1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

0285 nghiên cứu tình hình và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân suy thận mạn điều trị bảo tồn tại bv đa khoa trung ương cần thơ năm 2011

104 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tình hình và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân suy thận mạn điều trị bảo tồn tại Bệnh viện đa khoa trung ương cần thơ năm 2011
Tác giả Trần Đức Tuấn
Người hướng dẫn TS.BS Ngô Văn Truyền
Trường học Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ y tế công cộng
Năm xuất bản 2011
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn (11)
  • 2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn (12)
  • Chương 1 (13)
    • 1.1. DỊCH TỄ HỌC BỆNH THẬN MẠN (13)
    • 1.2. CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA SUY THẬN MẠN (24)
    • 1.3. CHẨN ĐOÁN SUY THẬN MẠN (27)
  • Chương 2 (33)
    • 2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU (33)
    • 2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (33)
  • Chương 3 (43)
    • 3.1. Phân bố theo tuổi, giới tính của bệnh nhân (43)
    • 3.2. Kết quả khám lâm sàng (44)
    • 3.3. Kết quả về các xét nghiệm CLS chính áp dụng trong nghiên cứu (45)
    • 3.4. Tỷ lệ mắc suy thận mạn (48)
    • 3.5. Các yếu tố liên quan của suy thận mạn (52)
    • 3.6. Một số đặc điểm theo dõi suy thận mạn ở bệnh nhân nghiên cứu (53)
  • Chương 4: BÀN LUẬN (59)
    • 4.1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu (59)
    • 4.2. Các kết quả xét nghiệm cận lâm sàng chính áp dụng trong nghiên cứu (61)
    • 4.3. Bàn luận về tỷ lệ mắc suy thận mạn (64)
    • 4.4. Các yếu tố liên quan của suy thận mạn (66)
    • 4.5. Hòa nhập cộng đồng của bệnh nhân suy thận mãn tính (67)
    • I. KẾT LUẬN (72)
    • II. KIẾN NGHỊ (74)

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn

1.1 Xác định tỷ lệ các giai đoạn của suy thận mạn

1.2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến suy thận mạn tại bệnh viện Đa khoa

1.3 Tìm hiểu khả năng hòa nhập cộng đồng của bệnh nhân suy thận mạn.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Nghiên cứu về bệnh thận mạn tại TP Cần Thơ cung cấp các thông tin có giá trị khoa học về đặc điểm và tình hình bệnh, giúp hiểu rõ hơn về các giai đoạn suy thận mạn Đặc biệt, nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của suy thận mãn đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, từ đó nâng cao hiệu quả chăm sóc và điều trị bệnh lý này.

Nghiên cứu khảo sát các giai đoạn và yếu tố ảnh hưởng đến suy thận mãn tính nhằm nâng cao hiểu biết về quá trình bệnh tiến triển Điều này giúp ngành y tế và các tổ chức liên quan phát triển chính sách dự phòng và chăm sóc bệnh nhân hiệu quả hơn Đặc biệt, nghiên cứu tập trung vào khả năng hòa nhập cộng đồng của bệnh nhân suy thận mãn tính, góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh Các kết quả này hỗ trợ xây dựng các phương pháp can thiệp phù hợp, giảm thiểu tác động tiêu cực của bệnh và nâng cao hiệu quả điều trị.

DỊCH TỄ HỌC BỆNH THẬN MẠN

Năm 2002, Hiệp hội thận học quốc gia Hoa Kỳ NKF (National Kidney Foundation) đưa ra định nghĩa:

Bệnh thận mạn, bao gồm cả suy thận mạn (STM), đã được định nghĩa rõ ràng trong các tài liệu quốc tế gần đây, dựa trên tiêu chuẩn của NKF Theo NKF, bệnh thận mạn được xác định khi có mức lọc cầu thận (GFR) giảm đi đáng kể và kéo dài trên 3 tháng, ảnh hưởng tiêu cực đến chức năng thận và sức khỏe tổng thể của bệnh nhân Các phân độ của bệnh thận mạn theo NKF giúp phân loại mức độ tổn thương thận, từ đó hướng dẫn điều trị phù hợp và dự đoán tiên lượng bệnh.

Bệnh thận mạn là tình trạng tổn thương thận kéo dài ít nhất 3 tháng, bao gồm các bất thường về cấu trúc và chức năng của thận Bệnh có thể kèm theo giảm độ lọc cầu thận hoặc không, và thường được phát hiện qua các biểu hiện bất thường trong xét nghiệm máu, nước tiểu hoặc hình ảnh học thận Xác định bệnh thận mạn dựa trên các dấu hiệu lâm sàng, xét nghiệm và hình ảnh học giúp chẩn đoán chính xác và xây dựng phương án điều trị phù hợp.

26kg/m 2 , nghiện thuốc lá, rượu

Nhóm 2 là nhóm không có nguy cơ trên Kết quả nghiên cứu của các tác giả này như sau: tỷ lệ mắc STM là 7,9% trong nhóm có nguy cơ (3,94% ở nam và 11,5% ở nữ) và 1,15% ở nhóm không có nguy cơ (0% ở nam, 2,7% ở nữ) Tỷ lệ mắc bệnh STM tăng dần theo độ tuổi: ở nhóm có nguy cơ, tỷ lệ mắc STM là 0,13% ở độ tuổi từ 18-29, 18% ở độ tuổi ≥ 50 Ở nhóm không có nguy cơ, tỷ lệ mắc bệnh STM là 0,22% ở tuổi từ 18-29 và 7,84% ở tuổi

* Tỷ lệ mới mắc, tỷ lệ mắc suy thận mạn giai đoạn cuối:

Xác định các thông tin về dịch tễ học của bệnh xơ cứng tắc thận (STM) giai đoạn cuối dựa chủ yếu vào dữ liệu về số lượng bệnh nhân được điều trị thay thế chức năng thận suy, như lọc máu và ghép thận Các số liệu này được thu thập qua các hồ sơ đăng ký của các bệnh viện và các hiệp hội quản lý y tế, như hệ thống dữ liệu thận Hoa Kỳ, hội ghép thận Châu Âu, và đăng ký của các quốc gia như Úc, Tân Tây Lan, Nhật Bản, Canada, Ý, Tây Ban Nha và Pháp Thông tin này giúp đánh giá chính xác hơn về tỷ lệ mắc bệnh, xu hướng dịch tễ và hiệu quả của các phương pháp điều trị thay thế thận trên toàn cầu.

Dữ liệu về số liệu STM giai đoạn cuối không bao gồm những bệnh nhân không được điều trị bằng phương pháp thay thế thận tại bệnh viện, do đó, số liệu thực tế có thể cao hơn so với báo cáo chính thức.

Theo công bố số liệu của Hội ghép thận, thận nhân tạo Châu Âu năm

Năm 1993, tỷ lệ mắc bệnh Suy Thận Giai Đoạn Cuối trung bình tại các quốc gia châu Âu là 296 trên 1 triệu dân, nhưng vẫn có sự chênh lệch đáng kể giữa các nước Một phần nguyên nhân là do dữ liệu thu thập ở nhiều quốc gia đạt tỷ lệ thấp, trung bình chỉ 66%, trong khi một số nước chỉ đạt 14,3%, còn một số quốc gia khác thu thập dữ liệu đạt 100% Điều này ảnh hưởng đến độ chính xác và so sánh số liệu dịch tễ học về bệnh suy thận giai đoạn cuối trong khu vực.

Tỷ lệ mắc STM giai đoạn cuối/ 1 triệu dân ở Phần Lan là 415 Ở Israel là

551, Luxembourg là 579 và 483 ở Hà Lan (1993 theo tác giả Valderrabano F và Cs [73]

Theo tác giả B Stenged và Cs tính đến năm 1999 toàn Châu Âu có 220.000 bệnh nhân STM giai đoạn cuối được điều trị ở 3.000 trung tâm trong

34 quốc gia của Châu Âu

Theo các tác giả Valderrabano F Jones EHP, Mallock N P, năm

Năm 1993, có tổng cộng 30.676 bệnh nhân được điều trị thay thế thận, trong đó 18.093 người thực hiện lọc máu và 12.583 người đã được ghép thận Tỷ lệ mắc bệnh suy thận mãn tính giai đoạn cuối là 541 trên mỗi triệu dân, nhưng con số này chỉ phản ánh khoảng 84,9% so với tỷ lệ mắc bệnh thực sự Ngoài ra, các nghiên cứu cũng cho thấy sự khác biệt rõ rệt về tỷ lệ mắc bệnh giữa các vùng miền, như vùng Languedoc Roussillon với tỷ lệ 661 trên mỗi triệu dân, cao hơn nhiều so với vùng Béragne chỉ 369 trên mỗi triệu dân.

CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA SUY THẬN MẠN

Suy thận mạn (STM) là hậu quả của sự mất dần chức năng của thận do quá trình phá hủy không hồi phục các mô thận, thường xuyên xuất phát từ các bệnh lý thận mạn tính khác nhau Thời gian tiến triển đến giai đoạn cuối của STM phụ thuộc vào nguyên nhân gây bệnh, với các yếu tố như bệnh lý thận tiết niệu đóng vai trò quan trọng Nguyên nhân gây STM khác nhau giữa các quốc gia và thậm chí tại cùng một quốc gia, tỷ lệ các bệnh lý thận dẫn đến STM cũng thay đổi theo thời gian Điều này cho thấy sự đa dạng và phức tạp của các yếu tố gây bệnh liên quan đến suy thận mạn trong cộng đồng.

1.2.1 Các yếu tố liên quan của suy thận mạn trên thế giới:

Các yếu tố gây bệnh thận mạn tính (STM) ở các nước Âu, Mỹ đã có nhiều sự thay đổi rõ rệt theo thời gian Trong đó, các bệnh viêm cầu thận nguyên phát và viêm bể thận mãn tính đã giảm rõ rệt, góp phần giảm tỷ lệ mắc STM Ngược lại, các bệnh lý thận bẩm sinh di truyền vẫn giữ mức độ ổn định, trong khi các bệnh mạch máu thận và bệnh thận do đái tháo đường đã gia tăng đáng kể, ảnh hưởng đáng kể đến nguồn gốc của bệnh lý thận mãn tính hiện nay [73], [92].

Theo tác giả P Simon, tỷ lệ mắc bệnh thận Đái tháo đường trong cộng đồng khá cao, chiếm khoảng 1%, trong đó 85% là ĐTĐ typ 2 Bệnh thận ĐTĐ là nguyên nhân chính gây suy thận mãn giai đoạn cuối tại Mỹ, chiếm hơn 40% nguyên nhân của suy thận giai đoạn cuối, với tỷ lệ mới mắc năm 1997 là 120/triệu dân Nghiên cứu về mối liên quan giữa tỷ lệ mới mắc suy thận giai đoạn cuối do ĐTĐ và nguồn gốc chủng tộc cho thấy người da đen có tỷ lệ cao gấp 4 lần so với người da trắng (157 so với 41 bệnh nhân/1 triệu dân), trong khi người Mỹ bản xứ có tỷ lệ mới mắc cao gấp 6 lần so với người da trắng (257/1 triệu dân) Tại Mỹ, tỷ lệ mắc suy thận do ĐTĐ ngày càng tăng theo thời gian, với tỷ lệ mới mắc phải lọc máu là khoảng 9,5/1 triệu dân mỗi năm.

Trong giai đoạn từ năm 1978 đến 1989, tỷ lệ mắc bệnh thận liên quan đến Đái tháo đường tăng đáng kể, từ 32 trên mỗi triệu dân năm 1978 lên 55 trên mỗi triệu dân năm 1986 Trong số các bệnh nhân lọc máu do Đái tháo đường, 34,3% có nguồn gốc châu Á, mặc dù chỉ chiếm 3% dân số Mỹ, trong khi đó 31,7% là người da đen, chiếm 12% dân số, còn 33% là người da trắng, chiếm 84% dân số Sự phân bố này cho thấy các nhóm dân tộc khác nhau có tỷ lệ mắc bệnh khác nhau, phản ánh các yếu tố di truyền và xã hội liên quan đến bệnh thận do Đái tháo đường.

Theo số liệu của Úc, nguyên nhân gây ra số ca chết sút thận do Đái tháo đường (STM do ĐTĐ) tăng từ 8% năm 1983 lên 14% năm 1992, cho thấy sự gia tăng đáng kể trong giai đoạn này Trong khi đó, tại Tân Tây Lan, nguyên nhân này duy trì ổn định và chiếm tỷ lệ 25% các ca tử vong do suy thận giai đoạn cuối từ năm 1983 đến 1992.

Tại các nước công nghiệp, ĐTĐ typ 2 chiếm tỷ lệ cao và góp phần lớn vào các bệnh lý liên quan đến tim mạch Giai đoạn cuối của bệnh thường liên quan đến các biến chứng nặng, trong đó việc giảm tỷ lệ mắc ĐTĐ typ 1 nhờ điều trị hiệu quả đã giúp nâng cao tuổi thọ người dân Ngoài ra, việc ngày càng cải thiện chẩn đoán và điều trị các biến chứng tim mạch của bệnh ĐTĐ đã làm tăng rõ rệt tỷ lệ mắc mới của ĐTĐ typ 2 trong cộng đồng.

* Bệnh thận có nguồn gốc mạch máu (xơ hóa động mạch thận, hẹp động mạch thận, thuyên tắc do cholesterol):

Nguyên nhân hàng đầu gây ra đột quỵ thất thần (STM) ở Pháp hiện đã thay đổi so với Mỹ, nơi nó đứng thứ hai Sự gia tăng các trường hợp STM do nguyên nhân này diễn ra trong 20 năm gần đây, chủ yếu tập trung ở nhóm tuổi trên 60.

* Viêm cầu thận mạn nguyên phát (VCTMNP):

Tại Hoa Kỳ và Pháp, viêm mủ cấp tính do vi khuẩn xâm nhập là nguyên nhân đứng thứ ba gây viêm tụy cấp (STM), chiếm tỷ lệ từ 10-20% Trong khi đó, tại Úc và Nhật Bản, nguyên nhân hàng đầu gây STM là viêm mủ cấp tính, chiếm tới 34% các trường hợp Vết thương cấp tính mủ ngoại biên (VCTMNP) thường gặp nhất ở nhóm bệnh nhân trẻ bị STM.

Theo dữ liệu của Hội ghép thận và thận nhân tạo Châu Âu tại Hà Lan, tỷ lệ mắc bệnh suy thận mạn tính (STM) do nguyên nhân này không có nhiều biến động từ năm 1977 đến 1992 Tại vùng Lombardia, miền Bắc nước Ý, tỷ lệ mới mắc STM do nguyên nhân này cũng ít thay đổi, ghi nhận là 25,1% vào năm 1983 và giảm xuống còn 21,3% vào năm 1992.

* Viêm thận kẽ mạn tính (VTKMT):

VTKMT thường phát sinh do nguyên nhân liên quan đến vi trùng kết hợp với các yếu tố thuận lợi như tắc nghẽn, trào ngược bất thường hệ niệu hoặc do tác nhân từ thuốc và độc chất Bệnh lý này có mối liên hệ chặt chẽ với sỏi thận tiết niệu, gây ảnh hưởng đến chức năng thận và hệ tiết niệu.

Tỷ lệ thất vọng sau ghép thận (STM) do biến chứng thận nhân tạo ghép (VTKMT) đã giảm đáng kể Theo số liệu của Hội Ghép Thận Châu Âu năm 1988, tỷ lệ VTKMT là 19,2%, trong đó nguyên nhân do thuốc giảm đau chiếm 2,6%.

STM gắn liền với bệnh thận di truyền vẫn giữ ổn định trong vòng 10 năm nay Trong nhóm bệnh này chủ yếu là thận đa nang ở người lớn

Theo C Jacobs nhóm nguyên nhân này chiếm dưới 10%, trong đó thận đa nang là 7,6%

Theo P Simon nguyên nhân thận đa nang dẫn đến STM là 8-10% và ở nam trầm trọng hơn ở nữ nhưng lý giải điều này vẫn chưa được biết rõ ràng

Hiện nay, ở các nước Châu Âu và Châu Mỹ, hai nguyên nhân chính gây suy thận mạn giai đoạn cuối là đái tháo đường (ĐTĐ) và bệnh lý mạch máu thận Trong khi đó, tại khu vực Châu Á, gồm Nhật Bản, Kuwait, Ấn Độ và Pakistan, các nguyên nhân hàng đầu vẫn là viêm cầu thận mãn và viêm thận bể thận mãn.

Hiểu rõ nguyên nhân gây viêm sốt xuất huyết (STM) và áp dụng các phương pháp điều trị tích cực, dự phòng hiệu quả giúp giảm tỷ lệ mắc mới và bệnh phát triển Đây là mục tiêu quan trọng mà nhiều quốc gia trên thế giới hướng đến để kiểm soát dịch bệnh [33], [75], [84].

1.2.2 Các yếu tố liên quan của suy thận mạn ở Việt Nam

Theo tác giả Nguyễn Văn Xang, nguyên nhân của STM được chia thành các nhóm dưới đây:

Bệnh Viêm cầu thận cấp là nguyên nhân chính gây bệnh VCTM, thường liên quan đến hội chứng thận hư và viêm cầu thận trong các bệnh lý như lupus ban đỏ hệ thống, đái tháo đường và Henoch-Schönlein Nhóm này chiếm khoảng 40% các trường hợp mắc bệnh VCTM, đóng vai trò quan trọng trong việc xác định nguyên nhân và hướng điều trị phù hợp.

Bệnh viêm thận bể thận mạn chiếm tỷ lệ 30%

Bệnh viêm thận kẽ do dùng thuốc giảm đau kéo dài, do tăng acid urich máu, tăng calci máu

Bệnh mạch máu thận bao gồm xơ mạch thận lành tính hoặc ác tính, huyết khối vi mạch thận, viêm quanh động mạch dạng nút, tắc tĩnh mạch thận

Bệnh thận bẩm sinh di truyền hoặc không di truyền bao gồm thận đa nang, loạn sản thận, hội chứng Alport, bệnh thận chuyển hóa [24]

Các tác giả Phạm Văn Bùi, Ngô Gia Hy và các cộng sự đã nghiên cứu trên 509 bệnh nhân suy thận mãn tính (STM) tại TP HCM năm 1994, kết quả cho thấy 27,73% không rõ nguyên nhân, 29,73% do tăng huyết áp, 20,8% do viêm cầu thận mãn, 18,64% do viêm thận bể thận mãn, 12,43% do đái tháo đường, 9,18% do hội chứng thận hư, 5,4% do thận đa nang, 2,4% do lupus ban đỏ hệ thống và 1,35% do các nguyên nhân khác.

CHẨN ĐOÁN SUY THẬN MẠN

Chẩn đoán sớm bệnh suy thận mãn tính (STM) là rất quan trọng để đảm bảo quá trình điều trị hiệu quả Việc xác định bệnh giai đoạn đầu giúp các bác sĩ có kế hoạch theo dõi và kiểm soát bệnh tốt hơn, từ đó làm chậm sự tiến triển nhanh đến giai đoạn cuối của bệnh Điều này không chỉ giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh mà còn giảm thiểu các biến chứng nguy hiểm.

Thông thường có 2 tình huống mà người thầy thuốc hướng đến chẩn đoán STM ở bệnh nhân là:

Bệnh thận đã được biết trước đó và trong quá trình theo dõi đều đặn phát hiện có sự gia tăng dần Creatinin máu

Bệnh thận thường không được dự đoán trước, và bệnh nhân thường đến khám khi xuất hiện các biểu hiện suy thận như thiếu máu, tăng huyết áp, rối loạn tiêu hóa hoặc thể trạng suy sụp Ngoài ra, các triệu chứng như đái nhiều hoặc thiểu niệu cũng là dấu hiệu cảnh báo Trong một số trường hợp, bệnh nhân có thể xuất hiện các biểu hiện liên quan đến nguyên nhân gây bệnh thận như đái máu đại thể, protein niệu, hội chứng thận hư hoặc viêm thận bể thận.

1.3.1 Những biểu hiện lâm sàng của suy thận mạn [58], [78], [82], [93]:

Trong lĩnh vực lâm sàng, bệnh STM thường giữ ở giai đoạn đầu mà không có triệu chứng rõ ràng Các cụm từ như "tăng urê máu" hoặc "hội chứng tăng urê máu" mô tả các biểu hiện lâm sàng xuất hiện chủ yếu ở giai đoạn cuối của bệnh, bao gồm nhiều triệu chứng liên quan đến các cơ quan như phù nề, thiếu máu và tăng các yếu tố khác trong cơ thể.

HA, suy tim, viêm màng ngoài tim, rối loạn tiêu hóa, xuất huyết, viêm thần kinh ngoại biên, hôn mê

1.3.2 Những phương pháp để đánh giá chức năng thận:

* Hệ số thanh thải Inuline: “Tiêu chuẩn vàng”

Hệ số thanh thải (HSTT) Inuline là phương pháp chính xác để xác định mức lọc cầu thận (MLCT), kể cả ở những người bình thường và bệnh nhân mắc bệnh thận Để tính HSTT Inuline, cần truyền liên tục Inuline qua tĩnh mạch để duy trì nồng độ ổn định và thu mẫu nước tiểu một cách hoàn hảo, lấy qua sonde bàng quang và đo lượng nước tiểu theo phút Tuy nhiên, do quy trình phức tạp và phiền phức, HSTT Inuline chủ yếu được sử dụng trong các nghiên cứu và trung tâm chuyên sâu, nhưng ít được áp dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng hàng ngày.

Sản phẩm cuối cùng của quá trình thoái biến protid máu là urê máu, được tổng hợp tại gan và chủ yếu đào thải qua thận, mặc dù không hoàn toàn Với trọng lượng phân tử nhỏ (60 Daltons), urê dễ dàng lọc qua cầu thận, sau đó được tái hấp thu tại ống lượn gần và ống lượn xa, trong đó sự tái hấp thu tại ống lượn xa đóng vai trò quan trọng khi lượng nước tiểu ít Hệ số thải urê (HSTT) thường thấp hơn so với mức lọc cầu thận (MLCT) do phần nào bị tái hấp thu tại thận; bình thường, HSTT của urê dao động từ 31 đến 75 ml/phút, tiêu chuẩn là 54 ml/phút Trong các tình trạng bình thường, không có suy thận, giá trị HSTT nằm trong khoảng 35-65% của MLCT, trong giai đoạn tiến triển của suy thận, HSTT của urê thường từ 70-90% so với MLCT Tuy nhiên, hiện nay, urê máu không còn được xem là chỉ số chính để đánh giá chức năng thận so với các xét nghiệm khác.

Nồng độ creatinin máu phản ánh quá trình sản xuất và bài tiết creatinin trong cơ thể Sự sản xuất creatinin không bị ảnh hưởng bởi chế độ ăn uống mà chủ yếu phụ thuộc vào khối lượng cơ, do đó liên quan chặt chẽ đến chiều cao, cân nặng, giới tính và tuổi của từng người.

Creatinin có mức 130 µmol/l có thể bình thường ở người lớn tuổi, trẻ em hoặc người rắn chắc Tuy nhiên, mức này cũng có thể là dấu hiệu của suy thận giai đoạn nặng ở phụ nữ lớn tuổi hoặc người nhỏ bé Việc thải Creatinin không chỉ phụ thuộc vào tốc độ lọc cầu thận mà còn vào sự bài tiết qua ống thận và quá trình thoái biến tại ruột, giúp xác định chính xác chức năng thận.

Creatinin máu là chỉ số quan trọng được sử dụng phổ biến để đánh giá chức năng thận, phù hợp cho xét nghiệm sàng lọc bệnh thận tại phòng khám và cộng đồng Chỉ số Creatinin máu phản ánh quá trình tạo ra Creatinin từ cơ và khả năng thận đào thải chất này ra khỏi cơ thể Mặc dù chế độ ăn không chứa Creatinin, nhưng sản xuất và bài tiết Creatinin hàng ngày vẫn duy trì ở mức đều đặn và tỷ lệ thuận với khối lượng cơ của cơ thể Tăng Creatinin máu có thể do suy thận, tiêu thụ thực phẩm chứa nhiều Creatinin, hoặc các bệnh lý như to đầu chi; ngoài ra, một số loại thuốc như trimethoprim, probenecid, spironolacton, triamteren, và amiloride cũng gây tăng Creatinin máu bằng cách làm giảm khả năng bài tiết Creatinin qua ống thận.

Nồng độ Creatinin mỏu bỡnh thường ở nam là 61-106àmol/l , ở nữ là 44-88àmol/l [8], [12], [23]

Tác giả Younden đã loại trừ các yếu tố âm tính giả và dương tính giả để đưa ra kết luận rằng mức creatinin máu ở nam giới là 137 µmol/l và nữ giới là 104 µmol/l là dấu hiệu ban đầu của suy thận, đi kèm với sự mất khoảng 50% chức năng thận (MLCT < 60 ml/ph).

Khi suy thận mãn tính giảm, ban đầu Creatinin máu chỉ thay đổi rất ít do sự gia tăng bài tiết ở thận và giảm sản xuất Creatinin, khiến Creatinin máu có thể duy trì ở mức bình thường hoặc tăng nhẹ dù cầu thận đã giảm 30-50% Ngược lại, ở bệnh nhân suy thận mãn giai đoạn nặng, mức Creatinin máu tăng tương ứng với những biến đổi của độ lọc cầu thận Hiện nay, Creatinin máu cùng với tốc độ lọc cầu thận (HSTT Creatinin) được sử dụng phổ biến trong chẩn đoán và theo dõi bệnh suy thận mãn, nhờ tính dễ định lượng và khả năng lặp lại nhiều lần.

* Đánh giá độ lọc cầu thận và tiến triển của suy thận mạn bằng công thức rút gọn chỉ dựa vào Creatinin máu:

Kể từ năm 1976, công thức tính HSTT Creatinin do Cockcroft D.W và Gault M.H đề xuất dựa trên Creatinin huyết tương cùng với độ tuổi, giới tính và cân nặng của người bệnh Nhiều tác giả sau đó cũng nghiên cứu và phát triển các công thức khác nhằm nâng cao độ chính xác của phương pháp Các phương pháp này mang lại nhiều lợi ích, đặc biệt là tính nhanh chóng, không cần lấy nước tiểu và có thể thực hiện nhiều lần để theo dõi chức năng thận liên tục.

Khi sử dụng công thức này nên lưu ý có một số tăng Creatinin máu mà không có sự giảm MLCT Những tình huống này bao gồm:

Do sản xuất gia tăng Creatinin, đặc biệt dùng nhiều thịt giàu Creatinin Dùng các thuốc làm ức chế bài tiết Creatinin ở ống thận (Cimetidine, trimethoprim)

Do có trong huyết tương những chất có thể làm sai lệch kết quả định lượng Creatinin: acid aceto, acetic, acid ascorbic…

Công thức Cockcroft và Gault

SCR: Creatinin máu (mg/dl)

Khi đánh giá HSTT Creatinin ở người trưởng thành Việt Nam, Bộ Y tế đã xác định rằng giá trị bình thường tính theo công thức Cockcroft và Gault là 110,4 ± 24,4 ml/ph/1,73 m² da cho cả hai giới Đối với công thức kinh điển, HSTT Creatinin bình thường ở nam là 119 ± 23,7 ml/ph/1,73 m² da, còn ở nữ là 114,4 ± 21,6 ml/ph/1,73 m² da, với giá trị chung cho cả nam và nữ là 116,7 ± 23,7 ml/ph/1,73 m² da.

* Chẩn đoán xác định – chẩn đoán giai đoạn STM:

Việc chẩn đoán xác định Suy Thận Mạn (STM) thường dựa trên tiền sử bệnh thận tiết niệu, biểu hiện lâm sàng, các xét nghiệm cận lâm sàng, và đặc biệt là đánh giá chức năng thận Lâm sàng của STM trở nên rõ nét hơn khi bệnh đã tiến triển đến các giai đoạn muộn Đây là quá trình cần thiết để xác định chính xác mức độ tổn thương thận và lên kế hoạch điều trị phù hợp.

CR đoạn nặng Để đánh gái chức năng thận cho đến hiện nay thường áp dụng Creatinin máu và HSTT Creatinin

Xác định giai đoạn của STM giúp ích cho việc tiên lượng người bệnh và áp dụng các biện pháp điều trị trên người bệnh đó [42]

Việc phân chia giai đoạn của bệnh thận mạn (STM) chủ yếu dựa vào các bằng chứng xét nghiệm để đánh giá chức năng thận, giúp xác định chính xác mức độ tổn thương thận Trong giai đoạn sớm của bệnh, các tiêu chí phân loại có thể khác nhau giữa các tác giả, tuy nhiên ở giai đoạn cuối, tất cả các nước đều thống nhất là mức creatinin huyết thanh (HSTT) dưới 10 ml/phút là dấu hiệu nhận biết Điều này giúp xác định rõ tình trạng suy thận nặng và hướng điều trị phù hợp.

Theo tác giả Robert M Brenner, Barry M Brenner và Cs (Mỹ 2001) chẩn đoán dựa vào các tiêu chuẩn sau [89]:

Hội chứng urê máu cao kéo dài

Kích thước hai thận giảm dần (đo trên siêu âm)

Trụ nước tiểu lớn (trụ hạt thô)

Trong nước, các tiêu chuẩn chẩn đoán xác định bệnh STM do tác giả Nguyễn Văn Xang và các nhà thận học Việt Nam đề xuất đã được thống nhất sử dụng rộng rãi trong cộng đồng y tế Các tiêu chuẩn này bao gồm các dấu hiệu quan trọng như thiếu máu, tăng huyết áp, protein niệu và hồng cầu niệu, đảm bảo chẩn đoán chính xác và phù hợp với thực tiễn lâm sàng tại Việt Nam.

Có phù hoặc không phù tùy nguyên nhân

Tăng HA, thiếu máu mạn

Mức lọc cầu thận giảm < 60ml/ph

Hai thận có thể teo nhỏ hơn bình thường

Trong các tiêu chuẩn trên MLCT là tiêu chuẩn quyết định, các tiêu chuẩn khác có giá trị tham khảo [15], [17], [20], [24]

STM chia thành 4 giai đoạn, trong giai đoạn III được chia thành III.A và III.B, chủ yếu là dựa vào Creatinin máu và hệ số thanh thải Creatinin [24]

- Giai đoạn I: Khi MLCT từ 60-41 ml/ph, Creatinin mỏu < 130àmol/l (1,5mg/dl)

- Giai đoạn II: Khi MLCT từ 40-21 ml/ph, Creatinin mỏu 130-299àmol/l

- Giai đoạn III.A: Khi MLCT từ 20-11 ml/ph, Creatinin máu 300- 499àmol/l (3,5-5,9mg/dl)

- Giai đoạn III.B: Khi MLCT từ 10-05 ml/ph, Creatinin máu 500- 900àmol/l (6-10mg/dl)

- Giai đoạn IV: Khi MLCT < 5 ml/ph, Creatinin mỏu >900àmol/l (>10mg/dl)

ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Trong năm 2011, tất cả bệnh nhân đến khám và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa TW Cần Thơ đều đã được chẩn đoán xác định mắc bệnh suy thận mạn Điều này cho thấy mức độ phổ biến của bệnh suy thận mạn trong cộng đồng và tầm quan trọng của việc phát hiện sớm để cải thiện kết quả điều trị Bệnh viện đã đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế chuyên sâu cho bệnh nhân suy thận mạn, góp phần nâng cao nhận thức về căn bệnh này.

- Bệnh nhân không đồng ý hợp tác nghiên cứu

Tính cỡ mẫu dựa trên công thức sau: n = cỡ mẫu thích hợp

Z = 1,96 nghiên cứu độ tin cậy 95% d = sai số cho phép nghiên cứu, chọn d = 2%, P = 0,92% tỷ lệ suy thận mạn theo TS Võ Tam (2004) n = 86,6 chọn mẫu n = 100

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu theo phương pháp mô tả cắt ngang

2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu:

Theo phần mềm thống kê STATA 8.0

2.2.3 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu:

- Đề tài nghiên cứu được thông qua hội đồng xét duyệt của nhà trường

- Các kết quả nghiên cứu trong đề tài sẽ được giữ kín

- Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định suy thận mạn:

Chúng tôi chọn bệnh Suy thận mạn (STM) dựa trên các tiêu chuẩn chẩn đoán của Việt Nam do tác giả Nguyễn Văn Xang cùng các nhà thận học Việt Nam đề xuất, nhằm đảm bảo sự nhất quán trong chẩn đoán xác định STM tại Việt Nam Các tiêu chuẩn này bao gồm những tiêu chí đã được công nhận rộng rãi và sử dụng thống nhất trong nước từ trước đến nay [24], góp phần nâng cao độ chính xác và hiệu quả trong quá trình chẩn đoán và quản lý bệnh.

1 Có phù hoặc không phù tùy theo nguyên nhân

2 Có tăng huyết áp – thiếu máu

5 Mức lọc cầu thận giảm (HSTT creatinin dưới 60ml/phút)

6 Hai thận có thể bị teo nhỏ hơn bình thường

Trong các tiêu chuẩn trên thì mức lọc cầu thận là tiêu chuẩn quyết định, các tiêu chuẩn khác có giá trị tham khảo

- Tiêu chuẩn phân loại giai đoạn của suy thận mạn:

Bảng 2.1 Các giai đoạn suy thận mạn

Mức lọc cầu thận (ml/ph)

Chỉ định điều trị micromol/l mg/dl

II 40 - 21 130 – 299 1,5 – 3,4 Điều trị bảo tồn

IIIa 20 - 11 300 – 499 3,5 – 5,9 Điều trị bảo tồn

IV < 5 > 900 > 10 Lọc máu bắt buộc hoặc ghép thận

- Tiêu chuẩn chẩn đoán các bệnh lý liên quan đến STM

+ Nhóm bệnh lý tại thận – tiết niệu [24]:

Dựa váo các tiêu chuẩn chẩn đoán hiện hành trong nước được áp dụng cho đến nay

Tiền sử và hiện tại có phù Tăng huyết áp Có hồng cầu niệu Protein niệu 1-3g/24h Thiếu máu Tăng ure, creatinin máu

+ Nhiễm trùng tiết niệu mạn tính [21]:

Người có tiền sử nhiễm trùng đường tiết niệu, tái phát nhiều lần, kèm theo sỏi, u hoặc dị dạng niệu đạo thường dễ mắc các bệnh liên quan Test nước tiểu cho thấy nitrite (+), bạch cầu niệu nhiều, cùng với vi khuẩn (+), cho thấy khả năng nhiễm trùng đang diễn ra hoặc tái phát Triệu chứng đau vùng thắt lưng, có thể kèm tăng huyết áp, là dấu hiệu cảnh báo nhiễm trùng thận hoặc biến chứng nặng Ngoài ra, các triệu chứng hội chứng bàng quang như tiểu rắt, tiểu buốt, tiểu đục hoặc tiểu máu cũng thường gặp trong các bệnh lý niệu Phát hiện protein trong nước tiểu (+) cho thấy có thể có tổn thương hoặc viêm nhiễm đáng chú ý trong hệ tiết niệu.

Khả năng cô đặc nước tiểu giảm sớm Tỷ trọng nước tiểu thấp

+ Sỏi thận - tiết niệu dựa vào [6], [13], [24]:

Bệnh nhân có tiền sử đái ra sỏi hoặc nhiễm trùng tiết niệu tái phát nhiều lần, gây ra triệu chứng tiểu buốt, đục, rắt Triệu chứng đau quặn thận, đái máu đại thể hoặc vi thể thường xuyên xuất hiện, ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống Hình ảnh siêu âm và X-quang cho thấy sự hiện diện của sỏi thận hoặc sỏi niệu quản, xác định chính xác nguyên nhân và hướng điều trị phù hợp.

Phù toàn thân, hay còn gọi là phù kiểu thận, thường đi kèm với protein niệu trên 3,5g/24h và giảm protein máu xuống dưới 60g/l, cùng với albumin máu dưới 30g/l Bệnh nhân cũng thường có mức lipid máu cao trên 900mg%, cholesterol máu vượt quá 250mg% hoặc >6,5mmol/l Ngoài ra, xuất hiện các hạt mỡ lưỡng chiết và trụ mỡ trong nước tiểu là những triệu chứng đặc trưng của tình trạng này.

Trong đó tiêu chuẩn thứ 2, 3 là bắt buộc, 3 tiêu chuẩn khác có thể không đầy đủ cũng được chẩn đoán là hội chứng thận hư

Thận đa nang khiến thận to rõ rệt khi khám lâm sàng, thường kèm theo triệu chứng đái máu từng đợt và hồng cầu niệu khi có đái máu đại thể hoặc vi thể Protein niệu thường thấp hơn 2g/24h, cho thấy mức độ tổn thương thận không nặng Siêu âm là phương pháp chẩn đoán chính, cho thấy thận có nhiều nang rõ rệt, có thể kèm theo gan đa nang, phản ánh tính chất di truyền của bệnh lý này và cần theo dõi chặt chẽ để phòng ngừa các biến chứng nguy hiểm.

+ Tăng huyết áp : Chẩn đoán dựa vào tiêu chuẩn của Uỷ ban phòng chống huyết áp Hoa Kỳ (JNC VI) như sau [7] :

Khái niệm HA tâm thu

Giai đoạn II 160 – 179 Và/hoặc 100 - 109

Giai đoạn III ≥ 180 Và/hoặc ≥ 110

+ Đái tháo đường : Dựa vào tiêu chuẩn của Hội đái tháo dường Hoa Kỳ (ADA) được tổ chức Y tế thế giới (WHO) thông qua

Chẩn đoán đái tháo đường khi bệnh nhân thỏa mãn 1 trong 3 tiêu chuẩn sau :

 Đường huyết lúc đói ≥126 mg% ( ≥ 7mmol/l)

 Đường huyết 2 giờ sau ăn ≥ 200mg% ( ≥ 11,1 mmol/l)

 Đường huyết bất kỳ : ≥ 200mg% (≥ 11,1 mmol/l)

Kèm triệu chứng lâm sàng : Tiểu nhiều, uống nhiều, sụt cân

Với điều kiện làm lại xét nghiệm đường huyết vào ngày hôm sau thỏa mãn

Một số phương pháp khám nghiệm thực hiện trong nghiên cứu :

Đo huyết áp bằng phương pháp nghe của Korotkoff bằng máy đo huyết áp đồng hồ Nhật Bản, đã được chuẩn độ theo huyết áp kế thủy ngân để đảm bảo chính xác Quấn băng đo huyết áp dài bằng kính khoảng 2/3 chiều dài cánh tay phải, sao cho bờ dưới của băng cách góc khuỷu tay 2cm Bệnh nhân cần nghỉ ngơi ít nhất 5 phút và thực hiện đo huyết áp ít nhất 2 lần trong tư thế nằm thoải mái để đảm bảo kết quả chính xác và đáng tin cậy.

Sử dụng cân bàn hiệu SMIC của Trung Quốc, bạn cần chú ý các vạch chia trên bàn cân, mỗi vạch tương ứng với 0,1kg và sai số không quá 0,2kg Đặt cân ở vị trí cố định, chỉnh kim về vạch 0 để đảm bảo độ chính xác Người kiểm tra nên mặc quần áo mỏng, đi chân trần và không mang theo vật dụng nào, sau đó đứng chắc chắn với hai chân giữa bàn cân để lấy kết quả chính xác nhất.

Thực hành khám xét lâm sàng cần tuân thủ đúng quy trình khám cơ bản hiện hành, đảm bảo thực hiện một cách tỉ mỉ và không bỏ sót các triệu chứng cơ năng cũng như triệu chứng thực thể Đặc biệt, việc chú trọng phát hiện các dấu hiệu liên quan đến suy thận mạn là rất quan trọng để chẩn đoán chính xác và đảm bảo điều trị hiệu quả.

- Xét nghiệm cận lâm sàng :

* Thử nước tiểu bằng giấy thử :

Tất cả những người đến khám đều được phát một lọ sạch, đã sấy khô để lấy nước tiểu Giấy thử 3 thông số, Uritest

+ Hãng SX : Xí nghiệp dược phẩm và sinh học Y tế MEBIPHAR, TP HCM sản xuất

+ Mục đích nhằm xác định 3 thông số trong nước tiểu : protein, pH, glucose

+ Công thức của giấy thử (cho 50 băng thử)

Thông số pH Methyl red 0,03mg

Thông số glucose Glucose oxydase 0,48mg

Thông số protein TetraBromophenol blue 0,3mg

Để sử dụng, bạn cần hứng nước tiểu vào ống nghiệm hoặc chai lọ sạch, sau đó nhúng băng thử vào nước tiểu trong 1 giây Tiếp theo, kéo nhẹ đầu băng thử dọc theo thành ống để loại bỏ giọt nước tiểu thừa Cuối cùng, lấy băng thử ra và đọc kết quả bằng cách so sánh màu trên băng thử với gam màu tương ứng đã in trên hộp để đảm bảo chính xác.

Sau khi nhúng, pH và protein được đọc ngay để đảm bảo độ chính xác của kết quả Glucose nên được đọc sau 1 phút để đạt độ tin cậy nhất Lưu ý rằng sau 2 phút, độ đậm màu của phản ứng sẽ không còn chính xác, gây ảnh hưởng đến chẩn đoán kết quả.

Kết quả xét nghiệm cho thấy, chỉ thị màu vàng cam hơi nâu thay đổi tùy theo mức độ pH của nước tiểu Đối với glucose, khi nước tiểu có glucose, vùng chỉ thị chuyển từ màu trắng ngà (-) sang màu tím (+), màu tím càng đậm khi nồng độ đường trong nước tiểu càng cao.

Lưu ý rằng kết quả xét nghiệm glucose (+) giả có thể xảy ra khi dụng cụ chứa nước tiểu có chất sát trùng như javel hoặc bột giặt, gây ảnh hưởng đến độ chính xác của kết quả Ngoài ra, kết quả giả có thể xuất hiện khi nước tiểu có tỷ trọng cao hoặc nồng độ ceton cao, gây nhầm lẫn trong chẩn đoán Đặc biệt, bệnh nhân sử dụng nhiều vitamin C trước khi làm xét nghiệm cũng có thể làm sai lệch kết quả, dẫn đến các kết quả không chính xác về glucose trong nước tiểu.

Khi nước tiểu có protein, vùng chỉ thị chuyển từ màu vàng nhạt (-) sang màu xanh rêu (+), cần chú ý đến kết quả protein niệu Kết quả (+) giả có thể xảy ra khi trong nước tiểu có cồn hoặc dụng cụ chứa nước tiểu bị lẫn acetate amonium Ngoài ra, một số bệnh nhân sau điều trị bằng Quinin cũng có thể cho kết quả protein niệu giả.

Để đảm bảo kết quả kiểm tra chính xác, giấy thử nước tiểu cần được bảo quản trong hộp kín và để ở nơi khô ráo, thoáng mát, tránh ánh sáng, độ ẩm và nhiệt độ cao trên 30°C, nhưng không nên để trong tủ lạnh Sau khi lấy một que thử, cần đậy nắp lại ngay lập tức để tránh mất độ chính xác Ngoài ra, chỉ sử dụng giấy thử còn hạn sử dụng ghi rõ trên hộp để đảm bảo hiệu quả kiểm tra chính xác nhất.

* Giấy thử 8 thông số Multistix 8SG:

+ Mục đích: xác định 8 thông số: bạch cầu, nitrite, protein, pH, hồng cầu, tỷ trọng, keton glucose

+ Công thức của giấy thử:

Thông số bạch cầu: Naphthyl ester 0,4%

Thông số nitrite: p- Arsanilic acid 0,2%

Thông số protein: TetraBromophenol blue 0,3%

Thông số pH: Methyl red 0,3%

Thông số hồng cầu: Cumene hydroperoxide 22,5%

Multistix 8SG là giấy thử nước tiểu hoạt động dựa trên nguyên tắc thay đổi màu sắc để chỉ thị các thành phần hóa học và đặc tính của nước tiểu Khi sử dụng, người dùng so sánh màu sắc của giấy thử với bảng màu có sẵn trên hộp để xác định kết quả tích cực (+) hoặc tiêu cực (-) của các thông số Ngoài ra, sự thay đổi màu sắc còn giúp đánh giá nồng độ của các chất được đo, hỗ trợ chẩn đoán chính xác và nhanh chóng.

Phân bố theo tuổi, giới tính của bệnh nhân

Trong khoảng thời gian năm 2011 có 100 bệnh nhân suy thận mãn tính đủ tiêu chuẩn đưa vào nhóm nghiên cứu:

Tuổi bệnh nhân: thấp nhất: 20 , cao nhất: ≥ 70, trung bình của 55,19 ± 17,30

3.1.2 Phân bố theo tuổi, giới tính của bệnh nhân:

Bảng 3.1 Phân bố theo tuổi, giới của bệnh nhân:

- Nam chiếm tỷ lệ 51%, nữ chiếm tỷ lệ 49%

- Số bệnh nhân phân bố đều trong các lớp tuổi trong đó tỷ lệ giới tính nam, nữ ở các độ tuổi không có sự khác biệt đáng kể (P>0,05)

Riêng độ tuổi 20-29 tỷ lệ giới tính nam nữ có sự khác biệt đáng kể (P=0,023)

- Giữa các độ tuổi và tỷ lệ giới tính nam, nữ ở các độ tuổi đó không có sự khác biệt đáng kể

Kết quả khảo sát cho thấy tỉ lệ bệnh thận mạn tính tăng theo nhóm tuổi Độ tuổi

Kết quả khám lâm sàng

Các kết quả lâm sàng chủ yếu ghi nhận các triệu chứng cơ năng như mệt mỏi, suy giảm chức năng thận và các biểu hiện thực thể liên quan đến bệnh lý thận, tiết niệu, cũng như suy thận mãn Triệu chứng tăng huyết áp, thiếu máu, phù là những dấu hiệu điển hình liên quan đến các bệnh lý thận, giúp định hướng chẩn đoán và điều trị hiệu quả.

Bảng 3.2 Các triệu chứng về lâm sàng:

Nhận xét : Các triệu chứng cao nhất là: Những triệu chứng lâm sàng chính của suy thận mạn đều xuất hiện trên bệnh nhân được nghiên cứu

Kết quả về các xét nghiệm CLS chính áp dụng trong nghiên cứu.

Kết quả về các xét nghiệm CLS chính áp dụng trong nghiên cứu

Bảng 3.3 Kết quả Protein niệu của bệnh nhân nghiên cứu:

30 mg/dl 100 mg/dl 300 mg/dl 500 mg/dl Cộng n = 100 7 54 31 8 100

Nhận xét: 100% bệnh nhân có Protein niệu (+), trong đó nhóm có protein niệu từ

100mg/dl – 300mg/dl chiếm tỷ lệ cao nhất

3.3.1.2 Kết quả thử pH niệu:

Bảng 3.4 Kết quả pH niệu của bệnh nhân:

Xét nghiệm nước tiểu pH5 pH6 n = 100 63 37

- pH nước tiểu của tất cả bệnh nhân chủ yếu ở trong giới hạn pH 5-6 = 100%

- Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P70%.

Tỷ lệ mắc suy thận mạn

3.4.1 Tỷ lệ mắc suy thận mạn theo từng giai đoạn:

Bảng 3.9 Tỷ lệ mắc suy thận mạn theo từng giai đoạn của BN nghiên cứu:

Giai đoạn STM I II III IV

Nhận Xét: Tỷ lệ mắc STM gđ I là 1%, gđ II là 9%, gđ IIIA là 15% và gđ cuối cần điều trị thay thế thận (IIIB và IV) là 75%

Trong 100 BN STM gđ I, gđ II, gđ IIIA là 25% gđ cuối (IIIB và IV) là 75%

Tỷ lệ mắc STM theo từng gđ có sự khác biệt ở BN nghiên cứu (P0,05)

3.4.2.2 Tỷ lệ mắc suy thận mạn giữa hai giới:

Bảng 3.10 Tỷ lệ mắc STM theo giới tính

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ mắc suy thận mạn giữa 2 giới tính nam nữ

Nhận xét: Tỷ lệ mắc STM phân bố theo giới ở nam tỷ lệ 51% ở nữ tỷ lệ STM

Tỷ lệ mắc STM phân bố theo giới cho các bệnh nhân nghiên cứu không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P>0,05)

3.4.3 Tỷ lệ mắc suy thận mạn theo tuổi:

3.4.3.1 Độ tuổi trung bình của bệnh nhân suy thận mạn:

Bảng 3.11 Độ tuổi trung bình của bệnh nhân suy thận mạn:

Bệnh nhân STM n = 100 Độ tuổi trung bình

Nhận xét: Độ tuổi trung bình của BN STM là 55,19 ± 17,30

3.4.3.2 Tỷ lệ mắc suy thận mạn theo độ tuổi:

Bảng 3.12 Tỷ lệ mắc suy thận mạn theo độ tuổi:

Nhận xét: Tỷ lệ STM tăng dần theo độ tuổi Cao nhất ở độ tuổi ≥70 = 26% BN

Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ mắc suy thận mạn theo tuổi của bệnh nhân

Các yếu tố liên quan của suy thận mạn

Bảng 3.13 Nguyên nhân suy thận mãn chính Yếu tố liên quan

Bệnh cầu thận mạn Sỏi thận Đái tháo đường Cộng

Nhận xét: Những bệnh lý cầu thận mạn nguyên phát chiếm tỷ lệ 83% nguyên nhân

STM Có sự khác biệt đáng kể giữa các nguyên nhân (P0,05

Bảng 3.20 Không có điều kiện chế biến thức ăn khi đi xa:

- Không có điều kiện chế biến thức ăn khi đi xa: nam là 02, nữ là 02

- Không có sự khác biệt giữa nam và nữ, không có ý nghĩa thống kê P>0,05

Bảng 3.21 Có thể làm việc để nuôi sống mình:

Trong nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân suy thận mãn không thể lao động để tự nuôi sống cao hơn đáng kể so với những người còn khả năng làm việc, chiếm 89% so với 11% (p0,05

Bảng 3.23 Tập luyện thể lực hàng ngày:

Chỉ có 11% bệnh nhân còn duy trì thói quen tập luyện thể lực hàng ngày, trong khi 89% không thực hiện đều đặn hoạt động này Tuy nhiên, không có sự khác biệt đáng kể về tình trạng sức khỏe giữa hai nhóm bệnh nhân, cho thấy việc duy trì luyện tập thể lực không ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả sức khỏe chung.

Bảng 3.24 Các hoạt động giải trí: n = 100 Có Không

- Phần lớn bệnh nhân có thường xuyên tham gia các hoạt động giải trí chiếm tỷ lệ 90%

- Chỉ có 10 người không tham gia các hoạt động giải trí (10%)

Bảng 3.25 Thay đổi nghề nghiệp:

- 100% BN không thể thay đổi nghề nghiệp

- Tỷ lệ giữa nam và nữ không có sự khác biệt P > 0,05

BÀN LUẬN

Ngày đăng: 22/08/2023, 14:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Lưu Ngọc Hoạt (1997), “Một số kỹ thuật chọn mẫu, cỡ mẫu”, Nghiên cứu mô tả, Dự án Việt Nam – Hà Lan, Đại học Y Khoa Hà Nội, tập 2, tr 9-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kỹ thuật chọn mẫu, cỡ mẫu
Tác giả: Lưu Ngọc Hoạt
Năm: 1997
13. Vũ Đình Hùng, Trương Đức Thành (2004), “Thử tìm hiểu tỷ lệ bệnh thận tiết niệu trong cộng đồng”, Tóm tắt các báo cáo khoa học, Hội nghị thường niên Hội niệu – thận học TP. HCM, tr 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử tìm hiểu tỷ lệ bệnh thận tiết niệu trong cộng đồng
Tác giả: Vũ Đình Hùng, Trương Đức Thành
Năm: 2004
14. Trần Thị Bích Hương (2001), “Liệu Clearance creatinin ước đoán theo công thức Cockroft và Gault có thể thay thế cho Clearance creatinin 24H không? Trên các bệnh nhân có bệnh lý chủ mô thận”, Y học Việt Nam chuyên đề tiết niệu Thận học ,(4), tr 96-102 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liệu Clearance creatinin ước đoán theo công thức Cockroft và Gault có thể thay thế cho Clearance creatinin 24H không? Trên các bệnh nhân có bệnh lý chủ mô thận
Tác giả: Trần Thị Bích Hương
Năm: 2001
16. Phạm Gia Khải, Nguyễn Lân Việt (2002), “Điều trị tăng huyết áp”, Điều trị học nội khoa, Nxb Y học, tập 2, tr 67-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều trị tăng huyết áp
Tác giả: Phạm Gia Khải, Nguyễn Lân Việt
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2002
17. Lê Thế Khánh, Phạm Tử Dương (2001), “Ure máu, creatinin máu, hệ số thanh lọc”, Hóa nghiệm lâm sàng, Nxb Y học, tr 711-713 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ure máu, creatinin máu, hệ số thanh lọc
Tác giả: Lê Thế Khánh, Phạm Tử Dương
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2001
18. Lê Ngọc Kính và cộng sự (1996), “Định lượng Ure, creatinin máu, niệu”, Giáo trình thực tập hóa sinh, Trường Đaị Học Y Khoa Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định lượng Ure, creatinin máu, niệu
Tác giả: Lê Ngọc Kính và cộng sự
Năm: 1996
19. Phạm Khuê, Võ Phụng (1977), “Tình hình sức khỏe và bệnh tật người già ở một xã Đồng Bằng Bắc Bộ”, Công trình nghiên cứu y dược , Bộ Y tế, Nxb Y học, tr 81-82 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình sức khỏe và bệnh tật người già ở một xã Đồng Bằng Bắc Bộ
Tác giả: Phạm Khuê, Võ Phụng
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 1977
20. Phạm Khuê, Hoàng Cao Phong và cộng sự (1977), “Tình hình bệnh nội khoa ở Miền Bắc qua điều trị trên 107398 người”, Công trình nghiên cứu y dược, Bộ Y Tế, Nxb Y học, tr 77-78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình bệnh nội khoa ở Miền Bắc qua điều trị trên 107398 người
Tác giả: Phạm Khuê, Hoàng Cao Phong và cộng sự
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 1977
22. Phạm Khắc Lâm (1996), “Phạm vi bình thường của một số chỉ tiêu sinh hóa được nghiên cứu tại Huế”, Trường Đại Học Y Khoa Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm vi bình thường của một số chỉ tiêu sinh hóa được nghiên cứu tại Huế
Tác giả: Phạm Khắc Lâm
Năm: 1996
23. Phạm Khắc Lâm (1997), “Nghiên cứu sức khỏe”, Phương pháp nghiên cứu khoa học, Trường Đại Học Y Khoa Huế, tr 22-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sức khỏe
Tác giả: Phạm Khắc Lâm
Năm: 1997
26. Trịnh Thị Kim Nhung, Nguyễn Văn Xang, Trần Văn Chất (2001), “Tìm hiểu tỷ lệ Protein niệu bệnh lý ở một số cán bộ, công nhân ngành đường sắt khu vực Hà Nội”, Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ chuyên khoa cấp II Nội thận tiết niệu, Bộ Y tế, Trường Đại Học Y Khoa Hà Nội, tr 54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tỷ lệ Protein niệu bệnh lý ở một số cán bộ, công nhân ngành đường sắt khu vực Hà Nội
Tác giả: Trịnh Thị Kim Nhung, Nguyễn Văn Xang, Trần Văn Chất
Nhà XB: Bộ Y tế
Năm: 2001
28. Võ Phụng (1977), “Tình hình sức khỏe và bệnh ở người lớn xã Điện Hòa Quảng Nam Đà Nẵng” Một số công trình điều tra cơ bản ở QNĐN, Bộ Y tế, Trường Đại Học Y Khoa Hà Nội, tr 34-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình sức khỏe và bệnh ở người lớn xã Điện Hòa Quảng Nam Đà Nẵng
Tác giả: Võ Phụng
Năm: 1977
29. Võ Phụng, Chu Văn Ý (1977), “Tình hình sức khỏe và bệnh ở người lớn phường Bình Thuận – Quận 1 Đà Nẵng”, Một số công trình điều tra cơ bản ở QNĐN, Bộ Y tế, Trường Đại Học Y Khoa Hà Nội, tr 61-69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình sức khỏe và bệnh ở người lớn phường Bình Thuận – Quận 1 Đà Nẵng
Tác giả: Võ Phụng, Chu Văn Ý
Năm: 1977
31. Nguyễn Sum, Phan Văn Danh (1997), “Hệ số tương quan”, Lý thuyết xác suất thống kê, Đại Học Huế, tr 168-169 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ số tương quan
Tác giả: Nguyễn Sum, Phan Văn Danh
Năm: 1997
34. Phạm Như Thế (1999), “Chiến lược phát triển thận học tại bệnh viện Trung Ương Huế”, Y học thực hành, Bộ Y tế, (368), tr 13-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển thận học tại bệnh viện Trung Ương Huế
Tác giả: Phạm Như Thế
Năm: 1999
35. Phạm Như Thế (2002), “Hai đợt ghép thận thành công tại bệnh viện Trung Ương Huế”, Tạp chí thông tin y dược, (6), tr 34-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hai đợt ghép thận thành công tại bệnh viện Trung Ương Huế
Tác giả: Phạm Như Thế
Nhà XB: Tạp chí thông tin y dược
Năm: 2002
38. Trần Đức Thọ (2002), “Bệnh đái tháo đường”, Bệnh học nội khoa, Nxb Y học, tr 258-272 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh đái tháo đường
Tác giả: Trần Đức Thọ
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2002
40. Nguyễn Bửu Triều (1998), “Suy thận mạn”, Bệnh học tiết niệu, Nxb Y học, tr 489-497 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy thận mạn
Tác giả: Nguyễn Bửu Triều
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 1998
42. Nguyễn Văn Xang (2002), “Sỏi thận tiết niệu”, Bệnh học nội khoa, Nxb Y học, tr 306-312 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sỏi thận tiết niệu
Tác giả: Nguyễn Văn Xang
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2002
44. Nguyễn Văn Xang, Đỗ Thị Liệu (2002), “Suy thận mạn”, Bệnh học nội khoa, Nxb Y học, tr 362-337 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh học nội khoa
Tác giả: Nguyễn Văn Xang, Đỗ Thị Liệu
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Các giai đoạn suy thận mạn. - 0285 nghiên cứu tình hình và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân suy thận mạn điều trị bảo tồn tại bv đa khoa trung ương cần thơ năm 2011
Bảng 2.1. Các giai đoạn suy thận mạn (Trang 35)
Bảng 3.1 Phân bố theo tuổi, giới của bệnh nhân: - 0285 nghiên cứu tình hình và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân suy thận mạn điều trị bảo tồn tại bv đa khoa trung ương cần thơ năm 2011
Bảng 3.1 Phân bố theo tuổi, giới của bệnh nhân: (Trang 43)
Bảng 3.2 Các triệu chứng về lâm sàng: - 0285 nghiên cứu tình hình và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân suy thận mạn điều trị bảo tồn tại bv đa khoa trung ương cần thơ năm 2011
Bảng 3.2 Các triệu chứng về lâm sàng: (Trang 44)
Bảng 3.3 Kết quả Protein niệu của bệnh nhân nghiên cứu: - 0285 nghiên cứu tình hình và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân suy thận mạn điều trị bảo tồn tại bv đa khoa trung ương cần thơ năm 2011
Bảng 3.3 Kết quả Protein niệu của bệnh nhân nghiên cứu: (Trang 45)
Bảng 3.5 Kết quả thử  glucose niệu của bệnh nhân nghiên cứu: - 0285 nghiên cứu tình hình và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân suy thận mạn điều trị bảo tồn tại bv đa khoa trung ương cần thơ năm 2011
Bảng 3.5 Kết quả thử glucose niệu của bệnh nhân nghiên cứu: (Trang 46)
Bảng 3.6 Kết quả bạch cầu niệu của bệnh nhân suy thận mạn: - 0285 nghiên cứu tình hình và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân suy thận mạn điều trị bảo tồn tại bv đa khoa trung ương cần thơ năm 2011
Bảng 3.6 Kết quả bạch cầu niệu của bệnh nhân suy thận mạn: (Trang 46)
Bảng 3.7 Kết quả hồng cầu niệu và tỷ trọng   nước tiểu của bệnh nhân suy thận mạn: - 0285 nghiên cứu tình hình và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân suy thận mạn điều trị bảo tồn tại bv đa khoa trung ương cần thơ năm 2011
Bảng 3.7 Kết quả hồng cầu niệu và tỷ trọng nước tiểu của bệnh nhân suy thận mạn: (Trang 47)
Bảng 3.8 Kết quả HSTT creatinin máu theo công thức Cockroft – Gault: - 0285 nghiên cứu tình hình và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân suy thận mạn điều trị bảo tồn tại bv đa khoa trung ương cần thơ năm 2011
Bảng 3.8 Kết quả HSTT creatinin máu theo công thức Cockroft – Gault: (Trang 48)
Bảng 3.10 Tỷ lệ mắc STM theo giới tính của bệnh nhân: - 0285 nghiên cứu tình hình và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân suy thận mạn điều trị bảo tồn tại bv đa khoa trung ương cần thơ năm 2011
Bảng 3.10 Tỷ lệ mắc STM theo giới tính của bệnh nhân: (Trang 49)
Bảng 3.10 Tỷ lệ mắc STM theo giới tính - 0285 nghiên cứu tình hình và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân suy thận mạn điều trị bảo tồn tại bv đa khoa trung ương cần thơ năm 2011
Bảng 3.10 Tỷ lệ mắc STM theo giới tính (Trang 50)
Bảng 3.12 Tỷ lệ mắc suy thận mạn theo độ tuổi: - 0285 nghiên cứu tình hình và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân suy thận mạn điều trị bảo tồn tại bv đa khoa trung ương cần thơ năm 2011
Bảng 3.12 Tỷ lệ mắc suy thận mạn theo độ tuổi: (Trang 51)
Bảng 3.13  Nguyên nhân suy thận mãn chính   Yếu tố liên - 0285 nghiên cứu tình hình và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân suy thận mạn điều trị bảo tồn tại bv đa khoa trung ương cần thơ năm 2011
Bảng 3.13 Nguyên nhân suy thận mãn chính Yếu tố liên (Trang 52)
Bảng 3.14 Thời gian mắc bệnh của bệnh nhân suy thận mạn:  Thời gian (Năm)  &lt;5  5-10  &gt;10  Không rõ  Cộng - 0285 nghiên cứu tình hình và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân suy thận mạn điều trị bảo tồn tại bv đa khoa trung ương cần thơ năm 2011
Bảng 3.14 Thời gian mắc bệnh của bệnh nhân suy thận mạn: Thời gian (Năm) &lt;5 5-10 &gt;10 Không rõ Cộng (Trang 53)
Bảng 3.18 Khó khăn trong sinh hoạt: - 0285 nghiên cứu tình hình và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân suy thận mạn điều trị bảo tồn tại bv đa khoa trung ương cần thơ năm 2011
Bảng 3.18 Khó khăn trong sinh hoạt: (Trang 55)
Bảng 3.24 Các hoạt động giải trí: - 0285 nghiên cứu tình hình và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân suy thận mạn điều trị bảo tồn tại bv đa khoa trung ương cần thơ năm 2011
Bảng 3.24 Các hoạt động giải trí: (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm