NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT BMI Body mass Index: Chỉ số khối cơ thể CN/CC Cân nặng/ chiều cao CB-CNV Cán bộ - công nhân viên ĐTĐ Đái tháo đường NCHS National Center for Health Statistics Trung
Trang 1NGÔ MINH PHƯỚC
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH THỪA CÂN – BÉO PHÌ Ở TRẺ EM TỪ 4 – 6 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẪU GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CÀ MAU - TỈNH CÀ MAU NĂM 2012
Chuyên ngành: Y HỌC DỰ PHÒNG
Mã số : 60 72 01 63.CK LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP I
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN TRUNG KIÊN
CẦN THƠ – 2012
Trang 2quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác
Người Cam Đoan
Ngô Minh Phước
Trang 3Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ rất to lớn và tận tình từ Qúi Thầy Qúi Cô, nhà trường, Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Cà Mau, Trung tâm Y tế Thành phố Cà Mau, các bạn đồng nghiệp và các cơ quan liên quan
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học, Khoa Y tế công cộng Trường Đại học Y Dược Cần Thơ đã quan tâm chỉ đạo, hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng, biết ơn sâu sắc tới Phó Giáo sư, Tiến sỹ Phạm Hùng Lực, người thầy đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy cho tôi kiến thức quí báu về nghiên cứu khoa học
Tôi xin trân trọng cảm ơn Phó Giáo sư, Tiến sỹ Phạm Văn Lình; Phó Giáo
sư, Tiến sỹ Phạm Thị Tâm; Phó Giáo sư, Tiến sỹ Lê Thành Tài và Quí Thầy, Quí
Cô đã tận tình giảng dạy, chỉ bảo, đóng góp nhiều ý kiến quí báu cho tôi hoàn thành luận văn Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sỹ Nguyễn Trung Kiên, người thầy đã dìu dắt, hướng dẫn tận tình, giúp tôi hoàn thành luận văn này
Tôi vô cùng cảm ơn toàn thể Lãnh đạo Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Cà Mau, tập thể khoa Dinh dưỡng và cộng đồng, Lãnh đạo Trung tâm Y tế Thành phố Cà Mau,các thầy cô các Trường Mẫu giáo ở Thành phố Cà Mau tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tôi học tập và hoàn thành luận văn
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè, và gia đình
đã giúp đỡ, động viên chia sẻ cùng tôi trong những ngày tháng học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cần Thơ, tháng 07 năm 2012
Ngô Minh Phước
Trang 4NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
BMI Body mass Index: Chỉ số khối cơ thể
CN/CC Cân nặng/ chiều cao
CB-CNV Cán bộ - công nhân viên
ĐTĐ Đái tháo đường
NCHS National Center for Health Statistics
Trung tâm thống kê sức khỏe quốc gia (Hoa Kỳ)
OR Odd Ratio: Tỷ suất chênh
SD Standard Deviation: Độ lệch chuẩn
SDD Suy dinh dưỡng
TB Trung bình
TC Thừa cân
TC - BP Thừa cân - béo phì
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
UNICEF United Nations Children's Education Fund:
Quỹ nhi đồng liên hiệp quốc VB/VM Vòng bụng/vòng mông
WHO World health Oganization: Tổ chức y tế thế giới
Trang 5MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ - 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU - 3
1.1 Sự phát triển của trẻ em lứa tuổi mẫu giáo - 3
1.2 Đại cương về thừa cân béo phì - - 3
1.2.1 Khái niệm thừa cân- béo phì - -3
1.2.2 Chản đoán thừa cân-béo phì - -6
1.2.3 Hậu quả - -7
1.2.4 Chiến lược dự phòng thừa cân-béo phì - -10
1.3 Tình hình thừa cân béo phì - - -12
1.3.1.Tỷ lệ và xu hướng TC-BP trên thế giới - - -12
1.3.2 Tình hình về thừa cân-béo phi ở Việt Nam- - -14
1.3.2.1.Thừa cân-béo phì ở trẻ em - - -14
1.3.2.2.Thừa cân-béo phì ở người trưởng thành - - - -15
1.4 Các yếu tố liên quan TC-BP - - -16
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - 20
2.1 Đối tượng nghiên cứu - 20
2.1.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu -20
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu -20
2.1.3 Tiêu chuẩn chọn vào - 20
2.1.4 Tiêu chuẩn loại trừ - 20
2.2 Phương pháp nghiên cứu -21
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu - - -21
2.2.2 Cở mẫu - - 21
2.2.3.Phương pháp chọn mẫu - - 21
2.2.4.Nội dung nghiên cứu - - -22
Trang 62.2.4.1.Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu - - 22
2.2.4.2.Tình hình thừa cân béo phì ở trẻ em- -24
2.2.4.3.Một số yếu tố liên quan TC-BP - -25
2.2.5.Phương pháp thu thập thông tin - 27
2.2.6 Phương pháp kiểm soát sai lệch - 28
2.2.7.Xử lý số liệu và phân tich số liệu - -29
2.3 Đạo đức trong nghiên cứu - 30
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU - -31
3.1 Đặc điểm chung - -31
3.2 Tình hình thừa cân trẻ nghiên cứu - -34
3.3 Các yếu tố liên quan đến TC-BP - - -35
Chương 4: BÀN LUẬN - - -45
4.1 Đặc điểm chung - - -45
4.2 Tình hình thừa cân - - -46
4.3 Các yếu tố liên quan đến tình trạng thừa cân - - 49
KẾT LUẬN - - 59
KIẾN NGHỊ - - -60
Phụ lục 1: Bộ câu hỏi -
Phụ lục 2: Danh sách điều tra - -
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng
Bảng 2.1
Nội dung của bảng
Chỉ tiêu đánh giá theo CN/CC
Trang
25 Bảng 3.1 Đặc điểm của trẻ tham gia nghiên cứu 34 Bảng 3.2 Tình trạng dinh dưỡng của trẻ theo chỉ tiêu CN/CC 34 Bảng 3.3 Tỷ lệ thừa cân chung theo phân bố theo tuổi 35 Bảng 3.4 Tỷ lệ thừa cân chung phân bố theo giới 35 Bảng 3.5 Mối liên quan giữa yếu tố di truyền với nguy cơ thừa cân 36 Bảng 3.6 Mối liên quan giữa cân nặng lúc sinh 37 Bảng 3.7 Mối liên quan giữa tiền sử nuôi dưỡng 38 Bảng 3.8 Mối liên quan giữa yếu tố XH với nguy cơ thừa cân 39 Bảng 3.9 Mối liên quan giữa yếu tố gia đình với nguy cơ thừa cân 40 Bảng 3.10 Mối liên quan giữa yếu tố kinh tế với nguy cơ thừa cân 40 Bảng 3.11 Thói quen, sở thích ăn uống 41
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa hoạt động vận động của trẻ với nguy
cơ thừa cân
43
Bảng 3.14 Mối liên quan với lối sống tĩnh tại 43 Bảng 3.15 Thời gian ngủ trong đêm của trẻ 44 Bảng 3.16 Nhận thức và quan niệm của phụ huynh 44
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu phân bổ theo giới
tính
32
Biểu đồ 3.2 Số trẻ nghiên cứu phân bổ theo tuổi 32 Biểu đồ 3.3 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu phân bổ theo dân tộc 33
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Dinh dưỡng là nền tảng của sức khỏe Sức khỏe tốt là điều kiện tiên quyết để phát triển xã hội Đối với trẻ em, dinh dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tăng trưởng, phát triển thể lực và trí tuệ cũng như ảnh hưởng đến tình hình bệnh tật của trẻ [4]
Vai trò của dinh dưỡng hợp lý để duy trì sức khỏe tốt đang ngày càng được hiểu rõ hơn Hiện nay, ở cộng đồng cùng tồn tại cả vấn đề thiếu dinh dưỡng và thừa dinh dưỡng Nhiều nước trên thế giới và trong khu vực đang phải đối mặt với tình trạng này, đó là gánh nặng kép của tình trạng dinh dưỡng [4]
Dinh dưỡng chiếm vai trò tối quan trọng để tạo nên, bảo vệ và nâng cao sức khỏe, nó ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tăng trưởng, phát triển, tình hình bệnh tật và tử vong của trẻ Ăn uống là nhu cầu của mọi sinh vật nói chung và của con người nói riêng Ăn uống là để cung cấp năng lượng cho bộ máy cơ thể hoạt động Đặc biệt là cung cấp những dưỡng chất cần thiết cho
cơ thể phát triển, chống lại bệnh tật và giữ gìn sức khỏe dài lâu Tuy nhiên nếu thiếu ăn hoặc ăn quá nhiều cũng ảnh hưởng đến sức khỏe [4]
Tình trạng dinh dưỡng gồm thừa cân- béo phì và suy dinh dưỡng là 2 thái cực của một vấn đề Trước đây khi nền kinh tế Việt Nam còn nhiều khó khăn, suy dinh dưỡng là vấn đề nghiêm trọng Ngày nay cùng với sự phát triển về kinh tế, đời sống người dân ngày càng được cải thiện, trẻ em Việt Nam ngày càng được các bậc cha mẹ quan tâm chăm sóc nhiều hơn, tỷ lệ suy dinh dưỡng ngày càng giảm Bên cạnh đó, phát sinh vấn đề mới là tình trạng trẻ em thừa cân, nó tạo nên một gánh nặng kép về dinh dưỡng mà các nhà y học và xã hội học phải đồng thời giải quyết Người ta nhận thấy cả tình trạng thừa cân và suy dinh dưỡng đều liên quan đến sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh và
tử vong [24]
Trang 10Từ năm 1995 đến nay, tỷ lệ thừa cân tăng nhanh theo thời gian và vấn đề này đã trở nên có ý nghĩa đối với sức khỏe cộng đồng, đặc biệt tại các đô thị lớn, trên thế giới và ở Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng trẻ em Tuy nhiên ở Việt Nam, các nghiên cứu phần lớn tập trung vào các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh
Tại Thành phố Cà Mau trong những năm gần đây điều kiện kinh tế phát triển, chế độ ăn uống và điều kiện sinh hoạt thay đổi Nên xu hướng thừa cân- béo phì ở các đối tượng tăng lên Nhận thức đây là vấn đề y tế công cộng mới Tuy nhiên trên địa bàn tỉnh Cà Mau vẫn chưa có nghiên cứu xác định tình trạng thừa cân- béo phì và đánh giá các yếu tố nguy cơ của thừa cân- béo phì ở lứa tuổi mẫu giáo 4-6 tuổi Qua kết quả đánh giá của các đợt điều tra dinh dưỡng hàng năm thì tỷ lệ thừa cân khá cao Nhằm tìm hiểu thực trạng tình hình dinh dưỡng, với mong muốn đánh giá tình hình thừa cân- béo phì ở trẻ
em đặc biệt trẻ em bậc mẫu giáo góp phần cung cấp những thông tin cần thiết từ đó đưa ra những khuyến nghị cho ngành y tế và phòng giáo dục Thành phố
Cà Mau thúc đẩy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tình
hình thừa cân-béo phì ở trẻ em từ 4-6 tuổi tại các trường mẫu giáo trên địa bàn thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau năm 2012” Đề tài có các mục tiêu
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ EM LỨA TUỔI MẪU GIÁO
Sự phát triển ở trẻ em có tính chất toàn diện về thể chất, tâm thần và vận động Các giai đoạn phát triển này thường được chia thành sáu thời kỳ: bào thai, sơ sinh, nhũ nhi, răng sữa, thiếu niên, dậy thì
Giai đoạn từ 1 đến 6 tuổi (thời kỳ răng sữa) được chia làm hai thời kỳ: lứa tuổi nhà trẻ từ 1-3 tuổi và mẫu giáo từ 4-6 tuổi Giai đoạn mẫu giáo có đặc điểm là tốc độ lớn của trẻ chậm dần, trẻ mất dạng mập tròn mà thon dần Về cân nặng, mỗi năm trẻ tăng trung bình 2000 gam Chiều cao lúc 4 tuổi là 1m gấp đôi so với lúc mới sinh Tổ chức não đạt mức 100% trưởng thành lúc trẻ 6 tuổi Trẻ ham thích tìm hiểu môi trường xung quanh, thích bạn bè, nói rành rẽ, biết hát, đếm số, học vẽ Trẻ điều khiển được một số động tác, trở nên khéo léo Vào cuối giai đoạn mẫu giáo trẻ bắt đầu thích ăn một số thức ăn cứng và chán thức ăn mềm Ở giai đoạn này thì trò chơi là hoạt động giúp trẻ hình
thành trí tưởng tượng, nhân cách và tư duy cho trẻ [15]
1.2 ĐẠI CƯƠNG VỀ THỪA CÂN-BÉO PHÌ
1.2.1.Khái niệm
Béo phì là sự tích tụ mỡ bất thường và quá mức tại mô mỡ và các tổ chức khác gây hậu quả xấu cho sức khỏe [41] Nguyên nhân có thể là thứ phát (nội sinh) hoặc nguyên phát (ngoại sinh) [13], [24]
Cho đến nay, khác với người lớn người ta vẫn chưa có sự nhất trí cao về định nghĩa cũng như trong việc sử dụng các ngưỡng thích hợp để phân định một đứa trẻ là béo phì hay không
Với khái niệm đơn giản được chấp nhận nhiều nhất thì thừa cân (overweight) là một tình trạng tăng quá mức trọng lượng cơ thể so với trọng
Trang 12lượng chuẩn và béo phì (obesity) là tình trạng tăng quá mức mỡ cơ thể một cách cục bộ hay toàn thể [11], [22]
Trên thực tế có thể có một số trẻ thừa cân nhưng không béo phì do sự phát triển quá mức của khối nạc và xương
Sự tương quan chặt chẽ giữa chiều cao và cân nặng trong suốt thời kỳ phát triển trẻ em cho thấy rằng chỉ số cân nặng theo chiều cao (weight for height): Cân nặng theo chiều cao có thể là một phương pháp đơn giản để nhận định độ béo gầy [13]
Một quần thể tham khảo đã được WHO khuyến nghị sử dụng trên toàn thế giới từ những năm 1970 là quần thể NCHS (National Center For Health Statistics), Trung tâm thống kê Sức khỏe quốc gia của Hoa Kỳ Trong các điều tra sàng lọc giới hạn ngưỡng để đánh giá một đứa trẻ là thừa cân khi chỉ
số cân nặng theo chiều cao lớn hơn +2SD so với quần thể tham chiếu NCHS/WHO Một Ủy ban các chuyên gia của WHO cũng đã đưa ra khuyến nghị rằng mối liên quan này thay đổi nhiều theo tuổi, có lẽ là cùng với thời kỳ dậy thì và trưởng thành Vì vậy chỉ số cân nặng theo chiều cao chỉ nên được sử dụng trong một khoảng tuổi nhất định mà thôi (<9 tuổi) Người ta cũng lưu ý rằng trong điều tra cộng đồng chỉ số cân nặng theo chiều cao cao
là đủ đánh giá béo phì, vì đa số cá thể có cân nặng theo chiều cao cao đều béo [13], [20]
Để khắc phục nhược điểm trên, TCYTTG đã khuyến nghị sử dụng chỉ số BMI là một chỉ số thực hành lâm sàng đơn giản được mô tả đầu tiên vào thế kỷ XIX bởi Quetelet Vì vậy, BMI còn được gọi là chỉ số Quetelet, là một chỉ
số kết hợp hai yếu tố cân nặng và chiều cao [13], [20]
Chỉ số BMI ở người trưởng thành gia tăng chậm theo tuổi, vì vậy ngưỡng này không phụ thuộc vào độ tuổi khi đánh giá độ béo gầy Trái lại ở trẻ em, BMI thực tế thay đổi cùng với tuổi: Gia tăng nhanh chóng ở tuổi sơ
Trang 13sinh, giảm xuống ở tuổi tiền học đường và rồi tăng trở lại suốt thời kỳ thiếu niên và giai đoạn sớm ở người trưởng thành Chính vì lý do này mà BMI chỉ nên được sử dụng ở trẻ lớn (>9 tuổi) và người trưởng thành, đánh giá chỉ số BMI ở trẻ em cần thiết phải được đánh giá cùng biểu đồ tham khảo liên quan với tuổi và giới (bách phân vị theo giới và tuổi) Bách phân vị (Percentile) là
số phần trăm của các cá thể trong nhóm mà những cá thể này đã đạt đến một mức tăng trưởng hoặc một đo lường về lượng nào đó (ứng với một cột cao 95cm) Đối với số liệu nhân trắc, các ngưỡng bách phân vị có thể được tính toán từ trung bình và độ lệch chuẩn Ở mốc 5,10,25 bách phân vị tương ứng với -1,65 SD, -1,3 SD và - 0,7 SD [11], [13], [20]
Ở trẻ em, BMI 85 bách phân vị (85th Percentile) so với quần thể tham chiếu NCHS/WHO thì được xem là thừa cân [48] và 95 bách phân vị (95th
Percentile) là béo phì Ngoài ra nếu BMI 85 bách phân vị và bề dầy nếp gấp
da > 90 bách phân vị cũng được xem là béo phì [10], [13], [20], [45], [53] Ngoài ra người ta còn sử dụng việc đo bề dầy nếp gấp da để loại trừ các trường hợp thừa cân do phát triển khối nạc Hai vị trí là nếp gấp da cơ tam đầu và góc dưới xương bả vai [13], [20] Gọi là béo phì ở một trẻ vừa có thừa cân vừa có nếp gấp da cơ tam đầu và góc dưới xương bả vai >90 bách phân
vị so với quần thể tham chiếu NCHS [13], [20]
Tỷ số vòng bụng/vòng mông (WAIST – HIP – RATIO) và vòng thắt lưng (WAIST CIRCUMFERENCE) cũng có giá trị để đánh giá sự phân bố của mỡ Hiện chưa có các “ngưỡng” quy ước với vòng bụng Người ta thấy các nguy cơ bị bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim tăng khi vòng bụng 94cm đối với nam, 80cm đối với nữ và tăng lên rõ khi các trị
số tương ứng là 102cm và 88cm [1], [7],[13] là béo phì trung tâm
Tùy theo điều kiện và mục đích trong việc đánh giá béo phì, có thể sử dụng các phương pháp khác nhau như sau:
Trang 14*Biểu đồ tăng trưởng
Là phương pháp đơn giản nhất để ước lượng béo phì ở trẻ em có thể áp dụng cho bà mẹ ngay tại gia đình để theo dõi sự phát triển thường xuyên của trẻ Tuy nhiên đường biểu diễn theo biểu đồ là đường biểu diễn cân nặng so với tuổi nên không dùng để đánh giá hay xác nhận tình trạng béo phì của trẻ, vì trẻ có thể nặng cân hơn so với độ tuổi của mình tuy nhiên cân nặng đó lại phù hợp với chiều cao của trẻ do chiều cao cũng phát triển tốt hơn so với tuổi.Vì vậy biểu đồ tăng trưởng chỉ dùng gợi ý nguy cơ béo phì ở trẻ nếu đường biểu diễn cân nặng đi dốc lên quá nhanh
* Cân nặng theo chiều cao
Thừa cân là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng “nên có” so với chiều cao (CN/CC>+2 Z-scores) so với quần thể tham chiếu NCHS
Trẻ dưới 5 tuổi chỉ tiêu CN/CC>+2 Z-scores chưa đủ để đưa ra kết luận đứa bé bị béo phì, nhưng có thể coi là một chỉ tiêu đánh giá béo phì của một quần thể
*Dựa vào chỉ khối cơ thể
Ở người trưởng thành Tổ chức y tế Thế giới khuyên dùng “chỉ số khối
cơ thể” (Body Mass Index- BMI) để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người trưởng thành
BMI = cân nặng (kg) / chiều cao (m2)
1.2.2 Chẩn đoán thừa cân béo phì
Tiêu chuẩn đánh giá:
Theo hướng dẫn của Tổ chức y tế Thế giới 1985, với trẻ dưới 9 tuổi chi tiêu đánh giá thừa cân trẻ em là cân nặng/ chiều cao (CN/CC) so sánh với quần thể tham khảo NCHS ( National center for Health Statistics) [45].Trong nghiên cứu này chọn chỉ tiêu đánh giá theo CN/CC như sau:
Trang 15< 2SD Suy dinh dưỡng Suy dinh dưỡng
- 2SD đến +2SD Bình thường Bình thường
>+2SD đến +3SD Thừa cân độ 1 Thừa cân
>+3SD đến +4SD Thừa cân độ 2 Béo phì
>+4SD Thừa cân độ 3 Béo phì
1.2.3 Hậu quả của thừa cân béo phì
Nguy cơ đầu tiên của béo phì trẻ em là tình trạng béo phì kéo dài đến tuổi trưởng thành với các hậu quả của nó Thừa cân – béo phì cũng dễ xảy ra khi béo phì lúc nhỏ và tuổi thiếu niên hoặc béo phì mức độ nặng Mặc khác thừa cân – béo phì còn làm giảm vẻ đẹp của nam nữ thanh niên [3]
Tỷ lệ mắc bệnh tăng
Hội chứng béo phì ở trẻ em và thanh thiếu niên bao gồm các vấn đề tâm lý, tăng yếu tố nguy cơ mắc bệnh tim mạch, chuyển hóa bất thường glucose, rối loạn gan mật- đường ruột, khó thở khi ngủ và biến chứng giải phẫu [20] Hầu hết các hậu quả lâu dài của trẻ em béo phì là dai dẳng cho đến thanh niên và liên quan tới tất cả các yếu tố nguy cơ cho sức khỏe Béo phì hầu như kéo dài khi nó xuất hiện muộn ở trẻ em hoặc thanh thiếu niên và khi đó béo phì đã là một bệnh nặng Thừa cân ở thanh thiếu niên cũng được chỉ rõ liên quan có ý nghĩa với tỷ lệ mắc bệnh và tử vong lâu dài [20], [26]
Ảnh hưởng tâm lý xã hội
Hậu quả chung của béo phì ở trẻ em tại các nước công nghiệp phát triển
là chức năng tâm lý xã hội kém Trẻ ở trước thời thanh thiếu niên liên quan đến hình dạng của một cơ thể thừa cân với chức năng tâm lý xã hội kém, giảm thành công trong học tập và không có một cơ thể khỏe mạnh, phù hợp cũng như là các nhược điểm [20],[26]
Thừa cân ở thanh thiếu niên cũng có thể liên quan đến vấn đề kinh tế và
Trang 16xã hội sau này Một nghiên cứu tiến hành ở Mỹ đã chỉ ra rằng phụ nữ thừa cân trong thời thanh thiếu niên và trong thời trẻ hầu hết thu nhập gia đình thấp hơn, tỷ lệ nghèo cao hơn và tỷ lệ lập gia đình thấp hơn so với phụ nữ mắc các
bệnh mạn tính khác hoặc giảm thể lực trong thời thanh thiếu niên [20], [26]
Bệnh đái tháo đường
Có mối liên quan chặt chẽ giữa đái tháo đường không phụ thuộc insulin
và béo phì Nguy cơ đái tháo đường không phụ thuộc insulin tăng lên liên tục khi BMI tăng và giảm đi khi cân nặng giảm [20], [24], [26] Những người béo
có tỷ lệ đái tháo đường tăng gấp 3,5 lần tỷ lệ chung [20], [26] Tích lũy mỡ trong ổ bụng cũng như béo phì liên quan tới tăng yếu tố nguy cơ của bệnh đái tháo đường như tăng glucose máu và kháng insulin [26]
Quan điểm của Hoa Kỳ: ĐTĐ type 2 hầu như không xảy ra ở người có BMI<22 Ở người da đỏ Pima, tỷ lệ ĐTĐ gia tăng có tính chất gia đình, khi cả cha và mẹ bị ĐTĐ thì 100% con cái bị ĐTĐ nếu chúng bị béo phì Nếu cha mẹ không bị béo phì chỉ có dưới 20% con cái béo phì bị ĐTĐ [8]
Bệnh tim mạch
Huyết áp tâm thu và tâm trương đều tăng khi chỉ số BMI tăng, người béo
có nguy cơ bị tăng huyết áp cao hơn người bình thường, nguy cơ này càng cao khi tuổi càng trẻ và thời gian càng kéo dài Tăng cân nhanh là một yếu tố liên quan đến tăng huyết áp và giảm trọng lượng sẽ có hiệu quả giảm huyết
áp Người béo phì có nguy cơ bị tăng huyết áp gấp 2,9 lần so với người không béo [20], [26]
Rối loạn lipid máu, tăng huyết áp và kháng insulin thường thấy ở trẻ em béo phì và rối loạn lipid máu xuất hiện liên quan tới tăng tích lũy mỡ trong ổ bụng [8], [20], [26]
Một nghiên cứu của Đặng Thị Diệu Hiền tại xã Hương Long, thành phố Huế cho thấy chỉ số huyết áp có liên quan với béo phì dạng nam [14]
Trang 17Rối loạn hô hấp và hen phế quản
Người ta cũng đã thấy một loạt các biến chứng khác ở trẻ béo phì bao gồm nghẽn thở khi ngủ và bệnh não Nghẽn thở khi ngủ có thể gây ra chứng thở quá chậm và thậm chí ở những trường hợp nặng có thể gây tử vong [20]
Béo phì làm tăng nguy cơ bị sỏi mật ở mọi lứa tuổi và gấp 3-4 lần, nguy
cơ này càng cao khi
30mỡ tập trung xung quanh bụng [20], [24]
Ung thư
Tỷ lệ mắc của ung thư nội mạc tử cung và ung thư vú sau mãn kinh ở nữ, ung thư tiền liệt tuyến ở nam,ung thư đại trực tràng ở cả hai giới có tương quan với mức độ béo phì Béo phì phủ tạng (VB/VM tăng) làm tăng tỷ lệ ung
thư vú sau mãn kinh độc lập mức độ béo phì theo BMI [8], [20]
Hậu quả khác
Biến chứng liên quan đến gây mê: tất cả sự gây mê ở người béo phì có một nguy cơ lớn huỷ hoại những chức năng tim mạch Cũng như những khó khăn kỹ thuật liên quan đến gây mê: tĩnh mạch dễ vỡ, đặt các catheter thường khó khăn hơn
Biến chứng da: Da người béo phì dễ bị chứng gai đen biểu hiện bằng xạm da ở nếp gấp da cổ, khuỷu tay, phía lưng các kẻ ngón tay [8], [13] Ở người béo phì còn có tình trạng ứ trệ tĩnh mạch [8]
Một nghiên cứu trên 385 đối tượng người lớn béo phì đến khám tại phòng khám béo phì Viện Y Dược học dân tộc thành phố Hồ Chí Minh từ
Trang 18tháng 10/2007 đến tháng 01/2008 cho thấy tỷ lệ hiện mắc các bệnh về da chung là 88% Tỷ lệ của từng bệnh da như sau: rạn da là 70%, dầy sừng lòng bàn chân là 30%, gai đen là 24%, u da có cuống là 18%, xạm da là 18%, viêm
kẽ là 12%, mụn trứng cá là 9,09%, dãn tĩnh mạch chân 8,83%, rậm lông là 9,09%, viêm nang lông là 7,53%, chàm thể tạng là 3,12%, dày sừng nang lông
là 3,12%, da vẩy cá là 2,6% [13]
Rối loạn nội tiết: Các nghiên cứu cho thấy ở người béo phì tế bào mỡ nhiều hơn túi mỡ Chúng cũng có chức năng như những tế bào nội tiết, sản xuất ra rất nhiều hormon bộ phận và tế bào đích đối với nhiều hormon [20], [26] Mô mỡ không những nhận các hiệu lệnh đến từ hệ thống nội tiết của cơ thể, đến từ hệ thần kinh trung ương, mô mỡ còn tiết ra các yếu tố có tính chất nội tiết quan trọng Các yếu tố này gồm: leptin, các cytokine khác, adiponectin, các thành phần của bổ thể, chất ức chế hoạt hoá plasminogen 1, các protein của hệ renin – angiotensin và resistin Mô mỡ cũng là nơi chuyển hoá chủ yếu các steroid sinh dục và glucocorticoid [8], [11]
Rối loạn lipid máu: Tăng cholesterol máu, giảm HDL (High Density Lipoprotein), tăng tỷ lệ LDL (Low Density Lipoprotein), tăng tỷ số LDL/HDL gây tăng tỷ lệ bệnh tim mạch [20], [26] Thường thấy rối loạn chuyển hóa ở hầu hết các bệnh nhân béo phì với tích lũy mỡ trong ổ bụng và thường có mối liên quan với tăng nguy cơ bệnh tim mạch [26]
Hội chứng chuyển hóa: Ở Argentina, người ta nhận thấy có sự liên quan giữa béo phì ở học sinh trung học và hội chứng chuyển hóa Tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa chung là 5,8%, 32% trong nhóm béo phì nặng, 16,4% trong nhóm thừa cân - béo phì và 0,4% trong nhóm trẻ bình thường [48]
1.2.4.Chiến lược dự phòng thừa cân-béo phì trong cộng đồng
Béo phì là một vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng trong toàn cầu và
do vậy, biện pháp tiếp cận để phòng ngừa được dựa trên việc chăm sóc sức
Trang 19khỏe cộng đồng Những chiến lược sức khỏe cộng đồng để giải quyết thừa cân, béo phì nên đặt ra mục tiêu là nâng cao kiến thức toàn dân về vấn đề ý nghĩa sức khỏe cộng đồng của thừa cân, béo phì và các biện pháp ngăn ngừa thừa cân, béo phì, cũng như việc hạn chế tiếp cận của cộng đồng với môi trường gây ra thừa cân, béo phì[9],[19], [20]
Hai giải pháp then chốt trong cộng đồng với mục tiêu ngăn ngừa TC-BP bao gồm:
- Nâng cao hoạt động thể lực
- Cải thiện chất lượng khẩu phần ăn dựa trên các thực phẩm sẵn có ở địa phương
Xây dựng chương trình can thiệp ở cộng đồng
Cho tới nay những can thiệp trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng với mục tiêu để kiểm soát thừa cân, béo phì trong cộng đồng thường dựa vào các hình thức tiếp cận như: qua các phương tiện thông tin đại chúng, tại nơi làm việc, thông qua trường học và các tài liệu giảng dạy, tập huấn qua mạng lưới của các câu lạc bộ và trung tâm của cộng đồng Các chương trình cộng đồng thường đạt tới đông đảo các đối tượng đích, do đó cung cấp được các thông tin và khuyến khích các thay đổi hành vi[9],[19], [20]
* Thứ nhất, tập trung vào các đối tượng các lứa tuổi có nhiều nguy cơ phát triển béo phì như sau:
- Trẻ có bố mẹ béo phì
- Trẻ em có vóc người bè ngang
- Phụ nữ sau đẻ
- Độ tuổi bắt đầu tăng cân Khi mới sinh, tỷ lệ béo chiếm tỷ lệ 12% cân nặng, rồi tăng dần khi đạt đỉnh cao là 25% khi trẻ đạt 6 tuổi, rồi giảm dần 15 – 18%trước tuổi dậy thì Khối mỡ tăng lên sau tuổi dậy thì ở cả nam và nữ Ở các nước phát triển, đàn ông thường tăng cân ngoài tuổi 20 hoặc 30, phụ nữ
Trang 20thường tăng cân giữa 30 hoặc 40 tuổi
* Thứ hai, đổi mới quan niệm: không phải trẻ em béo mới là khỏe Ngược lại béo phì kéo theo hàng loạt các nguy cơ về bệnh lý và tử vong
* Thứ ba, có một chế độ ăn khoa học: không ăn quá nhiều chất béo, cải thiện chất lượng chất béo, đủ lượng protein, tăng tỷ lệ thức ăn sinh nhiệt dạng glucid, ăn nhiều rau quả, đủ vitamin và các chất khoán Không uống rượu , không uống quá nhiều bia
* Thứ tư, thường xuyên luyện tập thể dục và tham gia lao động thể lực
* Thứ năm, cần thay đổi món ăn trong tuần, đa dạng hóa thức ăn hàng ngày
* Thứ sáu, duy trì cân nặng nên có, BMI từ 18,5 – 23
1.3 TÌNH HÌNH THỪA CÂN – BÉO PHÌ
1.3.1 Tỷ lệ và xu hướng thừa cân – béo phì hiện nay trên thế giới
Hiện nay số người mắc béo phì trên toàn cầu đã vượt quá 250 triệu, chiếm 7% dân số người trưởng thành trên thế giới Béo phì được biết đến như
là một vấn đề sức khoẻ cộng đồng quan trọng ở nhiều nước Đông Âu, Tây
Âu, Bắc Mỹ và Nam Mỹ (tỷ lệ béo phì ở người trưởng thành dao động từ 13% đến trên 20%) Những nước đang phát triển, TC-BP có xu hướng tăng nhanh [2]
Theo TCYTTG năm 2003, có khoảng 1 tỷ người lớn bị thừa cân và có ít nhất 300 triệu trong số đó béo phì Mức độ béo phì từ dưới 5% ở Trung Quốc, Nhật Bản và các quốc gia Châu Phi đến trên 75% ở vùng thành thị ở Samoa Nhưng thậm chí ở những nước có tỷ lệ thấp như Trung Quốc thì tỷ lệ béo phì cũng gần 20% ở một vài thành phố [56]
Trẻ em béo phì đã phát triển ở một vài vùng và tăng nhanh ở những vùng khác WHO ước tính có 17,6 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị thừa cân trên toàn thế giới Theo Hội Ngoại khoa Mỹ cho biết, tỷ lệ thừa cân trẻ em dưới 5 tuổi ở
Trang 21Mỹ tăng gấp 2 lần, vị thành niên tăng 3 lần so với năm 1980, tỷ lệ thừa cân trẻ 6-11 tuổi tăng hơn 2 lần so với năm 1960, thừa cân 12-17 tuổi nam tăng từ 5% đến 13%, nữ 5% đến 9% (1966-1970 và 1988-1991) Vấn đề này là toàn cầu và lan nhanh sang những nước đang phát triển, ví dụ như Thái Lan tỷ lệ béo phì trẻ từ 5-12 tuổi tăng từ 12,2% lên 15,6% trong 2 năm [56]
Nghiên cứu ở Đan Mạch từ năm 1995 đến 2000-2002 ở trẻ em vị thành niên (từ 4-18 tuổi), trung bình BMI gia tăng có ý nghĩa giữa năm 1995 và 2000-2002 ở các nhóm tuổi (4-6, 7-10, 11-14 và 15-18 tuổi) và giới Tỷ lệ thừa cân tăng lên có ý nghĩa từ 10,9% lên 14,4% giữa năm 1995 đến năm
2000 – 2002 [50]
Ở Mỹ, từ năm 1988 đến 1991, tỷ lệ thừa cân ở trẻ em và trẻ vị thành niên
là 22% và béo phì là 10,9% Tăng khá từ 1976 đến 1980, tương tự như những báo cáo trước đây ở người trưởng thành [52]
Theo kết quả nghiên cứu của Anthea M Magarey trên trẻ em và vị thành niên năm 1985, tỷ lệ thừa cân là 9,3% ở nam và 10,6% ở nữ, tỷ lệ béo phì là 1,4% nam và 1,2% nữ Trên mẫu năm 1995, 15% nam và 15,8% nữ bị thừa cân và hơn 4,5% nam và 5,3% nữ bị béo phì [43]
Ở Đức, tỷ lệ thừa cân và béo phì từ 9,4% và 3,1% ở trẻ nam 5 tuổi, 10%
và 2,9% ở trẻ nam 6 tuổi, 12,2% và 3,3% ở trẻ gái 5 tuổi và 12,4% và 3,3% ở trẻ gái 6 tuổi Tỷ lệ thừa cân/béo phì gia tăng ở cả hai giới từ 8,5%/1,8% trong năm 1982 lên 12,3%/2,85% trong năm 1997 [47]
Xu hướng thừa cân và béo phì có vẻ đối lập nhau ở các nước phát triển
và đang phát triển, ở các nước phát triển tỷ lệ thừa cân cao lại gặp ở tầng lớp nghèo và ngược lại ở các nước đang phát triển thừa cân và béo phì có xu hướng gặp ở tầng lớp giàu có hơn Như ở Trung Quốc, từ 1992-2002 ước đoán có thêm 70 triệu người thừa cân và 30 triệu người béo phì Tỷ lệ thừa cân chung ở lứa tuổi từ 0-6 tuổi là 31,7%, 7-17 tuổi là 17,9%, 18-44 tuổi là
Trang 2266,7 %, 45-59 tuổi là 45,2% và trên 60 tuổi là 43,7% Thừa cân , béo phì ở nữ
6 tuổi cao hơn nam, trong khi ở nhóm tuổi khác nam cao hơn nữ, vùng nông thôn, thừa cân béo phì thấp hơn thành thị [49]
Trong khi đó ở Algieri, từ năm 2001 đến năm 2006, tỷ lệ thừa cân – béo phì tăng từ 6,8% lên 9,5% [51]
Một nghiên cứu ở Argentina cho thấy 16,5% trẻ thừa cân và 16,4% trẻ béo phì, trong đó có 2,5% béo phì nặng [49] Ngược lại, theo số liệu nghiên cứu sức khỏe gia đình quốc gia Ấn Độ chỉ ra rằng tình hình thừa cân ở phụ nữ
và trẻ em trước tuổi đến trường không tăng nhiều trong gần 10 năm: 10,06%
và 1,6% trong năm 1990-1999 lên 12,6% và 1,5% trong năm 2005-2006 [55]
1.3.2 Tình hình thừa cân và béo phì ở Việt Nam
1.3.2.1.Thừa cân và béo phì ở trẻ em
Một số nghiên cứu gần đây cho thấy tình trạng thừa cân và béo phì ở trẻ
em xuất hiện và đang tăng nhanh, trẻ em nuôi nhân tạo hay béo phì hơn trẻ nuôi bằng sữa mẹ Nhiều bà mẹ quá quan tâm bồi dưỡng cho con, nghĩ rằng
ăn càng nhiều chất bổ càng tốt, càng lớn nhanh, càng nặng cân càng tốt
Ở nước ta, các cuộc điều tra dịch tễ học trước năm 1995 cho thấy tỷ lệ thừa cân không đáng kể, béo phì hầu như không có Từ năm 1995, liên tục có các thông báo về thừa cân và béo phì ở trẻ em
Theo số liệu của Viện Dinh dưỡng cho thấy tỷ lệ thừa cân trẻ em dưới 5 tuổi năm 1995 là 0,5% [12] Tại thành phố Hồ Chí Minh qua các đợt điều tra thì tỷ lệ thừa cân – béo phì tăng dần năm 1996 - 2002 tỷ lệ thừa cân trẻ em dưới 5 tuổi năm 1996 là 2%, năm 2001 là 3,3% [30], năm 2002 là 5,8% [41] Còn theo kết quả điều tra của mốt số tác giả tại Thành phố Hà Nội tỷ lệ thừa cân – béo phì tăng dần qua các năm như: Năm 2002 trẻ 4-6 tuổi thừa cân ở nội thành Thành phố Hà Nội là 4,9% [33], [34]; béo phì là 3,1% [32] Đối với điều tra của các tỉnh thi xu hướng thừa cân – béo phì cũng gia
Trang 23tăng cụ thể: Nguyễn Thìn điều tra tại Nha Trang năm 1997, trẻ thừa cân ở tuổi mẫu giáo là 4,29% [38]; của Phan Thị Bích Ngọc, tỷ lệ thừa cân – béo phì ở học sinh tiểu học tại thành phố Huế là 7,98%, trong đó béo phì là 1,51% [31]
và năm 2009 nghiên cứu của Trương Thanh trên học sinh tiểu học ở thành phố Vũng Tàu, tỷ lệ thừa cân – béo phì ở trẻ 6-11 tuổi là 9,9% [37]
1.3.2.2.Thừa cân và béo phì ở người trưởng thành Việt Nam
Trước năm 1995, tỷ lệ thừa cân ở nước ta không đáng kể, béo phì gần như không có Từ đó đến nay, tình trạng thừa cân béo phì có khuynh hướng gia tăng ở cả trẻ em, người lớn, đặc biệt là khu vực thành phố lớn Tỷ lệ thừa cân béo phì ở thành phố cao gấp 3-4 lần ở nông thôn, lứa tuổi học sinh tiểu học (6-12 tuổi) và người trưởng thành trung niên cao hơn cả Ở các thành phố
Hà Nội, Hải Phòng, Hồ Chí Minh, tỷ lệ này đã chung quanh 10-20% và đang trở thành vấn đề sức khỏe cộng đồng đáng quan tâm [4]
Năm 2000, tỷ lệ thừa cân ở nữ từ 45-49 tuổi ở khu vực thành phố trong toàn quốc là 19,5% trong khi ở nông thôn là khoảng 6,2% Theo kết quả điều tra y tế quốc gia (2001-2002), tỷ lệ thừa cân ở nam trưởng thành là 10,1% và ở nữ là 13,2% Có 1,8% số người tuổi 20–24 bị thừa cân và tăng dần đến tuổi
54, tỷ lệ cao nhất ở nhóm tuổi 45-49 và thấp nhất ở nhóm tuổi 20-24 [2], [4] Điều tra năm 2002 của Viện Dinh Dưỡng cũng cho thấy tỷ lệ thừa cân- béo phì đang tăng nhanh và trên các đối tượng thừa cân–béo phì có sự thay đổi bất lợi về các chỉ số sinh hóa như tăng lipid máu toàn phần, tăng cholesterol và cholesterol chuỗi nhẹ ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ [4]
Cuộc tổng điều tra thừa cân, béo phì năm 2005 do Viện Dinh Dưỡng tiến hành cho thấy, nếu lấy ngưỡng BMI ≥ 23(kg/m2) thì tính chung toàn quốc thừa cân, béo phì là 16,3% Nếu lấy ngưỡng BMI ≥ 25(kg/m2) thì tỷ lệ xung quanh 7%, trong đó nhóm tuổi 45-54 là 9% [22]
Theo Trần Đức Thọ, tỷ lệ béo phì ở người trưởng thành ở Phương Mai
Trang 24Hà Nội, Phú Xuân Huế và Hòa Long Bà Rịa-Vũng Tàu là 7,8%, nam (6,7%),
nữ (8,6%) Tỷ lệ thừa cân là 10,5%, nam (12,5%), cao hơn nữ (9,2%) [39] Nghiên cứu của TQ Cuong, tỷ lệ thừa cân ở người trưởng thành tại thành phố Hồ Chí Minh là 20,4%, tỷ lệ thừa cân ở nữ (22%) cao hơn không đáng kể
so với nam (18,9%) [56]
Như vậy, thừa cân – béo phì đang có xu hướng tăng nhanh và trở thành một vấn đề sức khỏe cộng đồng ở Việt Nam Đây là dấu hiệu cảnh báo quan
trọng đối với một số bệnh mạn tính không lây nhiễm trên cộng đồng [4]
1.4 CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN THỪA CÂN – BÉO PHÌ
và thèm ăn, leptin ức chế thèm ăn ở trung ương còn insulin thúc đẩy sự tạo thành mô mỡ [32] Theo Mayer (1995) thì nếu cả bố lẫn mẹ đều béo phì thì có 80% con họ sẽ béo phì, Nếu một trong hai người có béo phì thì 40% con của họ sẽ có béo phì Ngược lại, nếu cả bố và mẹ bình thường thì khả năng các con bị béo phì chỉ chiếm 7% [20], [26]
1.4.2 Yếu tố môi trường
*Lối sống tĩnh tại làm giảm hoạt động thể lực
Trang 25Cùng với yếu tố ăn uống, sự gia tăng tỉ lệ béo phì đi song song với sự giảm hoạt động thể lực trong một lối sống tĩnh tại hơn, thời gian dành cho xem tivi, đọc báo, làm việc bằng máy tính, nói chuyện qua điện thoại, lái xe,
ăn uống cao hơn Kiểu sống tĩnh tại có vai trò quan trọng trong béo phì Những người hoạt động thể lực nhiều thường ăn thức ăn giàu năng lượng, khi họ thay đổi lối sống, hoạt động nhưng vẫn giữ thói quen ăn nhiều cho nên bị béo [26]
*Khẩu phần ăn và tập quán dinh dưỡng
Như chúng ta đã biết, năng lượng dự trữ trong cơ thể là hiệu số của năng lượng ăn vào và năng lượng tiêu hao Cân bằng năng lượng dương tính xảy ra khi năng lượng ăn vào nhiều hơn năng lượng tiêu hao gây tăng dự trữ năng lượng và tăng cân Cân bằng năng lượng âm tính xảy ra khi năng lượng ăn vào ít hơn năng lượng tiêu hao, nó làm giảm dự trữ năng lượng và giảm cân Như vậy chỉ khi có cân bằng năng lượng dương tính xảy ra thì mới có khả năng phát triển thành béo phì, tức là năng lượng đưa vào cơ thể qua thức ăn, thức uống được hấp thu và dự trữ dưới dạng mỡ nhiều hơn là được oxy hóa để tạo thành nhiệt lượng Do đó người béo phì cần hạn chế bớt thức ăn giàu năng lượng như chất béo, chất ngọt và cần tăng hoạt động thể lực để tăng cường sử dụng năng lượng Không ăn quá mức cần thiết [26]
Chế độ ăn giàu lipid hoặc đậm độ nhiệt cao có liên quan chặt chẽ với sự gia tăng của tỷ lệ béo phì Các thức ăn giàu chất béo thường ngon nên người
ta ăn quá nhiều mà không biết Khi vào cơ thể, các chất lipid, protid, glucid đều có thể chuyển thành chất béo dự trữ Vì vậy không thể coi việc ăn nhiều thịt, mỡ mới gây béo mà ăn quá nhiều chất bột, đường và đồ ngọt đều có thể
gây béo phì [26]
*Yếu tố xem vô tuyến truyền hình
Việc tiếp thị quá nhiều thức ăn chế biến sẵn và các thực phẩm – đồ uống
Trang 26giàu năng lượng nhưng nghèo vi chất dinh dưỡng, quảng cáo mạnh mẽ các loại thực phẩm, đồ uống, đặc biệt là trên vô tuyến truyền hình có ảnh hưởng trực tiếp đến sự ưa thích và chọn lựa thức ăn của trẻ[51]
Nghiên cứu ở Mỹ cho thấy 47,3% trẻ từ 2-15 tuổi béo phì ngồi trước màn hình ti vi, máy vi tính ≥ 2 giờ mỗi ngày [51] Người ta nhận thấy ở Anh, trẻ gái thừa cân sử dụng internet từ 1 giờ trở lên /ngày trong suốt tuần nhiều hơn trẻ gái bình thường [46]
* Các yếu tố kinh tế, văn hóa và xã hội
Ở các nước đang phát triển, tỷ lệ người béo phì ở tầng lớp nghèo thường thấp (thiếu ăn, lao động chân tay nặng, phương tiện đi lại khó khăn) và béo phì như là một đặc điểm của sự giàu có Ở các nước phát triển, khi thiếu ăn không còn phổ biến nữa thì tỷ lệ béo phì lại thường cao ở tầng lớp nghèo, ít học so với các tầng lớp trên [26]
* Ngủ ít
Yếu tố này cũng được xem như là một nguy cơ cao ở trẻ thừa cân dưới
5 tuổi Nguyên nhân chưa rõ, nhưng một số tác giả cho rằng kiểu sống gia đình thiếu điều độ từ ngủ tới ăn hoặc do thiếu hoạt động thể lực tạo ra những sóng thấp trên điện não khi ngủ cũng có thể do hoạt động tiêu mỡ của cơ thể
là tối đa về ban đêm và sự ngủ ít làm giảm tiêu mỡ nói chung [26]
*Cân nặng của trẻ lúc sinh, thời gian cai sữa, thời gian bú mẹ hoàn toàn
Đã có vài nghiên cứu chứng minh có sự liên quan giữa cân nặng lúc sinh và béo phì Lê Quang Hưng nhận thấy cân nặng lúc sinh của trẻ béo phì cao hơn nhóm bình thường có ý nghĩa [18]; nghiên cứu của Lê Thị Thúy Loan năm 2002-2003 tại thành phố Cần Thơ cho thấy sơ sinh cân nặng trên 4000g có nguy cơ mắc béo phì gấp 3 lần so với trẻ có cân nặng lúc đẻ ≤ 3500 gram [29] và nghiên cứu của Trần Thị Hồng Loan ở thành phố Hồ Chí Minh, trẻ có cân nặng lúc sinh ≥ 4 kg là yếu tố nguy cơ có liên quan đến tình trạng
Trang 27thừa cân [28]
Cân nặng lúc sinh lớn có liên quan đến sự xuất hiện béo phì sau đó; đặc biệt là béo phì xuất hiện sớm, loại béo phì này thường khó điều trị và nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao [29]
Trẻ được nuôi bằng sữa bò có nguy cơ thừa cân béo phì cao hơn trẻ bú mẹ vì thức ăn nhân tạo giàu protein và muối hơn, làm tăng áp lực thẩm thấu,gây cảm giác khát, kích thích trẻ ăn, uống nhiều hơn
Sữa mẹ là nguồn thức ăn tốt nhất cho mọi trẻ sơ sinh, trẻ được nuôi dưỡng hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 4-6 tháng đầu sẽ phát triển tốt về thể lực
và trí tuệ vì trong sữa mẹ có đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho nhu cầu phát triển của trẻ Vì vậy, ngay từ lúc có thai, người mẹ phải được ăn uống, nghỉ ngơi hợp lý để có đủ sữa nuôi con sau khi sinh Cho trẻ bú mẹ ngay sau khi sinh, bú đúng phương pháp; người mẹ được ăn uống tốt, tinh thần thoải mái tạo điều kiện cho mẹ đủ sữa nuôi con [24], [25]
Đối với trẻ dưới 6 tháng tuổi, áp dụng khuyến nghị của WHO/UNICEF
2005, cần phải cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn, đồng thời đưa thêm mức nhu cầu protein cho trẻ đang bú mẹ [5]
Sữa mẹ có nhiều albumin hơn nên gọi là sữa albumin Sữa mẹ tuy có hàm lượng protein không bằng sữa động vật, nhưng khả năng tiêu hóa và hấp thu lại cao hơn [40]
Trang 28Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 01 đến tháng 6 năm 2012 Tại các
trường mẫu giáo trên địa bàn thành phố Cà Mau tỉnh Cà Mau
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu:
Những trẻ từ 4-6 tuổi đang theo học tại các trường mẫu giáo trên địa bàn Tp Cà Mau, thuộc tỉnh Cà Mau
Những mẹ có con hoặc người nuôi dưỡng trực tiếp được chọn vào mẫu
nghiên cứu
2.1.3 Tiêu chuẩn chọn vào
Những trẻ từ 4-6 tuổi đang theo học tại các trường mẫu giáo trên địa bàn Tp Cà Mau, thuộc tỉnh Cà Mau
Những bà mẹ hoặc người nuôi dưỡng trực tiếp các trẻ được chọn vào
mẫu nghiên cứu
2.1.4 Tiêu chuẩn loại trừ
- Trẻ vắng mặt trong lần điều tra được thực hiện tại trường
- Trẻ không thu thập được các chỉ số nhân trắc (gù, vẹo cột sống, mất chi)
- Những trẻ mắc các bệnh làm tăng trọng lượng cơ thể như (hội chứng thận hư, xơ gan cổ chướng, hội chứng Cushing), hoặc các bệnh mạn tính khác được chẩn đoán của của Bệnh viện
- Trẻ > 6 tuổi tính đến ngày điều tra
Trang 29-Các bà mẹ hoặc người nuôi dưỡng trực tiếp đang bị bệnh cấp tính hoặc không thể giao tiếp được (câm, điếc,tâm thần)
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang
d
p p Z
−
Trong đó:
n: Cỡ mẫu nhỏ nhất hợp lý
α: Xác suất sai lầm loại I, chọn trị số α là 0,05 do đó có trị số Z là 1,96 d: Sai số cho phép, chọn sai số là 0,05
p là tỉ lệ thừa cân-béo phì ở trẻ 4-6 tuổi Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Trạng (2009) [36] thì tỉ lệ này là 11,17%, nên chúng tôi chọn p=11,17%
Dự trù mất mẫu là 10% Và hệ số thiết kế là 2
Cở mẫu n = 150 x 2 x 10%, ta có khoảng 330 trẻ Trong thực tế chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu trên 340 trẻ và 340 mẹ hoặc người nuôi dưỡng trực tiếp trẻ
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên nhiều giai đoạn
- Giai đoạn 1 : Chọn trường
Lập danh sách các trường trong thành phố Cà Mau
Trang 30Trong thành phố Cà Mau hiện có 10 trường mẫu giáo Ta tiến hành làm thăm từ 1 đến 10 và bốc thăm ngẫu nhiên chọn ra 5 trường Như vậy mỗi trường chọn 66 trẻ Cụ thể chúng tôi đã chọn các trường mẫu giáo: Hoa Hồng, Hương Tràm, Bông Hồng, Sơn Ca, Hương Sen
- Giai đoạn 2 : Chọn lớp
Lập danh sách lớp : Lập danh sách hết các lớp mầm, chồi, lá của các trường đã chọn trên
Mỗi khối ( Mầm, chồi, lá ) Chúng tôi tiến hành làm thăm và bốc thăm ngẫu nhiên chọn ra 2 lớp của mỗi khối Như vậy mỗi khối lớp mầm, khối lớp chồi, khối lớp lá của 01 trường chọn 22 trẻ
- Giai đoạn 3 : Chọn trẻ
Lập danh sách trẻ 2 lớp của từng khối của 01 trường đã chọn Mỗi lớp chọn ngẫu nhiên 11 trẻ
Chọn phụ huynh là các mẹ hoặc người nuôi dưỡng trực tiếp có con được chọn trên
2.2.4 Nội dung nghiên cứu
2.2.4.1.Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
-Đặc điểm chung của trẻ
+Giới tính trẻ : Chia làm hai nhóm nam và nữ
+ Tuổi của trẻ : trẻ theo học ba khối lớp mầm, chồi, lá tương ứng với các nhóm tuổi :
Nhóm 4 tuổi : 36 – 47 tháng tuổi
Nhóm 5 tuổi : 48 – 59 tháng tuổi
Trang 31Nhóm 6 tuổi : 60 – 71 tháng tuổi
Cách tính tuổi:
Chúng tôi sử dụng cách tính tuổi theo quy ước của TCYTTG 1993 hiện đang được dùng trong các tài liệu của các nước và ở nước ta Đó là cách tính tuổi quy về tháng và năm gần nhất
Tính tuổi theo năm : Qui ước như sau :
Từ sơ sinh đến trước ngày đầy năm (tức là năm thứ nhất) gọi là 0 tuổi hay dưới một tuổi
Từ ngày tròn một năm đến trước ngày sinh nhật lần thứ hai (tức là năm thứ hai) gọi là một tuổi
Tóm lại, kể từ ngày sinh nhật thứ bao nhiêu thì trẻ bắt đầu bấy nhiêu tuổi (tính theo năm) Theo cách tính này thì một trẻ được tính là 5 tuổi khi trẻ tròn 5 năm đến 5 năm 11 tháng 29 ngày
+ Dân tộc chia 3 nhóm: kinh, hoa, khác
+ Cân nặng lúc sinh : dưới 2500g, trên 2500g – 4000g, >4000g
+ Cân nặng và chiều cao của trẻ tại thời điểm khảo sát
+ Cân nặng : tính bằng kg, lấy tới 01 số lẽ
+ Chiều cao : tính bằng cm lấy tới 01 số lẽ
+ Thừa cân- béo phì :
Không TC-BP: khi tình trạng dinh dưỡng trẻ được đánh giá là bình thường
Có TC-BP: khi tình trạng dinh dưỡng trẻ được đánh giá là TC-BP
- Đặc điểm về gia đình
Trang 32+ Trình độ học vấn của cha mẹ: Nhóm 1≤ Trung học cơ sở, nhóm 2 > Trung học cơ sở
+ Đặc điểm công việc của cha, mẹ:
Lao động khác: Thời gian làm việc không ổn định bao gồm các công việc tại nhà hoặc các việc làm theo ca, theo mùa vụ
CB-CNV và buôn bán: Làm việc bên ngoài theo giờ hành chính: thời gian làm việc chủ yếu từ 7giờ sáng đến 5giờ chiều
+ Tình trạng dinh dưỡng của cha: BMI = CN/CC2, thừa cân BMI ≥25
+ Tình trạng dinh dưỡng của mẹ: BMI = CN/CC2, thừa cân BMI ≥25 + Tình trạng béo phì của anh, chị, em ruột: có hoặc không
+ Số con trong gia đình: ghi cụ thể số con
+ Sân chơi đùa cho trẻ: Có hoặc không
+ Các thế hệ sống chung gia đình: Ông (bà) nội, Ông (bà) ngoại: có hoặc không
+ Ông (bà) cho ăn quà vặt: có hoặc không
+ Thu nhập của hộ gia đình :
Nghèo: Thu nhập bình quân dưới 900.000đ /người/tháng
Trung bình: nhập từ ≥ 900.000 - 3.000.000đ /người/tháng
Khá, giàu: > 3 triệu/người/tháng
Trang 332.2.4.2 Tình hình thừa cân béo phì ở trẻ 4-6 tuổi
Tiêu chuẩn đánh giá:
Theo hướng dẫn của Tổ chức y tế Thế giới 1985, với trẻ dưới 9 tuổi chi tiêu đánh giá thừa cân trẻ em là cân nặng/ chiều cao (CN/CC) so sánh với quần thể tham khảo NCHS ( National center for Health Statistics) [45].Trong nghiên cứu này chọn chỉ tiêu đánh giá theo CN/CC như sau:
Bảng 2.1 Chỉ tiêu đánh giá theo CN/CC
SD Tình trạng dinh dưỡng Tình trạng dinh dưỡng
- 2SD đến +2SD Bình thường Bình thường
>+2SD đến +3SD Thừa cân độ 1 Thừa cân
>+3SD đến +4SD Thừa cân độ 2 Béo phì
>+4SD Thừa cân độ 3 Béo phì
2.2.4.3 Một số yếu tố liên quan thừa cân-béo phì
- Liên quan giữa đặc điểm chung của trẻ với tình trạng thừa cân-béo phì: Tuổi,giới,dân tộc,cân nặng lúc sinh
- Liên quan giữa đặc điểm gia đình của trẻ với tình trạng thừa cân-béo phì
- Liên quan giữa thực hành nuôi dưỡng trẻ với tình trạng thừa cân-béo phì + Bú sữa của trẻ :
Trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu
Được bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu
Trang 34Trẻ được nuôi bằng sữa công thức hoàn toàn trong 6 tháng đầu
Trẻ được nuôi bằng sữa mẹ và sữa công thức trong 6 tháng đầu
+ Thói quen ăn uống của trẻ: Ăn nhanh, ăn nhiều, ăn chậm, ăn bình thường, ăn ít
+ Ăn bữa phụ trước khi ngủ: có hoặc không
+ Thói quen ăn thức ăn béo: có hoặc không
+ Thói quen ăn thức ăn ngọt: có hoặc không
+ Ăn quà khi ở nhà và đến trường: có hoặc không
+ Đói bụng thường xuyên: có hoặc không
- Liên quan giữa hoạt động của trẻ với tinh trạng thừa cân-béo phì
+ Phương tiện đi học của trẻ: Chở bằng xe, Dắt đi bộ
+ Thời gian trẻ tham gia các hoạt động tĩnh tại (xem tivi,chơi game, đọc sách ): tính bằng phút
Trang 35- Liên quan giữa kiến thức về thừa cân-béo phì của mẹ hoặc người nuôi
dưỡng trực tiếp với tình trạng thừa cân béo phì của trẻ
Kiến thức của mẹ về dinh dưỡng của trẻ: đúng/không đúng
Đúng: bà mẹ hoặc người nuôi dưỡng nêu được cách phòng ngừa TC-BP gồm: ăn uống hợp lý, tăng vận động, đi tư vấn sức khỏe; nêu được những nguy hại của TC-BP gồm: bệnh tim mạch,cao huyết áp, sỏi mật, chậm chạp…
2.2.5 Phương pháp thu thập thông tin
Các bước thu thập thông tin:
- Chọn trẻ nghiên cứu
- Đến trường cân, đo trẻ đánh giá tình trạng thừa cân-béo phì
- Đến nhà thu thập thông tin bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp đối tượng điều tra dựa trên bộ câu hỏi soạn trước và điều tra viên quan sát trực tiếp tại nhà Thời gian phỏng vấn trung bình 15-20 phút cho một hộ
- Phương tiện:
Bộ câu hỏi (phụ lục),cân đo: cân nặng, trẻ được cân bằng điện tử OMRON (Japan độ chính xác 200g); chiều cao được đo bằng thước đứng Microstoise của Mỹ do Viện Dinh dưỡng Hà Nội tài trợ dùng giám sát dinh dưỡng, độ chính xác đến 0,1cm
*Kỹ thuật thu thập số liệu
- Chuẩn bị đối tượng: đo các thông số nhân trắc vào buổi sáng lúc trẻ nhịn ăn sáng và đã đi vệ sinh, mặc quần áo gọn nhất, không để các vận dụng trong túi, không đội nón, khăn, không mang dép, guốc, không cầm bất cứ vật
Trang 36gì Các thông số đều được đo hai lần, lấy trung bình và ghi vào phiếu nghiên cứu
- Kỹ thuật đo:
+ Đo chiều cao: trẻ đứng thẳng với tư thế thoải mái, nhìn về phía trước theo một đường thẳng nằm ngang, hai tay bỏ thõng hai bên mình, hai chân chụm lại hình chữ V Gót chân, bắp chân, vai và đầu theo một đường thẳng đứng áp sát vào thước Dùng thước đo vuông góc áp sát đỉnh đầu Đọc kết quả và ghi số centimet với một số lẻ ví dụ: 102,3 cm Đơn vị biểu thị chiều cao (H): cm [6], [21]
+ Cân nặng: trẻ đứng ở tư thế giống như khi đo chiều cao, giữa bàn cân, không cử động, mắt nhìn thẳng, trọng lượng phân bố đều trên hai chân Đọc kết quả khi kim đồng hồ đã đứng yên Ghi kết quả bằng kilogram (kg) với một số lẻ [6], [21]
2.2.6 Phương pháp kiểm soát sai lệch
2.2.6.1 Sai lệch thông tin của điều tra viên
+ Tập huấn chi tiết thật kỹ lưởng, thống nhất về nội dung điều tra, kỹ thuật chọn ấp, chọn nhà ngẫu nhiên cho các điều tra viên và giám sát viên
+ Tổ chức điều tra thử 10 trẻ và phụ huynh của trẻ để rút kinh nghiệm sau khi tập huấn Sau điều tra thử sẽ hiệu chỉnh lại bộ câu hỏi trước khi in chính thức
2.2.6.2 Sai lệch thông tin của đối tượng nghiên cứu
-Chỉ chọn và phỏng vấn từ đầu đến cuối 1 người trong hộ
- Bố trí các giám sát viên kiểm tra 50% hoạt động của các điều tra viên trong quá trình điều tra
Trang 372.2.6.3 Hạn chế các sai lệch chọn lựa
- Định nghĩa rõ ràng đối tượng cần khảo sát căn cứ tiêu chí đưa vào và tiêu chí loại ra Để khắc phục sai lệch chọn lựa có thể xảy ra với những đối tượng vắng mặt trong khi thu thập dữ kiện, tất cả những đối tượng nghiên cứu đều được phỏng vấn, có nghĩa là nếu một đối tượng vắng mặt lúc phỏng vấn
sẽ được hẹn để phỏng vấn vào ngày hôm sau
- Cán bộ điều tra được tập huấn kỹ lưỡng, chi tiết từng nội dung, yêu cầu cần thu thập và kèm theo cẩm nang hướng dẫn cho người phỏng vấn, đặc biệt chọn thời gian thích hợp để điều tra
- Kiểm tra tính hoàn tất của từng bộ câu hỏi ngay sau khi phỏng vấn
- Chất lượng thông tin được kiểm soát bởi các giám sát viên
2.2.7 Xử lý số liệu và phân tích số liệu
* Làm sạch số liệu
Sai lệch thông tin do sai lệch từ 2 nguồn: từ người đi phỏng vấn và người được phỏng vấn
Khắc phục sai lệch bằng cách:
- Được tập huấn kỹ về kỹ năng giao tiếp và cách khai thác nội dung câu
hỏi và điều tra thử
- Khi điều tra, nơi phỏng vấn phải:
Đảm bảo tính riêng tư, không bị quấy rầy trong thời gian phỏng vấn Người được phỏng vấn cảm thấy thoải mái, dễ chịu tại thời điểm đó Đảm bảo không có sự can thiệp của các cơ quan chức năng trong thời gian phỏng vấn
Trang 38Có đủ thời gian phỏng vấn để điền đầy đủ các câu hỏi
- Sau mỗi buổi đi điều tra về, xem xét và loại bỏ những bộ câu hỏi ghi thiếu
- Người được phỏng vấn:
- Câu hỏi được thiết kế đúng mục tiêu, rõ ràng, cho phép thu thập được những thông tin cần thiết, ngắn gọn, đơn giản, hợp lý, dễ hiểu, dễ trả lời
- Người phỏng vấn cần cởi mở, thân thiện dễ gần gũi để tạo cảm giác an tâm, không có nghi vấn gì trong khi người được phỏng vấn trả lời câu hỏi
* Cách mã hóa
Nhập vào máy , các câu trả lời được mã hóa bằng số
*Xử lý số liệu
- Nhập số liệu bằng phần mềm Epi-Data 3.1
- Phân tích bằng phần mềm Stata 8.0
*Phân tích số liệu:
- Thống kê mô tả: Dùng bảng phân phối tần suất, tỉ lệ và các biểu đồ
hình cột, hình bánh để mô tả đặc điểm chung của đối tượng,tình hình thừa cân béo phì
- Thống kê phân tích: Kiểm định các tỉ lệ dùng test 2 (chi bình phương), để chứng minh liên quan giữa các biến số độc lập với tình trạng thừa cân
-Giá trị p <0,05 được xem là có ý nghĩa thống kê Khi p<0.05 thì tiến hành kiểm định mối liên quan giữa biến phụ thuộc và biến độc lập bằng tỉ số
chênh OR với khoảng tin cậy 95%
2.3 Đạo đức trong nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, người tham gia nghiên cứu (gồm trẻ tuổi mẫu giáo và phụ huynh của trẻ) là tự nguyện Các thông tin thu thập được đảm
Trang 39bảo giấu kín chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu Khi phát hiện trẻ bị thừa cân hoặc suy dinh dưỡng chúng tôi thông báo cho gia đình trẻ biết tình trạng của trẻ và tư vấn cho gia đình các cháu về sự ảnh hưởng lâu dài của thừa cân đối với sức khỏe Đồng thời chúng tôi thông báo đến Trung tâm Y
tế Dự Phòng tỉnh để có chương trình tư vấn toàn diện hơn cho đối tượng nghiên cứu về cách phòng tránh và chữa trị thừa cân cho trẻ nhằm góp phần nâng cao sức khỏe cho nhân dân trong địa phương
Trang 40Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Biểu đồ số 3.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu phân bổ theo giới tính
Tổng số trẻ em được điều tra ở các trường mẫu giáo được chọn trên địa bàn thành phố Cà Mau là 340 trẻ Trong đó trẻ nam là 175 và trẻ nữ là 165
Biểu đồ số 3.2 Số trẻ nghiên cứu phân bố theo tuổi