BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ NGUYỄN TRUNG NAM NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH VÀ NHU CẦU NGUỒN NHÂN LỰC Y TẾ DỰ PHÒNG TẠI CÁC CƠ SỞ Y TẾ DỰ PHÒNG TỈNH SÓC TRĂNG NĂ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
NGUYỄN TRUNG NAM
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH VÀ NHU CẦU NGUỒN NHÂN LỰC Y TẾ DỰ PHÒNG TẠI CÁC CƠ SỞ Y TẾ DỰ PHÒNG TỈNH SÓC TRĂNG NĂM 2013
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
Cần Thơ - 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
NGUYỄN TRUNG NAM
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH VÀ NHU CẦU NGUỒN NHÂN LỰC Y TẾ DỰ PHÒNG TẠI CÁC CƠ SỞ Y TẾ DỰ PHÒNG TỈNH SÓC TRĂNG NĂM 2013
Chuyên ngành: Y tế công cộng
Mã số: 60 72 03 01
Người hướng dẫn khoa học:
Cần Thơ - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu về nhân lực Y tế dự phòng này là của riêng tôi
Các số liệu trong đề tài này được tôi thu thập tại tất cả các đơn vị Y tế dự phòng ở tuyến tỉnh và tuyến huyện trực thuộc Sở Y tế tỉnh Sóc Trăng Các kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả của luận văn
Nguyễn Trung Nam
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Tôi xin chân thành cám ơn!
Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại học, Khoa Y tế công cộng, Quý Thầy, Cô Trường Đại học Y Dược Cần Thơ đã nhiệt tình truyền dạy cho chúng tôi trong suốt thời gian học tập Đặc biệt, cám ơn Tiến sỹ Phạm Thành Suôl đã không ngại khó khăn và dành nhiều thời gian, công sức để giúp Tôi hoàn thành đề tài này
Quý Lãnh đạo, các đồng nghiệp trong ngành Y tế ở tỉnh Sóc Trăng, đã nhiệt tình giúp đỡ Tôi trong quá trình thu thập số liệu Cám ơn! Ban Lãnh đạo
và các đồng nghiệp nơi tôi công tác đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tham gia học tập
Cám ơn! Cha mẹ, Anh, chị, em tôi và gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập Đặc biệt là cảm ơn vợ tôi, người đã chăm sóc cho gia đình, luôn là chỗ dựa vững chắc cho tôi và gia đình Thương Con gái luôn biết vâng lời, học giỏi và giúp đỡ cha mẹ để tôi an tâm học tập
Nguyễn Trung Nam
Trang 5MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cám ơn
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục hình vẽ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở lý luận về nhân lực Y tế dự phòng 3
1.2 Thực trạng nhân lực Y tế dự phòng 12
1.3 Tầm quan trọng của nguồn nhân lực Y tế dự phòng 17
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng nghiên cứu 22
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu 22
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ 22
2.2 Phương pháp nghiên cứu 23
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 23
2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu 23
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu 24
2.2.4 Nội dung nghiên cứu 24
2.2.5 Phương pháp thu thập và đánh giá số liệu 30
2.2.6 Phương pháp hạn chế sai số 32
2.2.7 Phương pháp xử lý số liệu 32
Trang 6Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 34
3.2 Số lượng, trình độ và cơ cấu của cán bộ Y tế dự phòng 35
3.2.1 Số lượng của cán bộ y tế dự phòng 35
3.2.2 Trình độ cán bộ Y tế dự phòng 40
3.2.3 Cơ cấu cán bộ Y tế dự phòng 42
3.3 Nhu cầu nhân lực Y tế dự phòng 5 năm từ năm 2015 - 2020 45
3.3.1 Nhu cầu về số lượng 45
3.3.2 Nhu cầu đào tạo về trình độ, hình thức và chuyên môn - chuyên ngành 48
Chương 4: BÀN LUẬN 51
4.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 51
4.2 Số lượng, trình độ, cơ cấu của cán bộ Y tế dự phòng 53
4.2.1 Số lượng của cán bộ Y tế dự phòng 53
4.2.2 Trình độ cán bộ Y tế dự phòng 57
4.2.3 Cơ cấu cán bộ Y tế dự phòng 59
4.3 Nhu cầu nhân lực Y tế dự phòng 5 năm từ năm 2015 - 2020 61
4.3.1 Nhu cầu về số lượng 61
4.3.2 Nhu cầu đào tạo về trình độ, hình thức và chuyên môn-chuyên ngành 62
KẾT LUẬN 68
KIẾN NGHỊ 69 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Phần viết tắt Phần viết đầy đủ
AT VSTP An toàn Vệ sinh thực phẩm
BGDĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo
BS CKI Bác sỹ chuyên khoa cấp một
BS CKII Bác sỹ chuyên khoa cấp hai
GDSK Giáo dục sức khoẻ
HIV/AIDS Human Immuno-deficiency Virus (Virus gây suy giảm
miễn dịch ở người)/Acquired Immune Deficiency Syndrome (Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải)
Trang 8Phần viết tắt Phần viết đầy đủ
NQ/TW Nghị quyết/Trung ương
SARS Severe acute respiratory syndrome (Hội chứng hô hấp cấp
tính nặng) SKBĐ Sức khỏe ban đầu
TTLT Thông tư liên tịch
TT YTDP Trung tâm Y tế dự phòng
TT 08/BYT-BNV Thông tư 08/2007/TTLT-BYT-BNV
TT P/C BXH Trung tâm Phòng chống Bệnh xã hội
WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Định mức biên chế các Trung tâm YTDP tỉnh thuộc Trung ương 8
Bảng 1.2 Định mức biên chế các Trung tâm Y tế dự phòng huyện thuộc tỉnh 9
Bảng 1.3 Định mức tỷ lệ cơ cấu bộ phận, chuyên môn 9
Bảng 1.4 So sánh một số chỉ số nhân lực tại khu vực Đông Nam Á, Tây Thái Bình Dương và một số quốc gia trong vùng 13
Bảng 1.5 Tình hình nhân lực y tế tỉnh Sóc Trăng phân bố theo lĩnh vực 15
Bảng 1.6 Tổng hợp tình hình nhân lực Y tế dự phòng một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương năm 2011 16
Bảng 1.7 Nhu cầu nhân lực trong lĩnh vực Y tế dự phòng 19
Bảng 3.1 Phân bố cán bộ Y tế dự phòng theo tuổi và theo tuyến 34
Bảng 3.2 Phân bố cán bộ Y tế dự phòng theo giới và theo tuyến 34
Bảng 3.3 Phân bố cán bộ Y tế dự phòng theo thời gian công tác, theo tuyến 35
Bảng 3.4 Tỷ lệ cán bộ Y tế dự phòng, Bác sỹ, Kỹ thuật viên xét nghiệm toàn tỉnh trên 10.000 dân 35
Bảng 3.5 Số lượng cán bộ Y tế dự phòng các đơn vị tuyến tỉnh 36
Bảng 3.6 Số lượng cán bộ Y tế dự phòng các đơn vị tuyến huyện 36
Bảng 3.7 Cán bộ YTDP tuyến tỉnh hiện có theo Thông tư 08/BYT-BNV 37
Bảng 3.8: Cán bộ Y tế dự phòng tuyến huyện hiện có theo TT 08/BYT-BNV 38 Bảng 3.9 Trình độ chuyên ngành theo lĩnh vực đào tạo của cán bộ Y tế dự phòng 39
Bảng 3.10 Trình độ theo bậc học của cán bộ YTDP toàn tỉnh 39
Bảng 3.11 Lĩnh vực đào tạo của y - bác sỹ 40
Bảng 3.12 Trình độ chuyên môn của cán bộ theo bậc đào tạo và theo tuyến 40
Bảng 3.13 Cơ cấu bộ phận theo tuyến 41
Trang 10Bảng 3.14 Cơ cấu bộ phận toàn tỉnh theo TT 08/BYT-BNV 41
Bảng 3.15 Cơ cấu bộ phận tuyến tỉnh theo TT 08/BYT-BNV 42
Bảng 3.16 Cơ cấu bộ phận tuyến huyện theo TT 08/BYT-BNV 42
Bảng 3.17 Cơ cấu chuyên môn theo tuyến 43
Bảng 3.18 Cơ cấu chuyên môn toàn tỉnh theo TT 08/BYT-BNV 43
Bảng 3.19 Cơ cấu chuyên môn tuyến tỉnh theo TT 08/BYT-BNV 43
Bảng 3.20 Cơ cấu chuyên môn tuyến huyện theo TT 08/BYT-BNV 44
Bảng 3.21 Nhu cầu cán bộ YTDP theo số nghỉ hưu và tuyến từng năm 44
Bảng 3.22 Nhu cầu cán bộ YTDP tuyến tỉnh theo Thông tư 08/BYT-BNV 45
Bảng 3.23 Nhu cầu cán bộ YTDP tuyến huyện theo Thông tư 08/BYT-BNV 46
Bảng 3.24: Tổng nhu cầu cán bộ YTDP trong 5 năm giai đoạn từ 2015-2020 47
Bảng 3.25 Nhu cầu đào tạo về trình độ theo cán bộ Y tế dự phòng 47
Bảng 3.26 Nhu cầu đào tạo lại theo công việc của cán bộ Y tế dự phòng 48
Bảng 3.27 Nhu cầu đào tạo theo chuyên ngành 49
Bảng 3.28 Mong muốn tiếp tục làm việc tại đơn vị y tế dự phòng 51
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Khung lý thuyết về hệ thống y tế của Tổ chức Y tế Thế giới 18
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Với mục tiêu của Y tế dự phòng là bảo vệ, thúc đẩy và duy trì sức khỏe, hạnh phúc và để ngăn ngừa bệnh, khuyết tật và tử vong Từ xa xưa công tác Y
tế dự phòng đã đóng góp nhiều kết quả hết sức quan trọng cho ngành Y tế Việt Nam và trên Thế giới Đặc biệt từ khi phát hiện phương pháp phòng bệnh bằng vắc xin, Y tế dự phòng đã thanh toán nhiều loại bệnh dịch nguy hiểm như đậu mùa, bại liệt, uốn ván sơ sinh Ngày nay, lĩnh vực Y tế dự phòng đã giữ vai trò quan trọng trong giải quyết gánh nặng bệnh tật, quan tâm trực tiếp đến các bệnh mạn tính như tim mạch, viêm khớp, đái tháo đường, loãng xương, ung thư , qua đó giảm được khoản chi phí rất lớn cho cá nhân, gia đình và xã hội trong điều trị bệnh Nhiều nghiên cứu đã khẳng định rằng, nếu chi một đồng cho Y tế dự phòng sẽ tiết kiệm được nhiều đồng trong điều trị khi để dịch bệnh xảy ra [65]
Song song đó, nguồn nhân lực Y tế là một trong sáu thành phần cơ bản
và quan trọng nhất của hệ thống ngành y tế Nguồn nhân lực có mối liên hệ rất chặt chẽ và không thể thiếu đối với các thành phần khác trong hệ thống y
tế Phát triển tốt nguồn nhân lực sẽ cung cấp hiệu quả các dịch vụ y tế đến người dân [14] Ở nước ta, khi có Nghị quyết 46-NQ/TW ngày 23/02/2005, của Bộ Chính trị đã xác định rõ nguyên tắc chỉ đạo đối với nhân lực y tế
“Nghề y là một nghề đặc biệt, cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt…”, từ đó nhà nước đã đổi mới trong quản lý nguồn nhân lực y
tế Nghị quyết cũng chỉ ra nhiều quan điểm mới cho ngành y tế nước nhà, đặc biệt là công tác Y tế dự phòng [1] Tuy nhiên, hiện nay hệ thống Y tế dự phòng cả nước còn nhiều bất cập, mô hình tổ chức chưa thống nhất và thay đổi thường xuyên, nhất là y tế tuyến cơ sở Nguồn lực đầu tư cho ngành y tế còn thấp, chưa tương xứng với Nghị quyết 18/2008/NQ-QH12 của Quốc Hội
Trang 13và Quyết định 402/QĐ-TTg của Thủ Tướng: “Dành ít nhất 30% ngân sách y
tế cho Y tế dự phòng” [34], [51] Đặc biệt, với nguồn nhân lực vừa yếu về trình độ, số lượng thiếu và phân tán, cơ cấu chưa hợp lý: thiếu bác sỹ, kỹ thuật viên và cán bộ có chuyên môn Y tế dự phòng, chính sách đãi ngộ còn nhiều bất cập, trong khi nhiều loại bệnh dịch trong nước và trên thế giới có nhiều nguy cơ bùng phát thành dịch và lan nhanh ra toàn thế giới [32], [33]
Sóc Trăng là một tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, dân
số 1.350.345 người, gồm ba dân tộc chủ yếu là Kinh, Hoa, Khơ me Diện tích hơn 322.330 ha, có 72 Km đường bờ biển ở phía đông và nằm trên trục giao thông chính từ thành phố Cần Thơ đến tỉnh Bạc Liêu; Mô hình bệnh tật chịu tác động từ sự đa dạng của môi trường nước ngọt, lợ, mặn, sự biến đổi khí hậu và mặt trái của hội nhập với quốc tế [39] Để Y tế dự phòng đủ khả năng phòng, chống dịch bệnh, vừa qua tỉnh Sóc Trăng đã xây dựng và thực hiện đề án phát triển nguồn nhân lực y tế giai đoạn 2011-2020 [63] Tuy nhiên, hiện nay hầu hết các đơn vị Y tế dự phòng chưa có cơ sở độc lập, mô hình tổ chức chưa thống nhất, việc đầu tư các nguồn lực còn hạn chế Khảo sát đầy đủ về nguồn nhân lực Y tế dự phòng toàn tỉnh, để có cơ sở khoa học cho đề xuất các chính sách về đầu tư phát triển và quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, góp phần sử dụng tốt các nguồn lực y tế nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân là nhiệm vụ trọng tâm và cấp thiết Xuất phát từ tình
hình đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu tình hình và nhu cầu nguồn nhân lực Y tế dự phòng tại các cơ sở y tế dự phòng tỉnh Sóc Trăng năm 2013”, với các mục tiêu nghiên cứu như sau:
1 Xác định số lượng, trình độ, cơ cấu của đội ngũ cán bộ y tế tại các cơ sở Y tế dự phòng tỉnh Sóc Trăng năm 2013
2 Xác định nhu cầu nhân lực y tế tại các cơ sở Y tế dự phòng tỉnh Sóc Trăng năm 2015 đến năm 2020
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở lý luận về nhân lực Y tế dự phòng
1.1.1 Một số khái niệm
1.1.1.1 Nhân lực Y tế
Nhân lực Y tế là một trong những nguồn lực quan trọng và có giá trị quyết định trong sử dụng hiệu quả các nguồn lực khác Có rất nhiều cách phát biểu về nhân lực y tế, nhưng phát biểu được nhiều người chấp nhận và sử dụng nhiều nhất hiện nay được WHO nêu ra vào năm 2006 là: “Nhân lực Y tế bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khoẻ” Theo đó, nhân lực Y tế bao gồm những người cung cấp dịch
vụ y tế, người làm công tác quản lý và cả nhân viên giúp việc Nó bao gồm cán bộ y tế chính thức và không chính thức như tình nguyện viên xã hội, những người chăm sóc sức khỏe gia đình, lang y ; kể cả những người làm việc trong ngành y tế và trong những ngành khác như quân đội, trường học hay các doanh nghiệp [14], [16], [64]
Theo định nghĩa của WHO, ở Việt Nam nhân lực y tế sẽ bao gồm các cán bộ, NVYT thuộc biên chế và hợp đồng đang làm trong hệ thống y tế công lập, các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y/dược và tất cả những người khác đang tham gia vào các hoạt động quản lý và cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân (y tế tư nhân, cộng tác viên y tế, lang y và bà đỡ/mụ vườn) Do đó, cần đề cập đến mọi đối tượng nêu trên khi xây dựng các kế hoạch đào tạo, sử dụng, quản lý và phát huy nhân lực y tế [14]
1.1.1.2 Phát triển nguồn nhân lực
Khái niệm được nhiều người chấp nhận nhất hiện nay về phát triển nguồn nhân lực là phát huy nhân tố con người, gia tăng toàn diện giá trị của
Trang 15con người trên các mặt trí tuệ, đạo đức, thể lực, năng lực lao động sáng tạo và bản lĩnh chính trị, năng lực làm chủ được những tiến bộ về công nghệ và tri thức khoa học tiên tiến , để họ trở thành những người có những năng lực, phẩm chất phù hợp với xã hội và thúc đẩy sự phát triển của xã hội [14]
Nghiên cứu nguồn nhân lực phải đặt trong quá trình quản lý nguồn nhân lực Do đó, không thể chỉ chăm lo đào tạo, mà không quan tâm đến việc tổ chức quản lý, sắp xếp công việc và tạo môi trường làm việc phù hợp Quản lý y tế là nhằm sử dụng hiệu quả các nguồn lực, trong đó nguồn nhân lực là quan trọng nhất, quyết định toàn bộ số lượng và chất lượng các hoạt động y
tế Quản lý nhân lực là một trong năm quản lý của ngành y tế, đó là quản lý về số lượng, chất lượng cán bộ y tế ở mỗi lĩnh vực: y, nha, dược, YTDP , và ứng với một vạn dân có bao nhiêu bác sỹ và dược sỹ Mặt khác, quản lý nhân lực ngành y tế còn phụ thuộc vào đặc điểm của từng địa phương, sự phân bố theo địa lý mà có sự phân bổ một cách thích hợp Đồng thời; trong quản lý còn phải nói đến vấn đề khả năng, tình cảm, tâm tư, nguyện vọng của các đối tượng quản lý, theo nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân, khi đó những
kế hoạch và chính sách hợp lý mới đảm bảo cho hoạt động có hiệu quả [14]
1.1.1.3 Y tế công cộng
Theo WHO, Y tế công cộng là khoa học và kỹ thuật phòng bệnh, kéo dài tuổi thọ và nâng cao sức khỏe, thông qua các nỗ lực có tổ chức và các lựa chọn dựa trên bằng chứng của xã hội, các tổ chức công và tư, cá nhân và cộng đồng Y tế công cộng quan tâm tới các mối đe dọa cho sức khỏe tổng thể của một cộng đồng dựa trên phân tích sức khỏe dân cư gồm một số lĩnh vực như dịch tễ học, sinh thống kê học, dịch vụ y tế, y tế môi trường, y tế xã hội, tuyên truyền thay đổi hành vi, y tế lao động, kinh tế và tài chính y tế Đặc trưng của
Y tế công cộng là giải quyết các vấn đề sức khỏe ưu tiên, sức khỏe của cộng đồng, chứ không phải từng cá nhân bằng các biện pháp phòng bệnh [16]
Trang 161.1.1.4 Y tế dự phòng
Y tế dự phòng là khái niệm liên quan đến các biện pháp can thiệp để phòng bệnh, không phải chữa bệnh Khác với YTCC, Y tế dự phòng là can thiệp ở cấp độ cá nhân, trong khi YTCC là can thiệp ở cấp quần thể, nhóm dân cư hoặc tổngthể dân cư Trong YTDP có 4 cấp: YTDP cấp 1 nhằm tránh sự xuất hiện của bệnh tật; YTDP cấp 2 nhằm phát hiện bệnh sớm và tăng cơ hội để can thiệp sớm, phòng chống bệnh phát triển tiếp tục; Y tế dự phòng cấp
3 liên quan đến giảm tác hại của bệnh đã có bằng cách phục hồi chức năng, giảm biến chứng; Y tế dự phòng cấp 4 liên quan đến giảm hoặc tránh hậu quả của can thiệp y tế không cần thiết hoặc thừa trong hệ thống y tế [16]
1.1.1.5 Chăm sóc sức khỏe ban đầu
Chăm sóc sức khoẻ ban đầu là một chiến lược y tế nền tảng, phổ quát, có tính nhân bản, công bằng và bình đẳng, trong đó sức khỏe được coi là yếu
tố của sự phát triển, với sự cam kết chính trị của mỗi quốc gia trong đó có Việt Nam Chăm sóc SKBĐ hiện vẫn là nền tảng triết lý và chính sách y tế của WHO nhằm xây dựng một hệ thống y tế phù hợp, đáp ứng tình hình mới với sự thay đổi nhanh chóng về mô hình bệnh tật, về dân số học và về kinh tế-
xã hội được WHO định nghĩa: Chăm sóc sức khoẻ ban đầu là sự chăm sóc thiết yếu, dựa trên những phương pháp và kỹ thuật học thực tiễn, có cơ sở khoa học và được chấp nhận về mặt xã hội, phổ biến đến mọi cá nhân, gia đình và cộng đồng, qua sự tham gia tích cực của họ với một phí tổn mà cộng đồng, quốc gia có thể đài thọ được ở bất cứ giai đoạn phát triển nào, trên tinh thần tự lực và tự quyết Nó là một bộ phận hợp thành vừa của hệ thống y tế Nhà nước và trong đó, nó giữ vai trò trọng tâm, là tiêu chuẩn chính, vừa của sự phát triển chung về kinh tế xã hội của cộng đồng Là nơi tiếp xúc đầu tiên của người dân với hệ thống y tế, CSSK càng gần càng tốt nơi người dân sống, lao động, trở thành yếu tố đầu tiên của một quá trình CSSK lâu dài [16], [66]
Trang 171.1.2 Lịch sử của Y tế công cộng
1.1.2.1 Y tế công cộng thời xa xưa
Y tế công cộng là hoạt động của các tổ chức công và tư, cộng đồng và cá nhân nhằm xử lý, hạn chế những tác nhân gây bệnh Ngay từ thời kỳ sơ khai của nền văn minh con người, tình trạng ô nhiễm nước, thiếu nguyên tắc trong việc bố trí rác thải có thể tạo ra véc-tơ lây truyền bệnh dịch Nhiều tôn giáo cổ xưa đã ra quy định các hành vi liên quan tới sức khỏe: loại thức ăn nào thì được dùng, hành vi nào bị coi là buông thả theo khoái cảm, chẳng hạn uống rượu hay quan hệ tình dục Chính phủ đã thiết lập nơi có quyền lãnh đạo
và phát triển chính sách sức khỏe cộng đồng, chương trình chống lại nguyên nhân gây bệnh nhằm bảo đảm sự an toàn, phồn vinh của quốc gia [64]
Ngày nay, khi khoa học tiến bộ đã chứng minh được cơ sở khoa học của YTCC cũng là cơ sở vững chắc để triển khai các hoạt động phòng bệnh, đồng thời giữ vai trò quan trọng trong công tác CSSK nhân dân Khoảng năm 1.000 trước Công nguyên người Trung Quốc đã biết phát triển thói quen phòng bệnh sau khi trải qua một trận dịch đậu mùa, người không mắc bệnh có thể nhờ nuốt vảy khô của người đã nhiễm Tương tự, trẻ em cũng có thể được bảo vệ nhờ tiêm vào cẳng tay một vết nhỏ mủ từ người bệnh Sau thành công của Edward Jenner trong việc điều trị đậu mùa, tiêm chủng trở nên phổ biến những năm 1820 Thế kỷ 14, dịch chết Đen lan rộng ở Châu Âu, người ta cho rằng thủ tiêu cơ thể bị chết giúp ngăn ngừa nhiễm vi khuẩn này về sau và đã giải quyết được một phần gốc rễ của dịch bệnh Và nhiều khu vực trong các thành phố bị đốt cháy đã giúp ích rất nhiều, bởi nó đã tiêu diệt nhiều động vật gặm nhấm mắc bệnh là nguyên nhân làm lan truyền dịch bệnh [64]
1.1.2.2 Y tế công cộng thời hiện đại
Khi tỷ lệ mắc bệnh truyền nhiễm ở các nước phát triển giảm xuống trong thể kỷ 20, YTCC bắt đầu tập trung vào các bệnh mạn tính như ung thư,
Trang 18tim mạch Trong khi, các nước đang phát triển vẫn đang còn các bệnh truyền nhiễm có thể phòng tránh được hoành hành, tàn phá, cùng với suy dinh dưỡng
và nghèo đói Gánh nặng của chữa trị lâm sàng do người thất nghiệp, nghèo đói, nhà cửa tồi tàn và ô nhiễm môi trường lên tới 16-22% ngân sách y tế của Vương quốc Anh [64] Tuy nhiên, thành quả của nền y học, đặc biệt là YTCC mọi quốc gia đều có thể ứng dụng để giải quyết gánh nặng bệnh tật, nhất là trong phòng tránh các bệnh truyền nhiễm Trong thế giới mở như hiện nay nhiều loại dịch bệnh có thể bùng phát và lan nhanh ra toàn Thế giới, việc chung tay giải quyết tình hình bệnh tật trên toàn Thế giới là rất cần thiết [64]
1.1.2.3 Lịch sử phát triển Y tế công cộng ở Việt Nam
Từ khi thành lập nước năm 1945, Việt Nam đã khẳng định Y học dự phòng luôn là ưu tiên hàng đầu Với tinh thần đó, Việt Nam đã xây dựng một hệ thống vệ sinh dịch tễ theo mô hình Liên Xô trước đây, nhấn mạnh việc phòng, chống các bệnh truyền nhiễm là hoàn toàn có thể khống chế được tình hình bệnh tật ở Việt Nam lúc bấy giờ, thông qua các biện pháp đặc hiệu bằng vắc xin và không đặc hiệu như tuyên truyền Những tiến bộ trong cách đề cập dịch tễ học ở các nước nói tiếng Anh, được gia nhập vào Việt Nam qua cán bộ đi công tác, học tập và được đại học Y Hà Nội nghiên cứu, giảng dạy những năm 1980 [64] Trong thời gian qua, kinh tế nước ta còn nghèo, nhưng với quyết định đúng đắn trong chính sách y tế và bằng biện pháp YTCC đã thanh toán được một số bệnh dịch nguy hiểm: Bại liệt, uốn ván sơ sinh, ngăn chặn dịch SARS, giảm nhanh tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em góp phần nâng cao tuổi thọ, chất lượng cuộc sống và được thế giới đánh giá cao [64]
1.1.2.4 Chức năng cơ bản của Y tế công cộng
Y tế công cộng có 9 chức năng cơ bản: 1.Theo dõi và phân tích tình hình sức khoẻ; 2.Giám sát dịch tễ học/phòng ngừa và kiểm soát dịch; 3.Xây dựng chính sách và kế hoạch YTCC; 4.Quản lý có tính chiến lược các hệ
Trang 19thống và dịch vụ sức khỏe cộng đồng; 5.Quy chế và thực hành pháp luật để bảo vệ sức khỏe công cộng; 6.Phát triển nguồn nhân lực và lập kế hoạch trong YTCC; 7.Tăng cường sức khỏe, sự tham gia của xã hội trong công tác CSSK
và làm cho người dân có ý thức thực hiện được đó là quyền lợi của mình; 8.Đảm bảo chất lượng dịch vụ sức khỏe cho cá nhân và cộng đồng; 9.Nghiên cứu, phát triển và thực hiện các giải pháp YTCC mang tính chất đổi mới [64] Trong thời gian qua ngành YTCC đã đóng góp đáng kể trong giải quyết gánh nặng bệnh tật với chi phí thấp nhất, đem lại nhiều lợi ích kinh tế cho đất nước
1.1.3 Định mức biên chế của các cơ sở Y tế dự phòng
1.1.3.1 Các Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, thành phố thuộc Trung ương Bảng 1.1: Định mức biên chế các Trung tâm YTDP tỉnh trực thuộc Trung ương
Đơn vị
Định mức biên chế (người)
≤ 1 triệu
>1-1,5 triệu
>1,5-2 triệu
>2-4 triệu
>4 triệu Trung tâm Y tế dự phòng 55 56-65 66-75 76-120 121-150
TT Phòng chống HIV/AIDS 25 26-30 31-35 36-45 46-50
TT Phòng chống Bệnh xã hội 40 41-50 51- 55 56-60 61-65 Trung tâm Sức khỏe sinh sản 25 26-35 36-45 46-50 51-55
TT Kiểm nghiệm Dược phẩm 25 26-30 31-35 36-40 41-45
TT Phòng chống Sốt rét 20 21-30 31- 40 41-50 51-60 Trung tâm Giám định Y khoa 12 13-15 16 -19 20-24 25 Trung tâm Giám định Pháp y 12 13-15 16-19 20-24 25
TT Giám định Pháp y Tâm thần 6 7-9 10-12 13-15 16-20 Nguồn: Thông tư 08 Bộ Y tế, 2007 [9]
Trang 201.1.3.2 Các Trung tâm đặc thù
Trung tâm Kiểm dịch Y tế quốc tế (đối với những tỉnh, thành phố có cửa khẩu): Biên chế là 15 người, thêm mỗi cửa khẩu tăng thêm 7 biên chế Riêng thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội biên chế tối thiểu 50 người
TT Bảo vệ Sức khoẻ lao động và Môi trường: Biên chế 30 người đối với những tỉnh có ít nhất 5 khu công nghiệp, kinh tế, công nghệ cao [9]
1.1.3.3 Trung tâm Y tế dự phòng huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Bảng 1.2: Định mức biên chế các Trung tâm Y tế dự phòng huyện thuộc tỉnh
Đơn vị
Định mức biên chế (người)
≤100 Ngàn
>100 -150 ngàn
>150 - 250 ngàn
>250-350 ngàn
>350 ngàn
TT Y tế dự phòng 25 - 30 31 – 35 36 – 40 41 – 45 46 – 50
Nguồn: Thông tư 08 Bộ Y tế, 2007 [9]
1.1.3.4 Tỷ lệ cơ cấu bộ phận, chuyên môn
Bảng 1.3: Định mức tỷ lệ cơ cấu bộ phận, chuyên môn
A Cơ cấu bộ phận
B Cơ cấu chuyên môn Tuyến tỉnh Tuyến huyện
Nguồn: Thông tư 08 Bộ Y tế, 2007 [9]
Trang 211.1.3.5 Hệ số điều chỉnh đối với các cơ sở Y tế dự phòng
Đối với Trung tâm YTDP tỉnh thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của các cơ sở y tế dự phòng khác thì bổ sung thêm 20 - 25 % số biên chế của cơ sở đó vào định mức trên, nếu thuộc đồng bằng Sông Cửu Long thì nhân 1,2
1.1.4 Một số chính sách Y tế ở nước ta
Từ ngày thành lập nước đến nay, Đảng và Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách y tế phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước và ưu tiên YTDP Sau khi thực hiện chính sách đổi mới và hội nhập với thế giới, nhiều chính sách mang tính định hướng của Đảng như Nghị quyết 46-NQ/TW, Kết luận 43-KL/TW của Bộ Chính trị về thực hiện “Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới” trong đó có phát triển nguồn nhân lực y tế là cơ sở cho các chính sách y tế sau này [1], [2]
Thực hiện các chủ trương nêu trên, Chính phủ và các Bộ đã ban hành nhiều văn bản mang tính chiến lược về công tác y tế nói chung, công tác dự phòng và nhân lực y tế nói riêng bao gồm: Quyết định 243/2005/QĐ-TTg của Thủ Tướng về thực hiện Nghị Quyết 46-NQ/TW của Bộ Chính trị [27] Quyết định 1262/QĐ-TTg ngày 22/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2010–2020, Quyết định 153/2006/QĐ-TTg, ngày 30/6/2006 phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế Việt Nam giai đoạn đến 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 Quyết định 122/QĐ-TTg ngày 10/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân giai đoạn 2011–2020, tầm nhìn đến năm 2030 với mục tiêu đầu tư phát triển mạng lưới YTDP đủ khả năng dự báo, giám sát, phát hiện và khống chế các dịch bệnh, giảm tỷ lệ mắc và tử vong do bệnh, tật gây ra Trong đó đưa ra giải pháp về nguồn nhân lực là phát triển nguồn nhân lực y tế cân đối và hợp lý, bảo đảm đạt được các chỉ tiêu cơ bản như so với 10.000 dân thì có 41 CBYT, trên 8 bác sĩ, 2 dược sĩ đại học
Trang 22vào năm 2015 và có 52 CBYT, trên 10 bác sĩ, 2,5 dược sĩ đại học vào năm
2020, trong đó tuyến huyện có ít nhất từ 01-03 dược sĩ đại học [20], [29], [36]
Đào tạo cán bộ có Quyết định 1544/2007/QĐ-TTg, ngày 14/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo nhân lực y tế cho các vùng khó khăn, vùng núi của các tỉnh thuộc miền Bắc, miền Trung, vùng Đồng bằng Sông Cửu Long và vùng Tây Nguyên theo chế độ cử tuyển Sắp xếp, mở rộng và nâng cấp các cơ sở đào tạo, đáp ứng nhu cầu về số lượng và chất lượng CBYT phù hợp với quy hoạch phát triển ngành y tế Đầu tư, xây dựng mới, nâng cấp các cơ sở đào tạo; Mở rộng các loại hình đào tạo, ưu tiên tập trung đào tạo theo nhu cầu xã hội để đến năm 2020 đáp ứng về cơ bản nguồn nhân lực y tế phục vụ công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân [31] Bộ
Y tế đã ban hành Thông tư 06/2008/TT-BYT ngày 26/5/2008 hướng dẫn tuyển sinh đào tạo liên thông trình độ Đại học, cao đẳng Y-Dược; Thông tư 22/2013/TT-BYT ngày 9/8/2013 hướng dẫn công tác đào tạo liên tục đối với cán bộ Y tế quy định đào tạo cập nhật kiến thức, kỹ năng, thái độ về chuyên môn, nghiệp vụ; về chương trình, tài liệu dạy học và công tác quản lý đào tạo liên tục, trong đó có cán bộ làm công tác YTDP đáp ứng và từng bước phát triển nguồn nhân lực cho hệ thống YTDP cả về số lượng và chất lượng [11]
Công tác YTDP có Quyết định 255/2006/QĐ-TTg ngày 09/11/2006 của Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia Y tế dự phòng Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 với mục tiêu giảm các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng tới sức khoẻ cộng đồng; phát hiện sớm, khống chế kịp thời dịch bệnh, không để dịch lớn xảy ra; giảm tỷ lệ mắc và tử vong do bệnh, tật; góp phần phát triển thể chất, tinh thần, nâng cao tuổi thọ, nâng cao chất lượng cuộc sống và cải thiện chất lượng giống nòi [30] Trong những qua, nguồn nhân lực y tế đã phát triển đáng kể, góp phần đưa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đi vào cuộc sống, cải thiện và nâng cao sức khoẻ nhân dân
Trang 231.2 Thực trạng nhân lực Y tế dự phòng
1.2.1 Tình hình nhân lực y tế
1.2.1.1 Trên Thế giới
Ở Châu Á, vấn đề tồn tại là mất cân bằng về địa lý, thừa nhân lực ở khu vực thành thị, lại thiếu ở khu vực nông thôn Mặc dù Philippin thông báo cho thấy thừa Bác sỹ và Điều dưỡng, nhưng cân bằng nhân lực y tế thành thị/nông thôn lại không cho thấy điều đó Có thể là có nhiều sinh viên tốt nghiệp, họ không muốn làm việc ở nông thôn và tạo ra sự di chuyển nhân lực y tế Về mặt cân đối nhân lực y tế ở khu vực Tây Thái Bình Dương, Campuchia nguồn nhân lực chưa đạt tiêu chuẩn, Philippin thiếu cán bộ trong lĩnh vực YTCC và các kỹ năng dựa vào cộng đồng để đảm trách những chương trình phòng dịch hiệu quả [67] Tất cả các nước khu vực Tây Thái Bình Dương đều có sự mất cân bằng về cơ cấu trong và giữa các nhóm nghề nghiệp, thiếu các kỹ năng thích hợp để đáp ứng các yêu cầu tại chỗ hoặc trong những hoàn cảnh thay đổi Ở Australia, thiếu nhân viên chuyên khoa như tâm thần, gây mê [14]
Về phân bố nhân lực y tế: là phân bố nhân lực theo địa lý và phân bố theo chuyên môn Tuy nhiên, trong thực tế hai yếu tố này thường kết hợp chặt chẽ với nhau, ví dụ khu vực nông thôn thiếu nhân viên y tế đồng nghĩa với thiếu bác sỹ Những vấn đề khác nhau bao gồm: Cơ cấu nhân lực y tế, dư thừa chuyên khoa, phân bố theo thể chế hành chính, theo tuổi và theo giới
Qui mô của nhân lực y tế: Theo báo cáo của WHO, nhân lực y tế khu vực Tây Thái Bình Dương, tỷ lệ nhân viên y tế là gần 11/1.000 ở Australia và New Zealand chưa tới 1/1.000, ở Paqua New Guinea và các đảo Solomon các nước đều có sự thiếu hụt nhân viên y tế, đặc biệt là thiếu nhân viên có kinh nghiệm Những nước có nguồn cung ứng thấp gặp những vấn đề về cung ứng thuần tuý Những nước có tỷ lệ cung ứng cao thường gặp phải vấn đề về mặt
cơ cấu, chủ yếu thiếu hụt nhân lực tại chỗ, chuyên khoa [67]
Trang 24Bảng 1.4: So sánh một số chỉ số nhân lực tại khu vực Đông Nam Á, Tây Thái
Bình Dương và một số quốc gia trong vùng
Vùng, tên quốc gia
Số Bác sỹ/vạn dân
Số ĐD, HS từ trung cấp trở lên
Tỷ số
ĐD, HS/Bác sỹ
Số DS từ trung cấp trở lên/vạn dân Trung bình vùng Đông Nam Á 5,2 12,2 2,3 3,7
Tây Thái Bình Dương (trừ
Nguồn: Báo cáo Bộ Y tế, 2009 [14]
Vì nhiều lý do, tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực y tế ở nhiều quốc gia trên thế giới là không thể tránh khỏi, có thể thiếu số lượng, bất cập về cơ cấu, phân bổ không hợp lý và phải nhận thức rằng nhân lực y tế không bao giờ đủ đáp ứng tất cả các nhu cầu và CSSK cho mọi người Từng nước nên đặt ra mục tiêu lý tưởng để tạo ra nguồn nhân lực y tế lớn nhất, dồi dào nhất
và được đào tạo tốt nhất có thể, trong điều kiện hạn chế về nguồn lực Mục tiêu của việc lập kế hoạch nhân lực y tế để tạo ra một sự phù hợp nhất, giữa
Trang 25nhân lực sẵn có và các nhu cầu về sức khỏe đặc biệt, điều chỉnh qui mô, thành phần và kỹ năng của NVYT nhằm đáp ứng những nhu cầu sức khỏe ưu tiên
1.2.1.2 Trong nước
Theo báo cáo của Bộ Y tế tình trạng số lượng và phân bố CBYT thiếu xảy ra nặng nề đối với khu vực YTDP, tuyến y tế cơ sở và vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa dẫn đến chênh lệch về số lượng và chất lượng nhân lực y tế giữa khu vực điều trị và dự phòng, giữa các chuyên ngành với nhau, giữa tuyến trung ương và địa phương, giữa thành thị và nông thôn, thành thị chỉ chiếm 27,4% dân số cả nước, nhưng chiếm 82% dược sỹ đại học, 59% bác sỹ
và 55% điều dưỡng Về chất lượng, số cán bộ có trình độ cao và chuyên sâu còn ít, phân bổ chưa hợp lý Cán bộ có trình độ thạc sỹ, tiến sỹ chiếm tỷ lệ rất thấp (2,1%) và tập trung chủ yếu ở Trung ương; Trình độ cán bộ YTDP và tuyến y tế cơ sở còn yếu Về quản lý và sử dụng nhân lực y tế thì việc lập quy hoạch, kế hoạch và quản lý nhân lực tại các tuyến còn hạn chế Công tác theo dõi, quản lý nhân lực chưa được chuẩn hóa Việc đánh giá kết quả công việc của nhân viên chưa được sử dụng như một công cụ quản lý nhân lực hữu hiệu, làm cơ sở cho việc khen thưởng hay xử phạt Thiếu thông tin đầy đủ, chính xác về nhân lực y tế, nhất là nhân lực trong khu vực y tế tư nhân [14]
Từ kết quả trên cho thấy tình hình nhân lực y tế hiện đang thiếu trầm trọng, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa và vùng Đồng bằng Sông Cửu Long Về lĩnh vực chuyên môn thì Y tế dự phòng thiếu về số lượng và yếu về cơ cấu trình độ ở cả tuyến tỉnh, huyện và yếu cả trong quản lý sử dụng
1.2.1.3 Tại tỉnh Sóc Trăng
Trong những năm qua, được sự quan tâm hỗ trợ của Bộ Y tế và các cơ sở đào tạo, cùng với chính sách thu hút nguồn nhân lực của Hội Đồng nhân dân theo Nghị Quyết 38/2011/NQ-HĐND, ngày 09/12/2011 và Uỷ Ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng theo Quyết định 16/2012/QĐ-UBND, ngày 26/3/2012
Trang 26Quy định hỗ trợ đào tạo, thu hút nguồn nhân lực ngành y tế giai đoạn
2011-2020 và Quyết định số 61/QĐ-UBND, ngày 28/3/2013 phê duyệt Dự án điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch phát triển sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân tỉnh Sóc Trăng đến năm 2020, đã đào tạo được một lượng lớn nguồn nhân lực cho ngành y tế tỉnh nhà [44], [62], [63]
Theo kết quả nghiên cứu của Trương Hoài Phong năm 2009 như sau:
Bảng 1.5: Tình hình nhân lực y tế tỉnh Sóc Trăng phân bố theo lĩnh vực
Lĩnh vực Số lượng Tỷ lệ % Số lượng/10.000 dân
Nguồn: Trương Hoài Phong, 2009 [50]
Số cán bộ y tế trên vạn dân là 25,1 người thấp hơn bình quân chung của cả nước là 31,2 người Số cán bộ tập trung ở khối chữa bệnh 52,9%, khối phòng bệnh có tỷ lệ thấp (18,4%) Về chất lượng cán bộ Bác sỹ chiếm tỷ lệ 14,1% và 3,5 Bác sỹ/10.000 dân, thấp so với bình quân chung của cả nước Bác sỹ là 20,0% và 6,5 Bác sỹ/10.000 dân; đặc biệt số cán bộ đại học và sau đại học là 580 người, chiếm tỷ lệ 17,8%, thấp hơn trung bình trong khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long và còn 15% cán bộ sơ học, cán bộ không có chuyên môn Nếu tính theo nhu cầu bác sỹ và dược sỹ đại học/10.000 dân đến năm 2015 là 8 bác sỹ và 1,5 dược sỹ, thì cần tương đương 50 bác sỹ và 34 dược sỹ mỗi năm [50], [52], [61]
Trang 271.2.2 Công trình nghiên cứu về nhân lực Y tế dự phòng trong nước
Kết quả khảo sát thực trạng nguồn nhân lực YTDP một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương năm 2011 của Nguyễn Tuấn Hưng như sau:
Bảng 1.6: Tổng hợp tình hình nhân lực Y tế dự phòng một số tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương năm 2011
Địa phương Tổng số
cán bộ
Trên đại học Đại học Trung
cấp Sơ cấp Khác
Nguồn: Nguyễn Tấn Hưng, 2011 [46]
Trên toàn quốc, không đồng nhất về mặt tổ chức của YTDP, tuyến huyện có 4 mô hình khác nhau Chất lượng đội ngũ cán bộ chưa tương xứng với nhiệm vụ, số cán bộ gần như 100% không có chuyên môn YTDP, không có một bác sỹ nào về sản Số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ YTDP khác nhau rất xa giữa các tỉnh, có nơi có 10, 16 bác sỹ, có nơi không có bác sỹ [46]
Nghiên cứu thực trạng và nhu cầu nhân lực YTDP tỉnh ĐăkLăk của tác giả Đoàn Phước Thuộc như sau: số cán bộ YTDP/10.000 dân là 2,6; trong đó
tỷ lệ BS/10.000 dân là 0,9; dược sỹ 0,3 Cán bộ trung cấp 58,8%, đại học và
Trang 28cao đẳng (31,3%) và sau đại học (7,7%) Có 148 bác sỹ (33,3%), trong đó Bác sỹ YHDP là 1,2%, điều trị 29,5%, 1 BS CKII (0,2%) và 11 Thạc sỹ (2,5%) Có 90,5% cán bộ được làm việc phù hợp với chuyên môn, 94,8% hài lòng với công việc đang làm, 96,2% cán bộ muốn tiếp tục công việc đang làm [54]
Theo kết quả nghiên cứu nhân lực YTDP của Nguyễn Minh Tùng ở tỉnh Bạc Liêu năm 2011 thì tuổi trung bình của cán bộ là 45 tuổi, nhân lực Y
Y tế dự phòng bằng 16,46% biên chế toàn ngành, chiếm 1/5 cán bộ y tế hệ điều trị, cán bộ YTDP/10.000 dân là 5,96; Bác sỹ 1,11; Dược sỹ là 0,94 Trình
độ cán bộ YTDP còn hạn chế, thiếu cán bộ có trình độ cao như thạc sỹ, tiến sỹ, Bác sỹ CKII và KTV xét nghiệm và cử nhân Y tế công cộng [59]
Từ kết quả của những nghiên cứu trên tại nhiều địa phương trong cả nước cho thấy nhân lực YTDP hiện đang phân tán ở cả 02 tuyến tỉnh và huyện Vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về chất lượng, cán bộ trình độ đại học, sau đại học có tỷ lệ rất thấp, số lượng thiếu trầm trọng ở vùng sâu, vùng xa và vùng Đồng bằng Sông Cửu Long Cơ cấu cán bộ chưa phù hợp, số bác sỹ và KTV xét nghiệm đạt khoảng 50% so với yêu cầu Đặc biệt cán bộ được đào tạo về chuyên ngành YTDP có tỷ lệ chưa tới 2,0% Mô hình tổ chức tuyến huyện chưa thống nhất, có tỉnh triển khai thực hiện mô hình TTYT 01 chức năng, có nơi 02 chức năng và có nơi thực hiện đồng thời cả 02 mô hình nêu trên, nhưng có nơi cũng không theo mô hình tổ chức nào Đối với TTYT 01 chức năng, sự đầu tư các nguồn lực được đầy đủ hơn và cho kết quả hoạt động tốt hơn, nhưng sự phối hợp giữa các đơn vị y tế trong huyện gặp nhiều khó khăn Ngược lại, đơn vị lồng ghép với bệnh viện thì tiết kiệm được nhân vật lực, nhưng lãnh đạo thường quan tâm đầu tư cho hệ điều trị nhiều hơn
1.3 Tầm quan trọng của nguồn nhân lực Y tế dự phòng
Vị trí và vai trò của nguồn nhân lực y tế: Ngành y tế Việt Nam được Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ phải làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe
Trang 29nhân dân, cũng là nhiệm vụ chính trị của mỗi đơn vị y tế từ Trung ương đến
cơ sở Nhân lực y tế là thành phần quan trọng nhất trong sáu thành phần của hệ thống y tế và có vai trò quyết định toàn bộ số lượng và chất lượng các hoạt động y tế Phát triển nguồn nhân lực y tế vừa nằm trong tổng thể phát triển hệ thống y tế, vừa nằm trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực con người của đất nước, phải đi trước nhu cầu của xã hội dựa trên những dự báo về nhu cầu, khả năng tài chính và kỹ thuật trong cung ứng các dịch vụ CSSK cộng đồng
Do vậy, mọi cơ sở y tế cần có kế hoạch phát triển nguồn nhân lực thích hợp để phát huy cao nhất hiệu quả hoạt động Quản lý nhân lực quan trọng là sử dụng tốt nguồn nhân lực hiện tại, có kế hoạch bồi dưỡng nguồn nhân lực hợp lý, để hoàn thành các chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức và có thể đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe hiện tại và tương lai [29] Trong thực tế nhiều đơn vị chưa quan tâm đúng mức và đầy đủ về quy hoạch đội ngũ cán bộ y tế cho hiện tại và tương lai, dẫn đến kết quả hoạt động đơn vị chậm phát triển Sáu thành phần đầu vào Mục đích
của hệ thống y tế chung/Đầu ra
Hình 1.1: Khung lý thuyết về hệ thống y tế của Tổ chức Y tế Thế giới
Nguồn: Báo cáo Bộ Y tế, 2008 [13]
Nâng cao sức khoẻ (theo các cấp & công bằng)
Tài chính
Cung ứng dịch vụ
Chất lượng
an toàn
Các sản phẩm y tế, vắc xin,
dược phẩm, công nghệ
Sự tiếp cận
độ bao phủ
dịch vụ
Trang 30Nguồn nhân lực trong ngành y tế có vai trò quan trọng vì liên quan trực tiếp đến tính mạng người bệnh, sức khỏe của nhân dân và trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước Nhân lực trong ngành y tế thường phải làm việc với cường độ lớn, môi trường làm việc độc hại, chính vì thế họ cần được đãi ngộ đặc biệt Trong cung ứng các dịch vụ y tế đòi hỏi sử dụng nhiều lao động, ít nhất là một người, có khi cần tới cả một ê kíp NVYT với các thành phần khác nhau, đồng thời đòi hỏi sự chi trả khá cao và chi phí cho nhân lực chiếm
tỷ trọng lớn trong chi ngân sách CSSK nhân dân Đầu tư cho nguồn nhân lực
y tế rất có ý nghĩa về mặt kinh tế và xã hội, khi đầu tư vào nhân lực y tế cần bảo đảm rằng nguồn lực này được sử dụng hợp lý và tránh lãng phí
Nhu cầu nhân lực trong lĩnh vực Y tế dự phòng ở địa phương: Theo báo cáo của Bộ Y tế về quy hoạch nguồn nhân lực y tế đến năm 2020 thì số lượng hiện có và nhu cầu nhân lực trong lĩnh vực Y tế dự phòng như sau:
Bảng 1.7: Nhu cầu nhân lực trong lĩnh vực y tế dự phòng
Nguồn: Báo cáo Bộ Y tế, 2009 [20]
Từ kết quả trên, số lượng cán bộ YTDP hiện đang thiếu trầm trọng và thiếu nhiều nhất ở quận/huyện, với 90% huyện còn thiếu và có đơn vị thiếu trên 30 người, do đó nhu cầu bổ sung 15.979 người cho tuyến tỉnh và tuyến huyện Đặc biệt, thiếu nhiều nhất ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, thiếu nhân lực là bác sỹ, thiếu kỹ thuật viên YTDP Trình độ cán bộ thuộc hệ Y tế dự phòng còn yếu, cán bộ có trình độ đại học ở hệ thống dự phòng còn rất thấp (11,2%), chỉ có 2% có bằng/chứng chỉ chuyên ngành Y tế dự phòng (Y tế
Trang 31công cộng, Y học lao động…), do ít chú ý đào tạo kỹ thuật viên thuộc lĩnh vực YTDP (xét nghiệm kiểm định nước, phân, đất, không khí, độc chất, thực phẩm, động vật, môi trường công nghiệp - nông nghiệp,…), thanh tra vệ sinh môi trường Do thiếu chính sách sử dụng và khuyến khích tài chính không hấp dẫn, trên 10 năm qua không đào tạo bác sỹ chuyên khoa Y học dự phòng; điều kiện làm việc của nhiều đơn vị Y tế dự phòng thiếu, thu nhập thấp [14]
Các vấn đề sức khỏe ưu tiên: Hiện tại, Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn chuyển đổi mô hình bệnh tật với những diễn biến ngày càng phức tạp và đang phải đối mặt cùng lúc 3 gánh nặng bệnh tật bao gồm: một số bệnh dịch vẫn còn ở mức cao hoặc đang có nguy cơ quay trở lại như tả, sởi, sốt xuất huyết, lao, HIV/AIDS; sự gia tăng nhanh chóng của bệnh không lây như tim mạch, ung thư, rối loạn tâm thần và tai nạn; sự xuất hiện những bệnh dịch mới nguy hiểm khó lường như cúm A/H5N1…[18] Theo kết quả của nghiên cứu mới đây về gánh nặng bệnh tật năm 2006, các bệnh tim mạch, ung thư và các bệnh tâm thần kinh chiếm tỷ trọng 34% tổng gánh nặng bệnh tật ở nam giới và 43% ở nữ giới [14] Để giải quyết vấn đề đó Chính phủ ban hành Quyết định 108/2007/QĐ-TTg, ngày 17/07/2007 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AIDS giai đoạn 2006-2010 [32], sau đó bổ sung Quyết định 172/2008/QĐ-TTg, ngày 19/12/2008 cụ thể hóa những vấn đề sức khỏe ưu tiên trong giai đoạn này bao gồm: lao, phong, sốt rét, HIV/AIDS, suy dinh dưỡng trẻ em, sốt xuất huyết, ung thư, tăng huyết áp, sức khỏe tâm thần, các bệnh phòng được cho trẻ em bằng vắc xin [33]
Hiện nay, tỉnh Sóc Trăng mô hình các đơn vị Y tế dự phòng chưa thống nhất, tuyến huyện hiện đang tồn tại song song 02 mô hình Trung tâm y tế (mô hình thực hiện chức năng phòng bệnh và mô hình thực hiện thêm chức năng chữa bệnh), nguồn nhân lực vừa thiếu và vừa yếu Để có cơ sở khoa học trong
Trang 32xây dựng mô hình Y tế dự phòng và quản lý tốt nguồn nhân lực có khả năng cung cấp đội ngũ cán bộ phù hợp về số lượng và cơ cấu, đánh giá đầy đủ nhu cầu học tập của cán bộ y tế nhằm có kế hoạch đào tạo họ đạt năng lực thích hợp về chuyên môn nghiệp vụ và phân bổ vào những vị trí thích hợp để thực hiện những công việc phù hợp, qua đó có thể nhanh chóng vượt qua các khủng hoảng, giải quyết được những bất cập hiện tại, đón đầu được tương lai [10] Khảo sát đầy đủ về thực trạng nhân lực Y tế dự phòng toàn tỉnh là hết sức quan trọng và trở nên cấp thiết nhằm đảm bảo cho công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân không ngừng phát triển
Trang 33Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Tất cả cán bộ đang công tác tại các đơn vị Y tế dự phòng trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng
Hồ sơ sổ sách quản lý tại phòng tổ chức
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu
Cán bộ có biên chế chính thức hay cán bộ hợp đồng dài hạn công tác tại đơn vị khảo sát có thời gian từ ngày 31 tháng 12 năm 2013 trở về trước
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
Khảo sát về số lượng, trình độ và cơ cấu cán bộ Y tế dự phòng: Không điều tra đối tượng làm việc thuộc diện hợp đồng theo thời vụ
Khảo sát vê nhu cầu nhân lực của cán bộ Y tế dự phòng thì không điều tra đối với cán bộ đang trong thời gian nghỉ hậu sản, cán bộ đi học dài hạn, cán bộ đi học ngắn hạn trong thời gian khảo sát mà không liên hệ phát và nhận phiếu điều tra được
2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.4.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại 20 đơn vị Y tế dự phòng trong toàn tỉnh Sóc Trăng và được phân thành 02 tuyến công tác
Tuyến tỉnh: gồm 09 đơn vị Y tế dự phòng
1 Trung tâm Y tế dự phòng;
2 Trung tâm Phòng chống Bệnh xã hội;
3 Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS;
4 Trung tâm Sức khỏe sinh sản;
Trang 345 Trung tâm Truyền thông - Giáo dục sức khỏe;
6 Trung tâm Kiểm nghiệm Dược phẩm;
7 Trung tâm Giám định Y khoa;
8 Trung tâm Giám định Pháp y;
9 Chi cục An toàn Vệ sinh thực phẩm
Tuyến huyện: gồm 11 đơn vị Trung tâm y tế
1 TTYT huyện Ngã Năm;
2 TTYT huyện Thạnh Trị;
3 TTYT huyện Mỹ Xuyên;
4 TTYT huyện Kế Sách;
5 TTYT huyện Mỹ Tú;
6 TTYT huyện Cù Lao Dung;
7 TTYT huyện Long Phú;
8 TTYT thị xã Vĩnh Châu;
9 TTYT thành phố Sóc Trăng;
10 TTYT huyện Trần Đề;
11 TTYT huyện Châu Thành;
2.1.4.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 01/2013 đến tháng 06/2014
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Theo phương pháp nghiên cứu cắt ngang mô tả
2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu
Khảo sát mục tiêu 1: Xác định số lượng, trình độ, cơ cấu của đội ngũ cán bộ y tế tại các cơ sở Y tế dự phòng Sóc Trăng năm 2013: Phỏng vấn Cán
bộ quản lý trực tiếp nhân lực tại phòng tổ chức cán bộ: 20 cán bộ
Trang 35Khảo sát mục tiêu 2: Xác định nhu cầu nhân lực y tế tại các cơ sở Y tế dự phòng tỉnh Sóc Trăng năm 2015 đến năm 2020
+ Phỏng vấn cán bộ quản lý trực tiếp nhân lực tại phòng tổ chức cán bộ:
20 cán bộ
+ Phỏng vấn cán bộ Y tế đang công tác tại các cơ sở Y tế dự phòng tỉnh Sóc Trăng: 417 cán bộ (còn 241 cán bộ đi học hoặc không tham gia trả lời)
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu toàn bộ là cán bộ, nhân viên Y tế dự phòng tuyến huyện và tuyến tỉnh của tỉnh Sóc Trăng thoả tiêu chuẩn chọn mẫu
2.2.4 Nội dung nghiên cứu
2.2.4.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu bao gồm một số biến số được định nghĩa và đo lường theo số lượng và tỷ lệ như sau
* Giới tính
- Nam
- Nữ
* Nhóm tuổi: nhóm tuổi của cán bộ được tính theo năm dương lịch và
tính từ năm sinh của cán bộ đến năm 2013 và mỗi nhóm tuổi được phân theo cách khoảng 10 năm tính từ 20 tuổi đến khi về hưu và được phân theo 4 nhóm như sau
- Từ 20 - 29 tuổi
- Từ 30 – 39 tuổi
- Từ 40 – 49 tuổi
- Trên 50 tuổi
* Tuyến công tác: là vị trí của đơn vị được khảo sát được phân theo
phân cấp quản lý nhà nước gồm 2 tuyến như sau:
- Tuyến tỉnh: gồm 09 đơn vị thuộc hệ Y tế dự phòng
Trang 36+ Trung tâm Y tế dự phòng;
+ Trung tâm Phòng chống Bệnh xã hội;
+ Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS;
+ Trung tâm Sức khỏe sinh sản;
+ Trung tâm Truyền thông - Giáo dục sức khỏe;
+ Trung tâm Kiểm nghiệm Dược phẩm;
+ Trung tâm Giám định Y khoa;
+ Trung tâm Giám định Pháp y;
+ Chi cục An toàn Vệ sinh thực phẩm
- Tuyến huyện/thị xã/thành phố: gồm 11 Trung tâm y tế
+ TTYT huyện Ngã Năm;
+ TTYT huyện Thạnh Trị;
+ TTYT huyện Mỹ Xuyên;
+ TTYT huyện Kế Sách;
+ TTYT huyện Mỹ Tú;
+ TTYT huyện Cù Lao Dung;
+ TTYT huyện Long Phú;
+ TTYT thị xã Vĩnh Châu;
+ TTYT thành phố Sóc Trăng;
+ TTYT huyện Trần Đề (lấy cán bộ Y tế dự phòng);
+ TTYT huyện Châu Thành (lấy cán bộ Y tế dự phòng)
* Thời gian công tác: được tính theo năm dương lịch kể từ ngày cán
bộ bắt đầu làm việc đến ngày 31 tháng 12 năm 2013, được chia thành 05 nhóm như sau
- Từ 01 - 05 năm
- Từ 06 - 10 năm
- Từ 11 – 15 năm
Trang 37- Từ 16 - 20 năm
- Trên 20 năm
2.2.4.2 Số lượng và tỷ lệ, trình độ, cơ cấu của cán bộ Y tế dự phòng
* Số lượng, tỷ lệ của cán bộ Y tế dự phòng: Tổng số cán bộ và tỷ lệ
có được hiện đang công tác tại các đơn vị YTDP tính đến thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2013 được tính theo từng đơn vị và tuyến công tác
- Tỷ lệ của cán bộ Y tế dự phòng toàn tỉnh trên 10.000 dân: là tỷ lệ phần 10.000 đạt được của cán bộ YTDP so với dân số của tỉnh Sóc Trăng
+ Tỷ lệ cán bộ Y tế dự phòng/10.000 dân + Tỷ lệ Bác sỹ/10.000 dân
+ Tỷ lệ Kỹ thuật viên xét nghiệm/10.000 dân
- Số lượng và tỷ lệ hiện có cán bộ Y tế dự phòng so với tổng số: toàn tỉnh, theo tuyến và từng đơn vị
- Số lượng và tỷ lệ hiện có của cán bộ Y tế dự phòng so với định biên theo TT 08/BYT-BNV ở mức tối đa và tối thiểu: toàn tỉnh, theo tuyến và từng đơn vị Với dân số của tỉnh Sóc Trăng khoảng 1,3-1,5 triệu người thì định biên của các đơn vị ghép và nhân theo hệ số 1.2 của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long sẽ là:
+ Trung tâm Y tế dự phòng là 56-65 người, cộng với 20 người (do thêm chức năng) của TT Kiểm dịch quốc tế, TT Bảo vệ Sức khoẻ lao động và Môi trường, TT Nội tiết, TT Phòng chống Sốt rét và nhân hệ số 1.2 thì bằng 91-108 người
+ Tương tự TT Giám định Y khoa thêm 2 người (do thêm chức năng) của TT Giám định Pháp y Tâm thần và nhân hệ số 1.2 thì bằng 18-21 người
+ TT Phòng chống Bệnh xã hội giảm 15 người (do tách chức năng) của Tâm thần, Mắt, Phong và nhân hệ số 1.2 thì bằng 35-42 người
Trang 38+ Trung tâm y tế huyện từng đơn vị: là số cán bộ ứng với dân số của huyện đó, cộng với 10 cán bộ quản lý y tế xã và sau đó nhân với hệ số 1.2 thuộc vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long
*Trình độ cán bộ Y tế dự phòng: Trình độ cán bộ Y tế dự phòng là
văn bằng cao nhất hiện có thuộc lĩnh vực chuyên môn đang công tác so với tổng số bao gồm:
- Trình độ chuyên môn theo chuyên ngành
+ Y - bác sỹ
+ Điều dưỡng + Phụ sản + Xét nghiệm + Dược sỹ
+ Chuyên ngành khác: Kế toán, báo chí, vệ sinh thực phẩm và các ngành còn lại khác
- Lĩnh vực được đào tạo của Y- Bác sỹ:
+ Điều trị: Y sỹ đa khoa, Bác sỹ đa khoa, Bs CK I,II (thuộc chuyên khoe lẻ: nội, sản )
+ Y học dự phòng: Y sỹ Y tế dự phòng, BS CKI, II (YTCC, YTDP, quản lý)
- Trình độ chuyên môn của CB YTDP theo bậc đào tạo
+ Sau đại học + Đại học + Cao đẳng + Trung học + Sơ học
Trang 39* Cơ cấu cán bộ Y tế dự phòng:
Cơ cấu cán bộ Y tế dự phòng theo số lượng cán bộ: là tỷ lệ phần trăm
đạt được so với tổng số nhân viên theo từng tuyến công tác gồm
- Cơ cấu theo bộ phận
+ Chuyên môn, + Xét nghiệm + Quản lý, hành chính
- Cơ cấu theo chuyên môn
+ Bác sỹ
+ Kỹ thuật viên xét nghiệm
* Cơ cấu cán bộ Y tế dự phòng theo Thông tư BNV: là tỷ lệ phần trăm đạt được so với chỉ tiêu ở mức tối đa và mức tối
08/2007/TTLT-BYT-thiểu theo định biên của TT 08/BYT-BNV theo từng tuyến công tác gồm
- Cơ cấu theo bộ phận
+ Chuyên môn, + Xét nghiệm + Quản lý, hành chính
- Cơ cấu theo chuyên môn
+ Bác sỹ
+ Kỹ thuật viên xét nghiệm
2.2.4.3 Nhu cầu cán bộ Y tế dự phòng 5 năm giai đoạn 2015-2020
* Nhu cầu về số lượng: là số lượng cán bộ Y tế dự phòng cần tuyển
thêm bao gồm
- Nhu cầu theo số nghỉ hưu theo tuyến và từng năm
- Nhu cầu theo định biên của Thông tư 08/2007/TTLT- BYT-BNV ở mức tối đa và tối thiểu theo từng đơn vị và theo tuyến
- Tổng nhu cầu cán bộ YTDP trong 5 năm giai đoạn từ 2015-2020
Trang 40* Nhu cầu đào tạo về trình độ, hình thức và chuyên môn - chuyên ngành: Là nhu cầu học tập của cán bộ, nhân viên tại các đơn vị Y tế dự
phòng trong toàn tỉnh theo chuyên ngành, bậc học và hình thức đào tạo bao gồm
- Nhu cầu đào tạo về trình độ theo nhân viên y tế
+ Chuyên khoa sơ bộ;
+ Đào tạo ngắn hạn về chuyên môn, về quản lý chương trình;
- Nhu cầu về hình thức:
Nhu cầu về đào tạo lại chuyên môn theo công việc của cán bộ Y tế dự phòng các đơn vị theo tự đánh giá của cán bộ y tế dự phòng về các lĩnh vực công tác
+ Rất cần + Cần + Chưa cần
- Nhu cầu đào tạo theo chuyên ngành
+ Y tế công cộng;
+ Y học dự phòng, + Chuyên ngành khác
- Mong muốn tiếp tục công tác tại đơn vị của cán bộ Y tế dự phòng trong tương lai
+ Có,