VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI Hoàng Minh Quân QUAN NIỆM CỦA MỘT SỐ ĐẠI BIỂU TRÍ THỨC TÂN HỌC VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX VỀ VẤN ĐỀ CON NGƯỜI CÁ NHÂN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ L[.]
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Hoàng Minh Quân
QUAN NIỆM CỦA MỘT SỐ ĐẠI BIỂU TRÍ THỨC TÂN HỌC VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
VỀ VẤN ĐỀ CON NGƯỜI CÁ NHÂN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI – năm 2023
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Hoàng Minh Quân
QUAN NIỆM CỦA MỘT SỐ ĐẠI BIỂU TRÍ THỨC TÂN HỌC VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
VỀ VẤN ĐỀ CON NGƯỜI CÁ NHÂN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của bản thân, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Nguyên Việt Các trích dẫn trong luận án đều tuân thủ đúng quy định và có nguồn gốc rõ ràng Kết quả nghiên cứu của luận án là sản phẩm của quá trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa từng được công bố trong một công trình nào khác
Nghiên cứu sinh
Hoàng Minh Quân
Trang 4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 7
1.1 Những nghiên cứu liên quan đến điều kiện, tiền đề cho sự hình thành quan niệm về vấn đề con người cá nhân của trí thức tân học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX 7 1.2 Những nghiên cứu liên quan đến quan niệm của trí thức tân học ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX về vấn đề con người cá nhân 18 1.3 Những vấn đề đặt ra từ tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 28 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 32
CHƯƠNG 2: NHỮNG ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH THÀNH QUAN
VẤN ĐỀ CON NGƯỜI CÁ NHÂN 33
2.1 Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa dẫn đến sự hình thành quan niệm về vấn đề con người cá nhân của trí thức tân học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX 33 2.2 Những tiền đề tư tưởng cho sự hình thành quan niệm về vấn đề con người cá nhân của trí thức tân học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX 49 2.3 Sự hình thành và phát triển của tầng lớp trí thức tân học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX 70 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 81
CHƯƠNG 3: QUAN NIỆM CỦA MỘT SỐ TRÍ THỨC TÂN HỌC THEO KHUYNH HƯỚNG PHỤC CỔ Ở VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX VỀ VẤN ĐỀ CON NGƯỜI CÁ NHÂN: NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM, Ý NGHĨA VÀ HẠN CHẾ CỦA NÓ 83
3.1 Quan niệm của một số trí thức tân học theo khuynh hướng phục cổ ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX về địa vị của con người cá nhân 83 3.2 Quan niệm của một số trí thức tân học theo khuynh hướng phục cổ ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX về quyền lợi cá nhân 92 3.3 Quan niệm của một số trí thức tân học theo khuynh hướng phục cổ ở ViệtNam nửa đầu thế kỷ XX về tự do cá nhân 100 3.4 Đặc điểm, ý nghĩa và hạn chế chủ yếu trong quan niệm về con người cá nhân của nhóm trí thức tân học theo khuynh hướng phục cổ ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX 114 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 125
Trang 5ii
CHƯƠNG 4: QUAN NIỆM CỦA MỘT SỐ TRÍ THỨC TÂN HỌC THEO KHUYNH HƯỚNG CẤP TIẾN Ở VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX VỀ VẤN ĐỀ CON
NGƯỜI CÁ NHÂN: NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM, Ý NGHĨA VÀ HẠN CHẾ CỦA NÓ 127
4.1 Quan niệm của một số trí thức tân học theo khuynh hướng cấp tiến ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX về địa vị của con người cá nhân 127
4.2 Quan niệm của một số trí thức tân học theo khuynh hướng cấp tiến ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX về quyền lợi cá nhân 138
4.3 Quan niệm của một số trí thức tân học theo khuynh hướng cấp tiến ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX về tự do cá nhân 143
4.4 Đặc điểm, ý nghĩa và hạn chế chủ yếu trong quan niệm về con người cá nhân của nhóm trí thức tân học theo khuynh hướng cấp tiến ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX 157
TIỂU KẾT CHƯƠNG 4 170
KẾT LUẬN 172
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 175
TÀI LIỆU THAM KHẢO 176
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX là giai đoạn bản lề trong diễn trình vận động của lịch sử Việt Nam nói chung, lịch sử tư tưởng Việt Nam nói riêng Đây là giai đoạn đánh dấu những bước chuyển mang tính căn bản trên mọi mặt của đời sống: chính trị, kinh tế, văn hóa, và đương nhiên, bao gồm cả tư tưởng Đó là những bước chuyển hết sức mau lẹ (chỉ trong vỏn vẹn chưa đầy nửa thế kỷ), nhưng đầy nhọc nhằn, với rất nhiều xung đột, va chạm, mà xu hướng chung là những bước chuyển từ một xã hội cổ điển sang một xã hội cận, hiện đại Trong lĩnh vực tư tưởng, đây là giai đoạn mà tư tưởng của người Việt đã thực sự có những chuyển biến mang tính cốt lõi, mà ở đó, hệ hình tư duy truyền thống từng bước nhường chỗ cho một hệ hình tư duy hiện đại, mang nhiều dấu ấn của tư tưởng phương Tây Bất kể là ở vấn đề nào, thế giới quan hay nhân sinh quan, người Việt thời kỳ này đều đưa ra những cách nhìn nhận hết sức mới
mẻ, mang tính đột phá, để mở đường cho những cuộc vận động cải cách xã hội
Trong số những vấn đề thu hút sự chú ý của giới trí thức Việt Nam nửa đầu thế
kỷ XX, vấn đề con người cá nhân có thể xem là một vấn đề tư tưởng lớn Điều đó thể hiện trước hết ở tần suất xuất hiện của nó trên các diễn đàn học thuật ở Việt Nam giai đoạn này Những bàn luận về con người cá nhân đã xuất hiện từ những thập niên đầu của thế kỷ XX và còn được tiếp tục duy trì cho đến những năm 30, 40 Hầu hết những nhà trí thức lớn của thời kỳ này, từ Bắc kỳ cho đến Nam kỳ, từ cựu học cho đến tân học, từ những người theo khuynh hướng bảo thủ đến những người theo khuynh hướng cấp tiến, đều đã ít nhiều tham gia vào những tranh luận về vấn đề này Mặt khác, nếu xem toàn bộ dòng chảy tư tưởng Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX là một sự phản tỉnh trên quy mô lớn của người trí thức Việt Nam đối với hệ thống tri thức truyền thống, thì sự phản tỉnh về vấn đề con người cá nhân không những có tính phổ biến, mà còn có tính then chốt, bởi những chuyển biến trong cách nhìn nhận về vấn đề con người cá nhân
đã dẫn đến sự chuyển biến trong nhân sinh quan, trong quan niệm về đạo đức, về giá trị, và từ đó, về xã hội của người Việt Nói cách khác, tìm hiểu về vấn đề con người cá nhân ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX là một hướng đi khả dĩ giúp chúng ta nắm bắt dòng chảy tư tưởng Việt Nam thời kỳ này ở cả chiều rộng (với độ bao phủ của vấn đề)
và cả chiều sâu (với tính chất then chốt của vấn đề)
Trang 72
Trên thực tế, cho đến nay, vấn đề con người cá nhân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX đã ít nhiều được tiến hành nghiên cứu ở những mức độ khác nhau Tuy nhiên, vẫn thiếu vắng một nghiên cứu thực sự chi tiết về chặng đường mà người trí thức Việt Nam thời kỳ đó đã trải qua trong những suy tư về vấn đề này Trước sự du nhập của những quan niệm mới về con người cá nhân ở phương Tây, phản ứng ban đầu của người trí thức Việt Nam ra sao? Từ thời điểm nào, với nhân vật nào mà những suy tư về vấn đề con người cá nhân thực sự có được một biến chuyển mang tính then chốt? Quan niệm về con người cá nhân ở Việt Nam thời kỳ này phải chăng chỉ là kết quả của sự đoạn tuyệt hoàn toàn với quá khứ, hay còn là của những nỗ lực níu giữ lại quá khứ, hay nói cách khác, sự cạnh tranh về mặt ảnh hưởng của những
tư tưởng truyền thống với những tư tưởng phương Tây trong vấn đề này như thế nào?
Có những khuynh hướng nào có thể được xem là chủ đạo trong việc đưa ra quan niệm
về vấn đề này ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX? Chúng tôi cho rằng, đây là những câu hỏi vẫn cần được tiếp tục làm sáng tỏ
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng nhận thấy rằng, những nghiên cứu về tư tưởng Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX từ trước đến nay đã tập trung khá nhiều vào bộ phận nho
sĩ duy tân, trong khi tầng lớp trí thức tân học1, những người mà từ thập niên thứ hai của thế kỷ XX đã trở thành lực lượng chủ đạo trong việc dẫn dắt nền văn hóa dân tộc, vẫn chưa được nghiên cứu một cách tương xứng với địa vị của họ trong dòng chảy của
tư tưởng dân tộc Tính đa diện trong tư tưởng của tầng lớp này vẫn là một điều cần phải được đi sâu phân tích, tìm hiểu và nhận diện Một điều may mắn là, trong khoảng mười năm trở lại đây, với nhiều nỗ lực sưu tập, tập hợp, biên soạn của các nhà nghiên cứu hay các nhóm nghiên cứu, những tác phẩm của họ đã dần xuất hiện trở lại, bằng nhiều cách khác nhau (ấn phẩm xuất bản, tài liệu số hóa ) Việc nghiên cứu về họ có thể còn nhiều khoảng trống, song việc tiếp cận di sản của họ hiện nay đã trở nên thuận lợi hơn nhiều Đó là lý do chúng tôi muốn tập trung hướng nghiên cứu của mình vào tầng lớp này – tầng lớp trí thức tân học – cùng quan niệm của họ về vấn đề con người cá nhân
Với tư cách là những người dẫn dắt nền văn hóa dân tộc từ thập niên thứ hai của thế kỷ XX, tầng lớp trí thức tân học và quan niệm về vấn đề con người cá nhân của
họ hiển nhiên có tầm ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của nền văn hóa Việt Nam
1 “Trí thức tân học”, trong đề tài này, được định nghĩa là tầng lớp trí thức được bồi dưỡng, giáo dục bởi những tri thức mới (tân học) của phương Tây thông qua hệ thống giáo dục mới (tiểu học, trung học, cao đẳng, đại học) hoặc thông qua con đường tự học, phân biệt với tầng lớp trí thức cựu học
Trang 8nói chung, nhân sinh quan của người Việt nói riêng Văn hóa Việt Nam hôm nay, cách
tư duy của người Việt hôm nay, ít nhiều vẫn mang dấu ấn của họ Hơn nữa, những vấn
đề mà người trí thức tân học đầu thế kỷ XX đã đặt ra và bàn luận, không hẳn chỉ là vấn
đề riêng của thời đại ấy Suy tư về con người cá nhân rõ ràng không phải chỉ là câu chuyện của giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, mà nó còn là một câu chuyện của chính xã hội đương đại Ngày nay, người Việt Nam có cơ hội tiếp cận với những nền văn hóa bên ngoài một cách dễ dàng hơn nhiều, họ cũng có những không gian, diễn đàn đa dạng, phong phú hơn nhiều để thể hiện bản thân mình, nhưng cũng vì thế mà người ta càng băn khoăn hơn với những câu hỏi về bản ngã, về cá nhân Nhìn lại những quan niệm của người trí thức tân học Việt Nam đầu thế kỷ XX về vấn đề con người cá nhân, chúng tôi kỳ vọng có thể thấy được dấu ấn của nó trong dòng chảy văn hóa đương đại, cũng như những gợi mở mà nó có thể đặt ra cho chúng ta khi đối diện với vấn đề con người cá nhân ở thời đại của mình
Tóm lại, xuất phát từ ý nghĩa của vấn đề con người cá nhân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, từ những khoảng trống trong nghiên cứu về vấn
đề con người cá nhân, cũng như về tầng lớp trí thức tân học, từ những thuận lợi mà chúng tôi nhận thấy về mặt tư liệu, và cuối cùng, từ khả năng gợi mở của vấn đề, chúng tôi chọn “Quan niệm của một số đại biểu trí thức tân học Việt Nam nửa đầu thế
kỷ XX về vấn đề con người cá nhân và ý nghĩa của nó” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
- Mục đích nghiên cứu: Làm rõ quan niệm về vấn đề con người cá nhân của tầng lớp trí thức tân học ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX thông qua một số đại diện tiêu biểu, trên cơ sở đó bước đầu chỉ ra ý nghĩa của những quan niệm ấy
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Phân tích những điều kiện, tiền đề cho sự hình thành quan niệm của trí thức tân học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX về vấn đề con người cá nhân;
+ Phân tích quan niệm của một số trí thức tân học theo khuynh hướng phục cổ ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX về vấn đề con người cá nhân và làm rõ ý nghĩa của nó;
+ Phân tích quan niệm của một số trí thức tân học theo khuynh hướng cấp tiến ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX về vấn đề con người cá nhân và làm rõ ý nghĩa của nó
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Trang 9+ Về mặt phạm vi nội dung, căn cứ trên những chủ để lớn, gây nhiều tranh luận, đồng thời cũng thể hiện tập trung sự chuyển đổi trong nhận thức của người Việt Nam
về con người cá nhân, luận án tập trung phân tích, làm rõ quan niệm về vấn đề con người cá nhân của người trí thức Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX thông qua ba nội dung căn bản: quan niệm về địa vị của con người cá nhân, quan niệm về quyền lợi cá nhân
và quan niệm về tự do cá nhân
+ Về mặt phạm vi khảo sát, luận án hướng đến làm rõ quan niệm của tầng lớp trí thức tân học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX về vấn đề con người cá nhân thông qua một số trí thức, nhóm trí thức có tính chất tiêu biểu, cụ thể gồm: Phạm Quỳnh (1892-1945), Trần Trọng Kim (1883-1953), Nguyễn Duy Cần (1907-1998), Nguyễn An Ninh (1900-1943), Phan Khôi (1887-1959), nhóm Tự lực văn đoàn (chủ yếu tập trung vào các thành viên: Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh, 1906-1963), Trần Khánh Giư (Khái Hưng, 1896-1947), Nguyễn Tường Long (Hoàng Đạo, 1907-1948)) Sở dĩ chúng tôi lựa chọn những nhà trí thức, nhóm trí thức trên để tiến hành khảo sát, là bởi mấy lý do
sau: Thứ nhất, họ là những nhà trí thức quan tâm và có nhiều công trình, bài viết đáng chú ý bàn về vấn đề con người cá nhân ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX Thứ hai, họ là
những nhà trí thức có tính đại diện, xét trên nhiều phương diện khác nhau, về thời điểm hoạt động, họ đại diện cho các giai đoạn phát triển khác nhau của tư tưởng Việt Nam trong suốt nửa đầu thế kỷ XX, về không gian hoạt động, họ sinh sống và gây dựng sự nghiệp ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam, thậm chí có trường hợp di động qua cả
ba miền trong suốt sự nghiệp của mình như Phan Khôi, về xuất thân học vấn, họ đại diện cho những bộ phận khác nhau của tầng lớp trí thức tân học (bao gồm: trí thức xuất thân Nho học nhưng thông qua tự học để trở thành trí thức tân học như Phan Khôi, trí thức được đào tạo bởi nền giáo dục Tây học ở trong nước như Phạm Quỳnh, Nguyễn Duy Cần, Hoàng Đạo, trí thức được đạo tạo ở nước ngoài như Nguyễn An Ninh, Nhất Linh, Khái Hưng), về khuynh hướng tư tưởng, họ đại diện cho các nhóm
Trang 10trí thức theo khuynh hướng phục cổ (Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Nguyễn Duy Cần)
và nhóm trí thức theo khuynh hướng cấp tiến (Phan Khôi, Nguyễn An Ninh, Tự lực văn đoàn) Với tính chất như vậy, chúng tôi cho rằng, quan niệm của những nhà trí thức, nhóm trí thức được khảo sát trong luận án về vấn đề con người cá nhân có thể đại diện cho quan niệm của tầng lớp trí thức tân học nói chung ở Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Luận án dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, áp dụng vào nghiên cứu những vấn đề của lịch sử tư tưởng Đồng thời, luận án lấy quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về con người nói chung, về cá nhân nói riêng làm cơ sở lý luận
để nhìn nhận, đánh giá các khuynh hướng tư tưởng khác nhau về vấn đề con người cá nhân của tầng lớp trí thức tân học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Trên cơ sở phương pháp luận chung đó, chúng tôi cũng sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp thống nhất lịch sử - logic: Trong luận án, phương pháp lịch sử
được áp dụng để tìm hiểu, phân tích quan niệm của tầng lớp trí thức tân học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX theo tiến trình lịch sử, theo đó, chúng tôi cố gắng làm rõ sự phát sinh, phát triển quan niệm của họ về vấn đề con người cá nhân qua các giai đoạn, xác định các cột mốc lớn trong sự phát triển ấy Bên cạnh đó, chúng tôi cũng vận dụng phương pháp logic để chỉ ra tính quy luật, tính khuynh hướng trong quan niệm về vấn
đề con người cá nhân của tầng lớp trí thức tân học, cũng như rút ra những đặc điểm xuyên suốt của từng khuynh hướng, thể hiện trong quan niệm của các nhà trí thức cụ thể
- Phương pháp so sánh: Phương pháp so sánh cũng được chúng tôi vận dụng
trong chừng mực làm sáng tỏ sự phát triển của quan niệm về vấn đề con người cá nhân của trí thức tân học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX Ở đây, sự so sánh sẽ được chúng tôi tiến hành ở cả lát cắt lịch đại và đồng đại Ở lát cắt lịch đại, một mặt, chúng tôi tiến hành so sánh quan niệm của giới trí thức tân học với những quan niệm truyền thống về vấn đề con người cá nhân, đặc biệt là Nho giáo, để làm rõ sự kế thừa, vượt bỏ của những quan niệm mới, qua đó làm rõ ý nghĩa của những quan niệm mới đó trong sự phát triển của lịch sử tư tưởng Việt Nam Mặt khác, chúng tôi cũng so sánh quan niệm của họ với những quan niệm về con người cá nhân trong lịch sử triết học phương Tây,
để chỉ ra ảnh hưởng của tư tưởng phương Tây đến tầng lớp trí thức người Việt Ở lát
Trang 116
cắt đồng đại, chúng tôi tiến hành so sánh giữa các khuynh hướng tư tưởng khác nhau,
để làm rõ tính đa diện, phong phú cũng như tính cạnh tranh về mặt tư tưởng trong quan niệm về vấn đề con người cá nhân ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, qua đó phân nhóm các trí thức tân học ở Việt Nam thời kỳ này Phương pháp so sánh sẽ được chúng tôi vận dụng một cách xuyên suốt trong luận án của mình
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: Luận án thông qua việc phân tích, làm rõ
quan niệm về vấn đề con người cá nhân của một số nhà trí thức tân học có tính đại biểu để chỉ ra những khuynh hướng tư tưởng về vấn đề này ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ
XX và những đặc trưng cơ bản của mỗi khuynh hướng
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án có một số đóng góp mới về mặt khoa học như sau:
- Phân tích sự tác động của bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng
ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX đến sự hình thành quan niệm về vấn đề con người cá nhân của tầng lớp trí thức tân học
- Trên cơ sở nghiên cứu so sánh, luận án làm rõ tính khuynh hướng trong quan niệm về con người cá nhân ở Việt Nam của tầng lớp trí thức tân học nửa đầu thế kỷ
XX trong bối cảnh tiếp biến văn hóa Đông - Tây, phân tích, làm rõ nội dung, đặc điểm của từng khuynh hướng
- Chỉ ra ý nghĩa lịch sử và ý nghĩa hiện thời của từng khuynh hướng trong quan niệm của tầng lớp trí thức tân học ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX về vấn đề con người cá nhân
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Ý nghĩa lý luận: Luận án góp phần làm sáng tỏ một nội dung quan trọng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, khắc phục một số khoảng trống trong nghiên cứu về tư tưởng Việt Nam thời kỳ này
- Ý nghĩa thực tiễn: Thông qua nghiên cứu quan niệm về vấn đề con người cá nhân của một số đại biểu trí thức tân học ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX về vấn đề con người cá nhân, luận án bước đầu chỉ ra những gợi mở cho việc nhìn nhận, giải quyết vấn đề con người cá nhân ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các môn học thuộc chuyên ngành lịch sử tư tưởng Việt Nam
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận án bao gồm 4 chương, 14 tiết
Trang 12CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Những nghiên cứu liên quan đến điều kiện, tiền đề cho sự hình thành quan niệm về vấn đề con người cá nhân của trí thức tân học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
1.1.1 Những nghiên cứu về điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Để tìm hiểu cơ sở kinh tế - xã hội dẫn đến sự hình thành quan niệm về vấn đề con người cá nhân của trí thức tân học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, việc trước hết là phải nắm được bối cảnh lịch sử chung của thời kỳ này, cũng như những vận động, biến chuyển trên từng lĩnh vực cụ thể của nó Những công trình nghiên cứu về bối cảnh lịch
sử Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX có thể nói là hết sức phong phú, xét cả về góc độ tiếp cận, phạm vi nghiên cứu, cũng như chiều dài lịch sử Về góc độ tiếp cận, sự phong phú thể hiện ở chỗ, bối cảnh lịch sử Việt Nam thời kỳ này đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều chuyên ngành khác nhau, như sử học, văn học, xã hội học, văn hóa học v.v Về phạm vi nghiên cứu, chúng ta thấy có những công trình bao quát toàn bộ những diễn biến của lịch sử Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (thường là những công trình nghiên cứu của ngành sử học), cũng có những công trình tập trung vào những bộ phận, lát cắt nhỏ hơn của khung cảnh lịch sử Việt Nam thời kỳ này (lĩnh vực chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội và những lát cắt nhỏ hơn nữa của từng lĩnh vực) Về chiều dài lịch
sử, chúng ta thấy những nghiên cứu về bối cảnh lịch sử Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
đã xuất hiện ngay trong thời kỳ này, với những nhà khảo cứu cả người Việt và người Pháp, và còn được tiếp nối một cách liên tục cho đến thời điểm hiện tại Tính phức tạp của xã hội Việt Nam trong bối cảnh chuyển giao thời thuộc địa, cũng như sự phong phú về sử liệu khiến cho thời kỳ lịch sử này chưa bao giờ trở thành một chủ đề nhàm chán trong giới nghiên cứu
Trước hết, chúng tôi đề cập đến một số công trình nghiên cứu chung về lịch sử Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX Đây là những công trình không đi vào một vấn đề cụ thể nào của lịch sử Việt Nam giai đoạn này, nhưng cung cấp một cái nhìn toàn cảnh về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa Ở nhóm này, có thể nhắc tới một số công
trình quan trọng như: Xã hội Việt Nam của Lương Đức Thiệp (in lần đầu năm 1944), Việt Nam Pháp thuộc sử (1862 – 1945) của Phan Khoang (1961), Việt Nam thời Pháp
Trang 138
đô hộ của Nguyễn Thế Anh (1970), Đại cương lịch sử Việt Nam (tập 2: 1858 – 1945)
do Đinh Xuân Lâm chủ biên (in lần đầu năm 1998) Trong đó, công trình của Lương
Đức Thiệp là một công trình rất đáng chú ý, bởi hai lẽ: thứ nhất, đây là công trình
được tác giả soạn vào những năm 40 của thế kỷ XX, nghĩa là trong chính giai đoạn mà
chúng tôi nghiên cứu, vì vậy, nó có thể coi là cái nhìn của một người trong cuộc; thứ hai, đây là một trong những công trình nghiên cứu đã được tiến hành dựa trên phương
pháp duy vật lịch sử khá sớm ở Việt Nam Những nhận định về xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX được tác giả trình bày ở phần cuối của công trình, với nhan đề “Một thời đại mới” Ở phần này, từ nhãn quan duy vật lịch sử, tác giả đã phân tích sự biến chuyển của xã hội Việt Nam, từ sự xuất hiện của nền kinh tế tư bản, đến sự phân chia đẳng cấp trong xã hội (phú hào, thợ thuyền), những thay đổi trong lề lối sinh hoạt, với những ảnh hưởng từ phương Tây, và đặc biệt là sự biến thiên của chế độ đại gia đình
Từ những phân tích đó, tác giả đã ít nhiều chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành một quan niệm mới về vấn đề con người cá nhân ở Việt Nam, mà chúng ta có thể tóm tắt lại trong mấy điểm: sự thoát ly kinh tế gia đình và sự tan rã của chế độ đại gia tộc [xem 119, tr.325] Nhận định của Lương Đức Thiệp càng có giá trị hơn, khi ông có cái nhìn của người trong cuộc, người đã sống trải chính những vận động và biến thiên của xã hội Việt Nam thời kỳ này Công trình của Phan Khoang (1961) cũng chỉ ra những biến chuyển trên các mặt kinh tế, xã hội, văn hóa, nhưng nhấn mạnh hơn đến sự ra đời của giai cấp tân tư sản trung lưu, cũng như những biến đổi về nếp sống như những yếu tố gắn với sự ra đời của quan niệm mới về cá nhân ở Việt Nam [xem
60, tr.430] Một điểm đáng lưu ý là Phan Khoang đặc biệt quan tâm đến sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn ở thời kỳ này, từ đó cho rằng, thành thị mới là địa bàn cho
sự nảy nở quan niệm mới về con người cá nhân, còn nông thôn vẫn là nơi bám rễ của những tập tục, quan niệm luân lý cũ [xem 60, tr.448] Công trình của Nguyễn Thế Anh (1970) lại đặc biệt tập trung khảo cứu những chuyển biến kinh tế và sự hình thành nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam, một yếu tố đặc biệt quan trọng dẫn đến sự hình thành các quan niệm mới về con người cá nhân Thông qua công trình này, chúng ta có thể thấy được khá rõ sự phân bố của tư bản trong nền kinh tế Việt Nam nửa đầu thế kỷ
XX Công trình do Đinh Xuân Lâm chủ biên (1998), xét về quy mô thì dày dặn hơn những cuốn trên, đã tái hiện một cách đầy đủ, cặn kẽ về những bước vận động, phát triển của lịch sử Việt Nam thời Pháp thuộc Mặc dù không đề cập trực tiếp đến vấn đề
Trang 14cá nhân như những công trình nêu trên, nhưng nó có thể cung cấp một cái nhìn toàn cảnh về lịch sử Việt Nam thời kỳ mà chúng tôi nghiên cứu, vì thế, đây cũng là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng để hình dung bối cảnh kinh tế - xã hội tổng quát ở Việt Nam thời kỳ này
Bên cạnh những công trình nghiên cứu tổng quát về lịch sử Việt Nam nói chung, còn có những công trình nghiên cứu sâu về những chuyển biến trên từng mặt của xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX nói riêng Về lĩnh vực chính trị, chúng tôi đặc biệt
lưu ý đến công trình Chính quyền thuộc địa ở Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 (Góp phần tìm hiểu cơ sở lịch sử - xã hội Việt Nam thời kỳ thực dân Pháp thống trị) của Dương Kinh Quốc Công trình này tập trung nghiên cứu những chuyển đổi
trong cơ cấu chính trị ở Việt Nam thời Pháp thuộc, trong đó, tác giả đã phân tích và làm nổi bật quá trình triều đình nhà Nguyễn dần đánh mất quyền lực vào tay thực dân Pháp Việc tìm hiểu về quá trình này là rất quan trọng đối với nghiên cứu về vấn đề con người
cá nhân ở Việt Nam đương thời, bởi chính thông qua quá trình đó mà chúng ta có thể thấy những dịch chuyển trong cơ cấu quyền lực chính trị, thứ luôn luôn ảnh hưởng đến ý thức
về con người cá nhân Những phân tích về biến đổi chính trị ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ
XX của chúng tôi trong luận án sẽ kế thừa về cơ bản những kết quả đã đạt được trong công trình này của Dương Kinh Quốc
Đối với lĩnh vực xã hội, có nhiều công trình đã khai thác những biến chuyển trên các khía cạnh khác nhau của đời sống xã hội Việt Nam Về cơ cấu xã hội, có thể kể đến
công trình Về giai cấp tư sản Việt Nam của Minh Tranh, Nguyễn Kiến Giang (1959), Tìm hiểu giai cấp tư sản Việt Nam thời Pháp thuộc của Nguyễn Công Bình (1959), Cơ cấu xã hội trong quá trình phát triển của lịch sử Việt Nam do Nguyễn Quang Ngọc chủ biên (1998), hay Cơ cấu kinh tế - xã hội Việt Nam thời thuộc địa (1858-1945) của Nguyễn Văn
Khánh (1999) Hai công trình trước nghiên cứu về quá trình hình thành, phát triển của giai cấp tư sản Việt Nam, cũng như sự xuất hiện của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam Đặc biệt, công trình của Nguyễn Công Bình (1959) đã phân tích khá kỹ lưỡng về quá trình tích tụ tư bản của giai cấp tư sản người Việt Các công trình sau đề cập một cách tổng thể đến cơ cấu xã hội, trong đó bàn đến sự phân hóa giai cấp trong xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, chỉ ra sự hình thành, tình trạng, đặc điểm của các giai cấp qua nhiều
số liệu cụ thể Đây là những thông tin cần thiết giúp chúng tôi hình dung một bức tranh tổng thể về cơ cấu xã hội Việt Nam thời kỳ này
Trang 15Viết Nghĩa (2012) Công trình của Trần Viết Nghĩa (2012) có đề cập đến sự ra đời của
đô thị kiểu phương Tây ở Việt Nam, thay thế cho kiểu đô thị truyền thống Theo tác giả,
sự ra đời của đô thị kiểu phương Tây đã kéo theo sự hình thành của tầng lớp thị dân và lối sống thị dân, với những đặc điểm xuất thân đa dạng, ít bị ràng buộc bởi văn hóa làng xã, khoảng cách địa vị thu hẹp [xem 90, tr.114-115] Những điều đó, theo tác giả, đã khiến cho đô thị trở nên một mảnh đất thuận lợi cho sự nảy nở của văn minh phương Tây Những điểm mà tác giả Trần Viết Nghĩa đã chỉ ra đều có liên quan ít nhiều đến sự gia tăng mối quan tâm đến vấn đề con người cá nhân ở Việt Nam thời kỳ này Điều này gợi nhắc đến một nghiên cứu khác, tuy không đi sâu vào phân tích những chuyển biến của xã hội Việt Nam, nhưng đã đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của đô thị cũng như tầng lớp trí thức đô thị đối với sự hình thành “cái tôi cá nhân” ở Việt Nam đầu thế kỷ XX, đó là công
trình Con mắt thơ của Đỗ Lai Thúy (1992) Trong công trình này, Đỗ Lai Thúy đã xem sự
hình thành đô thị công thương nghiệp, và đi liền với nó, “một tầng dân cư mới, với lối cảm, lối nghĩ, và lối sống chẳng những khác với người tiểu nông mà khác cả với thị dân
cổ truyền” [125, tr.12] như một trong những yếu tố làm hình thành nên “cái tôi cá nhân”, một dạng thức “cái tôi” khác biệt về chất so với những dạng thức cổ truyền Rõ ràng, đây
là yếu tố rất cần lưu ý khi tìm hiểu về điều kiện xã hội cho sự hình thành quan niệm về con người cá nhân ở Việt Nam thời kỳ này Trong khi đó, công trình của Pierre Gourou (1936) dường như đã bàn đến một vấn đề không mấy liên quan đến chủ đề nghiên cứu của chúng tôi: người nông dân châu thổ Bắc kỳ Sở dĩ nói như vậy, bởi một quan niệm mới về con người cá nhân, như Lương Đức Thiệp (1944), Phan Khoang (1961), Đỗ Lai Thúy (1992), hay Trần Viết Nghĩa (2012) đã từng đề cập, gắn bó với thành thị hơn là nông thôn, trí thức đô thị hơn là người nông dân Tuy nhiên, công trình của Pierre Gourou lại có một điểm rất đáng chú ý là tác giả đã đề cập đến hiện tượng di cư ra khỏi vùng nông thôn của người nông dân ở Bắc kỳ, và kèm theo hiện tượng đó, là sự khó hòa nhập trở lại với đời sống tinh thần ở nông thôn của những người đã rời khỏi nơi đây [xem 45, tr.251] Hiện tượng này là hiện tượng mới, có liên quan đến những biến đổi trong cơ cấu xã hội Việt
Trang 16Nam đầu thế kỷ XX, cũng như những biến đổi trong sinh hoạt tinh thần của người Việt, đồng thời cũng có liên hệ sâu sắc với vấn đề con người cá nhân
Về lĩnh vực văn hóa, những công trình có liên quan mật thiết với đề tài nghiên cứu
của chúng tôi có thể kể đến là Việt Nam văn hóa sử cương của Đào Duy Anh (1938), Trí thức Việt Nam đối diện với văn minh phương Tây thời Pháp thuộc của Trần Viết Nghĩa (2012), Tính hiện đại và sự chuyển biến của văn hóa Việt Nam thời cận đại do Đỗ Quang Hưng chủ biên (2013) Việt Nam văn hóa sử cương là một công trình nghiên cứu có tính
khai mở về lịch sử văn hóa Việt Nam Cũng như công trình nghiên cứu của Lương Đức Thiệp mà chúng tôi đã đề cập ở trên, đây là một công trình được thực hiện ngay trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, vì thế, nó đương nhiên bám sát những vấn đề nổi bật nhất thời bấy giờ Trong đó, Đào Duy Anh đã giành phần tổng luận của toàn bộ cuốn sách để nói về những biến đổi của văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX, đồng thời chỉ ra rằng, những biến đổi đó (quá trình Âu hóa nền văn hóa, sự biến đổi lối sống, lối sinh hoạt) đã đưa xã hội Việt Nam từ khuynh hướng gia đình bản vị sang cá nhân bản vị [xem 1, tr.364] Công trình của Trần Viết Nghĩa nhấn mạnh vào sự tiếp xúc giữa văn hóa Việt Nam với văn hóa phương Tây, thái độ của trí thức Việt Nam (cựu học và tân học) với nền văn hóa phương Tây, cũng là những vấn đề gần gũi với sự hình thành của quan niệm mới về con người cá nhân Công trình của Đỗ Quang Hưng chủ biên về tính hiện đại và sự chuyển biến của văn hóa Việt Nam thời cận đại cũng rất đáng chú ý, bởi nó nghiên cứu về những biến chuyển văn hóa Việt Nam từ hệ tham chiếu của “tính hiện đại”, mà một trong những biểu hiện của tính hiện đại, theo lý giải của các tác giả, là sự giải phóng cá nhân Những chuyển biến của văn hóa Việt Nam trên mọi khía cạnh đã được trình bày một cách khá toàn diện trong công trình này, và vì thế, đây thực sự là một công trình cần được tham khảo khi nghiên cứu về văn hóa Việt Nam thời Pháp thuộc nói chung, và sự hình thành quan niệm
về con người cá nhân thời kỳ này nói riêng
Liên quan đến văn hóa, thiết nghĩ cũng cần phải nhắc đến một số công trình khảo
cứu về giáo dục Việt Nam thời Pháp thuộc, như: Khoa cử và giáo dục Việt Nam của Nguyễn Q Thắng (1993), Giáo dục Việt Nam thời cận đại của Phan Trọng Báu (1994), Nhà trường Pháp ở Đông Dương của Trịnh Văn Thảo (bản dịch tiếng Việt xuất bản lần
đầu năm 2009) v.v Những công trình này cung cấp những thông tin chi tiết về hệ thống giáo dục Việt Nam thời Pháp thuộc, như chương trình học, số lượng học sinh, quá trình cải cách giáo dục Phần lớn trí thức tân học Việt Nam đã được đào tạo, trưởng thành từ
Trang 1712
nền giáo dục thuộc địa, vì vậy, những thông tin chi tiết về hệ thống giáo dục ấy rất có ý nghĩa trong việc tìm hiểu đặc điểm của tầng lớp trí thức tân học, cũng như nguồn gốc văn hóa của những quan niệm mới, trong đó có quan niệm về vấn đề cá nhân ở thời kỳ này
Bên cạnh giáo dục, báo chí cũng là một lĩnh vực quan trọng khi đề cập đến những biến đổi của văn hóa Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX Ở lĩnh vực này, những công trình
nghiên cứu tiêu biểu là: Lược sử báo chí Việt Nam của Nguyễn Viết Chước (1974), Lịch
sử báo chí Việt Nam 1865-1945 do Đỗ Quang Hưng chủ biên (2001), The Birth of Vietnamese Political Journalism – Saigon 1916-1930 của Philippe M.F Peycam (2012, bản dịch tiếng Việt Làng báo Sài Gòn 1916-1930 của Trần Đức Tài, 2015) Những công
trình này đã tái hiện lại diện mạo, những bước phát triển của báo chí Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX, chỉ ra những tờ báo quan trọng và những nhân vật chủ chốt của nó Đặc biệt, công trình của Philippe M.F Peycam đã đề cập và nhấn mạnh đến những đặc điểm của không gian văn hóa Nam kỳ cũng như của môi trường đô thị Sài Gòn thời thuộc địa như một môi trường thuận lợi cho việc thúc đẩy ý thức về con người cá nhân [xem 97, tr.20, 58] Trong bối cảnh đầu thế kỷ XX, phần nhiều trí thức Tây học đã sử dụng báo chí như một phương tiện để thể hiện tư tưởng, quan niệm của mình, thì những công trình này
có thể cung cấp những tư liệu rất tốt cho chúng tôi khi tìm hiểu về một hiện tượng văn hóa
có nhiều ảnh hưởng đến diễn trình tư tưởng của người Việt thời kỳ này
Có thể nói, tất cả những công trình trên, ở những khía cạnh khác nhau, đều ít nhiều
đề cập đến những bước chuyển đổi căn bản, những hiện tượng nổi bật trong đời sống kinh
tế - xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX Một số trong đó còn chỉ ra mối liên hệ giữa những bước chuyển đổi hay hiện tượng đó với vấn đề con người cá nhân ở Việt Nam thời
kỳ này Những công trình còn lại, nếu không trực tiếp chỉ ra mối liên hệ ấy, thì cũng cung cấp cho chúng tôi những tư liệu quan trọng, mà chúng tôi thấy rằng, có thể từ đó để xác định những cơ sở kinh tế - xã hội cho sự hình thành quan niệm về vấn đề con người cá nhân ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
1.1.2 Những nghiên cứu về tiền đề tư tưởng cho sự hình thành quan niệm về vấn đề con người cá nhân của tầng lớp trí thức tân học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Quan niệm về vấn đề con người cá nhân của tầng lớp trí thức tân học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX được xây dựng trên cơ sở tiếp nhận hoặc phê phán những học thuyết, những khuynh hướng tư tưởng khác nhau, bao gồm cả tư tưởng truyền thống ở Việt Nam
và tư tưởng phương Tây Vì vậy, để tiến hành nghiên cứu về tiền đề tư tưởng cho sự hình
Trang 18thành quan niệm về vấn đề con người cá nhân ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, chúng tôi tiến hành tìm hiểu một số công trình nghiên cứu quan niệm về vấn đề con người cá nhân trong tư tưởng truyền thống, quan niệm về vấn đề con người cá nhân trong tư tưởng phương Tây và sự du nhập của chúng vào Việt Nam, và về sự phản tỉnh của tầng lớp nho
sĩ Việt Nam đầu thế kỷ XX về vấn đề này
Những nghiên cứu về tư tưởng truyền thống tất nhiên là rất lớn về số lượng và rất
đa dạng về góc tiếp cận Ở đây, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến một số nghiên cứu chỉ ra quan niệm của Nho giáo về vấn đề “tự ngã”, hay về mối quan hệ giữa nó với quan niệm
về cá nhân ở phương Tây, xuất phát từ nhận định rằng, hầu hết những bàn luận về vấn đề con người cá nhân ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX đều xoay quanh những đối thoại, tranh luận, thậm chí là phê phán đối với Nho giáo Đề cập đến quan niệm của Nho giáo về cá nhân (hay “tự ngã”), có một số nghiên cứu đáng chú ý như “Concepts of ‘Individual’ and
‘Self’ in Twentieth-Century Vietnam” của David G Marr (2001), Tư tưởng nhân bản của Nho học tiên Tần của Tào Thượng Bân (2004), Tư tưởng chính trị dưới tầm nhìn Nho gia của Lý Minh Huy (2005), hay Tinh thần nhân văn của Nho gia Đông Á của Hoàng Tuấn
Kiệt (2016) Bài viết của David G Marr nhấn mạnh đến quan niệm về “thân-tâm” của Nho giáo như một phương thức tư duy truyền thống về cá nhân ở Việt Nam, trước khi xuất hiện những quan niệm mới về cá nhân đầu thế kỷ XX [xem 150, tr.769-772] Tào Thượng Bân (2004) lấy “hiếu” làm gốc rễ của tư tưởng nhân bản trong Nho học tiên Tần,
đã chỉ ra mối quan hệ giữa tính tự chủ và quy thuộc của tự ngã, cho rằng: “về mặt tự ngã
mà nói, người ta có thể tự xử lý được đối với sinh mệnh của mình; từ góc độ đạo nghĩa mà nói, thì thân ta không hoàn toàn là của ta, thực là rõ ràng, người ta có thể hoàn toàn xử lý đối với sinh mệnh của mình nhưng theo hướng hoàn toàn không bừa bãi” [7, tr.94] Nhận định này có ý nghĩa gợi mở sâu sắc, khi mà những bàn luận về vấn đề con người cá nhân
ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX phần lớn đã được đặt ra trong sự nhìn nhận lại chủ nghĩa gia tộc, nhìn nhận lại quan niệm “hiếu” trong nền luân lý truyền thống Lý Minh Huy (2005) đi vào phân tích quan niệm đạo đức của Nho gia và chỉ ra mối quan hệ của nó với chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa tập thể và chủ nghĩa cộng đồng, chỉ ra rằng Nho gia có điểm gần gũi với chủ nghĩa tự do phương Tây, lại cũng có điểm gần gũi với chủ nghĩa cộng đồng, nó nằm ở giữa hai chủ nghĩa đó [xem 50, tr.243] Chúng tôi cho rằng nhận định này
sẽ giúp lý giải cho ảnh hưởng mang tính hai mặt của nền luân lý Nho giáo đối với những quan niệm về vấn đề con người cá nhân ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX Còn Hoàng Tuấn
Trang 1914
Kiệt (2016), trong công trình của mình, khi bàn về quan niệm “tự ngã” của Nho gia, cũng tập trung vào mối quan hệ giữa “thân” và “tâm”, và khẳng định, quan niệm của Nho gia từ Khổng Tử đến Mạnh Tử và Tuân Tử đều cho rằng làm chủ được “tâm” là có thể đạt tới cảnh giới tự do của chủ thể “tự ngã” [xem 159, tr.29] Những nghiên cứu này đều chỉ ra những nội dung và đặc điểm trong quan niệm của Nho gia khi bàn về “tự ngã”, đồng thời nhấn mạnh vào sự khác biệt giữa quan niệm ấy với quan niệm về con người cá nhân của
tư tưởng phương Tây Đây là những gợi mở quan trọng cho chúng tôi khi tiếp cận vấn đề con người cá nhân ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, vốn có mối liên hệ sâu sắc với những quan niệm đạo đức Nho giáo truyền thống
Nửa đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa cá nhân bắt đầu xuất hiện và có ảnh hưởng đến người trí thức Việt Nam Vấn đề con người cá nhân ở Việt Nam thời kỳ này, do đó, có mối liên hệ sâu sắc với cái gọi là “chủ nghĩa cá nhân” Về chủ nghĩa cá nhân phương Tây,
có một số công trình đã được dịch ở Việt Nam, như Lịch sử cá nhân luận của Alain Laurent, Chủ nghĩa cá nhân và trật tự kinh tế của F.A.Hayek Đây có thể xem là những
dẫn nhập cơ bản về chủ nghĩa cá nhân phương Tây, về sự phát triển, cũng như sự phân hóa của nó trong lịch sử Công trình của Alain Laurent tập trung phân tích những chặng đường của chủ nghĩa cá nhân, từ cội nguồn của nó là nền triết học Hy Lạp cổ đại, cho đến
sự hiện diện chính thức của nó vào thời cận đại Cuốn sách của Hayek nhấn mạnh đến sự phân biệt hai truyền thống chủ nghĩa cá nhân là chủ nghĩa cá nhân Anh và chủ nghĩa cá nhân ở lục địa và đưa ra nhận định về mỗi truyền thống Đây là những tri thức mà chúng tôi cho là cần thiết để soi chiếu vào sự hiện diện của tư tưởng phương Tây về vấn đề con người cá nhân ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Những nghiên cứu về sự du nhập của tư tưởng phương Tây vào Việt Nam, trên thực tế, là không nhiều Một số công trình đặc biệt tập trung nghiên cứu sự du nhập của
tân văn, tân thư vào Việt Nam, chẳng hạn, các bài viết trong cuốn Tân thư và xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Đây là cuốn sách tập hợp nhiều bài viết về sự du nhập
và ảnh hưởng của tân văn, tân thư đến xã hội Việt Nam, trong đó, đáng chú ý có những bài: “Đôi điều khác biệt giữa các Nho sĩ Trung Quốc với các nhà Nho Việt Nam khi tiếp nhận tân thư” của Trương Chính, “Từ nguồn gốc tư tưởng khai sáng ở phương Tây đến tư tưởng duy tân trong Tân thư ở Trung Quốc và Việt Nam” của Nguyễn Trường Lịch, và bài tổng luận “Tân thư và ảnh hưởng của nó đến Việt Nam trong bối cảnh Đông – Nam Á
hồi đầu thế kỷ XX” của Đinh Xuân Lâm Công trình Trí thức Việt Nam đối diện với văn
Trang 20minh phương Tây thời Pháp thuộc của Trần Viết Nghĩa cũng dành một phần để nói về sự
du nhập của tân văn, tân thư vào Việt Nam, trong đó, tác giả đã tóm lược lại một số con đường của du nhập cũng như những nội dung có ảnh hưởng lớn nhất trong giới trí thức Việt Nam thời kỳ này Ngoài ra, về sự du nhập và tiếp nhận tư tưởng Pháp, một công trình rất đáng chú ý là bài viết “Gió Tây, gió Đông – Sự du nhập tinh thần Khai sáng vào Việt Nam đầu thế kỷ XX” của Nguyễn Phương Ngọc Trong bài viết này, Nguyễn Phương Ngọc xác định các nhóm xã hội có vai trò trong việc tiếp nhận tư tưởng phương Tây, các nhân vật có vai trò chủ chốt trong việc truyền bá tân thư, và điểm đáng chú ý nhất là, bài viết đã đề cập đến những khác biệt trong sự tiếp nhận Rousseau ở Việt Nam Đây là một vấn đề thú vị và rất có ý nghĩa, bởi Rousseau chính là một trong những nhân vật có ảnh hưởng lớn đến quan niệm về vấn đề con người cá nhân ở Việt Nam
Bàn về tân văn, tân thư, hay Rousseau, những công trình trên nói chung vẫn tập trung sự chú ý vào tư tưởng khai sáng Tất nhiên, sự hiện diện của tư tưởng phương Tây ở
Việt Nam không chỉ dừng lại ở đó Vì vậy, công trình Vietnamese Tradition on Trial hay
bài viết “Concepts of ‘Individual’ and ‘Self’ in Twentieth-Century Vietnam” của D Marr
là những công trình rất đáng chú ý bởi nó đã chỉ ra ảnh hưởng không chỉ từ các nhà khai sáng Pháp, mà còn từ nhiều nhà tư tưởng phương Tây khác đến quan niệm về cá nhân của người Việt Nam Trong những nghiên cứu này, tác giả đã đề cập đến những ảnh hưởng của Kant, Adam Smith, Bentham, Nietzsche đến các quan niệm về con người cá nhân của người Việt Công trình này còn đề cập đến cả một nhân vật mà giới trí thức Việt Nam
đã bỏ qua ở thời điểm đầu thế kỷ XX là Locke Nhận định này là rất thú vị và đáng chú ý
Ở đây, việc nhắc đến những nhân vật có ảnh hưởng hoặc không có ảnh hưởng đều giúp gợi mở nhiều điều về đặc điểm của quan niệm về cá nhân ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX Nhìn chung, những nghiên cứu trên không chỉ cho thấy phần nào bức tranh du nhập của tư tưởng phương Tây vào Việt Nam, mà còn chỉ ra phạm vi ảnh hưởng của từng học thuyết,
tư tưởng trong giới trí thức Việt Nam lúc bấy giờ
Bên cạnh đó, cũng cần đề cập đến những nghiên cứu về sự du nhập của chủ nghĩa Mác, bởi chủ nghĩa Mác kể từ khi xuất hiện ở Việt Nam vào những năm 20, đã nhanh chóng trở thành học thuyết dẫn dắt những phong trào chính trị và văn hóa của người Việt,
và ở chừng mực nào đó, có ảnh hưởng đến quan niệm về vấn đề con người cá nhân của tầng lớp trí thức Ở khía cạnh này, không thể không nhắc đến những nghiên cứu của Trần
Văn Giàu, như bộ Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng
Trang 2116
tháng Tám (tập III), phần “Chủ nghĩa Mác – Lênin truyền bá ở thành phố Hồ Chí Minh từ
1920 – 1945”, trong cuốn Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, hay công trình Nguyễn Ái Quốc với việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin ở Việt Nam (1921-1930) của
Phạm Xanh Thông qua những nghiên cứu của mình, tác giả Trần Văn Giàu đã phân tích, tái hiện quá trình du nhập của chủ nghĩa Mác vào Việt Nam, ở thời điểm những năm 20, với mảnh đất đầu tiên là Sài Gòn, cùng với những nhân vật chủ chốt của quá trình này Trong khi đó, công trình của Phạm Xanh tập trung vào vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam Nghiên cứu về sự du nhập của chủ nghĩa Mác ở Việt Nam, cho đến nay, đây vẫn là những công trình dày dặn và quan trọng nhất
Cuối cùng, cần phải đề cập đến những nghiên cứu về tư tưởng của các nhà nho duy tân ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, những người đặt nền móng trực tiếp cho quan niệm của bộ phận trí thức tân học Những công trình nghiên cứu về chủ đề này cho đến nay tương đối nhiều, bao gồm cả sách và các bài viết trên tạp chí Ở đây, chúng tôi đặc biệt chú ý đến những nghiên cứu tập trung vào những biến chuyển trong tư tưởng về đạo đức, về con người của tầng lớp nho sĩ, vì đây là nội dung gắn với vấn đề con
người cá nhân nhiều hơn cả, như: Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám (tập II) của Trần Văn Giàu, Quá trình chuyển biến tư tưởng của nho sĩ Việt Nam trong 30 năm đầu thế kỷ XX của Trần Thị Hạnh, bài viết
“Tư tưởng luân lý mới của các nhà nho duy tân trong “Tân đính luân lý giáo khoa thư”
của Nguyễn Kim Sơn (Tạp chí Triết học, số 4, 2009) v.v Công trình của Trần Văn
Giàu trình bày một cách rất cặn kẽ, hệ thống về tư tưởng của các nhà nho duy tân, đặc biệt tập trung vào Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và Đông Kinh nghĩa thục Trong khi đó, Trần Thị Hạnh bàn một cách trực tiếp hơn về những chuyển biến tư tưởng của tầng lớp nho sĩ, trong đó, đáng chú ý là phần bàn về duy tân tư tưởng đạo đức Ở đây, tác giả đã chỉ ra những điểm mới, những điểm tiếp nhận văn hóa phương Tây trong quan niệm đạo đức của nho sĩ Việt Nam 30 năm đầu thế kỷ XX Nhiều điểm mà tác giả chỉ ra, như sự đổi mới nội dung các khái niệm luân lý cũ, đã cho thấy phần nào quan niệm mới của nho sĩ duy tân về vấn đề con người cá nhân [xem 46, tr.211] Còn
Nguyễn Kim Sơn, trong bài viết của mình, đã tập trung sự chú ý vào tác phẩm Tân đính luân lý giáo khoa thư, một sản phẩm của các nhà nho Đông Kinh nghĩa thục Tác
giả chỉ ra những điểm mới trong quan niệm luân lý được thể hiện qua tác phẩm này, trong đó có nhiều điểm liên quan đến vấn đề con người cá nhân, chẳng hạn như khi
Trang 22bàn đến những điểm mới trong quan niệm về “đối kỷ” [xem 111] Có thể thấy, những công trình này đều ít nhiều đề cập đến quan niệm về con người của các nhà nho duy tân nửa đầu thế kỷ XX, qua đó có thể nhận thấy được phần nào quan niệm của họ về con người cá nhân
1.1.3 Những nghiên cứu về tầng lớp trí thức tân học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Luận án của chúng tôi nghiên cứu quan niệm của tầng lớp trí thức tân học Việt Nam, vì vậy, tìm hiểu về sự hình thành, hoạt động của tầng lớp này là hết sức quan trọng
Ở nội dung này, chúng tôi có thể kế thừa từ khá nhiều nghiên cứu đã được triển khai trước đây Những công trình đề cập đến chủ đề này tương đối nhiều và đã làm sáng tỏ được nhiều vấn đề liên quan đến tầng lớp trí thức tân học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Về vấn đề nguồn gốc và sự hình thành tầng lớp trí thức tân học, các nghiên cứu đều chỉ ra sự xuất hiện của tầng lớp này gắn với sự phát triển của nền giáo dục Tây học ở
Việt Nam Có thể kể đến một số công trình có đề cập đến vấn đề này như: Trí thức Việt Nam đối diện với văn minh phương Tây thời Pháp thuộc của Trần Viết Nghĩa, “Về đặc
điểm của tầng lớp trí thức Tây học ở Việt Nam đầu thế kỷ XX” của Nguyễn Thị Thanh Thủy, “Đội ngũ trí thức tân học Nam kỳ trước năm 1930” của Huỳnh Bá Lộc Trong đó, bài viết của Nguyễn Thị Thanh Thủy rất đáng chú ý khi đã đưa ra một định nghĩa về “trí thức Tây học” và chỉ ra nền tảng trí thức căn bản của nhóm này là tri thức khoa học hiện đại và tinh thần nhân văn, nhân bản [xem 127, tr.195]
Vấn đề phân kỳ trí thức tân học cũng là một vấn đề nhận được sự quan tâm của các
nhà nghiên cứu Về vấn đề này, công trình Ba thế hệ trí thức người Việt của Trịnh Văn
Thảo là một công trình đáng lưu ý Trong công trình của mình, Trịnh Văn Thảo đã chia tầng lớp trí thức Việt Nam trong suốt thời kỳ Pháp thuộc thành 3 thế hệ: thế hệ 1862, thế
hệ 1907 và thế hệ 1925, trong đó, 2 thế hệ sau thuộc về lớp trí thức tân học Thế hệ 1907 được gọi tên là “trí thức của hai thế giới”, trong khi thế hệ 1925 được gọi tên là trí thức
Âu hóa Bản thân cách định danh như vậy phần nào đã nói lên nhiều điều về đặc điểm xã hội và tư tưởng của hai thế hệ này Một điểm cũng rất đáng chú ý của công trình này là, từ góc độ xã hội học lịch sử, tác giả đã kỳ công chọn lựa 222 gương mặt trí thức tiêu biểu cho 3 thế hệ để tiến hành nghiên cứu Danh sách trí thức mà tác giả cung cấp thực sự là một bản danh sách rất có ý nghĩa đối với những người nghiên cứu về trí thức nói chung,
trí thức tân học nói riêng ở Việt Nam đầu thế kỷ XX Trong khi đó, trong Bản lược đồ văn học Việt Nam, Thanh Lãng đã đưa ra sự phân chia thế hệ trí thức từ góc độ văn học sử,
Trang 2318
theo đó, nhóm trí thức Tây học nửa đầu thế kỷ XX được phân chia thành 2 thế hệ, thế hệ
1913, và thế hệ 1932 Hai thế hệ này được phân biệt bởi khuynh hướng văn hóa, thế hệ
1913 là thế hệ của sự liên hiệp, còn thế hệ 1932 là thế hệ của sự đoạn tuyệt Trong đó, thế
hệ 1932, theo tác giả, chính là thế hệ đi đầu trong việc tiếp nhận những tư tưởng về giải phóng cá nhân
Cách phân kỳ của Trịnh Văn Thảo và Thanh Lãng có sự khác biệt về cột mốc, nhưng có thể thấy là khá tương đồng nếu nhìn vào khuynh hướng văn hóa của hai thế hệ Trí thức tân học Việt Nam về cơ bản được chia thành hai nửa: thế hệ của sự dung hòa văn hóa, cố gắng níu kéo những giá trị cũ, và thế hệ của sự dứt khoát Âu hóa Chỉ dẫn này, đối với chúng tôi, là rất có giá trị, bởi trong quan niệm về con người cá nhân của trí thức Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX cũng chứa đựng những sự giằng xé, xung đột của hai truyền thống văn hóa Do đó, cũng có thể lấy những cách phân kỳ này làm hệ tham chiếu để phân chia khuynh hướng tư tưởng
1.2 Những nghiên cứu liên quan đến quan niệm của trí thức tân học ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX về vấn đề con người cá nhân
1.2.1 Những nghiên cứu mang tính khái quát về quan niệm của trí thức tân học ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX về vấn đề con người cá nhân
Bàn đến những nghiên cứu về quan niệm của tầng lớp trí thức tân học ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX về vấn đề con người cá nhân, trước hết, cần phải đề cập đến những nghiên cứu có tính khái quát Bởi vấn đề con người cá nhân là một vấn đề tương đối nổi bật ở Việt Nam giai đoạn này, lại là vấn đề thể hiện khá rõ nét sự chuyển biến trong tư duy của người Việt, nên trên thực tế, đã có nhiều nghiên cứu đề cập đến nó, ở những mức độ khác nhau
Một số công trình đưa ra một cái nhìn chung về quan niệm mới của tầng lớp trí thức tân học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX về vấn đề con người cá nhân có thể đề cập đến
là Bản lược đồ văn học Việt Nam của Thanh Lãng (1967), Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay do Nguyễn Tài Thư chủ biên (1997), hay Về chủ nghĩa cá nhân trong văn hóa Việt Nam của Nguyễn Thanh Tuấn
(2003) Ở công trình của Thanh Lãng, khi bàn về sự phát triển của nền văn học Việt Nam trong giai đoạn đầu thế kỷ XX, tác giả đã phần nào bàn về sự xuất hiện của vấn
đề con người cá nhân và những quan điểm chính của giới văn nhân Việt Nam về vấn
đề này Trong đó, có thể thấy, Thanh Lãng đã gắn sự xuất hiện của những quan niệm
Trang 24mới về con người cá nhân với sự hiện diện của thế hệ trí thức 1932 Vấn đề con người
cá nhân chỉ được Thanh Lãng xét đến khi bàn về thế hệ trí thức này Thanh Lãng khẳng định, giải phóng cá nhân trở thành một lý tưởng thống nhất cho giới trí thức thế
hệ này, bất kể họ theo khuynh hướng nào:
Chẳng kỳ thuộc khuynh hướng nào, họ đều gặp nhau ở chỗ cùng theo đuổi những mục đích chung: lật đổ xã hội cũ, hạ bệ chế độ đại gia đình, bài trừ những mối dị đoan, đập tan những xiềng xích trói buộc của luân lý Khổng Mạnh: họ muốn phá vỡ tất cả để làm lại tất cả từ đầu Xây dựng, đối với họ,
có nghĩa là ly dị với dĩ vãng để chạy theo Tây phương Tất cả đều hăng hái
và cương quyết đòi trả lại – với bất cứ giá nào – cho con cái, nhất là cho con gái quyền tự do chọn tình yêu, cho người quả phụ quyền tự do cải giá, cho mọi người hạnh phúc cá nhân [74, tr.719]
Mặc dù rất khái quát, Thanh Lãng đã chỉ ra hai điểm rất quan trọng trong quan niệm về vấn đề con người cá nhân ở Việt Nam thời kỳ này: thứ nhất, giải phóng cá nhân gắn liền với lật đổ Khổng giáo, và thứ hai, nhấn mạnh vào tự do cá nhân Đây là hai điểm mà chúng tôi sẽ tiếp tục phân tích một cách cụ thể trong luận án của mình
Ở công trình do Nguyễn Tài Thư chủ biên, mặc dù không trực tiếp phân tích quan niệm về vấn đề con người cá nhân ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, nhưng khi bàn đến sự ảnh hưởng của văn hóa tư tưởng phương Tây đến Việt Nam cho đến năm
1945, các tác giả chủ yếu nhấn mạnh đến sự xuất hiện của một quan niệm mới về con
người cá nhân Điều này đã cho thấy ít nhất hai điểm đáng chú ý: thứ nhất là vấn đề
con người cá nhân được các tác giả xem như một vấn đề đặc biệt quan trọng, thể hiện
một cách tập trung sự biến đổi trong quan niệm, tư tưởng của người Việt; và thứ hai,
sự xuất hiện của những quan niệm về vấn đề ấy ở Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX gắn chặt với sự hiện diện của tư tưởng phương Tây, nói cách khác, chính từ sự ảnh hưởng của tư tưởng phương Tây mà người trí thức tân học Việt Nam mới quan tâm và đưa ra những quan niệm mới về vấn đề con người cá nhân Chúng tôi cho rằng đây là hai điểm rất quan trọng khi nghiên cứu những quan niệm về vấn đề con người cá nhân
ở Việt Nam giai đoạn này Đi vào nội dung cụ thể của quan niệm, các tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến sự tuyên truyền cho chủ nghĩa cá nhân, tự do cá nhân của giới trí thức tân học Sự tuyên truyền ấy, theo các tác giả chỉ ra, được thực hiện đồng thời với sự phê phán những quan niệm của Nho giáo Ở đây, quan niệm về vấn đề con người cá
Trang 2520
nhân của tầng lớp tân học được các tác giả đặt trong sự đối lập với Nho giáo truyền thống Đây cũng lại là một đặc điểm rất đáng lưu ý Mặc dù những phân tích về vấn đề này trong công trình chỉ chiếm một phần nhỏ trong toàn bộ nội dung của nó, nhưng có thể thấy, các tác giả đã nhận diện và chỉ ra rất chính xác những nội dung căn bản nhất trong quan niệm về vấn đề con người cá nhân của tầng lớp trí thức tân học Tuy nhiên, điểm hạn chế của những phân tích này nằm ở chỗ nó quy toàn bộ giới trí thức tân học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX thành một tổng thể là “phái Tân học” Những quan niệm được các tác giả trình bày, vì vậy cũng mang tính khái quát, nó chung cho cả một tầng lớp trí thức chứ không thuộc về riêng một nhà trí thức hay nhóm trí thức nào Trên thực tế, bản thân cái gọi là trí thức tân học ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, theo chúng tôi, phức tạp và đa diện hơn nhiều Không phải bất cứ ai mang danh tân học cũng đều theo quan điểm ủng hộ chủ nghĩa cá nhân và tự do cá nhân Hơn nữa, trong bản thân những người ủng hộ chủ nghĩa cá nhân và tự do cá nhân, cũng có thể chia thành nhiều nhóm khác nhau Những phân tích trong công trình này, vì thế, có tính khái quát nhưng lại thiếu tính đa chiều Đây là điều mà chúng tôi sẽ cố gắng khắc phục trong luận án của mình
Công trình của Nguyễn Thanh Tuấn bàn về một chủ đề tương đối gần gũi với
đề tài luận án: “chủ nghĩa cá nhân trong văn hóa Việt Nam”, trong đó, tác giả ít nhiều bàn về chủ nghĩa cá nhân ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX Theo tác giả, chủ nghĩa cá nhân văn hóa hiện đại ở Việt Nam đã được manh nha từ các phong trào canh tân đầu thế kỷ XX [xem 137, tr.31], và được thể hiện rõ qua dòng văn học lãng mạn giai đoạn 1930-1945 Việc truy nguyên nguồn gốc của chủ nghĩa cá nhân ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX qua phân tích, đánh giá phong trào duy tân đầu thế kỷ của tác giả là hợp lý Tuy nhiên, những trình bày về sự phát triển của chủ nghĩa cá nhân ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX trong công trình này còn khá sơ lược, chưa chỉ ra những nội dung cơ bản và những nhân vật tiêu biểu của nó
Những công trình trên, ở những chừng mực khác nhau, đã phần nào chỉ ra được
sự phát triển của quan niệm về con người cá nhân ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, mặc
dù còn mang tính khái lược, chủ yếu hướng đến nắm bắt tinh thần chung của một thời đại về vấn đề con người cá nhân, chứ chưa chú trọng đến diễn trình, cũng như tính đa chiều của nó Những nghiên cứu thực sự chi tiết về vấn đề này, và do đó, cũng là quan
trọng nhất, là những nghiên cứu của David G Marr, trước hết với cuốn sách Vietnam
Trang 26Traditon on Trial (1984), và sau đó là bài viết “Concepts of ‘Individual’ and ‘Self’ in
Twentieth-Century Vietnam” (2000) Trong công trình thứ nhất, David G Marr khi bàn về vấn đề cá nhân và xã hội ở Việt Nam, đã đề cập đến một nội dung rất quan trọng trong vấn đề con người cá nhân thời kỳ này: vấn đề quyền lợi cá nhân Tác giả
đã chỉ ra sự thất thế của quan niệm truyền thống về lợi ích cá nhân (đề cao nghĩa hơn lợi) trước những quan niệm mới mang tính phản truyền thống [xem 149, tr.115-116] Cũng trong công trình này, tác giả còn bàn đến một vấn đề ít được đề cập đến, nhưng liên quan chặt chẽ với vấn đề con người cá nhân ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, đó là chủ nghĩa công lợi ở Việt Nam (với ảnh hưởng từ Bentham) Tuy nhiên, chủ nghĩa công lợi được tác giả phân tích, chủ yếu thể hiện trên phương diện ảnh hưởng xã hội hơn là những đại diện tư tưởng của nó ở Việt Nam
Công trình thứ hai tuy kế thừa những thành quả của công trình thứ nhất, nhưng bàn một cách trực tiếp quan niệm về cá nhân ở Việt Nam thế kỷ XX Xét cả về chủ đề nghiên cứu và cách triển khai, bài viết này của David G Marr gần gũi với đề tài luận
án của chúng tôi hơn cả Bài viết đi từ việc chỉ ra sự hiện diện của “cá nhân” trên bình diện ngôn ngữ ở Việt Nam đầu thế kỷ XX (với cách sử dụng những khái niệm mới, hay những đại từ nhân xưng ở ngôi thứ nhất), cho đến một quan niệm mới về cá nhân được thể hiện qua những nhân vật trí thức cụ thể Khác với nhiều nghiên cứu tập trung vào nhóm trí thức những năm 30 (đặc biệt là Tự lực văn đoàn), khi bàn về vấn đề con người cá nhân ở Việt Nam thời kỳ này, David G Marr đã xuất phát từ Nguyễn An Ninh với nhận định rằng, ông là người trí thức Việt Nam đầu tiên đề cập đến quan niệm về bản ngã của phương Tây với một sự nồng nhiệt [xem 150, tr.777] Đây là một nhận định rất có ý nghĩa khi nghiên cứu về lịch sử hiện diện của những quan niệm mới
về vấn đề con người cá nhân ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX Nhận định của tác giả gợi ra rằng, để nghiên cứu về vấn đề con người cá nhân ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ
XX, cần phải quay ngược lại gần một thập niên so với sự xuất hiện của trào lưu văn học 1930, trong đó, năm 1923, thời điểm mà Nguyễn An Ninh có bài diễn thuyết nổi tiếng “Lý tưởng của thanh niên An Nam” cần phải được chú ý như một cột mốc quan trọng Tiếp đó, tác giả chỉ ra sự ảnh hưởng của một số học thuyết triết học phương Tây (Kant, Adam Smith, Bentham ) đến quan niệm về cá nhân của người trí thức Việt Nam, nhưng cũng như ở công trình trên, ông không chỉ ra những gương mặt trí thức cụ thể chịu ảnh hưởng của những học thuyết này Có thể hiểu rằng, những học thuyết đó
Trang 2722
ít nhiều tác động đến cách nhìn của tầng lớp trí thức về vấn đề con người cá nhân, mặc
dù việc chỉ ra biểu hiện cụ thể của nó trong tư tưởng của một nhà trí thức nào đó không phải là giản đơn Đến đây, David G Marr mới đề cập đến những quan niệm về
cá nhân trong những năm 30, thông qua việc khai thác những biểu hiện của nó trong thơ ca, tiểu thuyết và tự truyện, tức những tác phẩm văn học, xem chúng như những phương tiện, cách thức “khám phá” về cá nhân của người Việt Nam ở tầng bậc sâu sắc nhất Có thể thấy, David G Marr đã rất thành công trong việc tái hiện diễn biến của quan niệm về con người cá nhân ở Việt Nam cả về chiều rộng và chiều sâu Nghiên cứu của ông bao phủ lên một phạm vi rộng lớn hơn cả, khai thác quan niệm của nhiều gương mặt trí thức hơn cả, trong đó có nhiều nhân vật ít được nhắc đến trong những nghiên cứu còn lại, như Nguyễn Bá Học, Phan Văn Hùm, Trần Huy Liệu, Trần Hữu
Độ, Nguyên Hồng v.v Đồng thời, những công trình này cũng khai thác quan niệm về con người cá nhân ở những tầng bậc khác nhau, thể hiện được tính đa diện của nó ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, với những khuynh hướng tư tưởng khác nhau (bảo thủ hay cấp tiến), với những phương thức thể hiện khác nhau (ngôn ngữ, văn học, tư tưởng), từ những nguồn ảnh hưởng khác nhau Tuy nhiên, những nghiên cứu này cũng vẫn còn những điểm mà chúng tôi cho rằng chưa thực sự được làm rõ Khuynh hướng
tư tưởng bảo thủ về vấn đề con người cá nhân mặc dù đã được tác giả chú ý đến, nhưng không thực sự được phân tích một cách kỹ lưỡng Những phản ứng ban đầu của giới trí thức tân học Việt Nam đối với chủ nghĩa cá nhân cũng như quan niệm của họ
về vấn đề con người cá nhân, do đó, vẫn chưa được làm sáng tỏ Có lẽ, đây cũng là một điểm còn thiếu hụt trong hầu hết những nghiên cứu về vấn đề con người cá nhân ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX Đối với nhóm trí thức cấp tiến, David G Marr mặc dù
đã đề cập đến nhiều nhân vật còn ít được chú ý, nhưng dường như lại không đề cập nhiều đến những nhân vật quan trọng khác như Tự lực văn đoàn, Phan Khôi v.v Có thể nói, đây là những khoảng trống mà chúng tôi nhận thấy có thể tiếp tục khai thác và
đi sâu nghiên cứu
1.2.2 Những nghiên cứu chuyên biệt liên quan đến quan niệm của những nhà trí thức, nhóm trí thức cụ thể về vấn đề con người cá nhân ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Bên cạnh những nghiên cứu mang tính khái quát, cho thấy sự phát triển trong quan niệm về con người cá nhân ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, còn có những công trình tập trung nghiên cứu quan niệm này ở một nhà trí thức hay một nhóm trí thức cụ thể Mặc dù
Trang 28thiếu tính khái quát như ở hướng nghiên cứu thứ nhất, điểm mạnh của những công trình thuộc nhóm này là chúng có thể giúp chúng ta nhận diện đâu là những nhân vật tiêu biểu, đáng chú ý nhất trong vấn đề con người cá nhân thời kỳ này, đồng thời phân tích một cách khá sâu sắc về nội dung quan niệm của họ
Khi tìm hiểu những nghiên cứu thuộc nhóm này, một điểm khá dễ nhận thấy là sự chú ý của giới nghiên cứu đến những nhân vật trí thức của nhóm Tự lực văn đoàn mà đặc biệt là Nhất Linh, Khái Hưng Mặc dù những nghiên cứu này hầu hết thuộc lĩnh vực văn học, song đã phần nào cho thấy quan niệm của nhóm trí thức này về vấn đề con người cá nhân Có thể kể đến một số nghiên cứu tiêu biểu theo hướng này, như phần viết về Tự lực
văn đoàn của Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (1965), bài viết
“Tự lực văn đoàn” của Trương Chính (1989), “Tự lực văn đoàn, nhìn từ góc độ tính liên tục của lịch sử, qua bước ngoặt hiện đại hóa trong lịch sử văn học phương Đông” của
Trần Đình Hượu (1995), “Chủ nghĩa cá nhân trong hoạt động xã hội và luận thuyết của Nhất Linh” của Nguyễn Thanh Thủy (Văn hóa nghệ thuật, số 12, 2013), “Giải phóng cá tính trong Đời mưa gió của Nhất Linh và Khái Hưng” của Đỗ Hồng Đức (Nghiên cứu Văn học, số 6, 2015) và đặc biệt là công trình Quan niệm về con người trong tiểu thuyết
Tự lưc văn đoàn của Lê Thị Dục Tú (1997)
Nghiên cứu của Phạm Thế Ngũ (1965) đã chỉ ra sự coi trọng tự do cá nhân như một tôn chỉ, đường lối sáng tác của Tự lực văn đoàn, đồng thời là nội dung quan trọng trong quan điểm của họ về nhân sinh Những quan điểm đó, theo Phạm Thế Ngũ, được Tự lực văn đoàn đưa ra như một sự thế chỗ cho những quan niệm truyền thống [xem 140, tr.14, 18] Bài viết của Trương Chính (1989) xác định một cách rõ ràng hơn tinh thần của
Tự lực văn đoàn là đề cao tự do cá nhân, hạnh phúc cá nhân Đặc biệt, Trương Chính xếp quan niệm của Tự lực văn đoàn vào “chủ nghĩa cá nhân tư sản”, đây cũng là điều mà sau này nhiều nhà nghiên cứu cũng chỉ ra khi cố gắng nhận diện quan niệm về vấn đề con người cá nhân của Tự lực văn đoàn Khi đưa ra nhận định đó, Trương Chính có ý khẳng định tính tiến bộ của Tự lực văn đoàn trong “quá trình con người dành quyền về cá nhân” [140, tr.37] Bài viết của Trần Đình Hượu (1989) nhìn nhận Tự lực văn đoàn trong dòng chảy của lịch sử văn học Việt Nam, nên đặc biệt nhấn mạnh đến sự đề cao cá nhân của nhóm này trong sự đối kháng với những quan niệm truyền thống về con người cá nhân:
Chủ đề văn học của sáng tác Tự lực văn đoàn là tình yêu, tình yêu của những con người đô thị, của những “chàng”, những “nàng” tân thời, học chữ Tây,
Trang 2924
sống trên phố, hấp thu văn minh châu Âu, đòi tự do, tự do yêu đương, tự do kết hôn và tìm thấy cái đẹp trong cuộc sống Âu hóa: cá nhân, tự do và hạnh phúc Họ phủ nhận con người chức năng trong luân thường, con người sống với gia đình, với họ hàng, với làng xã, làm con hiếu, làm tôi trung [140, tr.46]
Có thể thấy, Trần Đình Hượu cũng chỉ ra mấy khái niệm mấu chốt trong quan niệm của Tự lực văn đoàn về vấn đề con người cá nhân, như những gì mà Trương Chính
đã nhấn mạnh: “cá nhân”, “tự do”, “hạnh phúc” Bài viết của Nguyễn Thị Thanh Thủy (2013) cũng xác định quan niệm về vấn đề con người cá nhân của Nhất Linh thuộc về cái gọi là “chủ nghĩa cá nhân” và chỉ ra những nội dung chính của nó Theo tác giả, điểm nổi bật, xuyên suốt trong chủ nghĩa cá nhân của Nhất Linh chính là tư tưởng giải phóng cá nhân, với ba nội dung chính, bao gồm: tuyên chiến với thành trì phong kiến, trọng tự do
cá nhân và hướng tới bình dân Đây cũng chính là điểm căn bản trong chủ trương hoạt động của nhóm Tự lực văn đoàn Bài viết của Đỗ Hồng Đức (2015) đi sâu vào một tiểu thuyết của Nhất Linh và Khái Hưng, để chỉ ra quan niệm của hai ông về vấn đề con người
cá nhân được biểu hiện trong đó Trong đó, tác giả cũng nhấn mạnh tư tưởng giải phóng con người cá nhân một cách triệt để chính là thông điệp phía sau cuốn tiểu thuyết này Tư tưởng ấy, theo bài viết, được thể hiện qua sự xung đột giữa con người cá nhân với gia đình và với truyền thống Những gì mà Đỗ Hồng Đức đã rút ra từ cuốn tiểu thuyết này về
cơ bản cũng thống nhất với những nhận định mà bài viết của Nguyễn Thị Thanh Thủy đã chỉ ra
Đáng chú ý hơn cả trong những nghiên cứu về quan niệm của nhóm Tự lực văn đoàn về vấn đề con người cá nhân có lẽ là công trình của Lê Thị Dục Tú Công trình này không chỉ hướng tới một phạm vi nghiên cứu rộng hơn so với hai bài viết trên (không tập trung vào một nhà văn hay một cuốn tiểu thuyết cụ thể, mà bao quát toàn bộ tiểu thuyết của ba nhà văn chủ chốt Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo), mà còn đi vào phân tích quan niệm về con người (mà chủ yếu là con người cá nhân) trong các tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn ở chiều sâu của nó Trong công trình của mình, Lê Thị Dục Tú đã chỉ ra và phân tích ba cấp độ của con người cá nhân được thể hiện trong tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn Theo đó, cấp độ thứ nhất là sự xung đột giữa con người cá nhân với gia đình và truyền thống, mà ở đó, con người cá nhân mang một tư thế khỏe khoắn, “lạc quan đậm màu ảo tưởng” [136, tr.44] Đây cũng là điểm đã được chỉ ra ở hai công trình mà chúng tôi đã đề cập đến ở trên Cấp độ thứ hai, theo tác giả, là con người cá nhân tìm sự giải
Trang 30thoát trong tình yêu, trong thế giới nội tâm hay trong những ước mơ về cải cách xã hội
Và cấp độ thứ ba, cũng là cấp độ cao nhất, là ý thức cá nhân cực đoan đòi hỏi bản năng
tự do đứng trên hoặc bất chấp các mối quan hệ xã hội Tất nhiên, Lê Thị Dục Tú cũng không quên lưu ý rằng, hình tượng con người cá nhân trong tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn, ở cấp độ cực đoan của nó, không nhất thiết phản ánh quan niệm của nhóm này
về vấn đề con người cá nhân, mà thực chất là sự “thể nghiệm giới hạn cực đoan của chủ nghĩa cá nhân có ý nghĩa triết học” [136] Các nhân vật, với diễn biến tâm lý và những hành động mang tính cực đoan của nó, do đó, không thể hiện khuynh hướng tư tưởng của các tác giả, mà nó chỉ “cho thấy con người sẽ thế nào một khi nó đoạn tuyệt với các quan hệ xã hội” [136, tr.54] Một nhận định như vậy, theo chúng tôi là hợp lý khi tìm hiểu về quan niệm của các nhà văn Tự lực văn đoàn Việc mở rộng phạm vi nghiên cứu ra các tác phẩm chính luận – mà ở đó, quan niệm được thể hiện một cách trực tiếp – có lẽ sẽ bổ sung cho nhận định này (cũng là điều mà luận án hướng tới) Nhìn chung, công trình của Lê Thị Dục Tú thực chất chính là bàn đến quan niệm về con người cá nhân của nhóm Tự lực văn đoàn, bởi quan niệm về con người của họ, theo tác giả, không gì khác hơn là quan niệm về con người cá nhân: “nếu như ta gọi tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn là tiểu thuyết luận đề thì dường như họ đã có một luận
đề nhất quán từ trước đến sau – Luận đề về con người cá nhân” [136, tr.63] Với ý
nghĩa đó, chúng tôi cho rằng, đây là công trình đã trình bày một cách hệ thống, cặn kẽ nhất về quan niệm con người cá nhân của nhóm Tự lực văn đoàn
Tự lực văn đoàn dĩ nhiên là nhóm trí thức được chú ý nhiều nhất trên phương diện là chủ thể của một khuynh hướng quan niệm về vấn đề con người cá nhân, nhưng bên cạnh đó, cũng còn một số nhân vật khác, cũng nhận được sự chú ý của các nhà nghiên cứu Trong đó, một công trình rất đáng chú ý là bài viết “Phạm trù chủ nghĩa cá nhân của tư tưởng phương Tây trong sự lý giải của Phan Khôi” của Lại Nguyên Ân Trong bài viết, Lại Nguyên Ân đã phân tích cách lý giải của Phan Khôi về cái gọi là chủ nghĩa cá nhân thông qua hai bài báo “Tư tưởng của Đông phương và Tây phương”
và “Cá nhơn chủ nghĩa” Đây cũng là hai bài báo mà Phan Khôi đã đề cập trực tiếp đến khái niệm “chủ nghĩa cá nhân”, vì vậy, việc tập trung vào hai bài báo này của tác giả Lại Nguyên Ân là hợp lý Về nội dung sự lý giải của Phan Khôi, Lại Nguyên Ân chỉ ra rằng, chủ nghĩa cá nhân, dưới sự lĩnh hội của Phan Khôi, có nét chính yếu là độc lập, tự chủ, tự do, bình đẳng Từ đó, bài viết đưa ra một số nhận định quan trọng là:
Trang 3126
thứ nhất, Phan Khôi là một trong những nhân vật tiên phong trong việc phổ biến các nội dung của chủ nghĩa cá nhân vào xã hội (đặc biệt trong vấn đề nữ quyền và vấn đề chuyển đổi mô hình đại gia đình thành mô hình gia đình hạt nhân), và thứ hai là Phan Khôi đã đưa ra một cách mô tả đúng về “chủ nghĩa cá nhân”, khi nhấn mạnh đến mối liên hệ của nó với ý thức công dân và tinh thần dân chủ, chứ không phải là với chủ nghĩa ích kỷ Tất nhiên, do bài viết này chủ yếu bàn về sự lý giải của Phan Khôi về
“chủ nghĩa cá nhân”, nên vẫn còn nhiều nội dung liên quan đến quan niệm về vấn đề con người cá nhân của Phan Khôi vẫn chưa được đề cập đến Dù sao, cũng cần phải nói rằng, vấn đề con người cá nhân ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX có sự gắn bó chặt chẽ với sự xuất hiện của cái gọi là “chủ nghĩa cá nhân”, vì vậy, bài viết của Lại Nguyên Ân là một nguồn tư liệu tham khảo rất có giá trị đối với chúng tôi trong việc thực hiện đề tài này
Ở một mức độ ít sâu sắc hơn, cũng có thể kể đến một số nghiên cứu về Nguyễn
An Ninh, khi phân tích về tư tưởng của ông, đã phần nào đề cập đến cả tư tưởng về cá
nhân, như công trình Nguyễn An Ninh, nhà tư tưởng tiêu biểu đầu thế kỷ XX ở Nam bộ của Phạm Đào Thịnh, hay luận án tiến sĩ của Judith A N Henchy: Performing Modernity in the writings of Nguyễn An Ninh and Phan Văn Hùm Công trình thứ nhất,
khi bàn về tư tưởng của Nguyễn An Ninh về con người, đã trình bày một số luận điểm của ông về vấn đề tự do cá nhân, mặc dù tương đối sơ lược Trong khi ở công trình thứ hai, Judith A N Henchy khi nhắc đến một số biểu hiện của tính hiện đại trong các tác phẩm của Nguyễn An Ninh và Phan Văn Hùm, đã đề cập đến quan niệm của hai ông
về sự phản kháng lại kết cấu gia đình truyền thống dưới ảnh hưởng của Nho giáo [xem
148, tr.92] Đặc biệt, với Nguyễn An Ninh, tác giả đã cố gắng chỉ ra những ảnh hưởng của Nietzsche, một đại biểu cho chủ nghĩa cá nhân phương Tây, lên tư tưởng của ông Đây cũng là một điểm rất đáng lưu ý khi nghiên cứu về tư tưởng của Nguyễn An Ninh
về vấn đề con người cá nhân
Nhìn chung, qua những công trình nghiên cứu về một nhóm trí thức hay một nhà trí thức cụ thể, có thể thấy, Tự lực văn đoàn vẫn có thể xem là một tâm điểm của
sự chú ý Bên cạnh đó, việc một số nghiên cứu khai thác vấn đề con người cá nhân ở Phan Khôi, Nguyễn An Ninh cũng gợi ra những gương mặt nổi trội, đáng chú ý trong giới trí thức tân học ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX Đây là những gợi ý rất tốt cho chúng tôi trong việc xác định những gương mặt trí thức tiêu biểu, nhưng đồng thời,
Trang 32cũng cho chúng tôi thấy rằng, còn nhiều nhân vật khác, cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển quan niệm về con người cá nhân ở Việt Nam thời kỳ này, còn chưa được đề cập đến nhiều bởi giới nghiên cứu
1.2.3 Những nhận định, đánh giá về ý nghĩa của quan niệm về vấn đề con người cá nhân của trí thức tân học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX trong các công trình nghiên cứu đã có
Hầu hết các công trình nghiên cứu liên quan đến quan niệm về vấn đề con người cá nhân của tầng lớp trí thức tân học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX đều đã ít nhiều đưa ra những nhận định, đánh giá – nhiều khi rất ngắn gọn – về ý nghĩa của những quan niệm ấy Nhìn lại những đánh giá ấy, có thể thấy, các nhà nghiên cứu tập trung chỉ ra một số ý nghĩa sau:
Thứ nhất, khẳng định tính chất bước ngoặt, tính chất mới mẻ trong quan niệm
về con người cá nhân của tầng lớp trí thức tân học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX Họ nhấn mạnh đến “luồng gió mới” mà những nhà trí thức tân học, đặc biệt là từ những năm 30, đã thổi vào đời sống văn hóa người Việt Lê Thị Dục Tú đánh giá tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn đã nêu lên những vấn đề mới, đánh dấu “sự xuất hiện công khai của con người cá nhân, của chủ nghĩa cá nhân – trước xã hội” [136] Đây cũng là đánh giá của những nhà nghiên cứu khác, khi nhấn mạnh đến vai trò của các nhà văn những năm 30 trong việc đưa ra một quan niệm mới mẻ về con người cá nhân ở Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX, như Thanh Lãng [xem 74, tr.643], nhóm tác giả Nguyễn Tài Thư [xem 128, tr.69]
Thứ hai, bên cạnh việc khẳng định tính “mới”, các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra
tính tiến bộ trong những quan niệm về con người cá nhân của giới trí thức tân học Chẳng hạn, Nguyễn Thanh Thủy, khi đánh giá về chủ nghĩa cá nhân của Nhất Linh, đã cho rằng tư tưởng đấu tranh giải phóng cá nhân của ông chính là một “hệ giá trị tiến bộ” [126]
Thứ ba, các nhà nghiên cứu cũng phần nào chỉ ra những tác động tích cực của
quan niệm về vấn đề con người cá nhân của giới trí thức tân học đến các khía cạnh khác nhau của xã hội Nhóm tác giả Nguyễn Tài Thư đã chỉ ra: “Khi phái tân học khởi xướng, dương cao ngọn cờ dân chủ, bình đẳng, tự do cá nhân thì như được phá xiềng, cởi xích, nhiều bộ phận của giới trẻ, đặc biệt là giới trí thức văn nghệ sĩ hưởng ứng nhiệt tình” [128, tr.77] Còn Nguyễn Thanh Tuấn cho rằng chủ nghĩa cá nhân văn hóa
ở Việt Nam thời kỳ này là “ngọn nguồn cho sự đa dạng những phong cách cá nhân,
Trang 33Thứ tư, cũng có nghiên cứu, chẳng hạn của Nguyễn Thanh Tuấn, còn chỉ ra cả
những yếu tố mang tính tích cực trong quan niệm về vấn đề con người cá nhân của giới trí thức đầu thế kỷ XX với xã hội hiện nay:
Đến bây giờ (vào đầu thế kỷ XXI) khi chuyển sang kinh tế thị trường với sự giải phóng cá nhân khỏi các quan hệ kinh tế tập thể đã hơn 20 năm, người
ta mới cảm nhận ngày càng sâu sắc hơn cái mới của “Thơ mới”, của tiểu thuyết “Tự lực văn đoàn”, của văn xuôi Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, của hội họa Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, của ca nhạc Đặng Thế Phong, Văn Cao, v.v thuộc về nửa đầu và giữa thế kỷ XX [137, tr30] Nói chung, mặc dù chỉ là những nhận định mang tính khái quát, ngắn gọn, những nhà nghiên cứu đã đề cập đến những ý nghĩa khác nhau, cả về mặt lịch sử và đương đại của quan niệm về vấn đề con người cá nhân của giới trí thức nói chung, giới trí thức tân học đầu thế kỷ XX nói riêng Chúng tôi tán đồng và tiếp thu những đánh giá này của những nhà nghiên cứu đi trước, đồng thời, thông qua nghiên cứu của mình, cũng sẽ cố gắng khái quát, tổng hợp nên ý nghĩa lịch sử, và ý nghĩa đương đại của những quan niệm này
1.3 Những vấn đề đặt ra từ tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trên cơ sở tìm hiểu, tổng hợp những kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án mà các học giả đi trước đã thực hiện, chúng tôi nhận thấy có một số vấn đề đặt ra, đòi hỏi phải được giải quyết trong công trình luận án của mình
Trước hết, về vấn đề điều kiện, tiền đề cho sự hình thành quan niệm của tầng lớp trí thức tân học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX về vấn đề con người cá nhân, có thể thấy, những công trình nghiên cứu có liên quan đến nội dung này, cho đến thời điểm hiện tại, rất nhiều về số lượng và đa dạng về cách tiếp cận Có những công trình nghiên cứu tổng quát, cung cấp những tri thức nền tảng về bối cảnh lịch sử Việt Nam thời kỳ này, cũng có những công trình đi sâu vào một khía cạnh nào đó của bối cảnh lịch sử Mỗi công trình nghiên cứu đều cung cấp cho chúng tôi những tư liệu và nhận định có giá trị về thời kỳ lịch sử này Trong số đó, có nhiều công trình, ở những mức độ khác nhau, đã phần nào chỉ
Trang 34ra những tác động của bối cảnh lịch sử đến sự hình thành quan niệm mới về vấn đề con người cá nhân ở Việt Nam
Ở luận án của mình, chúng tôi không có tham vọng đưa ra những nhận định mới
về thời kỳ lịch sử này, mà cố gắng tiếp thu tối đa những thành quả mà các nhà nghiên cứu
đi trước đã đạt được Riêng về tiền đề tư tưởng cho sự hình thành quan niệm của trí thức tân học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX về vấn đề con người cá nhân, đặc biệt là về sự du nhập của tư tưởng phương Tây vào Việt Nam, do còn nhiều vấn đề chưa thực sự được làm sáng tỏ – như chúng tôi đã chỉ ra ở trên, chúng tôi sẽ đặc biệt chú trọng việc tìm kiếm và chỉ ra những tư liệu mới, góp phần làm sáng tỏ thêm về quá trình này ở Việt Nam Ngoài
ra, mục đích chủ yếu mà chúng tôi hướng tới khi nghiên cứu về bối cảnh lịch sử Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX vẫn là cố gắng chỉ ra, trong những dữ kiện lịch sử đã được những nhà nghiên cứu đi trước cung cấp và tổng hợp, đâu là yếu tố mang tính điều kiện, tiền đề cho
sự ra đời của một quan niệm mới về con người cá nhân ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Về những công trình nghiên cứu liên quan đến quan niệm của trí thức tân học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX về vấn đề con người cá nhân, chúng tôi nhận thấy một số đặc điểm đáng chú ý, cũng là hai khoảng trống nghiên cứu cần được khắc phục:
Thứ nhất là việc coi thế hệ trí thức những năm 30, mà đặc biệt là nhóm Tự lực
văn đoàn, như trung tâm điểm cho một quan niệm mới về con người cá nhân ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX Điều này phản ánh một thực tế là, thời điểm những năm 30
có thể xem là giai đoạn cao trào của khuynh hướng tư tưởng đề cao giải phóng cá nhân
ở Việt Nam, là giai đoạn mà ở đó tinh thần giải phóng con người cá nhân được biểu hiện một cách rõ nét và sâu sắc trên nhiều phương diện Tuy nhiên, sự tập trung quá mức của các nghiên cứu vào thời điểm những năm 30 đã khiến cho sự phát triển thực
tế của quan niệm về con người cá nhân ở Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX chưa được thể hiện rõ Bởi thực ra, vấn đề con người cá nhân và những quan niệm về nó ở Việt Nam đã xuất hiện từ trước những năm 30, trước Tự lực văn đoàn Chúng tôi cho rằng, việc quay trở lại với những năm 20, chứ không phải là nhấn mạnh vào những năm 30, quay trở lại với những trí thức tân học Nam kỳ, chứ không chỉ chú trọng vào nhóm Tự lực văn đoàn ở Bắc kỳ, sẽ giúp chúng ta có được cái nhìn toàn vẹn hơn về lịch sử diễn tiến của quan niệm về con người cá nhân ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Thứ hai, những nghiên cứu về quan niệm của giới trí thức tân học Việt Nam
nửa đầu thế kỷ XX về vấn đề con người cá nhân thường có xu hướng nhấn mạnh đến
Trang 3530
tính cấp tiến và tính phản truyền thống của nó Một số nghiên cứu còn coi tính cấp tiến, tính phản truyền thống như tinh thần chung của giới trí thức tân học Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, quan niệm của giới trí thức tân học Việt Nam về vấn đề này, trên thực tế, phức tạp và đa diện hơn nhiều Nếu chỉ nhìn vào hướng cấp tiến thì sẽ không thấy hết được những khuynh hướng quan niệm khác nhau về vấn đề con người cá nhân ở Việt Nam thời kỳ này Ở trên chúng tôi đã đề cập đến việc cần phải quay lại thời điểm những năm 20, nhưng không chỉ thế, còn cần phải quay ngược trở lại thêm một thập niên nữa, để thấy phản ứng ban đầu của người trí thức tân học Việt Nam đối với quan niệm cá nhân phương Tây thực sự như thế nào Khi đề cập đến nhóm trí thức tân học hoạt động trong thập niên thứ hai của thế kỷ XX, các nghiên cứu thường không bàn đến quan niệm của họ về vấn đề con người cá nhân, và ở chiều ngược lại, những nghiên cứu về vấn đề con người cá nhân cũng thường không bàn đến nhóm trí thức này Nhưng họ quả thật có đưa ra những quan niệm về vấn đề con người cá nhân, dù
có thể xem là mang tính “nghịch chiều” Vì vậy, chúng tôi cho rằng, một nghiên cứu thực sự toàn diện về những quan niệm của trí thức tân học Việt Nam về vấn đề con người cá nhân, bên cạnh việc đề cập đến những nhân vật cấp tiến vốn đã được bàn luận đến trong nhiều công trình khác nhau như Nguyễn An Ninh, Phan Khôi, nhóm Tự lực văn đoàn, không thể bỏ qua việc xem xét quan niệm của những học giả ít nhiều mang tinh thần “bảo thủ”, “phục cổ”
Ở luận án này, bên cạnh việc kế thừa những thành quả, những gợi mở của những nghiên cứu được thực hiện trước đây, chúng tôi sẽ cố gắng khắc phục hai đặc
điểm mà chúng tôi cho là sự thiếu hụt chính của những nghiên cứu ấy Thứ nhất,
chúng tôi cố gắng làm rõ những quan niệm về vấn đề con người cá nhân của nhóm trí thức những năm 20, thông qua hai đại diện là Nguyễn An Ninh và Phan Khôi, xem họ như những học giả có tính khai mở, đặt nền tảng cho nhóm Tự lực văn đoàn vốn được xem như biểu tượng cho tinh thần giải phóng cá nhân ở Việt Nam đầu thế kỷ XX Đối với riêng nhóm Tự lực văn đoàn, chúng tôi cố gắng khai thác các tác phẩm có tính chất nghị luận hơn là tập trung di sản văn chương của họ - vốn là bộ phận đã được nghiên cứu một cách tương đối kĩ lưỡng trong lĩnh vực văn học, đây cũng là hướng tiếp cận
phù hợp với đề tài luận án tiến sĩ triết học mà chúng tôi đang thực hiện Thứ hai, chúng
tôi đặc biệt quan tâm đến quan niệm của nhóm trí thức theo khuynh hướng phục cổ, với những đại diện như Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Nguyễn Duy Cần Họ không
Trang 36chỉ là những nhân vật thể hiện rất rõ phản ứng ban đầu của giới trí thức tân học với những quan niệm cá nhân của phương Tây, mà bằng những hoạt động văn hóa, học thuật xuyên suốt nhiều thập niên, họ còn cho thấy khuynh hướng phục cổ mà họ là đại diện, trên thực tế, là một khuynh hướng lớn, được duy trì trong suốt nửa đầu thế kỷ
XX, với những di sản rất đáng được quan tâm Thông qua đó, chúng tôi kỳ vọng có thể phản ánh được một cách tương đối toàn vẹn, sinh động diễn trình phát triển của quan niệm về vấn đề con người cá nhân của trí thức tân học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Trang 3732
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Nhìn lại những công trình nghiên cứu có liên quan đến các nội dung được triển khai trong luận án, chúng tôi nhận thấy rằng, những vấn đề mà luận án đặt ra và giải quyết, trên thực tế, đã được các nhà nghiên cứu đi trước đưa ra bàn luận và phân tích ở những mức độ khác nhau, có vấn đề đã được nghiên cứu khá kĩ lưỡng, chẳng hạn như vấn đề bối cảnh lịch sử, cũng có vấn đề mới chỉ được nghiên cứu một cách hạn chế, như những quan niệm mang tính phục cổ của tầng lớp trí thức tân học nửa đầu thế kỷ
XX về vấn đề con người cá nhân Trong luận án của mình, chúng tôi cố gắng tiếp thu một cách tối đa những thành tựu mà giới nghiên cứu đã đạt được, xem đó như những
tư liệu, những chỉ dẫn, gợi mở quan trọng đối với đề tài luận án Mặt khác, dựa trên việc xác định những khoảng trống, những điểm còn chưa được làm rõ trong các công trình đã có, trong luận án của mình, chúng tôi tập trung chi ra những tác động của bối cảnh lịch sử đến sự hình thành quan niệm của tầng lớp trí thức tân học về vấn đề con người cá nhân ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, phân tích tính khuynh hướng trong quan niệm về vấn đề này cũng như sự phát triển của từng khuynh hướng Thông qua
đó, chúng tôi kỳ vọng có thể đưa ra một cái nhìn tương đối toàn diện, đa chiều về quan niệm của tầng lớp trí thức tân học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX về vấn đề con người
cá nhân, nhìn từ một số nhân vật có tính đại diện
Trang 38CHƯƠNG 2:
NHỮNG ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH THÀNH QUAN NIỆM CỦA
TRÍ THỨC TÂN HỌC VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
VỀ VẤN ĐỀ CON NGƯỜI CÁ NHÂN
2.1 Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa dẫn đến sự hình thành quan niệm
về vấn đề con người cá nhân của trí thức tân học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
2.1.1 Điều kiện kinh tế ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Đầu thế kỷ XX, sau khi hoàn tất công cuộc bình định thuộc địa, song song với việc từng bước hoàn thiện bộ máy chính quyền, thực dân Pháp cũng đồng thời bắt tay vào thực hiện các cuộc khai thác thuộc địa Ờ thời kỳ này, bên cạnh những ngành sản xuất cũ và quan hệ sản xuất cũ vẫn tiếp tục được duy trì, những hoạt động kinh tế của thực dân Pháp đã tạo ra những ngành sản xuất mới, quan hệ sản xuất mới và những điều kiện mới cho sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là kể từ sau cuộc
khai thác thuộc địa lần thứ hai Trong công trình Việt Nam Pháp thuộc sử, Nguyễn Thế
Anh đã trình bày rất rõ tính chất hỗn hợp cũ, mới của nền kinh tế Việt Nam thời thuộc địa khi phân chia nó thành hai lĩnh vực: lĩnh vực tư bản và lĩnh vực truyền thống [xem
4, tr.186-203] Lĩnh vực thứ nhất bao gồm các hoạt động kinh tế theo hướng tư bản chủ nghĩa, và lĩnh vực thứ hai bao gồm các hoạt động kinh tế truyền thống về cơ bản vẫn giữ nguyên như trước Hai lĩnh vực này hầu như không có sự tác động qua lại đáng kể, thậm chí tồn tại như hai khu vực biệt lập với nhau Sự chuyển biến của nền kinh tế Việt Nam thể hiện chủ yếu ở lĩnh vực thứ nhất, gắn với sự hình thành của phương thức sản xuất theo hướng tư bản chủ nghĩa
Ở đây, chúng ta có thể thấy vai trò của tư bản trong nền kinh tế Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX Nguồn vốn đầu tư của giới tư sản Pháp vào Việt Nam, đặc biệt là từ sau Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, không ngừng tăng lên, tập trung vào một số lĩnh vực: nông nghiệp, công nghiệp nhẹ và đặc biệt là khai mỏ Với sự xuất hiện của nguồn vốn đầu tư từ Pháp, nền sản xuất bắt đầu được kỹ nghệ hóa, những công xưởng lớn được xây dựng, những đồn điền lớn ra đời
Mặc dù những gì đã diễn ra cho thấy tư bản phần lớn vẫn nằm trong tay người Pháp, nguồn lợi từ những hoạt động kinh tế mới hầu hết thuộc về người Pháp, trong khi đa phần người Việt vẫn đứng ngoài cuộc, sinh sống dựa trên những hoạt động kinh
Trang 3934
tế truyền thống không có nhiều khởi sắc, bất chấp những hoạt động kinh tế tư bản đang diễn ra sôi nổi, nhưng, sự biến đổi trong hoạt động kinh tế cùng quá trình tích lũy tư bản trong suốt giai đoạn đầu thế kỷ XX cũng đã làm xuất hiện ở Việt Nam giai cấp tư sản bản xứ, tuy rằng còn ít ỏi về số lượng và thua kém về thế lực Lịch sử thời kỳ này
đã ghi nhận sự xuất hiện của một số nhà tư sản lớn người Việt, nắm giữ trong tay một nguồn vốn lớn, sở hữu những công xưởng, cơ nghiệp đồ sộ, với một đội ngũ nhân công làm thuê đông đảo, như Trương Văn Bền, Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Hữu Thu, Lê Phát Vĩnh v.v Họ tham gia vào nhiều hoạt động kinh tế khác nhau, như dệt may, làm nước mắm, xay gạo, in ấn, vận tải, khai mỏ, v.v Nguồn vốn của các công ty của người Việt cũng tăng lên một cách nhanh chóng, đặc biệt là sau Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất Chẳng hạn, công ty Quảng Hưng Long, vốn đầu tiên năm 1907 mới là
3000 đồng, thì đến năm 1920 đã là 200.000 đồng, công ty Liên Thành, vốn ban đầu năm 1907 là 93.200 đồng, thì đến năm 1920 đã tăng lên 200.000 đồng, Trương Văn Bền năm 1907 mới có số vốn là 3000 đồng, thì đến năm 1920 cũng đã có 150.000 đồng Tương ứng với sự gia tăng về vốn, số lượng nhân công làm thuê và thiết bị máy móc trong tay họ cũng tăng lên Nhiều công xưởng có đến hàng trăm nhân công làm thuê, như xưởng thêu của Trương Đình Long (300 thợ), nhà máy dệt của Lê Phát Vĩnh (50 công nhân dệt và gần 100 công nhân quay tơ), nhà máy gạch Hưng Ký của Trần Văn Thanh (300 thợ) [xem 9, tr.79-104] v.v Nếu so sánh với những hoạt động kinh
tế ít nhiều còn mang màu sắc văn hóa, chính trị, gắn với những cuộc vận động duy tân
do những nhà nho yêu nước như Phan Thúc Duyện, Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế v.v đứng ra tổ chức ở giai đoạn đầu thế kỷ XX, thì những hoạt động kinh tế của tầng lớp tư sản người Việt ở giai đoạn sau thực sự đã mang những khác biệt sâu sắc và thể hiện rõ tính chất tư bản chủ nghĩa Về nguồn vốn, họ thực sự trải qua một quá trình tích tụ tư bản, trong khi ở thế hệ nhà nho duy tân, những hoạt động kinh tế vẫn còn dựa trên nguồn vốn huy động từ những người yêu nước Về động lực, thế hệ trước đề cao và tiến hành các hoạt động kinh tế là xuất phát từ sự thôi thúc của lợi ích dân tộc, trong khi ở thế hệ sau, lợi ích cá nhân, lợi nhuận kinh tế mới là những động cơ hàng đầu
Sự phát triển bước đầu của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam,
dù thiếu toàn diện, cũng đủ để gây ra những tác động đáng kể lên nền tảng tinh thần của xã hội Tư bản trở thành một trong những yếu tố quan trọng chi phối sự vận hành của xã hội Cơ chế song hành giữa tri thức và quyền lực trong xã hội truyền thống -
Trang 40nơi mà người ta thông qua hệ thống khoa cử để hướng đến những vị trí quyền lực trong hệ thống chính quyền – đứng trước sự cạnh tranh từ một cơ chế khác: quyền lực thuộc về những người có nguồn tư bản lớn Bằng thế lực kinh tế của mình, những nhà
tư sản mở rộng tầm ảnh hưởng của mình sang những lĩnh vực khác, như văn hóa và chính trị Họ có thể lập tòa báo, nhà in, họ cũng có thể tìm cách tham gia vào nghị trường Vị thế của tầng lớp thương nhân, vốn chỉ giữ một vị trí thấp trong thang bậc
“tứ dân” (sĩ, nông, công, thương), do đó ngày càng tăng lên Cách nhìn nhận của xã hội đối với họ cũng thay đổi Hình mẫu nhà tư sản trở thành một hình mẫu đáng ngưỡng mộ, thay vì một hình mẫu bị xem thường Bên cạnh những tấm gương về đạo đức, học vấn trong quá khứ, bước sang thế kỷ XX, người Việt Nam đã có thêm những tấm gương làm giàu Bên cạnh những công trình khảo cứu văn hóa, trên mặt báo cũng bắt đầu xuất hiện những bài khảo cứu về kinh tế, tiền tệ Bên cạnh những sách dạy luân lý, cũng bắt đầu xuất hiện thêm cả những sách dạy làm giàu, sách dạy tổ chức
công việc làm ăn như Gương làm giàu, Mua may bán đắt, Sách dạy làm 41 nghề ít vốn, Giàu hơn sang [xem 149, tr.123] v.v
Tất cả những hiện tượng đó đã cho thấy một sự xoay chiều trong xã hội người Việt do sự hiện diện của phương thức sản xuất mới mang lại Việc quan tâm đến hoạt động kinh tế, đến quyền lợi cá nhân và cách để đạt được những quyền lợi ấy càng ngày càng được xem như một nhu cầu chính đáng, và cần được luận chứng về mặt tư tưởng Mặt khác, những rạn nứt trong các mối quan hệ xã hội truyền thống được gây nên bởi
sự chi phối của tư bản và phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa cũng khiến cho một
bộ phận người Việt không dễ dàng chấp nhận, và họ tỏ ra thận trọng hơn, thậm chí có
xu hướng bảo thủ trong việc tiếp nhận một lối sống mới, cũng như một luồng tư tưởng mới nhấn mạnh đến việc giải phóng cá nhân đang trở nên phố biến trong những năm đầu thế kỷ XX Trong một bối cảnh như vậy, chúng ta không ngạc nhiên khi người Việt Nam giai đoạn này tỏ ra đặc biệt quan tâm và bàn luận về những vấn đề liên quan đến quyền lợi cá nhân, hay về mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ, đồng thời đưa
ra rất nhiều quan điểm khác nhau xoay quanh vấn đề này
2.1.2 Điều kiện chính trị ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Nhìn lại những diễn biến chính trị ở Việt Nam kể từ khi thực dân Pháp nổ tiếng súng đầu tiên ở Đà Nẵng năm 1858, có thể thấy một đặc điểm quan trọng là: quá trình thực dân hóa đã song hành với quá trình giải thể vương quyền của triều đình nhà