1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc Điểm Ngôn Ngữ Giới Trong Chương Trình Shark Tank Mỹ Và Thương Vụ Bạc Tỷ Tt.pdf

27 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Điểm Ngôn Ngữ Giới Trong Chương Trình Shark Tank Mỹ Và Thương Vụ Bạc Tỷ
Người hướng dẫn PGS.TS. Vũ Thị Thanh Hương, TS. Bùi Thị Ngọc Anh
Trường học Học Viện Khoa Học Xã Hội, Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Việt Nam
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Học So Sánh Đối Chiếu
Thể loại Luận Án Tiến Sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI HOÀNG THU BA ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ GIỚI TRONG CHƯƠNG TRÌNH SHARK TANK MỸ VÀ THƯƠNG VỤ BẠC TỶ Ngành Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu Mã số 92220[.]

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học:

Vào hồi giờ ngày tháng năm 2023

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nghiên cứu ngôn ngữ và giới có lịch sử hình thành và phát triển gắn liền với những biến đổi trong xã hội như các phong trào giải phóng phụ nữ, phong trào chống phân biệt giới v.v…và nhiều công trình đã chỉ ra sự vận động và biến đổi trong ngôn ngữ của mỗi giới ở từng giai đoạn lịch sử; từ đó đặt ra vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ giới trong bối cảnh hiện nay với những thay đổi vĩ mô về văn hóa, kinh

tế, xã hội cùng những thay đổi về vai trò giới, quan điểm đối với giới và giới tính Bên cạnh đó, số lượng các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ giới ở Việt Nam còn khá mới khi so sánh với các công trình trên thế giới; đồng thời tiếp cận ngữ liệu từ các chương trình truyền hình – nơi có tầm ảnh hưởng và có tính định hướng

xã hội còn chưa được tập trung nhiều Một yếu tố khác làm động lực cho hướng nghiên cứu là sức hút của chương trình Shark Tank – chương trình về những cuộc đàm phán thực trên truyền hình thực tế, sẽ hứa hẹn mang lại nguồn ngữ liệu thú vị cho nghiên cứu về giới và ngôn ngữ cũng như trong công tác giảng dạy ngôn ngữ đàm phán trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế Như vậy vì những lý do

trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ giới trên chương trình Shark

Tank Mỹ và Thương vụ bạc tỷ” để thực hiện luận án (LA) tiến sĩ với hy vọng sẽ

có những đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn cho ngôn ngữ học xã hội và ngôn ngữ học so sánh đối chiếu

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích chính là chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt trong đặc điểm ngôn ngữ giới của nhà đầu tư (NĐT) và người kêu gọi đầu tư (NKGĐT) trong thể loại chương trình truyền hình Shark Tank Mỹ và Thương vụ bạc tỷ từ góc độ sử dụng hành động ngôn từ (HĐNT) và chiến lược lịch sự (CLLS)

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa lý luận về đặc điểm ngôn ngữ giới và các khái niệm liên quan;

- Khảo sát, thu thập, phân tích và miêu tả ngữ liệu từ các cuộc hội thoại theo cấu trúc thể loại chương trình truyền hình thực tế Shark Tank Mỹ và Thương vụ bạc

tỷ từ góc độ HĐNT và lịch sự

- Kiểm chứng mối quan hệ về giới và các đặc điểm ngôn ngữ của nhóm NĐT, NKGĐT nam và nữ, khảo sát tần suất xuất hiện và mô tả HĐNT, yếu tố lịch sự (YTLS)

- So sánh, đối chiếu các đặc điểm ngôn ngữ giới trong hai khối liệu nhằm chỉ ra những nét tương đồng, khác biệt giữa đặc điểm ngôn ngữ của nhóm NĐT, NKGĐT nam, nữ trong hai chương trình thực tế trên

Trang 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

HĐNT và CLLS trong phát ngôn của NĐT, NKGĐT nam và nữ trên chương trình

truyền hình Shark Tank Mỹ mùa 9 và Thương vụ bạc tỷ mùa 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu

LA chọn cách tiếp cận ngôn ngữ theo hướng ngữ dụng học, tiếp cận đặc điểm ngôn ngữ giới qua phát ngôn của NĐT, NKGĐT ở mặt ngôn từ, hành vi tại lời trong phạm vi lý thuyết về HĐNT của Searle và lý thuyết Lịch sự chiến lược của Brown và Levinson trong chương trình truyền hình thực tế Shark Tank Mỹ mùa 9 phát sóng từ 7/10/2018 đến 12/5/2019 trên kênh truyền hình ABC và Thương vụ bạc tỷ mùa 3 phát sóng trên kênh VTV3 từ 24/7/2019 đến 6/11/2019

4 Phương pháp nghiên cứu và ngữ liệu nghiên cứu

4.1 Ngữ liệu nghiên cứu

Ngữ liệu gồm 4394 HĐNT trong các hội thoại đàm phán thuộc chương trình Thương vụ bạc tỷ và 5270 HĐNT thuộc chương trình Shark Tank Mỹ; với độ tin cậy 95% và mức sai số 5%; 1972 yếu tố lịch sự trong chương trình Thương vụ bạc

tỷ và 1954 yếu tố lịch sự trong chương trình Shark Tank Mỹ xuất hiện trong các hành động đe doạ thể diện được khảo sát từ các nhóm HĐNT, với độ tin cậy 95%

và mức sai số 5%

4.2 Phương pháp nghiên cứu

LA áp dụng chính các phương pháp:(1) nghiên cứu định lượng, (2) miêu tả định tính, (3) so sánh đối chiếu, (4) phân tích hội thoại, diễn ngôn

5 Đóng góp của luận án

LA khẳng định hướng tiếp cận điểm kiến tạo xã hội và áp dụng tổ hợp các lý thuyết

về thể loại, HĐNT, lịch sự chiến lược, mô hình đàm phán Van Eemeren vào nghiên cứu; khẳng định nghiên cứu ngôn ngữ giới cần đặt trong cùng nhóm ngữ cảnh cụ thể; LA đã kiểm chứng sự khác biệt giới qua phương pháp phân tích định lượng trên phần mềm thống kê SPSS, đã khẳng định cách tiếp cận khoa học trong việc xác định ngôn ngữ giới trong ngôn ngữ học xã hội; đã miêu tả và chỉ ra những điểm tương đồng, khác biệt về đặc trưng giới của từng đối tượng giao tiếp trong đàm phán từ góc độ HĐNT, CLLS; góp phần làm phong phú đặc điểm ngôn ngữ giới trong lĩnh vực ngôn ngữ học xã hội; cho thấy sự vận động bao gồm những điểm cố hữu và thay đổi trong ngôn ngữ giới khi so sánh đối chiếu trong hai phiên bản ngôn ngữ ở cùng một thể loại

6 Ý nghĩa của luận án

6.1 Ý nghĩa về mặt lý luận

Trang 5

(1) Khẳng định hướng tiếp cận hiện đại từ quan điểm kiến tạo xã hội “dynamic

approach” trong nghiên cứu về ngôn ngữ giới là cần thiết và khách quan (2) LA

đã trình bày cơ bản bức tranh nghiên cứu về ngôn ngữ và giới nói chung, trong mối quan hệ với truyền hình và đàm phán nói riêng; và trở thành nguồn tài liệu tham khảo về mặt lý thuyết cho các nghiên cứu sau (3) Mô hình nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở lý thuyết về thể loại, HĐNT, lịch sự bằng phương pháp miêu

tả định tính và định lượng, phương pháp so sánh đối chiếu đã khẳng định ý nghĩa

về mặt phương pháp luận cho nghiên cứu về ngôn ngữ và giới

6.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn

(1) Kết quả của nghiên cứu đã góp phần làm phong phú hệ thống đặc điểm ngôn ngữ giới trong ngành ngôn ngữ học xã hội nói chung (2) Mô hình nghiên cứu có tính ứng dụng và tham khảo cao vào nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ giới trong các bối cảnh giao tiếp đàm phán khác trong cuộc sống (3) Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng vào giảng dạy ngoại ngữ, giao tiếp của mỗi giới trong ngữ cảnh đàm phán cụ thể

7 Bố cục của luận án

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, LA có kết cấu gồm 3 chương gồm: Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết; Chương 2: Đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ giới trong chương trình Shark Tank Mỹ

và Thương vụ bạc tỷ từ góc độ sử dụng HĐNT; Chương 3: Đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ giới trong chương trình Shark Tank Mỹ và Thương vụ bạc tỷ từ góc độ lịch sự

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Đặt vấn đề

Để phác họa bức tranh mô phỏng tình hình nghiên cứu ngôn ngữ giới trong và ngoài nước, chúng tôi lựa chọn tiếp cận theo cách xâu chuỗi, phân loại các mảng vấn đề tạo nên hệ thống luận điểm từ các nghiên cứu trước; sau đó, thu hẹp dần phạm vi nghiên cứu vào nhóm đặc điểm ngôn ngữ giới trên truyền hình, trong đàm phán, nền tảng lý thuyết, phương pháp nghiên cứu đã được áp dụng; từ đó, xác định “khoảng trống” cho vấn đề nghiên cứu của mình

1.1.2 Tổng quan về đặc điểm ngôn ngữ giới

1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ giới trên thế giới

Với những công trình liên quan tới đặc điểm ngôn ngữ được sử dụng bởi từng

giới, 4 hướng tiếp cận chính gồm Deficit approach (thiếu hụt/ kém cỏi), Dominance approach (ưu thế), Difference approach (khác biệt văn hóa), Dynamic/

Trang 6

constructionism approach (kiến tạo xã hội/ cách tiếp cận động) đã dựng nên bức

tranh đặc điểm ngôn ngữ giới qua các nghiên cứu của các nhóm học giả tiêu biểu như Jespenser, Lakoff; Coates, Zimmerman và West, Graddol và Swann, Holmes, Eckert, McConnell-Ginet, Cameron, v.v ; đồng thời chứng minh đặc điểm ngôn ngữ giới không cố định hay tiền định mà nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như văn hóa, xã hội, v.v và được bộc lộ khác nhau trong hoàn cảnh, đối tượng giao tiếp khác nhau

1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ giới ở Việt Nam

Các công trình nghiên cứu điển hình về ngôn ngữ giới ở Việt Nam được chia theo

ba nhóm: (1) bộc lộ giới tính trong cách sử dụng ngôn ngữ ở các ngữ cảnh khác nhau với các tác giả tiêu biểu gồm Nguyễn Văn Khang (1999), Nguyễn Thị Thanh Bình (2000), Bùi Thị Ngọc Anh (2014), Phan Thị Yến Tuyết và Lương Văn Hy (2000), v.v…; (2) giới tính và lịch sự với nhóm các tác giả tiêu biểu như Vũ Thị Thanh Hương (1999), Nguyễn Quang (2019), v.v…, (3) sự khác biệt giới trong các HĐNT cụ thể với các tác giả Trần Thanh Vân (2012), Phạm Thị Hà (2013),

Lê Thị Thúy Hà (2014)

1.1.3 Tổng quan về đặc điểm ngôn ngữ giới trên truyền hình

1.1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới về đặc điểm ngôn ngữ giới trên truyền

hình

Hầu hết các nghiên cứu về ngôn ngữ giới trên truyền hình đều tập trung vào

sự khác biệt trong phong cách lời nói, phong cách giao tiếp hội thoại giữa hai giới Đối với nghiên cứu phong cách lời nói/ hội thoại qua cách sử dụng ngôn ngữ

ở cấp độ từ, câu như đại từ nhân xưng, từ kính ngữ, từ nhấn mạnh, cụm từ rào đón, động từ trong các nền văn hóa khác nhau cũng như số lượng từ ngữ trong hội thoại qua các nghiên cứu của Brownlow, Rosamond & Parker (2003), Elvheim, E (2006) Đối với các nghiên cứu về phong cách giao tiếp qua HĐNT trong các bài phỏng vấn trên truyền hình, nữ hay bày tỏ cảm nhận, bàn luận về những chủ đề liên quan đến gia đình, con người; nữ giới trên truyền hình không sử dụng các từ ngữ biểu đạt sự thăm dò mà thay vào đó họ thể hiện bản thân rõ ràng và quyết đoán (theo Sheila Brownlow, Julie & Jennifer trích trong Brownlow, Rosamond,

& Parker (2003), Endo trích trong Tanaka (2014)) Đối với các nghiên cứu về lượng lời nói, lượt lời nói, ngắt lời trên các chương trình truyền hình, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện và chỉ ra kết quả như sau: nam nói nhiều hơn nữ, nhiều lượt nói hơn trong hội thoại giữa nam và nữ, và ngắt lời người nghe nhiều hơn nữ (theo Elvheim, E (2006), Li, J (2014))

1.1.3.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam về đặc điểm ngôn ngữ giới trên truyền

hình

Trang 7

Ở Việt Nam, phần lớn công trình về ngôn ngữ truyền hình được thực hiện để tìm hiểu ngôn ngữ của người dẫn chương trình, hay người tham gia; nổi bật là cuốn sách “Nói năng, giao tiếp trên truyền hình” của tác giả Nguyễn Thế Kỷ (2011); Trần Phúc Trung (2012) thực hiện nghiên cứu về hành động hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn truyền hình trên các kênh của VTV (Việt Nam) và TV5 (Pháp); Trần

Thị Thanh Hương (2019) thực hiên đề tài về “Ngôn ngữ đánh giá của các giám

khảo trên kênh truyền hình thực tế trong một số chương trình giải trí tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh)”

1.1.4 Tổng quan về tình hình nghiên cứu ngôn ngữ giới và đàm phán

1.1.4.1 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ giới và đàm phán trên thế giới

Xét nghiên cứu đàm phán trong mối quan hệ với giới, nhiều công trình khoa học được thực hiện và hầu như liên quan tới các lý thuyết về khuôn mẫu/ định kiến giới, vai trò của giới trong đàm phán (theo Miles & Clenney, 2010), quyền lực trong đàm phán (theo Watson; Watson & Hoffman trích trong Kray (2014)), lý thuyết về vai trò xã hội của giới (theo Amanatulla & Morris; Miles & LaSalle trích trong Bear, J B., & Babcock, L (2017)), phong cách và hành vi đàm phán của

mỗi giới (theo Eagly và Wood; Katz & Kahn trích trong Error! Reference source

not found.) và các nhân tố tác động nên hành vi đàm phán của mỗi giới (theo

Dobrijevic, G (2014))

1.1.4.2 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ giới và đàm phán ở Việt Nam

Riêng các công trình trong nước về khía cạnh ngôn ngữ trong đàm phán vẫn còn khá hạn chế về số lượng, chủ yếu các nghiên cứu tập trung vào mảng phi ngôn từ trong đàm phán Bên cạnh đó, nghiên cứu đàm phán thường ở dạng nghiên cứu hội thoại mua bán, thương lượng ở các đơn vị của hội thoại từ HĐNT, tham thoại, cặp thoại, đoạn thoại, cuộc thoại Duy nhất một đề tài LA tiến sĩ của Trần Thanh

Vân (2012) về “Đặc trưng giới tính biểu hiện qua cuộc thoại mua bán ở chợ Đồng

Tháp”, được thực hiện khá công phu, tỉ mỉ bằng phương pháp phân tích hội thoại,

ngữ liệu từ các hội thoại trong cuộc sống thực tế; do đó, kết quả ban đầu chỉ ra sự khác biệt giới trong hội thoại mua bán Mô hình và kết quả nghiên cứu của đề tài này mang lại nhiều gợi ý cho đề tài nghiên cứu của nhóm

1.1.5 Xác định khoảng trống nghiên cứu

Chúng tôi quyết định tiến hành nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ giới trên cơ sở

hướng tiếp cận kiến tạo xã hội, kết hợp khái niệm “gender” - giới và “sex” – giới

tính qua lăng kính của phương pháp miêu tả định lượng kết hợp định tính và đối

chiếu đặc điểm ngôn ngữ từ góc độ sử dụng HĐNT và lịch sự trong khối ngữ liệu

từ hội thoại trong thể loại chương trình truyền hình thực tế về lĩnh vực đầu tư và

Trang 8

đàm phán kinh doanh khá hấp dẫn ở Mỹ và Việt Nam – Shark Tank Mỹ và Thương

vụ bạc tỷ

1.2 Cơ sở lý luận

1.2.1 Khái niệm giới và giới tính trong nghiên cứu ngôn ngữ

Theo Jule (2008), sex (giới tính) và gender (giới) là hai khái niệm không

thể tách rời trong nghiên cứu xã hội học Nhiều nhà khoa học cho rằng giới tính nam hay nữ được xác định dựa trên đặc điểm sinh học, con người từ khi sinh ra đã

có giới tính nam hay nữ Giới liên quan tới một hệ thống các hành vi mang tính văn hóa, xã hội; có liên hệ chặt chẽ với những vấn đề xã hội được tạo ra trên cơ sở giới tính, và ngôn ngữ cũng đóng vai trò chính trong việc thiết lập và duy trì mối quan hệ đó

1.2.2 Các trường phái tiếp cận nghiên cứu ngôn ngữ và giới

Từ sau sự xuất hiện tác phẩm có tầm ảnh hưởng của Lakoff, là Language and

Woman’s Place, các hướng tiếp cận nghiên cứu dần được hình thành gồm trường

phái Thiếu hụt/ kém cỏi, Ưu thế, Khác biệt văn hóa, Kiến tạo xã hội/ cách tiếp cận

động Theo Coates, J (2016), các trường phái này không triệt tiêu nhau, ngược lại

chúng có tính kế thừa, tương hỗ với nhau; khi trường phái hiện đại xuất hiện không

có nghĩa là trường phái cũ bị thay thế

1.2.3 Ngôn ngữ truyền hình và thể loại chương trình truyền hình thực tế

Shark Tank

1.2.3.1 Ngôn ngữ truyền hình

Ngôn ngữ truyền hình là ngôn ngữ hình ảnh và âm thanh, là dạng ngôn ngữ nói thành tiếng đi kèm với hình ảnh Nguyễn Thế Kỷ (2011) nêu lên những đặc trưng ngôn ngữ truyền hình gồm: tính phổ thông, tính chuẩn mực, tính quy thức Theo Nguyễn Thế Kỷ (2011), giao tiếp trên truyền hình là quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ và phương tiện yếu tố phụ trợ để tạo ra các phát ngôn, các diễn ngôn nhằm trao đổi thông tin giữa nhà báo, nhà đài với công chúng; với các nhân tố giao tiếp trên truyền hình bao gồm nhân vật giao tiếp, nội dung, đề tài cuộc giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, phương tiện ngôn ngữ và các tín hiệu khác

1.2.3.2 Lý thuyết về thể loại và thể loại chương trình Shark Tank

a) Lý thuyết thể loại

Swales (1990) trình bày khái niệm khá phổ biến như sau: “Thể loại bao gồm một

nhóm các sự kiện giao tiếp, các thành viên trong đó có cùng mục đích giao tiếp Các mục đích giao tiếp đều dễ được nhận diện bởi các thành viên trong cộng đồng diễn ngôn (tham gia vào diễn ngôn) và từ đó tạo thành cơ sở lý luận cho thể loại…” Định nghĩa của Bhatia V.K (2013) về thể loại cũng nhấn mạnh cấu trúc

truyền thống mà cộng đồng chuyên môn cho là đặc điểm chung/ khái quát; ám chỉ

Trang 9

khả năng vận dụng các cấu trúc này, sử dụng chúng vào tạo ra các cấu trúc mới hoặc sử dụng vào các mục đích khác nhau

b) Thể loại chương trình truyền hình thực tế Shark Tank

Frans H van Eemeren (2010) đã mô tả các cuộc đàm phán như một thể loại gồm: các loại hành động giao tiếp mà ở đó các vai giao tiếp bắt đầu những mâu thuẫn

về quyền lợi và có cùng mục đích, đi tới một thỏa thuận thống nhất bằng cách trao đổi các đề xuất kèm theo tranh luận Mô hình lý thuyết này mô tả các lý lẽ được trình bày và các lượt chuyển hợp lý trong quá trình đàm phán diễn ra Các lượt (bước) trao đổi được mô tả bằng các HĐNT sử dụng trong tình huống và ngữ cảnh

cụ thể, xây dựng nên mô hình đàm phán theo hướng ngữ dụng Van Eemeren (2010) cho rằng quá trình tranh luận lý tưởng trải qua 4 giai đoạn tương ứng với 4 giai đoạn trong quá trình thảo luận phê phán gồm (1) giai đoạn đối chất, (2) mở đầu, (3) giai đoạn tranh luận, (4) giai đoạn kết luận

1.2.3.3 Thông tin về chương trình thực tế Shark Tank Mỹ và Thương vụ bạc tỷ Một số thông tin cơ bản về NĐT, NKGĐT trong 2 chương trình:

Đối tượng tham gia trong chương trình Shark Tank Mỹ và Thương vụ bạc tỷ đều

có một số đặc điểm về vị trí xã hội, nghề nghiệp và mục đích tham dự chương trình nhất định Khi so sánh về mặt quyền lực giữa NĐT và NKGĐT trong cuộc đàm phán, mặc dù họ đều là những nhà sáng lập, lãnh đạo công ty, có tài sản, v.v… nhưng trong chương trình này, NĐT vẫn nắm quyền quyết định nhiều hơn trong việc có đồng ý đầu tư hay không

1.2.4 Lý thuyết hành động ngôn từ

1.2.4.1 Khái niệm hành động ngôn từ

Trong thuyết của Austin (1975), các chuỗi hành động đó gồm ba nhóm, được mô

tả cụ thể như sau: “Một hành động ngôn ngữ được thực hiện khi một người nói

(hoặc viết) ra một phát ngôn cho người nghe (hoặc người đọc) trong ngữ cảnh nhất định, hàm chứa 3 loại hành động ngôn từ gồm: Hành vi tạo lời, hành vi tại lời và hành vi mượn lời”

1.2.4.2 Phân loại hành động ngôn từ

Theo Searle (1976), ông đã liệt kê 12 điểm khác biệt giữa các HĐNT có thể dùng làm tiêu chí phân loại Tuy nhiên, ông chỉ dùng 4 trong số 12 tiêu chí để phân lập

5 loại HĐNT gồm: (1) Tiêu chí đích ở lời, (2) Tiêu chí hướng khớp ghép, (3) Tiêu chí trạng thái tâm lí, (4) Tiêu chí nội dung mệnh đề Trên cơ sở đó, Searle chia các HĐNT thành 5 nhóm; trong mỗi nhóm lại bao chứa những hành vi tại lời nhỏ, cụ thể hơn

1.2.4.3 Phương thức thực hiện hành động ngôn từ

a) Hành động ngôn từ trực tiếp

Trang 10

Yule, G., & Widdowson, H G (1996) định nghĩa “HĐNT trực tiếp là HĐNT có

mối quan hệ trực tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng trong phát ngôn đó”

Nói các khác, đây chính là việc dùng các biểu thức HĐNT nhằm đạt đến hiệu lực

ở lời của chính hành động đó Như vậy, dựa trên các dấu hiệu hình thức về mặt

ngôn từ tường minh hoặc nội dung mệnh đề để xác định HĐNT trực tiếp

b) Hành động ngôn từ gián tiếp

Định nghĩa về HĐNT gián tiếp được xây dựng từ nghiên cứu của Searle,

J (1976:60), ông cho rằng“một hành vi ở lời được thực hiện gián tiếp qua một

hành vi tại lời khác sẽ được gọi là hành vi ngôn từ gián tiếp” Searle còn nhấn

mạnh rằng hiệu lực gián tiếp của các hành động tại lời phụ thuộc rất mạnh vào hoàn cảnh giao tiếp Vì vậy, để nhận biết các HĐNT gián tiếp cần phải: (1) Nhận biết hành động ở lời trực tiếp là hành động ở lời nào (2) Căn cứ vào nội dung mệnh đề, cụ thể là căn cứ vào cấu trúc quan hệ ngữ nghĩa giữa các thành tố tạo nên nội dung mệnh đề (3) Căn cứ vào ngữ cảnh, do một HĐNT gián tiếp lệ thuộc rất mạnh vào ngữ cảnh

1.2.5 Lý thuyết lịch sự

1.2.5.1 Lịch sự chiến lược

Lịch sự chiến lược là hướng tiếp cận phổ biến của các nhà nghiên cứu phương Tây, nổi bật là R Lakoff (1989), G N Leech (2014), và Brown & Levinson (1987) với các mô hình lý thuyết về lịch sự khác nhau nhưng đều có điểm chung

về khái niệm lịch sự là cách ứng xử khôn khéo, tế nhị nhằm tránh xúc phạm hay

áp đặt và làm tăng sự vừa lòng đối với người đối thoại để đạt hiệu quả giao tiếp cao nhất

1.2.5.2 Lịch sự chuẩn mực xã hội

Trong quan niệm của người Trung Quốc, “khái niệm thể diện hàm chỉ mối quan

tâm của con người về thanh danh, uy tín của mình trong xã hội, tức hình ảnh xã hội của mình” (trích trong Phạm Thị Tuyết Minh (2017)) Đối với người Nhật,

thể diện gắn với sự tôn trọng thứ bậc và vị thế xã hội của đối tác hơn là ý thức về quyền hay cá nhân Theo đó, lịch sự chuẩn mực hướng tới thể hiện sự tôn trọng các giá trị xã hội của đối tác giao tiếp như: địa vị, quyền lực, thứ bậc, tuổi tác, giới

tính, chức vụ, v.v

1.2.5.3 Quan điểm kết hợp lịch sự chiến lược và chuẩn mực xã hội

Lịch sự theo quan điểm của các nhà ngôn ngữ học phương Tây (hay lịch sự chiến lược) thiên về cách giao tiếp khéo léo, tế nhị; còn lịch sự theo quan điểm của các nhà ngôn ngữ học phương Đông (hay lịch sự chuẩn mực) nghiêng về cách ứng xử

lễ độ, chuẩn mực “Cả hai cách tiếp cận đều bảo lưu những tư tưởng khác nhau

về cùng một hiện tượng được cả hai dán nhãn chung là lịch sự.” Kế thừa các quan

Trang 11

điểm về lịch sự, B Hill, Ide, Ikuta, Kawasaki, & Ogino (1986); Shoshana, House,

& Kasper (1989); Vũ Thị Thanh Hương (1999)

1.3 Tiểu kết

Chương 1 đã khái quát bức tranh nghiên cứu về ngôn ngữ giới trong nước và quốc

tế, cũng như đặc điểm ngôn ngữ giới trong mối quan hệ với truyền hình và đàm phán Từ đó, chúng tôi xác định được khoảng trống nghiên cứu của LA; xác định phạm vi nghiên cứu của LA theo hướng ngữ dụng học, xác định những đặc trưng giới trong phát ngôn của các đối tượng thuộc thể loại đàm phán trên truyền hình

Tần suất Tỉ lệ %

Tần suất Tỉ lệ %

Tần suất Tỉ lệ %

MỞ ĐẦU

TÁI HIỆN 298 64.8% 126 59.4% 44 20.8% 18 14.3% ĐIỀU KHIỂN 96 20.9% 48 22.6% 50 23.6% 16 12.7%

Trang 12

Tần suất Tỉ lệ %

Tần suất Tỉ lệ %

Tần suất Tỉ lệ %

MỞ ĐẦU

TÁI HIỆN 158 66.9% 70 58.3% 14 30.4% 2 16.7% ĐIỀU KHIỂN 40 16.9% 22 18.3% 26 56.5% 8 66.7%

Bảng 2b: Phân bố HĐNT của NĐT, NKGĐT nam và nữ trong Thương vụ bạc tỷ

2.3 Đặc điểm giới thể hiện qua các hành động ngôn từ ở giai đoạn Mở đầu trong Shark Tank Mỹ và Thương vụ bạc tỷ

2.3.1 Đặc điểm giới thể hiện qua các HĐNT ở giai đoạn Mở đầu của

Shark Tank Mỹ

Đối với NKGĐT: Không có ý nghĩa thống kê và sự khác biệt giới trong việc sử

dụng các nhóm HĐNT Khi xem xét cụ thể những tương đồng và khác biệt về đặc trưng giới trong từng HĐNT:

- Nam trình bày, khẳng định, giải thích, hướng dẫn nhiều hơn nữ; nữ kể lể, mô tả, nhận xét, khoe nhiều hơn nam;

- Nam đề nghị, yêu cầu, gọi tên nhiều hơn nữ, nữ mời mọc, xin phép, hỏi, hướng dẫn, mong muốn nhiều hơn nam  nữ có xu hướng sử dụng nhiều HĐNT ĐIỀU KHIỂN mang tính cộng tác, ít đe dọa thể diện hơn của nam; nam và nữ đều sử dụng đa số HĐNT trực tiếp (nữ sử dụng nhiều HĐNT trực tiếp hơn nam;

- Nữ cảm ơn, bày tỏ cảm xúc tích cực và mong muốn nhiều hơn nam; nam chào, khen, bày tỏ cảm xúc tiêu cực, chúc nhiều hơn nữ

Đối với NĐT: Có sự khác biệt giới trong việc sử dụng HĐNT

Trang 13

- Nam nêu quan điểm, trình bày nhiều hơn nữ, nam chủ yếu nhận xét, đồng tình, trêu chọc; nữ chủ yếu nhận xét, khẳng định, phủ định, đáp, mô tả

- Nam thể hiện phong cách mạnh mẽ trong phát ngôn hơn nữ khi suy luận từ kết quả số lượng phát ngôn chứa HĐNT ĐIỀU KHIỂN nhiều hơn nữ

- Nam cam kết, hứa hẹn nhiều hơn mặc dù tần suất xuất hiện thấp

- Nữ biểu cảm nhiều hơn trong phát ngôn; nam và nữ đều bày tỏ cảm xúc tích cực khi tiếp nhận thông tin từ diễn ngôn thuyết trình

2.3.2 Đặc điểm giới thể hiện qua các HĐNT ở giai đoạn Mở đầu của

Thương vụ bạc tỷ

Đối với NKGĐT: Có sự khác biệt giới trong việc sử dụng HĐNT

- Nam trình bày, nêu quan điểm nhiều hơn nữ: nam trình bày, nhận xét nhiều hơn nữ; nữ giới thiệu, khoe, giải thích, kể lể nhiều hơn nam  nữ tập trung nhắm vào thông tin cá nhân; nam tập trung vào thông tin dự án

- Nam chủ yếu thực hiện chào hỏi đầu chương trình và rất ít phát ngôn bày tỏ cảm xúc, mong muốn; nữ sử dụng đa dạng các BIỂU CẢM hơn nam gồm chào, cảm

ơn, bày tỏ cảm xúc và mong muốn

Đối với NĐT: Không có ý nghĩa thống kê và sự khác biệt giới trong việc sử dụng

các nhóm HĐNT

2.3.3 Đối chiếu đặc điểm giới thể hiện qua các HĐNT ở giai đoạn Mở đầu

của Shark Tank Mỹ và Thương vụ bạc tỷ

Đặc điểm ngôn ngữ giới của NKGĐT ở giai đoạn Mở đầu trong chương trình

Nam trình bày, khẳng định, giải thích, hướng

dẫn nhiều hơn nữ

TÁI HIỆN

Nam trình bày, nhận xét nhiều hơn nữ

Nữ kể lể, mô tả, nhận xét, khoe nhiều hơn

nam

Nữ giới thiệu, khoe, giải thích, kể lể nhiều hơn nam

Cả nam và nữ đều sử dụng nhiều HĐNT TÁI

HIỆN trực tiếp; không có sự khác biệt giới

trong lối nói trực tiếp và gián tiếp

Cả nam và nữ đều sử dụng nhiều HĐNT TÁI HIỆN trực tiếp; không có sự khác biệt giới trong lối nói trực tiếp và gián tiếp Nam đề nghị, yêu cầu, gọi tên nhiều hơn nữ ĐIỀU

KHIỂN

Không có sự khác biệt giới trong sử dụng các loại HĐNT ĐIỀU KHIỂN Do đó, không thể khái quát xu hướng sử dụng các HĐNT trong phần mở đầu

Nữ mời mọc, xin phép, hỏi,hướng dẫn, mong

muốn nhiều hơn nam

Nam sử dụng lối nói gián tiếp nhiều hơn nữ,

Nữ áp dụng nói trực tiếp, nói thẳng nhiều hơn

nam Một số chiến lược thực hiện HĐNT mời

gián tiếp:

(1) Câu hỏi trực tiếp hoặc HĐNT

phán đoán

(2) HĐNT cầu khiến

Ngày đăng: 22/08/2023, 15:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w