DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BMI Body Mass Index: Chỉ số khối cơ thể CB-CNV Cán bộ - công nhân viên CN/CC Cân nặng/chiều cao CSHQCT Chỉ số hiệu quả can thiệp CT Can thiệp ĐTĐ Đái tháo đườn
Trang 1NGUYỄN QUAN PHÚ
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH VÀ HIỆU QUẢ CAN THIỆP THỪA CÂN – BÉO PHÌ Ở TRẺ TỪ 3 ĐẾN 5 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẪU GIÁO THÀNH PHỐ CÀ MAU
LUẬN ÁN CHUYÊN KHOA CẤP II
CẦN THƠ, 2014
Trang 2NGUYỄN QUAN PHÚ
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH VÀ HIỆU QUẢ CAN THIỆP
THỪA CÂN – BÉO PHÌ Ở TRẺ TỪ 3 ĐẾN 5 TUỔI
TẠI TRƯỜNG MẪU GIÁO THÀNH PHỐ CÀ MAU
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện Các số liệu, kết quả trong luận án này là trung thực và chưa ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả
Nguyễn Quan Phú
Trang 4kính mến đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án!
Tôi xin trân trọng cảm ơn:
- Ban Giám hiệu Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
- Khoa Y tế Công cộng Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
- Phòng Đào tạo Sau đại học Trường Đại học Y Dược Cần Thơ đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa học và thực hiện luận án này
Tôi xin trân trọng gửi đến Quý Thầy, Cô Trường Đại học Y Dược Cần Thơ lời cảm ơn sâu sắc về sự tâm quyết trong mỗi bài giảng đã cho tôi có thêm kiến thức
để hoàn thành khóa học và thực hiện luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn:
- UBND tỉnh Cà Mau, Sở Y tế tỉnh Cà Mau, Trung tâm Y tế Dự phòng tỉnh
Cà Mau đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi có cơ hội học tập
- Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Cà Mau, Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Cà Mau, Ban Giám hiệu và giáo viên các trường: Mầm non Bình Minh, Mầm non Vàng Anh, Mầm non Rạng Đông, Mầm non Hương Sen, Mầm non Hương Tràm, Mẫu giáo Sơn Ca, Mẫu giáo Hoa Hồng, Mẫu giáo An Xuyên, các bậc Phụ huynh đã phối hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tiến hành nghiên cứu và hoàn thành luận án
- Quý đồng nghiệp, gia đình và những người bạn thân thiết đã giúp đỡ, động viên, khích lệ, chia sẻ những khó khăn trong trong thời gian học tập và hoàn thành luận án này
Tác giả
Nguyễn Quan Phú
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Khái niệm về thừa cân - béo phì 3
1.2 Tình hình thừa cân - béo phì trên thế giới và trong nước 4
1.3 Yếu tố liên quan gây tình trạng thừa cân - béo phì và hậu quả của nó 13 1.4 Phương pháp đánh giá tình trạng thừa cân - béo phì ở trẻ dưới 9 tuổi 18 1.5 Chiến lược dự phòng và xử trí thừa cân - béo phì 20
1.6 Các nghiên cứu can thiệp bằng truyền thông giáo dục sức khỏe 22
1.7 Biện pháp can thiệp truyền thông giáo dục dinh dưỡng phòng ngừa thừa cân - béo phì 24
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.2 Phương pháp nghiên cứu 27
2.3 Đạo đức trong nghiên cứu 41
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42
3.1 Đặc điểm chung 42
Trang 63.2 Tình trạng thừa cân - béo phì của trẻ 3-5 tuổi tại 8 trường mẫu giáo của
thành phố Cà Mau 46
3.3 Các yếu tố liên quan đến tình trạng thừa cân - béo phì của trẻ 50
3.4 Hiệu quả của biện pháp can thiệp 59
Chương 4: BÀN LUẬN 65
4.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 65
4.2 Tình trạng thừa cân - béo phì ở trẻ 3-5 tuổi tại 8 trường mẫu giáo thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau năm 2013 65
4.3 Yếu tố liên quan đến tình trạng thừa cân - béo phì của trẻ 3-5 tuổi 68
4.4 Hiệu quả của biện pháp can thiệp 81
KẾT LUẬN: 88
1 Tình trạng thừa cân - béo phì ở trẻ từ 3-5 tuổi tại thành phố Cà Mau 88
2 Một số yếu tố liên quan đến thừa cân - béo phì ở trẻ 3-5 tuổi 88
3 Hiệu quả của biện pháp can thiệp 89
KIẾN NGHỊ 90 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BMI Body Mass Index: Chỉ số khối cơ thể
CB-CNV Cán bộ - công nhân viên
CN/CC Cân nặng/chiều cao
CSHQCT Chỉ số hiệu quả can thiệp
CT Can thiệp
ĐTĐ Đái tháo đường
HDL High Density Lipoprotein
HQCT Hiệu quả can thiệp
LDL Low Density Lipoprotein
NCHS National Center for Health Statistics: Trung tâm thống kê
sức khỏe quốc gia (Hoa Kỳ) NTTND Người trực tiếp nuôi dưỡng
OR Odd Ratio: Tỉ suất chênh
SD Standard Deviation: Độ lệch chuẩn
TB Trung bình
TC Thừa cân
TC-BP Thừa cân - béo phì
TCYTTG Tổ chức y tế thế giới
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
UNICEF United Nations Children's Education Fund: Quỹ nhi đồng
liên hiệp quốc VB/VM Vòng bụng/vòng mông
WHO World Health Oganization: Tổ chức y tế thế giới
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu theo tuổi và giới tính 43
Bảng 3.2 Học vấn của mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ 44
Bảng 3.3 Học vấn của cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ 44
Bảng 3.4 Nghề nghiệp của mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ 45
Bảng 3.5 Nghề nghiệp của cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ 45
Bảng 3.6 Tình trạng dinh dưỡng của trẻ theo chỉ tiêu cân nặng/chiều cao 46
Bảng 3.7 Tỉ lệ thừa cân - béo phì trẻ 3-5 tuổi theo tuổi và giới tính 47
Bảng 3.8 Tỉ lệ thừa cân - béo phì phân bố theo trường nội - ngoại thành 48
Bảng 3.9 Phân bố giữa trình độ học vấn của cha với thừa cân - béo phì 48
Bảng 3.10 Phân bố giữa trình độ học vấn của mẹ với thừa cân - béo phì 49
Bảng 3.11 Phân bố giữa nghề nghiệp của cha với thừa cân - béo phì 49
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa nghề nghiệp của mẹ với thừa cân - béo phì 50
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa yếu tố di truyền với thừa cân - béo phì 50
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa yếu tố kinh tế với thừa cân - béo phì 51
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa yếu tố gia đình với thừa cân - béo phì 52
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa cân nặng lúc sinh với thừa cân - béo phì 53
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa trẻ bú mẹ với thừa cân - béo phì 53
Bảng 3.18 Mối liên quan thói quen ăn uống với thừa cân - béo phì 54
Bảng 3.19 Mối liên quan sở thích ăn uống với thừa cân - béo phì 55
Bảng 3.20 Mối liên quan hoạt động thể lực với thừa cân - béo phì 55
Bảng 3.21 Mối liên quan giữa hoạt động tĩnh tại với thừa cân - béo phì 56
Bảng 3.22 Mối liên quan thời gian ngủ với thừa cân - béo phì 57
Bảng 3.23 Mối liên quan kiến thức, thực hành về thừa cân - béo phì của cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ 57
Trang 9Bảng 3.24 Mối liên quan nhận thức và quan niệm của cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ 58 Bảng 3.25 Tỉ lệ kết quả khỏi thừa cân - béo phì sau can thiệp ở nhóm can thiệp và nhóm chứng 59 Bảng 3.26 Tỉ lệ cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ có kiến thức đúng chung trước và sau can thiệp 59 Bảng 3.27 Tỉ lệ cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ có kiến thức đúng trước và sau can thiệp 60 Bảng 3.28 Tỉ lệ cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ đánh giá đúng chung thực hành về thói quen, sở thích ăn uống trước và sau can thiệp 61 Bảng 3.29 Tỉ lệ cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ thực hành đúng
về thói quen ăn uống trước và sau can thiệp 62 Bảng 3.30 Tỉ lệ cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ thực hành đúng
về sở thích ăn uống trước và sau can thiệp 63 Bảng 3.31 Tỉ lệ cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ thực hành đúng
về vận động của trẻ trước và sau can thiệp 64
Trang 10
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 3.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu theo giới tính 42
Biểu đồ 3.2 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu phân bố theo dân tộc 43
Biểu đồ 3.3 Tỉ lệ thừa cân - béo phì trẻ 3-5 tuổi theo giới tính 46
Biểu đồ 3.4 Tỉ lệ thừa cân - béo phì trẻ 3-5 tuổi theo nhóm tuổi 47
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Dinh dưỡng là nền tảng của sức khỏe, sức khỏe tốt là điều kiện tiên quyết để phát triển xã hội Đối với trẻ em, dinh dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tăng trưởng, phát triển thể lực và trí tuệ cũng như ảnh hưởng đến tình hình bệnh tật, khả năng học tập của trẻ [60]
Vai trò của dinh dưỡng hợp lý để duy trì sức khỏe tốt đang ngày càng được hiểu rõ hơn Hiện nay, ở cộng đồng cùng tồn tại cả vấn đề thiếu dinh dưỡng và thừa dinh dưỡng Nhiều nước trên thế giới và trong khu vực đang phải đối mặt với tình trạng này, đó là gánh nặng kép của dinh dưỡng [4], [8].Dinh dưỡng chiếm vai trò tối quan trọng để tạo nên, bảo vệ và nâng cao sức khỏe, nó ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tăng trưởng, phát triển, tình hình bệnh tật và tử vong của trẻ Ăn uống là nhu cầu của mọi sinh vật nói chung và của con người nói riêng Ăn uống là để cung cấp năng lượng cho bộ máy cơ thể hoạt động Đặc biệt là cung cấp những dưỡng chất cần thiết cho
cơ thể phát triển, chống lại bệnh tật và giữ gìn sức khỏe lâu dài Tuy nhiên nếu thiếu ăn hoặc ăn quá nhiều cũng ảnh hưởng đến sức khỏe [33], [56]
Tình trạng dinh dưỡng gồm thừa cân - béo phì và suy dinh dưỡng Trước đây khi nền kinh tế Việt Nam còn nhiều khó khăn, suy dinh dưỡng là vấn đề nghiêm trọng Ngày nay cùng với sự phát triển về kinh tế, đời sống người dân ngày càng được cải thiện, trẻ em ngày càng được các bậc cha mẹ quan tâm chăm sóc nhiều hơn, tỉ lệ suy dinh dưỡng đã giảm, lại phát sinh vấn đề mới là trẻ em thừa cân - béo phì, nó tạo nên một gánh nặng kép về dinh dưỡng, các nhà y - xã hội học phải đồng thời giải quyết Người ta nhận thấy cả thừa cân - béo phì và suy dinh dưỡng đều liên quan đến sự gia tăng tỉ lệ mắc bệnh và tử vong [8], [30], [33]
Từ năm 1995 đến nay, tỉ lệ thừa cân tăng nhanh theo thời gian, vấn đề
Trang 12này đã trở nên có ý nghĩa đối với sức khỏe cộng đồng, đặc biệt tại các đô thị lớn, trên thế giới và Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng trẻ em Tuy nhiên ở Việt Nam, các nghiên cứu phần lớn tập trung vào các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh [45]
Về truyền thông giáo dục để tăng cường nhận thức, thực hành đúng chế độ ăn uống và sinh hoạt là biện pháp dự phòng thừa cân - béo phì cho trẻ em
có hiệu quả Phương pháp can thiệp kết hợp gia đình và trường học, tác động đến phụ huynh, học sinh với sự hỗ trợ của giáo viên và bạn cùng lớp [43]
Cà Mau đã có nhiều nghiên cứu về xác định tỉ lệ thừa cân - béo phì ở nhiều nhóm tuổi khác nhau nhưng chưa có nghiên cứu về hoạt động can thiệp nhằm làm giảm thừa cân - béo phì Khi thừa cân - béo phì ở trẻ em có thể kéo dài sang tuổi thiếu niên, cho nên cần xác định trẻ thừa cân - béo phì ở nhóm tuổi nhỏ để tiến hành hoạt động can thiệp nhằm làm giảm hậu quả của nó
Với mong muốn góp phần đánh giá tình hình thừa cân - béo phì ở trẻ 3-5 tuổi tại trường mẫu giáo thành phố Cà Mau, nhằm xây dựng kế hoạch dự phòng thừa cân - béo phì và nâng cao sức khỏe cho trẻ, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: Nghiên cứu tình hình và hiệu quả can thiệp thừa cân - béo phì ở trẻ 3 đến 5 tuổi tại trường mẫu giáo thành phố Cà Mau Với 3
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái niệm về thừa cân - béo phì
Béo phì là sự tích tụ mỡ bất thường và quá mức tại mô mỡ và các tổ chức khác gây hậu quả xấu cho sức khỏe [19]
Với khái niệm đơn giản được chấp nhận nhiều nhất thì TC là một tình trạng tăng quá mức trọng lượng cơ thể so với trọng lượng chuẩn và BP là tình trạng tăng quá mức mỡ cơ thể một cách cục bộ hay toàn thể [14]
Một quần thể tham khảo đã được TCYTTG khuyến nghị sử dụng trên toàn thế giới từ những năm 1970 là NCHS Trong các điều tra sàng lọc giới hạn ngưỡng để đánh giá một đứa trẻ là TC-BP khi chỉ số cân nặng theo chiều cao > +2SD so với quần thể tham chiếu NCHS/WHO Một Ủy ban các chuyên gia của TCYTTG cũng đã đưa ra khuyến nghị rằng mối liên quan này thay đổi nhiều theo tuổi, có lẽ là cùng với thời kỳ dậy thì và trưởng thành Vì vậy chỉ số cân nặng theo chiều cao chỉ nên được sử dụng trong một khoảng tuổi nhất định (< 9 tuổi) Người ta cũng lưu ý rằng trong điều tra cộng đồng chỉ số cân nặng theo chiều cao là đủ đánh giá TC-BP vì đa số cá thể có cân nặng theo chiều cao đều béo [19]
Chỉ số BMI ở người trưởng thành gia tăng chậm theo tuổi, vì vậy ngưỡng này không phụ thuộc vào độ tuổi khi đánh giá độ béo gầy Trái lại ở trẻ em, BMI thực tế thay đổi cùng với tuổi: Gia tăng nhanh chóng ở tuổi sơ sinh, giảm xuống ở tuổi tiền học đường và rồi tăng trở lại suốt thời kỳ thiếu niên và giai đoạn sớm ở người trưởng thành Vì vậy, BMI chỉ nên được sử dụng ở trẻ lớn (> 9 tuổi) và người trưởng thành
Trang 141.2 Tình hình thừa cân - béo phì trên thế giới và trong nước
1.2.1 Tỉ lệ và xu hướng thừa cân - béo phì hiện nay trên thế giới
Ở Mỹ, từ năm 1988 đến 1991, tỉ lệ TC ở trẻ em và trẻ vị thành niên là 22% và BP là 10,9% Tăng khá nhanh từ 1976 đến 1980, tương tự như những báo cáo trước đây ở người trưởng thành [100]
WHO ước tính có 17,6 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị TC trên toàn thế giới Theo Hội Ngoại khoa Mỹ cho biết, tỉ lệ TC trẻ em dưới 5 tuổi ở Mỹ tăng gấp
2 lần, vị thành niên tăng 3 lần so với năm 1980, tỉ lệ TC trẻ 6-11 tuổi tăng hơn
2 lần so với năm 1960, tỉ lệ TC 12-17 tuổi ở nam tăng từ 5% đến 13%, ở nữ 5% đến 9% (1966-1970 và 1988-1991) Vấn đề này là toàn cầu và lan nhanh sang những nước đang phát triển [79]
Nghiên cứu ở Đan Mạch năm 1995 đến 2000-2002 ở trẻ em vị thành niên (từ 4-18 tuổi), trung bình BMI gia tăng có ý nghĩa giữa năm 1995 và 2000-2002 ở các nhóm tuổi (4-6, 7-10, 11-14 và 15-18 tuổi) và giới tính Tỉ lệ
TC tăng lên có ý nghĩa từ 10,9% lên 14,4% [95]
Nghiên cứu ở Thái Lan cho thấy tỉ lệ BP tăng gần gấp đôi trong 20 năm, tăng từ 13% ở nam giới và 23,2% ở nữ trong năm 1991 lên 18,6% và 29,5% trong năm 1997 và 22,4% và 34,3% trong năm 2004 BP phổ biến ở trẻ em tăng từ 5,8% trong năm 1997 lên 7,9% trong năm 2001 ở trẻ 2-5 tuổi và từ 5,8% lên 6,7% ở trẻ 6-12 tuổi [79]
Nghiên cứu của Anthea M Magarey trên trẻ em và vị thành niên năm
Trang 15Trung Quốc từ 1992-2002 ước đoán có thêm 70 triệu người TC và 30 triệu người BP Tỉ lệ TC chung ở lứa tuổi từ 0-6 tuổi là 31,7%, 7-17 tuổi là 17,9%, 18-44 tuổi là 66,7 %, 45-59 tuổi là 45,2% và trên 60 tuổi là 43,7% TC-BP ở
nữ 6 tuổi cao hơn nam, trong khi ở nhóm tuổi khác nam cao hơn nữ, vùng nông thôn TC-BP thấp hơn thành thị [92] Nghiên cứu năm (2003), xem tivi nhiều và lối sống tĩnh tại (ít hoạt động) làm tăng nguy cơ BP 23% và 14% đái tháo đường type 2 qua 6 năm theo dõi 50.277 phụ nữ [87]
Nghiên cứu ở Anh (2004), tần suất hội chứng chuyển hóa tăng khoảng 50% ở trẻ BP nặng, mỗi mức tăng BMI 0,5 đơn vị tăng một mức nguy cơ của hội chứng chuyển hóa OR=1,55 cũng như tăng một mức đề kháng insulin Tần suất của hội chứng chuyển hóa tăng có ý nghĩa bởi mức đề kháng insulin sau khi hiệu chỉnh về tôn giáo, chủng tộc và mức độ BP [99] Nghiên cứu (2006), tỉ lệ lưu hành TC của trẻ giảm theo thời gian bú sữa mẹ kéo dài [85] Nghiên cứu của Mahshid Dehghan (2005), chỉ ăn kiêng, tập thể dục thì chưa đủ trong phòng ngừa BP mà cần phải phối hợp thêm cải thiện mỡ [93] Ở vùng thành thị Châu Phi, tỉ lệ TC-BP tăng gần 35% từ năm 1992 đến
2005, tăng cao nhất ở tầng lớp nghèo (50%) so với tầng lớp giàu (7%) [109] Nghiên cứu của Oulamara cho thấy tình hình đang xấu đi với một sự gia tăng tương đối TC là 34% ở nữ và 42% ở nam trong suốt 5 năm qua [96] Nghiên cứu ở Argentina cho thấy 16,5% trẻ TC và 16,4% trẻ BP, trong
đó có 2,5% BP nặng [89] Ngược lại, theo số liệu nghiên cứu sức khỏe gia đình quốc gia Ấn Độ chỉ ra rằng tình hình TC ở phụ nữ và trẻ em trước tuổi đến trường không tăng nhiều trong gần 10 năm: 10,6% và 1,6% trong năm 1990-1999 lên 12,6% và 1,5% trong năm 2005-2006 [105]
Trong năm 2008, hơn 1,4 tỉ người trên 20 tuổi bị TC Trong số này hơn
200 triệu người là nam giới và gần 300 triệu người là nữ giới bị BP; 35% người trưởng thành trên tuổi 20 bị TC trong năm 2008 và 11% bị BP; 65%
Trang 16dân số thế giới sống ở các nước TC và BP giết chết nhiều người hơn những người nhẹ cân; hơn 40 triệu trẻ em dưới 20 tuổi bị TC vào năm 2011 [107] Nghiên cứu (2008), 2.591 trẻ được quan sát từ 5-19 tuổi tỉ lệ TC là 18,6%, nhóm trẻ có cha, mẹ, ông, bà có cân nặng bình thường thì tỉ lệ TC là 7,9% Ngược lại trẻ có cha, mẹ TC, ông, bà có cân nặng bình thường có tỉ lệ
TC là 17,9%; nhóm trẻ có cha, mẹ BP và ông, bà có cân nặng bình thường thì
tỉ lệ TC là 31,9% (p<0,001); khi cha, mẹ có cân nặng bình thường, ông, bà BP
tỉ lệ TC là 17,4% (p<0,001) [82]
Nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng ở Northerlands (2008), trẻ từ 6-12 tuổi chia 2 nhóm, nhóm được huấn luyện bởi chuyên gia thể lực cho hoạt động thể thao hay các hoạt động thể lực ngoài trời, giáo dục lối sống có lợi cho sức khỏe cùng với sự hỗ trợ của cha, mẹ: Nhóm có kiểm soát có tỉ lệ giảm cân nhiều hơn so với nhóm chứng [108]
Nghiên cứu ở thành phố Merida (Venezuela 2009), tỉ lệ trẻ BP là 9,7%
và TC là 13,8%, tỉ lệ béo bụng là 69,4%, huyết áp cao là 27,1%, rối loạn lipid
là 66,7%, rối loạn chuyển hóa là 38,9% [97]
Một phân tích năm 2009, với gần một triệu người khắp nơi trên thế giới đã chỉ ra rằng nếu có chỉ số BMI từ 30-35 kg/m2, bạn có khả năng chết sớm hơn 2-4 năm, nếu chỉ số BMI từ 40-45 kg/m2, bạn có khả năng chết sớm hơn 8-10 năm so với mức trung bình Phân tích khác cho thấy rằng nếu một người phụ nữ BP ở tuổi 40, có khả năng chết sớm hơn 7,1 năm so với trung bình Nếu là một người đàn ông BP ở tuổi 40, có khả năng chết sớm hơn 5,8 năm so với trung bình; nếu bạn hút thuốc lá tuổi thọ của bạn sẽ giảm hơn nữa [83] Nghiên cứu ở Norway (2010), tỉ lệ TC-BP ở trẻ em là 13,8%, không có
sự khác biệt giữa nam và nữ; trẻ lứa tuổi tiểu học (6-11 tuổi) chiếm tỉ lệ cao (17%), (p<0,001) Điều trị BP bao gồm tâm lý, thay đổi lối sống, thói quen, giáo dục dinh dưỡng, thể dục Sử dụng thuốc, phẫu thuật không được khuyến
Trang 17cáo ở trẻ em [90]
Nghiên cứu của Georgia S Papoutsi (2010), tỉ lệ BP ở trẻ em đang tăng nhanh ở nhiều quốc gia, bởi vì sự BP ở trẻ em cao sẽ kéo dài sang giai đoạn thiếu niên, điều này được xác định sự lành mạnh sức khỏe và tương lai dân
số, yếu tố kinh tế chính là nguyên nhân gây BP chúng ta cần phải lập chính sách hiệu quả nhằm hạ thấp khuynh hướng BP trẻ em ở toàn cầu [88]
Nghiên cứu của trường Đại học Thessaloniki (2010), trẻ bú mẹ trên 3 tháng và luyện tập thể dục lúc nhàn rỗi là yếu tố bảo vệ chống lại BP với OR=0,21 Những yếu tố tăng nguy cơ BP là tiền sử gia đình bị BP, ăn nhiều thức ăn ngọt, xem tivi nhiều [98]
Bằng chứng mạnh mẽ để hỗ trợ phòng chống bệnh BP trẻ từ 6-12 tuổi trên chỉ số BMI Chính sách và chiến lược đầy hứa hẹn: Chương trình học bao gồm ăn uống lành mạnh, hoạt động thể chất, sự phát triển của kỹ năng vận động cơ bản trong suốt tuần học, cải thiện chất lượng dinh dưỡng, nguồn cung cấp thực phẩm, môi trường và tập quán văn hóa hỗ trợ cho trẻ em ăn thức ăn lành mạnh và sự năng động trong suốt mỗi ngày [106]
Nghiên cứu của Varaprasad (2013), vào ngày BP thế giới (26 tháng 10), các chuyên gia y tế nhấn mạnh về sự cần thiết một chương trình chống BP và những tiến bộ trong điều trị kéo dài Có khoảng 30-40% học sinh TC-BP do thiếu các hoạt động thể dục thể thao và tiêu thụ nhiều thực phẩm [84]
Theo Shelley A Wilkinson (2012), báo cáo 28,5% nhân viên: TC là 19%,
BP là 9,5%[102] Nghiên cứu phân tích ở Anh (2013), hiệu quả can thiệp dựa vào trường học để ngăn ngừa trẻ BP là hiệu quả, can thiệp hoạt động thể chất hoặc chế độ ăn tại trường học, gia đình và cộng đồng có bằng chứng cho là hiệu quả nhất [103], [110] Một nghiên cứu phân tích chỉ ra rằng giáo dục lối sống lành mạnh trong trường học kết hợp với biện pháp can thiệp dinh dưỡng
có thể cải tiến nhỏ trong thành tích học tổng thể ở trẻ TC-BP [94]
Trang 181.2.2 Tình hình thừa cân - béo phì ở Việt Nam
1.2.2.1 Thừa cân - béo phì ở trẻ em
Thành phố Hồ Chí Minh qua các đợt điều tra thì tỉ lệ TC-BP tăng dần qua các năm, nghiên cứu của Trần Thị Hồng Loan từ năm 1996-2002, tỉ lệ TC trẻ em dưới 5 tuổi năm 1996 là 2%, năm 2001 là 3,3% [35], nghiên cứu của Đoàn Thị Kim Ngân, năm 2002 trẻ TC-BP là 5,8%; năm 2003 trẻ TC-BP quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh là 8,5% [40]
Nghiên cứu của Phạm Văn Dũng (2002), tại 2 trường tiểu học nội thành của thành phố Huế, tỉ lệ BP ở trẻ 6-10 tuổi là 7,6%, trẻ nam (11,2%) cao hơn
nữ (3,4%); trẻ có thói quen ăn béo, ăn vặt, ăn ngọt, bữa ăn phụ trước khi ngủ đêm, uống nước ngọt có gas đều cao hơn nhóm chứng, tương ứng có nguy cơ
BP cao gấp 2 đến 9 lần; trẻ BP ngủ ít, phụ huynh cho rằng trẻ BP là đẹp và không nhận biết đúng tình trạng dinh dưỡng của trẻ [13]
Nghiên cứu của Lê Thị Hải (2002), tỉ lệ TC-BP trẻ 7-12 tuổi tại nội thành Hà Nội là 7,9%, tỉ lệ TC-BP ở nam (8,5%) cao hơn nữ (7,2%) (p<0,05);
tỉ lệ TC-BP tại trường điểm là 10,3%, tại trường thường là 4,8% [20]
Điều tra của một số tác giả tại Thành phố Hà Nội tỉ lệ TC-BP tăng dần qua các năm: Năm 2002 trẻ 4-6 tuổi TC ở nội thành Thành phố Hà Nội là 4,9%, BP là 3,1% [45]; nghiên cứu của Nguyễn Thị Yến (2004) tại 2 trường mần non Việt Triều và Tương Lai tại Hà Nội, tỉ lệ trẻ TC là 5,73% [77]
Nghiên cứu của Trần Nguyên Đức (2005), tại xã Tà Lài, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, tỉ lệ trẻ dưới 5 tuổi TC là 4,9% [17]
Nghiên cứu của Trần Thị Minh Tâm (2006), tỉ lệ TC tại nhà trẻ Hà Nội cao hơn nhà trẻ nông thôn, mức năng lượng khẩu phần ăn của trẻ TC là 1955,1 ± 336,67 Kcal cao hơn khuyến nghị Lượng protein trong khẩu phần
ăn của trẻ TC là 73,58 ± 17,03 gram cao hơn khuyến nghị [59]
Trang 19Nghiên cứu của Phùng Đức Nhật (2006), cho thấy thói quen ăn uống nhanh
và thời gian hoạt động tĩnh tại cao là các yếu tố nguy cơ với tình trạng TC-BP ở trẻ 4-6 tuổi trong các trường mẫu giáo, mầm non Tại trường học trẻ TC có thói quen ăn nhanh hơn nhóm chứng là 2,7 lần và tại nhà trẻ TC háu ăn hơn nhóm chứng 5,3 lần Trẻ TC thích ăn chất béo gấp 2,3 lần so với trẻ bình thường Trẻ
TC có thời gian hoạt động tĩnh tại trung bình (xem tivi, chơi vi tính, học tập) là
178 phút/ngày cao hơn so với trẻ nhóm chứng (156 phút/ngày) [48]
Nghiên cứu của Phan Thị Bích Ngọc, Phạm Văn Lình, Đinh Thanh Huề (2007), tỉ lệ TC ở học sinh tiểu học tại thành phố Huế là 7,07%, độ I là 79,7%, độ II là 20,3% [41]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Nhạn (2007), ở nhóm học sinh từ khối 6 đến khối 9 của trường THCS Nguyễn Tri Phương, thành phố Huế tỉ lệ TC-BP là 10,35% (TC: 8,60%, BP: 1,75%), tỉ lệ BP tập trung ở nhóm 12 tuổi 70%, tỉ lệ
BP ở học sinh nam là 70%, nữ là 30% [47]
Nghiên cứu của Nguyễn Minh Tuấn (2008), tại thành phố Thái Nguyên, tỉ
lệ TC là 4,4%, BP là 2,9% và tăng dần theo tuổi, nam (5,8%) TC nhiều hơn nữ (2,9%); trẻ TC lớn nhanh hơn, có biểu hiện rối loạn lipid máu: Tăng cholesterol toàn phần là 36,1%, tăng triglycerid máu là 47,8%; tỉ lệ cao huyết áp là 5,6%, có
sự tương quan thuận giữa huyết áp và BMI của trẻ [67]
Nghiên cứu của Võ Thị Diệu Hiền (2008), tỉ lệ TC-BP ở trẻ từ 11-15 tuổi là 8,3% trong đó có 0,38% là BP, tỉ lệ nam TC-BP là (10,6%) cao hơn nữ (5,8%), tỉ lệ TC-BP cao nhất là 11 tuổi, thấp nhất là 15 tuổi; các yếu tố liên quan: Trẻ TC-BP có thói quen ăn ngọt chiếm 70,5% so với nhóm chứng 49,1%; ăn vặt lúc xem tivi, ăn chất béo, ăn bữa phụ trước khi đi ngủ đêm hay uống nước ngọt có gas đều cao hơn nhóm chứng; trẻ sử dụng thức ăn chiên, xào hàng ngày có nguy cơ TC-BP cao gấp 3 lần so với trẻ ít sử dụng thức ăn chiên, xào; trẻ TC-BP ít hoạt động thể lực hơn nhóm chứng; xem tivi, chơi
Trang 20game nhiều hơn nhóm chứng; thời gian ngủ: Trẻ TC-BP ngủ ít hơn (7,5 ± 0,8 giờ/đêm) so với nhóm chứng là (8,9 ± 0,7 giờ/đêm); vẫn còn nhiều phụ huynh
ở nhóm trẻ BP cho rằng BP là đẹp và phú quý (12,1%); phụ huynh chưa nhận biết đúng tình trạng dinh dưỡng của con mình (50,7%) [22]
Nghiên cứu của Trương Thanh (2009), trên học sinh tiểu học ở thành phố Vũng Tàu, tỉ lệ TC-BP ở trẻ 6-11 tuổi là 9,9% [60] Nghiên cứu của Huỳnh Văn Nên (2009), trẻ nam TC nhiều hơn trẻ nữ (69,3%), TC xuất hiện nhiều ở trẻ 4-5 tuổi (78%), TC tập trung cao ở nội ô (96,1%) [39]
Nghiên cứu của Mai Văn Mãi (2009), tỉ lệ TC-BP của học sinh THCS huyện Cây Lậy, Tiền Giang ở nam: 6,12%, ở nữ: 4,34% chủ yếu là TC; những trẻ có cha mẹ TC, cha mẹ làm công việc buôn bán, kinh tế khá giả, thích ăn ngọt,
ăn béo, ăn vặt có nguy cơ TC gấp 1,5 đến 4 lần trẻ không có các yếu tố này [38] Nghiên cứu của Bùi Đức Văn (2009), tỉ lệ TC-BP ở trẻ 6-10 tuổi là 7,26%, trong đó BP là 1,76%, TC là 5,5%, BP mức độ nhẹ chiếm 60%, mức độ trung bình và nặng chiếm 40%, tỉ lệ trẻ nam bị TC-BP (9,20%) cao hơn trẻ
nữ (5,13%), tỉ lệ TC-BP cao nhất ở nhóm 6 tuổi, thấp nhất ở nhóm 9 tuổi Trẻ TC-BP có liên quan với thói quen ăn thức nhiều chất béo (OR=2,77, p<0,001), thói quen ăn thêm bữa phụ trước khi đi ngủ (0R=4,4, p<0,001), thói quen thích ăn ngọt (OR=2,81, p<0,001), thói quen hay uống nước ngọt có gas (OR=4,87, p<0,001), trẻ TC-BP có thời gian vận động ít hơn nhóm chứng (p<0,001); thời gian xem tivi, chơi game nhiều hơn nhóm chứng (p<0,001); trẻ TC-BP có số giờ ngủ (7,09 ± 0,65) ít hơn trẻ ở nhóm chứng (8,05 ± 1,27), (p<0,001); cha mẹ ở nhóm trẻ TC-BP cho rằng trẻ BP là đẹp và phú quý (8,70%) và không nhận thức đúng về tình trạng dinh dưỡng của con mình (46,7%) cao hơn nhóm chứng (19,20%), (p<0,001); không biết về hậu quả của BP ở nhóm BP là 18,7% và ở nhóm chứng 13,76% [72]
Trang 21Nghiên cứu của Lê Thị Hương (2009), tỉ lệ TC-BP ở trẻ tiểu học nông thôn miền Bắc Việt Nam là 4,3%; 85,5% trẻ ăn 3 bữa chính; 72,7% trẻ không
ăn thêm bữa phụ, tỉ lệ trẻ ăn sáng hàng ngày là 74,5%; tỉ lệ trẻ trả lời đúng 4 nhóm thức ăn cần thiết nhất cho cơ thể là 37,7% [28]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Hoa (2010), ở trẻ em từ 2-5 tuổi tại một số trường mầm non thành phố Huế, tỉ lệ TC-BP là 7,8% (trong đó mức độ I: 69,8%, độ II: 21,6%, độ III: 8,6% ), trẻ nam (9,6%) cao hơn nữ (6,1%),
tỉ lệ TC-BP tăng theo tuổi; tỉ lệ TC-BP cao ở trẻ có anh, chị, em ruột bị TC-BP; trẻ có mẹ lao động trí óc, trẻ có cha mẹ có trình độ học vấn từ cấp III trở lên, trẻ được ăn uống với chi phí cao, trẻ thường xuyên ăn thức ăn mỡ, béo, chiên, xào có nguy cơ TC-BP cao hơn trẻ khác [24]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Huyền (2010), tại các trường mầm non thành phố Rạch Giá, Kiên Giang, tỉ lệ trẻ TC-BP là 6,1% [27], nghiên cứu của Phan Thị Bích Ngọc (2010), tỉ lệ TC-BP ở học sinh tiểu học tại thành phố Huế là 7,98%, trong đó BP là 1,51% [43]
Nghiên cứu của Trịnh Tiến Khoa (2010), ở học sinh tiểu học tại xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, tỉ lệ TC-BP là 7,3% (có 3,74% là BP), tỉ lệ TC-BP ở học sinh nam cao hơn nữ, TC-BP cao nhất ở nhóm 9 tuổi (9,61%), thấp nhất
là nhóm 7 tuổi (5,37%), mức độ TC đa số là mức độ nhẹ (76,25%) Các yếu
tố nguy cơ có liên quan đến TC-BP: Trẻ có cha và/hoặc mẹ TC; cha, mẹ làm nghề buôn bán; cha, mẹ không nhận biết tình trạng dinh dưỡng của trẻ; trẻ có thói quen ăn nhiều, ăn nhanh hay ăn vặt, ăn bữa phụ trước khi đi ngủ đêm; chế độ ăn giàu năng lượng; ít hoạt động thể lực (10 giờ/tuần) [31]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Mai (2010), ở trẻ 3-5 tuổi tại các trường mầm non thành phố Nha Trang, tỉ lệ TC-BP chung là 8,4%, đa số ở mức độ I (59%) không có sự khác biệt giữa nam và nữ, tỉ lệ TC-BP tăng theo tuổi (2,0; 8,6 và 11,5% tương ứng với lứa tuổi 3, 4, 5 tuổi), trẻ ở nội thành cao
Trang 22hơn ngoại thành (10,2% so với 6,2%) [37] Tổng điều tra dinh dưỡng năm 2009-2010, của Lê Danh Tuyên, tỉ lệ TC-BP ở trẻ dưới 5 tuổi là 5,6% (thành phố là 6,5%, nông thôn là 4,2%), tỉ lệ này đang có xu hướng gia tăng So với năm 2000, tỉ lệ TC-BP ở trẻ dưới 5 tuổi hiện cao hơn 6 lần [69]
Nghiên cứu của Bảo Phi (2011), tại các trường mẫu giáo thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai, tỉ lệ TC-BP ở trẻ 3-5 tuổi là 11,4% [54]
Nghiên cứu của Phạm Duy Tường (2012), TC-BP ở trẻ 6-14 tuổi của Thành phố Hà Nội là 10,7% Tỉ lệ TC-BP cao nhất ở trẻ 10 tuổi (18,2%), thấp nhất trẻ 14 tuổi (6,4%) Trẻ nam TC-BP cao hơn nữ (16,1% và 5,7%) Tỉ lệ TC-BP ở nội thành (13,1%) cao gấp 2 lần so với ngoại thành (6,2%) [70]
1.2.2.2 Thừa cân - béo phì ở người trưởng thành Việt Nam
Tổng điều tra TC-BP năm 2005 do Viện Dinh dưỡng, nếu lấy ngưỡng BMI ≥ 23 kg/m2 thì tính chung toàn quốc TC-BP ở người trưởng thành là 16,3%, tỉ lệ TC-BP có xu hướng tăng theo tuổi từ 11,3% ở nhóm tuổi 25-34, tăng lên 17,1% ở nhóm tuổi 35-44 và đạt tới 20,2% ở nhóm tuổi 45-54; phụ
nữ bị TC-BP cao hơn nam giới, thành thị cao hơn nông thôn; chế độ ăn nhiều thức ăn động vật tăng nguy cơ TC-BP là 2,6 lần; thói quen ăn uống ngoài gia đình, ăn thức ăn nhanh, lạm dụng rượu bia, ít hoạt động thể lực, mức chi tiêu cho ăn uống càng cao thì dễ bị TC-BP Nếu lấy ngưỡng BMI ≥ 25 kg/m2 thì tỉ
lệ khoảng 7%, trong đó nhóm tuổi 45-54 là 9% [75]
Nghiên cứu của Lê Đức Thuận (2010), tỉ lệ TC-BP ở người từ 30-59 tuổi tại Hải Dương là 27,9%, tỉ lệ BP ở nam 31,2% nữ là 26,5%; tỉ lệ rối loạn lipid máu ở người TC là 86,4%; tỉ lệ rối loạn cholesterol toàn phần là 71% [66] Như vậy, TC-BP đang có xu hướng tăng nhanh và trở thành một vấn đề sức khỏe cộng đồng ở Việt Nam Đây là dấu hiệu cảnh báo quan trọng đối với một số bệnh mạn tính không lây nhiễm trong cộng đồng
Trang 231.3 Yếu tố liên quan gây tình trạng thừa cân - béo phì và hậu quả của nó 1.3.1 Các yếu tố liên quan gây tình trạng thừa cân - béo phì
1.3.1.1 Yếu tố di truyền
Theo Mayer (1995), nếu cả cha lẫn mẹ đều BP thì có 80% con họ sẽ BP, nếu một trong hai người có BP thì 40% con của họ sẽ có BP Ngược lại, nếu
cả cha và mẹ bình thường thì khả năng các con bị BP chỉ chiếm 7% [32], [33] Cân nặng lúc sinh lớn có liên quan đến sự xuất hiện BP sau đó, đặc biệt
là BP xuất hiện sớm, loại BP này thường khó điều trị và nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao [36]
1.3.1.2 Lối sống, sinh hoạt
Lối sống tĩnh tại làm giảm hoạt động thể lực
Cùng với yếu tố ăn uống, sự gia tăng tỉ lệ TC-BP đi song song với giảm hoạt động thể lực trong lối sống tĩnh tại (thời gian dành cho xem tivi, đọc báo, làm việc bằng máy tính, nói chuyện qua điện thoại, lái xe, ăn uống nhiều hơn) Lối sống tĩnh tại có vai trò quan trọng trong TC-BP Những người hoạt động thể lực nhiều thường ăn thức ăn giàu năng lượng, khi họ thay đổi lối
sống, hoạt động nhưng vẫn giữ thói quen ăn nhiều cho nên dễ bị béo phì [33]
Khẩu phần ăn và tập quán dinh dưỡng
Năng lượng dự trữ trong cơ thể là hiệu số của năng lượng ăn vào và năng lượng tiêu hao Cân bằng năng lượng dương tính xảy ra khi năng lượng ăn vào nhiều hơn năng lượng tiêu hao gây tăng dự trữ năng lượng và tăng cân Cân bằng năng lượng âm tính xảy ra khi năng lượng ăn vào ít hơn năng lượng tiêu hao, nó làm giảm dự trữ năng lượng và giảm cân Như vậy chỉ khi có cân bằng năng lượng dương tính xảy ra thì mới có khả năng phát triển thành TC-BP, tức là năng lượng đưa vào cơ thể qua thức ăn, thức uống được hấp thu và dự trữ dưới dạng mỡ nhiều hơn là được oxy hóa để tạo thành nhiệt lượng Do đó người TC-BP cần hạn chế bớt thức ăn giàu năng lượng như chất
Trang 24béo, chất ngọt và cần tăng hoạt động thể lực để tăng cường sử dụng năng lượng và không ăn quá mức cần thiết
Chế độ ăn giàu lipid hoặc chất có liên quan chặt chẽ với sự gia tăng của
tỉ lệ BP Các thức ăn giàu chất béo thường ngon miệng nên người ta ăn quá nhiều mà không biết Khi vào cơ thể, các chất lipid, protid, glucid đều có thể chuyển thành chất béo dự trữ Vì vậy không thể coi việc ăn nhiều thịt, mỡ mới
gây béo mà ăn quá nhiều chất bột, đường và đồ ngọt đều có thể gây BP [33]
Yếu tố xem truyền hình
Việc tiếp thị quá nhiều thức ăn chế biến sẵn, thực phẩm, đồ uống giàu năng lượng nhưng nghèo vi chất dinh dưỡng, quảng cáo mạnh mẽ các loại thực phẩm, đồ uống, đặc biệt là trên truyền hình có ảnh hưởng trực tiếp đến
sự ưa thích và chọn lựa thức ăn của trẻ Nghiên cứu ở Mỹ cho thấy tỉ lệ trẻ từ 2-15 tuổi BP tham gia vào xem tivi, sử dụng máy tính và thời gian xem trên màn hình ≥ 2 giờ mỗi ngày lần lượt là 33%, 6,7% và 47,3% [101]
Các yếu tố kinh tế, văn hóa và xã hội
Ở các nước đang phát triển, tỉ lệ BP ở tầng lớp nghèo thường thấp (thiếu
ăn, lao động nặng, phương tiện đi lại khó khăn) và BP như là một đặc điểm của sự giàu có Ở các nước phát triển, khi thiếu ăn không còn phổ biến nữa thì
tỉ lệ BP lại thường cao ở tầng lớp nghèo, ít học so với các tầng lớp khác [33] Nghiên cứu của Lê Thị Thúy Loan (2002-2003), tại thành phố Cần Thơ cho thấy trẻ cân nặng lúc sinh > 4.000 gram có nguy cơ mắc BP gấp 3 lần so với trẻ có cân nặng lúc sinh ≤ 3.500gram [36] và nghiên cứu của Trần Thị Hồng Loan (2005), ở Thành phố Hồ Chí Minh, trẻ có cân nặng lúc sinh ≥
4.000 gram là yếu tố nguy cơ có liên quan đến tình trạng TC [35]
1.3.1.3 Yếu tố hành vi
Ngủ ít cũng được xem như là nguy cơ cao ở trẻ TC dưới 5 tuổi Nguyên nhân chưa rõ, nhưng một số tác giả cho rằng lối sống gia đình thiếu đều độ từ
Trang 25ngủ tới ăn hoặc do thiếu hoạt động thể lực tạo ra những sóng thấp trên điện não đồ khi ngủ cũng có thể do hoạt động tiêu mỡ của cơ thể là tối đa về ban đêm và ngủ ít làm giảm tiêu mỡ nói chung [33]
Một nghiên cứu có quy mô lớn ở Mỹ gần đây cho thấy những người ngủ ít hơn 6 giờ hay nhiều hơn 9 giờ trong một đêm dễ bị BP Theo Viện Hàn lâm Hoa Kỳ về Y học của giấc ngủ, cho biết “Những người ngủ quá ít hay
ngủ quá nhiều đều không tốt.” [33]
1.3.2 Hậu quả của thừa cân - béo phì
Nguy cơ đầu tiên của TC-BP trẻ em là kéo dài đến tuổi trưởng thành
với các hậu quả của nó, TC-BP cũng dễ xảy ra lúc nhỏ và tuổi thiếu niên hoặc
BP mức độ nặng, mặt khác TC-BP còn làm giảm vẻ đẹp
Tỉ lệ mắc bệnh tăng
Hội chứng BP ở trẻ em và thanh thiếu niên bao gồm các vấn đề tâm lý, tăng yếu tố nguy cơ mắc bệnh tim mạch, chuyển hóa bất thường glucose, rối loạn gan mật - đường ruột, khó thở khi ngủ và biến chứng giải phẫu Hầu hết các hậu quả lâu dài của trẻ em BP là dai dẳng cho đến thanh niên và liên quan tới tất cả các yếu tố nguy cơ cho sức khỏe BP hầu như kéo dài khi nó xuất hiện muộn ở trẻ em hoặc thanh thiếu niên và khi đó BP đã là một bệnh nặng
TC ở thanh thiếu niên cũng được chỉ rõ liên quan có ý nghĩa với tỉ lệ mắc bệnh và tử vong [10], [33]
Ảnh hưởng tâm lý xã hội
Hậu quả chung của BP ở trẻ em tại các nước công nghiệp phát triển là chức năng tâm lý xã hội kém Trẻ trước thời thanh thiếu niên liên quan đến hình dáng của một cơ thể TC, chức năng tâm lý xã hội kém, giảm thành công trong học tập và không có một cơ thể khỏe mạnh, giảm vẻ đẹp, cũng như là các nhược điểm TC ở thanh thiếu niên cũng có thể liên quan đến vấn đề kinh
tế và xã hội sau này Một nghiên cứu tiến hành ở Mỹ đã chỉ ra rằng phụ nữ
Trang 26TC trong thời thanh thiếu niên và trong thời trẻ hầu hết thu nhập gia đình thấp hơn, tỉ lệ nghèo cao hơn và tỉ lệ lập gia đình thấp hơn so với phụ nữ mắc các bệnh mạn tính khác hoặc giảm thể lực trong thời thanh thiếu niên [10], [33]
Bệnh đái tháo đường
Có mối liên quan chặt chẽ giữa ĐTĐ không phụ thuộc insulin và BP Nguy cơ ĐTĐ không phụ thuộc insulin tăng liên tục khi BMI tăng và giảm đi khi cân nặng giảm, những người béo có tỉ lệ ĐTĐ tăng gấp 3,5 lần tỉ lệ chung, tích lũy mỡ trong ổ bụng cũng như BP liên quan tới tăng yếu tố nguy cơ của bệnh ĐTĐ như tăng glucose máu và kháng insulin [10], [33]
Quan điểm của Hoa Kỳ: ĐTĐ type 2 hầu như không xảy ra ở người có BMI < 22 kg/m2 Ở người da đỏ Pima, tỉ lệ ĐTĐ gia tăng có tính chất gia đình, cả cha và mẹ bị ĐTĐ thì 100% con bị ĐTĐ nếu chúng bị BP Nếu cha,
mẹ không bị BP chỉ có dưới 20% con BP bị ĐTĐ [4]
Bệnh tim mạch
Huyết áp tâm thu và tâm trương đều tăng khi chỉ số BMI tăng, người béo
có nguy cơ tăng huyết áp cao hơn người bình thường, nguy cơ này càng cao khi tuổi càng trẻ, thời gian kéo dài Tăng cân nhanh là một yếu tố liên quan đến tăng huyết áp và giảm trọng lượng sẽ có hiệu quả giảm huyết áp Người
BP có nguy cơ bị tăng huyết áp gấp 2,9 lần so với người không BP [10], [33] Rối loạn lipid máu, tăng huyết áp và kháng insulin thường thấy ở trẻ em
BP và rối loạn lipid máu xuất hiện liên quan tới tăng tích lũy mỡ trong ổ bụng [4], [10], [64]
Một nghiên cứu của Đặng Thị Diệu Hiền tại xã Hương Long, thành phố Huế cho thấy chỉ số huyết áp có liên quan với BP dạng nam [21]
Tại Mỹ, người ta đã thấy trong một vài nghiên cứu của các Viện cho thấy mặc dù bệnh ĐTĐ không phụ thuộc insulin là rất hiếm, ước tính 1/3 trong tất cả các trường hợp mới ĐTĐ, nồng độ lipoprotein và lipid huyết
Trang 27thanh, insulin huyết tương và huyết áp ở trẻ em sẽ tăng kéo dài đến thời kỳ thanh thiếu niên Tình trạng BP ở trẻ tại thời điểm ban đầu đã được đoán trước có ý nghĩa sức khỏe khi trưởng thành, huyết áp tương quan với
BP dạng nam và tuổi [21]
Rối loạn hô hấp và hen phế quản
Người ta cũng đã thấy một loạt các biến chứng khác ở trẻ BP bao gồm nghẽn thở khi ngủ và bệnh não Nghẽn thở khi ngủ có thể gây ra chứng thở quá chậm và thậm chí ở những trường hợp nặng có thể gây tử vong [10], [21]
Bệnh túi mật
Bệnh túi mật tăng với BP và tuổi có thể tăng tiết cholesterol mật Cholesterol được tổng hợp mỗi ngày tăng khoảng 20mg/kg mô mỡ, do đó nếu tăng thêm 10 kg mô mỡ, mỗi ngày sản xuất một lượng cholesterol tương đương có trong một quả trứng, BP làm tăng nguy cơ bị sỏi mật ở mọi lứa tuổi gấp 3-4 lần, nguy cơ này càng cao khi mỡ tập trung xung quanh bụng [10]
Ung thư
Tỉ lệ mắc của ung thư nội mạc tử cung và ung thư vú sau mãn kinh ở nữ, ung thư tiền liệt tuyến ở nam, ung thư đại trực tràng ở cả hai giới có tương quan với mức độ BP BP phủ tạng (VB/VM tăng) làm tăng tỉ lệ ung thư vú sau mãn kinh độc lập mức độ BP theo BMI [4], [10]
Hậu quả khác
Biến chứng da: Nấm da và ngâm các nếp nhăn, da dễ bị chứng gai đen biểu hiện bằng xạm da ở nếp gấp da cổ, khuỷu tay, phía lưng các kẽ ngón tay, ở người BP còn có tình trạng ứ trệ tĩnh mạch [4], [10], [19]
Một nghiên cứu trên 385 đối tượng người lớn BP đến khám tại phòng khám béo phì Viện Y Dược học Dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 10/2007 đến tháng 01/2008, cho thấy tỉ lệ hiện mắc các bệnh chung về da là 88% Tỉ lệ của từng bệnh da như sau: Rạn da là 70%, dầy sừng lòng bàn chân
Trang 28là 30%, gai đen là 24%, u da có cuống là 18%, xạm da là 18%, viêm kẽ là 12%, mụn trứng cá là 9,09%, dãn tĩnh mạch chân 8,83%, rậm lông là 9%, viêm nang lông là 7,53%, chàm thể tạng là 3,12%, dầy sừng nang lông là 3,12%, da vẩy cá là 2,6% [19]
Rối loạn nội tiết: Các nghiên cứu cho thấy ở người BP tế bào mỡ nhiều hơn túi mỡ Chúng cũng có chức năng như những tế bào nội tiết, sản xuất ra rất nhiều hormon bộ phận và tế bào đích đối với nhiều hormon [10], [33] Rối loạn lipid máu: Tăng cholesterol máu, giảm HDL, tăng tỉ lệ LDL, tăng tỉ lệ LDL/HDL gây tăng tỉ lệ bệnh tim mạch Thường thấy rối loạn chuyển hóa ở hầu hết các bệnh nhân BP với tích lũy mỡ trong ổ bụng và thường có mối liên quan với tăng nguy cơ bệnh tim mạch [10], [33], [60] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Diễm Chi, trên 45 trẻ TC-BP tại thành phố Huế cho thấy rối loạn lipid máu là 80% [4]
Nghiên cứu của Lê Văn Bàng, trên 623 người (nam: 190, nữ: 433) tỉ lệ tăng trọng và BP, ở nam tăng trọng: 16,48%, béo phì độ I: 15,79%, béo phì độ II: 2,11%; ở nữ tăng trọng: 14,32%, BP độ I: 18,48%, BP độ II: 0,46% [2] Hội chứng chuyển hóa: Ở Argentina, người ta nhận thấy có sự liên quan giữa BP ở học sinh trung học và hội chứng chuyển hóa Tỉ lệ mắc hội chứng chuyển hóa chung là 5,8%, 32% trong nhóm BP nặng, 16,4% trong nhóm TC-BP và 0,4% trong nhóm trẻ bình thường [89]
1.4 Phương pháp đánh giá tình trạng thừa cân - béo phì ở trẻ dưới 9 tuổi
Đánh giá TC bằng phương pháp nhân trắc: Theo TCYTTG, chỉ tiêu đánh giá TC ở trẻ dưới 5 tuổi là cân nặng/chiều cao Đối với trẻ em 5-9 tuổi chưa
có thang phân loại riêng để đánh giá tình trạng TC-BP Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước thường lấy ngưỡng cân nặng/chiều cao: > +2Z-score (CN/CC > +2Z-score) so với quần thể tham khảo NCHS để phân loại TC và
BP của trẻ, tương tự như trẻ dưới 5 tuổi [73]
Trang 29Muốn nhận định các kết quả về nhân trắc, cần chọn một quần thể tham khảo để so sánh Theo WHO 1995, không nên coi quần thể tham khảo là chuẩn, nghĩa là mục tiêu mong muốn, mà chỉ là cơ sở để đưa ra các nhận định cho các so sánh trong nước và quốc tế Do trẻ em dưới 5 tuổi nếu được nuôi dưỡng hợp lý và điều kiện sống hợp vệ sinh thì khả năng lớn không khác nhau theo chủng tộc, TCYTTG đề nghị lấy số liệu của NCHS làm quần thể tham khảo và đề nghị này hiện nay đã được ứng dụng rộng rãi [73]
Ở Việt Nam hiện nay, trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi, các tác giả sử dụng quần thể tham khảo NCHS [73]
Việc sử dụng Z-score được khuyến cáo bởi Waterlow và cộng sự từ năm
2007 Đây là phương pháp tính điểm đo độ lệch của các kích thuớc nhân trắc
đo được so với trung vị của quần thể tham khảo [73]
Cách tính Z-score theo công thức sau:
Z-score =
Trong đó:
X = Kích thước thực tế đo được
M = Số trung bình của quần thể tham khảo
SD = Độ lệch chuẩn của quần thể tham khảo
Thừa cân là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng nên có so với chiều cao (CN/CC > +2SD), giá trị ngưỡng khuyến cáo cho cân nặng/chiều cao là
> +2SD và được so sánh với quần thể tham khảo NCHS [73]
Cách phân loại mức độ như sau:
Trang 301.5 Chiến lược dự phòng và xử trí thừa cân - béo phì
1.5.1 Chiến lược dự phòng thừa cân - béo phì trong cộng đồng
Hai giải pháp then chốt trong cộng đồng với mục tiêu ngăn ngừa TC-BP bao gồm: Nâng cao hoạt động thể lực và cải thiện chất lượng khẩu phần ăn dựa trên các thực phẩm sẵn có ở địa phương
Chương trình can thiệp cộng đồng để kiểm soát TC-BP thường dựa vào các hình thức tiếp cận như: Phương tiện thông tin đại chúng, tại nơi làm việc, trường học, tài liệu giảng dạy, tập huấn qua mạng lưới của các câu lạc bộ các chương trình cộng đồng thường đạt tới đông đảo các đối tượng đích, do đó cung cấp được các thông tin và khuyến khích thay đổi hành vi [6], [26], [57]
* Thứ nhất: Tập trung các lứa tuổi có nhiều nguy cơ phát triển BP như sau: Trẻ có cha, mẹ BP; trẻ em có vóc người bè ngang; độ tuổi bắt đầu tăng cân: Khi mới sinh, BP chiếm tỉ lệ 12%, rồi tăng dần khi đạt đỉnh cao là 25% khi trẻ đạt 6 tuổi, rồi giảm dần 15-18% trước tuổi dậy thì Khối mỡ tăng lên sau tuổi dậy thì ở cả nam và nữ Ở các nước phát triển, đàn ông thường tăng cân ngoài tuổi 20 hoặc 30, phụ nữ thường tăng cân giữa 30-40 tuổi [26], [28]
* Thứ hai: Đổi mới quan niệm cho rằng trẻ em béo là khỏe, là đẹp Ngược lại BP kéo theo hàng loạt nguy cơ về bệnh lý và tử vong [28], [33]
* Thứ ba: Có một chế độ ăn khoa học: Không ăn quá nhiều chất béo, cải thiện chất lượng chất béo, đủ lượng protein, tăng tỉ lệ thức ăn sinh nhiệt dạng glucid, ăn nhiều rau quả, đủ vitamin và các chất khoáng Không uống rượu, không uống quá nhiều bia [26], [28]
* Thứ tư: Thường xuyên luyện tập thể dục, hoạt động thể lực [28]
* Thứ năm: Cần thay đổi món ăn trong tuần, đa dạng hóa thức ăn hàng ngày [28]
* Thứ sáu: Duy trì cân nặng nên có BMI từ 18,5-23 kg/m2 [28]
Trang 311.5.2 Các biện pháp xử trí thừa cân - béo phì
Trước đây, dự phòng và xử trí BP vẫn đi theo hai hướng: Dự phòng nhằm mục đích không tăng cân và xử trí nhằm mục đích giảm cân Xử trí thuộc phạm vi các nhà lâm sàng, còn dự phòng thuộc về y tế công cộng Hiện nay người ta coi quá trình xử trí đối với BP bao gồm một chuỗi giải pháp đi từ phòng ngừa thông qua duy trì cân nặng và xử trí các bệnh kèm theo cho đến giảm cân [28], [33]
Chế độ ăn rất thấp năng lượng
Khi một khẩu phần có sự thiếu hụt năng lượng giữa tiêu hao và ăn vào trên 1.000 kcalo được gọi là chế độ ăn rất thấp năng lượng Chế độ ăn rất thấp năng lượng có hiệu quả giảm cân rất nhanh, tốc độ giảm trung bình khoảng 20
kg trong 12 đến 16 tuần, nam giới giảm nhiều hơn nữ giới, người càng béo thì giảm cân nhiều hơn [26]
Thay thế bữa ăn
Bữa ăn được thay thế bằng uống đôi khi được dùng trong các chương trình kiểm soát cân nặng Việc thay thế bữa ăn khác với chế độ ăn rất thấp năng lượng là trong mô hình này chỉ có một hoặc hai bữa ăn được thay thế bằng dạng uống chứ không phải là toàn bộ khẩu phần ăn Nhiều thử nghiệm lâm sàng cho thấy việc thay thế bữa ăn bằng uống có hiệu quả lớn trong giảm cân và có hiệu quả duy trì lâu dài cân nặng sau khi giảm cân hoặc ngăn ngừa tăng cân trở lại [26]
Tăng cường hoạt động thể lực
Hoạt động thể lực bao gồm những hoạt động hàng ngày, các công việc liên quan với hoạt động thể lực và luyện tập thể lực, thể thao Tùy theo từng người mà có thể lựa chọn hình thức luyện tập thích hợp: Duy trì chế độ luyện tập thể thao ít nhất 30 phút/ngày với các loại hình như: Đi bộ, bơi, thể dục nhịp điệu, đạp xe đạp người ta ước tính 1 kg chất béo của cơ thể cung cấp
Trang 32đủ năng lượng cho đi bộ hoặc đi bộ nhanh 100 km Điều này tương ứng với đi bộ 2,5 km (20-30 phút/ngày x 5 lần/tuần) sẽ giảm khoảng 6,5 kg chất béo
trong một năm với điều kiện không ăn thừa năng lượng [26]
Phương pháp phẫu thuật
Thắt dạ dày có tác dụng trên thiếu niên bị BP nặng nhưng lại xuất hiện những nguy cơ đáng kể về biến chứng Lựa chọn đầu tiên để chữa BP phải là những phương pháp không phẫu thuật; thắt dạ dày qua nội soi ổ bụng có thể cải thiện cuộc sống và sức khỏe của quần thể có nguy cơ cao này [99]
1.5.3 Xử trí béo phì đối với trẻ em
Theo Hội Dinh dưỡng điều trị của Anh (1996), mục tiêu điều trị BP trẻ
em khác với người trưởng thành, bởi vì trẻ em vẫn còn đang phát triển với sự phát triển khối nạc của cơ thể, việc điều trị tập trung vào ngăn ngừa tăng cân hơn là tập trung vào giảm cân như người trưởng thành Bất cứ mục tiêu điều trị nào liên quan đến điều hòa cân nặng cơ thể phải cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cho sự lớn lên và phát triển của đứa trẻ, đủ năng lượng và đặc biệt
là các vi chất dinh dưỡng: Calci, sắt [42]
1.6 Các nghiên cứu can thiệp bằng truyền thông giáo dục sức khỏe
Nghiên cứu của Phan Thị Bích Ngọc (2010), ở học sinh tiểu học, thành phố Huế, Can thiệp bằng truyền thông giáo dục, kết hợp gia đình và trường học, trong thời gian 9 tháng, nhằm thay đổi hành vi ăn uống và sinh hoạt của trẻ Sau can thiệp, tỉ lệ TC-BP của học sinh ở 3 trường can thiệp giảm từ 8% xuống còn 6,4% (p<0,05), trong khi tỉ lệ này ở 3 trường chứng là 7,95%- 8,97% (p>0,05) Hiệu quả can thiệp là 28,65% Chỉ số khối cơ thể BMI trung bình của nhóm can thiệp sau khi can thiệp là 19,69 ± 3,48 kg/m2, thấp hơn trước khi can thiệp 20,59 ± 2,04 kg/m2 và thấp hơn nhóm chứng (p<0,05) Hiệu quả của truyền thông giáo dục đối với kiến thức, thái độ và thực hành đúng của phụ huynh học sinh lần lượt là 71,25%; 58,82% và 81,46% [43]
Trang 33Có sự cải thiện về TC-BP sau can thiệp ở cả học sinh tiểu học và trung học cơ sở, với p>0,05: Sau khi can thiệp, tỉ lệ TC-BP của học sinh tại trường tiểu học là 13,7%, thấp hơn so với trước can thiệp (19%) và cũng thấp hơn so với trường đối chứng (14,8%) (p>0,05) Tỉ lệ TC-BP của học sinh tại trường trung học cơ sở sau khi can thiệp là 25,9%, thấp hơn so với trước can thiệp (26,9%) và cũng thấp hơn trường đối chứng là 28,2% (p>0,05) Có sự cải thiện có ý nghĩa thống kê kiến thức của học sinh về khái niệm, nguyên nhân, hậu quả của BP, hạn chế nước ngọt có gas, hạn chế chơi game ≤ 2 giờ/tuần ở các trường can thiệp [44]
Nghiên cứu của Trương Sơn (2012), tại thành phố Sóc Trăng, Can thiệp trẻ TC-BP gồm: Hướng dẫn cha mẹ cách thực hành dinh dưỡng và hoạt động thể lực hợp lý nhằm giảm BP trẻ <5 tuổi Điều tra ban đầu đo chỉ số cân đối cơ thể BAZscores và đo lại vào tháng thứ 6, 12 và 24 để theo dõi Kết quả: Chỉ số BAZscores giảm có ý nghĩa thống kê từ 4,76 ± 0,314 xuống mức 4,66 ± 0,342 sau 12 tháng can thiệp, xuống 3,65 ± 0,387 sau 24 tháng can thiệp, p<0,05 [57]
Nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng (2004), ở Hà Nội, Trẻ TC-BP là những trẻ có thói quen ăn nhiều chất ngọt, nhiều tinh bột, ăn nhiều thức ăn chiên, xào, thức ăn chế biến sẵn; có thói quen ăn nhanh, không nhai kỹ thức ăn,
ăn nhiều hay ăn vặt, ăn vào buổi tối, không chịu ăn rau xanh; không chịu vận động, ít tập thể dục thể thao, thường xuyên xem tivi, đọc truyện, chơi điện tử; ngủ đêm ít, ngủ ngày nhiều; gia đình có cha, mẹ, anh, chị bị TC-BP [74]
Nghiên cứu của Phạm Duy Tường (2009), ở Hà Nội, Cân nặng và BMI trung bình của 2 nhóm có giảm đi sau một năm can thiệp nhưng không có ý nghĩa thống kê; huyết áp tối đa và tối thiểu trung bình ở nhóm can thiệp giảm
đi so với trước can thiệp; cholesterol giảm nhiều ở nhóm can thiệp so với nhóm chứng (p<0,05) [71]
Trang 34Nghiên cứu của Phùng Đức Nhật (2010), ở Thành phố Hồ Chí Minh, tỉ
lệ TC-BP ghi nhận sau can thiệp (38,6%) cao hơn ban đầu (33,8%) Các yếu tố như giới tính, khối lớp, tốc độ ăn và ăn thức ăn chiên xào có liên quan đến tỉ lệ TC-BP (p<0,05) Tỉ lệ kiến thức đúng của phụ huynh về dinh dưỡng và TC-BP
ở trẻ thu được sau can thiệp cao hơn ban đầu [50]
Nghiên cứu của Lê Đức Thuận (2010), bổ sung sữa bột đậu tương có FOS/inulin trong thời gian 20 tuần trên đối tượng TC-BP có rối loạn lipid máu tuổi 30-59 đã làm tương ứng với triglycerid, cholesterol toàn phần là 43,97%, 41,28% so với trước can thiệp và so với nhóm chứng [65]
Nghiên cứu của Khadidiatou Ndiaye (2013), kết quả xác định tài chính
và thực phẩm là một chìa khóa cản trở sự lựa chọn dinh dưỡng Chiến lược thiết kế can thiệp cho rằng khuyến khích ban đầu thảo luận gia đình về thực phẩm xúc tiến tích cực mô hình vai trò dinh dưỡng là cực kỳ quan trọng [91]
1.7 Biện pháp can thiệp truyền thông giáo dục dinh dưỡng phòng ngừa thừa cân - béo phì
Hướng dẫn cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ ở 3 khối lớp Mầm, Chồi, Lá có trẻ TC-BP ở nhóm can thiệp điều chỉnh chế độ ăn uống kết hợp với hoạt động thể lực bằng việc thực hiện các nội dung sau đây:
Ăn theo thực đơn của chuyên khoa dinh dưỡng (sử dụng tờ rơi đã in sẵn
để hướng dẫn, cấp phát tờ rơi này cho từng hộ gia đình có trẻ TC-BP trong hoạt động truyền thông tích cực); ăn thịt nạc, cá, tôm, thịt gia cầm bỏ da, đậu phụ; nếu uống sữa không nên uống đường, trẻ lớn nên uống sữa gầy (sữa tách bơ) Không nên uống sữa đặc có đường; chế biến thức ăn: Hạn chế thức ăn quay, chiên, xào, nên ăn các món luộc, hấp; nên ăn đều đặn, không bỏ bữa, không để trẻ quá đói, vì nếu quá đói làm cho trẻ ăn nhiều trong các bữa ăn sau nhằm làm mỡ tích lũy nhanh hơn; nên ăn nhiều vào bữa sáng để tránh ăn vặt ở trường, làm giảm ăn chiều và tối; nên ăn nhiều rau xanh, quả chín ít ngọt;
Trang 35giảm bớt gạo thay bằng khoai, bắp là những thức ăn cơ bản giàu chất xơ; nhai
kỹ và chậm khi ăn [7]
Những điều cần tránh
Không nên uống các loại nước ngọt có gas; hạn chế bánh, kẹo, đường, mật, kem, sữa đặc có đường; tránh cho trẻ nhai kẹo cao su làm cho trẻ lúc nào cũng muốn nhai; không nên dự trữ sẵn thức ăn giàu năng lượng: Bơ, pho mát, bánh, kẹo, nước ngọt ở trong nhà; hạn chế ăn thức ăn đã chế biến sẵn; trẻ dưới
12 tuổi không được dùng thuốc giảm béo
Các biện pháp giúp trẻ tăng cường vận động
Tạo niềm thích thú của trẻ với các hoạt động thể thao Cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ cần quan tâm ủng hộ và tạo mọi điều kiện giúp trẻ năng động; chú trọng những sở thích của trẻ tham gia các môn thể thao dễ dàng gần gũi với cuộc sống như: Khuyến khích trẻ đi bộ đến trường (nếu gần), chơi các môn thể thao: Đi bộ, chạy, nhảy dây, đá bóng, đánh cầu long,
đá cầu, leo thang…, hướng dẫn trẻ làm các công việc nhà: Lau dọn nhà, làm việc nhà…, hạn chế ngồi xem tivi, trò chơi điện tử…, không nên bắt trẻ học quá nhiều, nên tạo điều kiện để trẻ vui đùa, chạy nhảy sau những giờ học Phòng ngừa béo phì ở trẻ em
Đối với trẻ nhỏ: Chủ yếu là nuôi dưỡng, nuôi con bằng sữa mẹ ít có nguy cơ béo phì hơn nuôi bằng sữa bò Cho trẻ ăn bổ sung hợp lý, nên tạo thói quen ăn nhiều rau từ nhỏ, không cho trẻ ăn, uống nước quá ngọt thường xuyên
Đối với trẻ lớn: Chủ yếu giáo dục nếp sống lành mạnh, ăn uống hợp lý, năng vận động và luyện tập thể dục thể thao; thường xuyên theo dõi cân nặng
và chiều cao của trẻ để phát hiện sớm, có thể can thiệp kịp thời, tránh để trẻ thừa cân - béo phì [3], [7], [76]
Trang 36Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Các đối tượng nghiên cứu
- Trẻ em 3-5 tuổi đang học tại các trường mẫu giáo của thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau năm 2013-2014
- Cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ (NTTND)
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu
- Trẻ sinh từ ngày 01/8/2007 đến ngày 01/8/2010
- Hộ khẩu tại thành phố Cà Mau hoặc thời gian sinh sống tại thành phố
Cà Mau ≥ 6 tháng
- Cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ đồng ý tham gia phỏng vấn, chấp nhận cho cân, đo trẻ và tham gia nghe hướng dẫn các hoạt động về truyền thông giáo dục dinh dưỡng trong phòng ngừa TC-BP cho trẻ
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
- Trẻ vắng mặt trong suốt quá trình điều tra được thực hiện tại các điểm trường (hết đợt điều tra lần thứ nhất từ ngày 11-9-2013 đến ngày 24-9-2013)
- Trẻ không thu thập được các chỉ số nhân trắc (gù, vẹo cột sống, )
- Những trẻ mắc các bệnh như bệnh thận, hội chứng Cushing hoặc các bệnh mạn tính khác được chẩn đoán của Bệnh viện
- Cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ từ chối không tham gia nghiên cứu hoặc không thể giao tiếp được (câm, điếc, tâm thần )
2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- 8 trường mẫu giáo của thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau
- Thời gian nghiên cứu: Tháng 8/2013 đến tháng 4/2014 (thời gian cân,
đo lần thứ nhất từ ngày 11/9/2013 đến 24/9/2013; thời gian thực hiện hoạt
Trang 37động can thiệp bằng truyền thông giáo dục dinh dưỡng phòng ngừa TC-BP trong 6 tháng từ ngày 01/10/2013 đến ngày 01/4/2014; thời gian cân, đo lại
lần thứ hai từ ngày 02/4/2014 đến ngày 08/4/2014)
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích và can thiệp có đối chứng
d
p p Z
Trong đó:
n: Cỡ mẫu nhỏ nhất hợp lý
Z: Là trị số tùy thuộc vào mức tin cậy mong muốn của ước lượng, với mức tin cậy mong muốn là 95% thì Z tương ứng là 1,96
p: Tỉ lệ thừa cân - béo phì, p = 0,1117 theo “Nghiên cứu tình trạng thừa cân, béo phì ở trẻ 4-6 tuổi tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang” [63] d: Khoảng sai lệch cho phép giữa tỉ lệ thu được từ mẫu và tỉ lệ của quần thể, ở đây chúng tôi chọn d = 0,025
Vậy: n = 1,96
2 x 0,1117 x (1- 0,1117)
= 609,6 0,0252
- Dự trù mất mẫu là 10%, hệ số thiết kế là 1,5: Cỡ mẫu sẽ là
n = (609,6 x 1,5) + (609,6 x 1,5) x 10% = 1.006 trẻ Thực tế điều tra là 1.053 trẻ
- Đối tượng mẫu cho mục tiêu 1,2: Trẻ em ở 3 khối lớp Mầm, Chồi, Lá
và cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng của trẻ tham gia nghiên cứu
* Cỡ mẫu cho mục tiêu 3:
Trang 38+ Cỡ mẫu xác định sự khác biệt tỉ lệ thừa cân - béo phì giữa nhóm can thiệp và nhóm không can thiệp
- α mức ý nghĩa thống kê, chọn α = 0,1; do đó Z1-α = 1,28
- β là hiệu lực nghiên cứu, chọn β = 80%; do đó Z 1-β = 0,842
+ Đối tượng cho mục tiêu 3: Gồm:
- Tất cả trẻ TC-BP được xác định ở mục tiêu 1
- Cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu
* Chọn mẫu cho nghiên cứu cắt ngang
Áp dụng phương pháp chọn mẫu cụm phân tầng với đơn vị cụm là lớp và
Trang 39tầng là khối lớp Số cụm chọn theo số liệu năm 2013, thành phố Cà Mau có
24 trường mẫu giáo với 6.267 trẻ, mỗi trường có 3 khối lớp, lớp Mầm (trẻ 3 tuổi), lớp Chồi (trẻ 4 tuổi), lớp Lá (trẻ 5 tuổi) Các bước chọn mẫu tiến hành như sau:
Bước 1 chọn trường: Chọn ngẫu nhiên 8 trường bao gồm 4 trường nội ô thành phố Cà Mau và 4 trường ngoại ô thành phố Cà Mau
Bước 2 chọn lớp: Mỗi trường chọn 1 lớp (1 cụm) trong mỗi khối Do đó tổng số cụm chọn là 24 cụm (24 lớp)
Bước 3 chọn trẻ nghiên cứu: Tất cả trẻ em trong lớp được chọn đưa vào nghiên cứu
* Chọn nhóm can thiệp và nhóm không can thiệp
Tất cả trẻ TC-BP đều được đưa vào nghiên cứu và chia 2 nhóm: Chọn trẻ bằng cách phân nhóm trẻ ở trường nội thành và ngoại thành tương đương nhau ở nhóm can thiệp và không can thiệp, sau đó bốc thăm ngẫu nhiên để chọn nhóm trẻ ở trường can thiệp và trường không can thiệp Kết quả nhóm can thiệp bằng truyền thông tích cực là 62 trẻ và nhóm chứng là 61 trẻ nhận hướng dẫn dinh dưỡng thường qui của chương trình phòng chống TC-BP
2.2.4 Nội dung nghiên cứu
2.2.4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Tính tuổi theo năm, qui ước như sau: Từ sơ sinh đến trước ngày đầy năm (tức là năm thứ nhất) gọi là 0 tuổi hay dưới 1 tuổi
Trang 40Từ ngày tròn một năm đến trước ngày sinh nhật lần thứ hai (tức là năm thứ hai) gọi là một tuổi
Tóm lại, kể từ ngày sinh nhật thứ bao nhiêu thì trẻ bắt đầu bấy nhiêu tuổi (tính theo năm)
Theo cách tính này thì một trẻ được tính là 5 tuổi khi trẻ tròn 5 năm đến
5 năm 11 tháng 29 ngày kể cả 2 ngày trên
Giả sử thời điểm điều tra là tháng 8/2013 thì các nhóm tuổi được tính như sau:
Nhóm trẻ 3 tuổi: 36-47 tháng tuổi (từ tháng 8/2009 đến tháng 7/2010) Nhóm trẻ 4 tuổi: 48-59 tháng tuổi (từ tháng 8/2008 đến tháng 7/2009) Nhóm trẻ 5 tuổi: 60-71 tháng tuổi (từ tháng 8/2007 đến tháng 7/2008) + Giới tính trẻ: Gồm 2 giá trị: Nam và nữ
+ Dân tộc: Gồm 3 giá trị: Kinh, Hoa, khác
+ Nơi học: Gồm 2 giá trị: Nội thành và ngoại thành được xác định theo cách phân loại trường khi chọn mẫu: Trường ở phường là trường nội thành, trường ở xã là trường ngoại thành của thành phố Cà Mau
* Đặc điểm của cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ
+ Trình độ học vấn của cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ: Gồm 4 giá trị: Tiểu học; trung học cơ sở; trung học phổ thông; cao đẳng, đại học, sau đại học
+ Nghề nghiệp của cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng: Gồm 5 giá trị:
Cán bộ công chức; buôn bán; công nhân; nông dân; nội trợ, lao động khác
CB-CNV và buôn bán: Làm việc bên ngoài theo giờ hành chính: Thời gian làm việc chủ yếu từ 7 giờ sáng đến 5 giờ chiều
Công nhân: Là những người làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp