theo nhóm bệnh - 0587 nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc tại nhà của người dân quận ninh kiều tp cần thơ
Bảng 3.17 Chi phí trung bình một lần sử dụng thuốc theo nhóm bệnh (Trang 50)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w