1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

0239 nghiên cứu tình hình vô sinh của các cặp vợ chồng đến khám tại bv đa khoa tp cần thơ

117 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tình hình vô sinh của các cặp vợ chồng đến khám tại BV Đa khoa TP Cần Thơ
Tác giả Võ Xuân Đào
Người hướng dẫn PGS.TS. Trần Ngọc Dung, BS.CKII. Nguyễn Hữu Dự
Trường học Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Sản Phụ Khoa
Thể loại Luận án chuyên khoa cấp II
Năm xuất bản 2014
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (12)
    • 1.1. Sơ lược về vô sinh (0)
    • 1.2. Sinh lý sự thụ thai (15)
    • 1.3. Nguyên nhân vô sinh (17)
    • 1.4. Các yếu tố liên quan đến vô sinh ở cả hai vợ chồng (26)
    • 1.5. Quy trình khám chẩn đoán vô sinh (28)
    • 1.6. Nhu cầu và khả năng điều trị vô sinh (32)
  • Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (34)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (34)
      • 2.1.1. Tiêu chuẩn chọn mẫu (34)
      • 2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ (34)
      • 2.1.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu (35)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (35)
      • 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu (35)
      • 2.2.2. Cở mẫu (35)
      • 2.2.3. Phương pháp chọn mẫu (35)
      • 2.2.4. Nội dung nghiên cứu (35)
      • 2.2.5. Phương pháp thu thập và đánh giá số liệu (40)
  • Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (56)
    • 3.1. Đặc điểm của các cặp vợ chồng nghiên cứu (56)
    • 3.2. Tỉ lệ nguyên nhân vô sinh do vợ, do chồng hoặc do cả hai vợ chồng và một số yếu tố liên quan đến vô sinh (62)
    • 3.3. Nhu cầu và khả năng điều trị vô sinh của các cặp vợ chồng (70)
  • Chương 4: BÀN LUẬN (76)
    • 4.1. Đặc điểm của mẫu nghiên cứu (76)
    • 4.2. Các nguyên nhân gây vô sinh ở các cặp vợ chồng (84)
    • 4.3. Các yếu tố liên quan đến vô sinh (91)
    • 4.4. Nhu cầu và khả năng điều trị vô sinh của các cặp vợ chồng (96)
  • KẾT LUẬN (101)
  • PHỤ LỤC (0)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Những cặp vợ chồng hiếm muộn đến khám và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ

Nhiều cặp vợ chồng đến tư vấn do gặp vấn đề chậm có con hoặc hiếm muộn sau ít nhất một năm không sử dụng biện pháp tránh thai Tình trạng này khiến các cặp đôi lo lắng về khả năng sinh con và tìm hiểu các giải pháp y học phù hợp để cải thiện khả năng thụ thai Việc thăm khám sớm giúp xác định nguyên nhân và nâng cao cơ hội thực hiện ước mơ làm cha mẹ một cách hiệu quả.

- Trong độ tuổi sinh đẻ: Từ 18 tuổi trở lên

- Tự nguyện áp dụng các phương pháp thăm dò chẩn đoán và điều trị vô sinh

- Đồng ý tham gia nghiên cứu

- Chỉ có một trong hai vợ hoặc chồng đi thăm khám riêng biệt

Người phụ nữ đang mắc các bệnh lý toàn thân và tại chỗ như lao phổi, suy tim, điều này làm tăng nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và tính mạng trong quá trình mang thai Các bệnh lý này có thể gây ra biến chứng nặng nề trong thai kỳ và ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi Việc kiểm soát và điều trị các bệnh lý này trước khi mang thai là vô cùng quan trọng để giảm thiểu rủi ro cho sức khỏe của mẹ và bé.

- Tiêu chuẩn loại trừ người chồng: Bệnh toàn thân đang tiến triển (HIV, lao, tim mạch, gan, ) và không đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ đối với người vợ bao gồm những trường hợp có buồng trứng suy không còn khả năng hồi phục, mắc các bệnh toàn thân đang tiến triển như HIV, lao, bệnh tim mạch, gan, cũng như dị dạng sinh dục hoặc các bệnh lý thực thể tại bộ phận sinh dục như viêm nhiễm, ung thư.

2.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Tại khoa Hiếm muộn Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ

- Từ tháng 05 năm 2013 đến tháng 04 năm 2014.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang

- α: là xác xuất sai lầm loại I, α: 0,05 (độ tin cậy 95%)

- z: là hệ số tin cậy, z= 1,96

- d: là sai số ươc lượng, d= 0.1

- p= 0,4 (tỉ lệ vô sinh ở nữ = 40% - Nguyễn khắc Liêu - 1999) [18]

- Như vậy, n= 92,2 cộng 10% hao hụt mẫu → n ≥ 100

Chọn mẫu toàn bộ : chọn các cặp vợ chồng thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu trong thời gian từ tháng 05/2013 đến tháng 04/2014

2.2.4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Tuổi của vợ chồng được tính theo cách tròn năm bằng cách lấy năm nghiên cứu trừ đi năm sinh của từng đối tượng Các nhóm tuổi thường được phân chia thành các khoảng: dưới 24 tuổi, từ 25-29 tuổi, từ 30-34 tuổi, và trên 35 tuổi Việc xác định chính xác tuổi giúp phân tích các đặc điểm về lứa tuổi trong nghiên cứu một cách rõ ràng và chính xác, hỗ trợ các phân tích về xu hướng và đặc điểm hợp tuổi của các cặp đôi.

- Trình độ văn hóa: Là cấp học cuối cùng theo học trước khi nghỉ để làm việc Gồm các giá trị:

+ Không biết chữ: Không biết đọc, không biết viết tiếng Việt

+ Tiểu học: Học từ lớp 1 đến hết lớp 5

+ Trung học cơ sở: Học từ lớp 6 đến hết lớp 9

+ Trung học phổ thông: Học từ lớp 10 đến hết lớp 12

+ Trung cấp, cao đẳng, đại học, sau đại học

Nghề nghiệp của vợ chồng là công việc chiếm nhiều thời gian nhất trong cuộc sống, thường kéo dài ít nhất trên 12 tháng Các loại nghề nghiệp chính bao gồm làm ruộng, buôn bán, công nhân hoặc thợ thủ công, nhân viên văn phòng và nghề tự do Những nghề này đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì cuộc sống và phản ánh giá trị kinh tế của gia đình.

- Địa chỉ: chia thành 2 nhóm:

+ Thành thị: Gồm những người có địa chỉ cư ngụ ở thành phố, thị xã, thị trấn

+ Nông thôn: gồm những người có địa chỉ cư ngụ ở xã, ấp, thôn

Chúng tôi đánh giá thời gian vô sinh theo năm, sau đó phân chia thành các nhóm khác nhau để dễ dàng phân tích Cụ thể, nhóm 1 gồm những người vô sinh từ 1-2 năm, nhóm 2 từ 3-4 năm, nhóm 3 từ 5-6 năm, nhóm 4 từ 7-8 năm, nhóm 5 từ 9-10 năm và nhóm cuối cùng là những trường hợp vô sinh trên 10 năm Việc phân nhóm này giúp hiểu rõ hơn về thời gian vô sinh và tác động của nó đến quá trình điều trị.

- Tần suất giao hợp: Tính theo số lần trong tuần Sau đó, chúng tôi phân thành các nhóm < 1 lần, nhóm 2 là 1-2 lần, nhóm 3 là 3-4 lần, nhóm > 4 lần

Cân nặng và chiều cao của vợ và chồng được ghi nhận theo kg và mét, sau đó chúng tôi tính chỉ số khối cơ thể (BMI) bằng công thức cân nặng chia cho bình phương chiều cao (kg/m²) Dựa trên chỉ số BMI, chúng tôi phân loại thành hai nhóm để đánh giá tình trạng sức khỏe toàn diện.

Nhóm bình thường : BMI < 23kg/m 2

Nhóm béo phì : BMI ≥ 23 kg/m 2

Tiền sử sản khoa đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá sức khỏe sinh sản của người phụ nữ, bao gồm số lần mang thai, các lần sẩy thai, sinh đủ tháng hay nạo phá thai trước đó Việc ghi nhận rõ ràng diễn biến các lần mang thai trước giúp bác sĩ hiểu rõ hơn về lịch sử sinh sản và khả năng sinhоль của người phụ nữ Riêng về số lần sinh, cần khai thác chi tiết các cuộc sinh đã qua, đặc biệt là các trường hợp sinh thiếu tháng hoặc đủ tháng, cùng với những biến cố như sót nhau, băng huyết hoặc nhiễm trùng sau sinh Đồng thời, thông tin về tình hình con hiện nay cũng rất quan trọng để đánh giá tổng thể sức khỏe sinh dục và khả năng sinh sản của người phụ nữ.

Trong tiền sử phụ khoa, ghi nhận các trường hợp viêm nhiễm đường sinh dục trước đó, cùng với việc vợ đã sử dụng các phương pháp tránh thai như đặt dụng cụ tử cung, dùng thuốc tránh thai hoặc sử dụng bao cao su Các yếu tố này có thể ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản và nguy cơ các vấn đề phụ khoa sau này Việc tổng hợp chính xác tiền sử phụ khoa là rất cần thiết để đánh giá tình trạng sức khỏe sinh sản toàn diện của phụ nữ.

- Tiền sử phẫu thuật: Ghi nhận tiền sử mổ các khối u phụ khoa, mổ lấy thai, mổ thai ngoài tử cung của vợ

2.2.4.2 Tỉ lệ nguyên nhân vô sinh do vợ, do chồng, do cả hai vợ chồng, và một số yếu tố liên quan đến vô sinh

* Tỉ lệ nguyên nhân vô sinh

- Hỏi bệnh, khám lâm sàng vợ, chồng, làm các xét nghiệm thăm dò, đưa ra chẩn đoán xác định và nguyên nhân dẫn đến vô sinh

- Phân nhóm vô sinh do vợ, do chồng, do cả hai vợ chồng

Để xác định tỷ lệ vô sinh do vợ, do chồng hay do cả hai vợ chồng, việc đầu tiên là cần xác định nguyên nhân gây vô sinh Việc tìm ra nguyên nhân chính và các yếu tố liên quan đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán và điều trị vô sinh hiệu quả Hiểu rõ các yếu tố này giúp các cặp đôi có phương hướng can thiệp phù hợp để tăng khả năng sinh sản thành công.

- Vô sinh do chồng: Khảo sát các trường hợp

+ Do bất thường tinh dịch : thiểu tinh, tinh trùng yếu, tinh trùng dị dạng, vô tinh trùng, hoặc kết hợp các bất thường

+ Bất thường giải phẫu: như tinh hoàn ẩn, giãn tĩnh mạch thừng tinh, lỗ tiểu đóng thấp, đóng cao

+ Rối loạn chức năng: giảm ham muốn, rối loạn cương dương, rối loạn phóng tinh, chứng giao hợp đau

+ Các nguyên nhân khác: chấn thương tinh hoàn, phẫu thuật niệu sinh dục, viêm nhiễm niệu sinh dục hay nguyên nhân di truyền

- Vô sinh do vợ: Khảo sát các trường hợp

Rối loạn phóng noãn liên quan đến sự phát triển và trưởng thành của nang noãn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố trung ương như thiểu năng vùng dưới đồi và tuyến yên, hoặc do suy buồng trứng.

Các nguyên nhân gây tổn thương vòi trứng bao gồm viêm nhiễm đường sinh dục và các bệnh lây truyền qua đường tình dục, tiền sử phẫu thuật vùng chậu và vòi trứng, lạc nội mạc tử cung tại vòi trứng hoặc các bất thường bẩm sinh ở vòi trứng.

Nguyên nhân tại tử cung bao gồm các yếu tố như u xơ tử cung, viêm dính buồng tử cung và các bất thường bẩm sinh như tử cung dị dạng (tử cung hai sừng, tử cung có vách ngăn hoặc không có tử cung) Những vấn đề này có thể gây ảnh hưởng đến khả năng mang thai và sức khỏe sinh sản của phụ nữ Việc chẩn đoán sớm các nguyên nhân tại tử cung là cần thiết để cung cấp phương pháp điều trị phù hợp, giúp nâng cao tỷ lệ thành công trong việc thụ thai.

+ Nguyên nhân do cổ tử cung : chất nhầy kém, kháng thể kháng tinh trùng, tổn thương ở cổ tử cung do can thiệp thủ thuật (khoét chớp, đốt điện…)

+ Nguyên nhân khác : tâm lý tình dục, chứng giao hợp đau, các dị dạng bẩm sinh đường sinh dục…

- Vô sinh không rõ nguyên nhân

Các trường hợp vô sinh không rõ nguyên nhân sau khi đã tiến hành khám và làm tất cả các xét nghiệm cần thiết để chẩn đoán đều được xếp vào nhóm này Điều này cho thấy, mặc dù đã nỗ lực tìm hiểu và xác định các yếu tố gây vô sinh, nhưng vẫn chưa thể xác định chính xác nguyên nhân gây ra vấn đề Các bệnh nhân thuộc nhóm vô sinh không rõ nguyên nhân thường gặp khó khăn trong việc điều trị và cần các phương pháp hỗ trợ đặc biệt để tăng khả năng thụ thai Việc xác định chính xác nguyên nhân vô sinh là yếu tố quan trọng để đưa ra phương pháp điều trị phù hợp và hiệu quả hơn.

* Tìm hiểu một số các yếu liên quan gây vô sinh :

- Yếu tố liên quan đến vợ: Gồm tuổi, trình độ học vấn , nghề nghiệp, tiền sử viêm nhiễm sinh dục, tiền sử nạo phá thai…

- Yếu tố liên quan đến chồng: Gồm tuổi, trình độ học vấn , nghề nghiệp, yếu tố môi trường như rượu, thuốc lá, tiền sử mắc bệnh quai bị…

Rượu tiêu thụ với hai mức độ chính: một là những người có uống rượu thường xuyên, với lượng khoảng 250 ml mỗi ngày và thói quen uống từ 5 đến 7 ngày trong tuần; hai là những người không uống rượu hoặc chỉ thỉnh thoảng uống, với lượng rượu ít hơn 50 ml mỗi ngày.

+ Thuốc lá: Có 2 giá trị : có (khi hút # 10 điếu/ngày và từ 5- 7 ngày/ tuần); không hút (khi không hút hoặc hút 1-2 điếu/ ngày, < 3 ngày/ tuần)

2.2.4.3 Tìm hiểu nhu cầu và khả năng điều trị về chuyên môn và kinh tế theo các nguyên nhân gây vô sinh của các cặp vợ chồng

Khảo sát nhu cầu điều trị vô sinh dựa trên phỏng vấn các cặp vợ chồng đã được khám, chẩn đoán và xác định nguyên nhân vô sinh, cho thấy mức độ mong muốn điều trị của họ rất đa dạng Nghiên cứu cũng tập trung vào việc xác định họ có thực sự có nhu cầu điều trị hay không, mức độ sẵn lòng và mong muốn tiến hành điều trị đến đâu, cũng như địa điểm lựa chọn để thực hiện phương pháp điều trị Các lý do chọn địa điểm điều trị vô sinh cũng rất quan trọng, giúp hiểu rõ hơn về yếu tố thuận tiện, chất lượng dịch vụ và uy tín của cơ sở y tế trong quyết định của cặp đôi.

Bạn nên hỏi các cặp vợ chồng có nhu cầu điều trị sau khi đã xác định rõ nguyên nhân để lựa chọn địa chỉ phù hợp Nên cân nhắc điều trị tại Bệnh viện Đa khoa TP Cần Thơ vì có nhiều lợi ích như giảm chi phí điều trị, dễ dàng di chuyển hơn so với các bệnh viện ở Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời rút ngắn thời gian điều trị Việc chọn cơ sở y tế tại Cần Thơ giúp giảm bớt gánh nặng tài chính và thuận tiện hơn về phương tiện đi lại, mang lại hiệu quả điều trị tối ưu và tiện lợi hơn cho các cặp vợ chồng.

- Xác định tỉ lệ các cặp vợ chồng có nhu cầu điều trị vô sinh qua phỏng vấn

* Tìm hiểu khả năng điều trị:

- Khả năng về chuyên môn :

+ Khảo sát khả năng sinh con của các cặp vợ chồng

Khảo sát điều kiện trang thiết bị điều trị vô sinh tại Bệnh viện Đa khoa TP Cần Thơ nhằm đánh giá khả năng và mức độ chuyên môn của bệnh viện trong việc cung cấp dịch vụ hỗ trợ sinh sản Việc này giúp xác định năng lực của cơ sở y tế trong việc đáp ứng nhu cầu điều trị vô sinh của người bệnh Đánh giá trang thiết bị hiện có là bước quan trọng để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, đảm bảo đạt tiêu chuẩn quốc tế về điều trị vô sinh.

+ Khảo sát về nhân lực và trình độ chuyên môn so với một đơn nguyên điều trị chuẩn

+ Đánh giá khả năng điều trị vô sinh về chuyên môn qua các thông tin ghi nhận được

- Khả năng về kinh tế :

+ Khảo sát về tình trạng kinh tế của các cặp vợ chồng, mức độ thu nhập bình quân trong tháng của 1 cặp vợ chồng

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm của các cặp vợ chồng nghiên cứu

3.1.1 Nơi cư trú của các cặp vợ chồng nghiên cứu

Bảng 3.1 Nơi cư trú của các cặp vợ chồng nghiên cứu

Nơi cư trú Tần số (n) Tỷ lệ

Các cặp vợ chồng đến khám và điều trị vô sinh ở thành thị chiếm tỉ lệ 52,73% Số trường hợp đến từ nông thôn chiếm tỉ lệ thấp hơn 47,27%

3.1.2 Nghề nghiệp của các cặp vợ chồng nghiên cứu

Bảng 3.2 Nghề nghiệp của vợ chồng nghiên cứu

Nghề nghiệp Nhóm vợ Nhóm chồng

Tần số (n) Tỷ lệ (%) Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Nghề nghiệp của vợ chủ yếu là cán bộ, chiếm tỷ lệ cao nhất đạt 43,64% Tiếp theo, nghề tự do chiếm 27,27%, thể hiện sự đa dạng trong các công việc ngoài chính thức Nhóm buôn bán và làm ruộng có tỷ lệ lần lượt là 17,27% và 7,27%, phản ánh đặc điểm của các hoạt động kinh doanh và nông nghiệp trong cộng đồng Trong khi đó, nhóm công nhân chiếm tỷ lệ thấp nhất đạt 4,55%, cho thấy phần lớn các thành viên làm việc trong các lĩnh vực khác nhau.

Trong cơ cấu nghề nghiệp của chồng, nhóm cán bộ chiếm tỷ lệ cao nhất với 47,27%, phản ánh sự ổn định và phát triển trong công tác chính quyền và quản lý Tiếp đến, nhóm buôn bán chiếm 19,09%, cho thấy hoạt động thương mại đang đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế của gia đình Nghề làm ruộng chiếm 17,27%, thể hiện sự gắn bó với nông nghiệp và sản xuất nông nghiệp truyền thống Nhóm nghề tự do chiếm 9,09%, phản ánh sự đa dạng trong các ngành nghề cá nhân Trong khi đó, nhóm công nhân chiếm tỷ lệ thấp nhất với 7,27%, cho thấy sự ít ỏi của lực lượng lao động công nghiệp trong khu vực.

3.1.3 Trình độ học vấn của các cặp vợ chồng nghiên cứu

Bảng 3.3 Trình độ học vấn của các cặp vợ chồng nghiên cứu

Trình độ học vấn Nhóm vợ Nhóm chồng

Tần số (n) Tỷ lệ (%) Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Trong số các cặp vợ chồng vô sinh, phần lớn đều có trình độ học vấn cao, trong đó trình độ học vấn của nhóm vợ cao hơn nhóm chồng Cụ thể, 43,64% vợ có trình độ trung cấp đến đại học, 28,18% trung học phổ thông, và 26,36% trung học cơ sở; còn nhóm chồng có 36,36% trung cấp đến đại học, 40,0% trung học phổ thông, và 21,82% trung học cơ sở Đặc biệt, tỷ lệ bệnh nhân có trình độ tiểu học rất thấp và bằng nhau ở cả nhóm vợ lẫn chồng, đều chiếm 1,82% Các số liệu này cho thấy trình độ học vấn cao phần lớn liên quan đến nguyên nhân vô sinh ở các cặp đôi, đồng thời là yếu tố cần được xem xét trong quá trình điều trị.

3.1.4 Tuổi của các cặp vợ chồng nghiên cứu

Bảng 3.4 Tuổi của các cặp vợ chồng nghiên cứu

Tuổi Nhóm vợ Nhóm chồng

Tần số (n) Tỷ lệ (%) Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Tuổi trung bình 30,63 ± 6,3 (18- 45 tuổi) 33,07 ± 5,41 (23-50 tuổi)

Trong mẫu nghiên cứu, độ tuổi trung bình của vợ là 30,63 ± 6,3, với tuổi thấp nhất là 18 và cao nhất là 45 Nhóm tuổi vợ chiếm tỷ lệ cao nhất là từ 25 đến 29 tuổi, chiếm 30,91%, trong khi nhóm tuổi dưới 24 tuổi có tỷ lệ thấp nhất với 16,36%.

Trong mẫu nghiên cứu, tuổi trung bình của chồng là 33,07 ± 5,41, với độ tuổi thấp nhất là 23 và cao nhất là 50 tuổi Nhóm tuổi trên 35 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất, chiếm 37,27%, trong khi nhóm tuổi dưới 24 chỉ chiếm 5,45%.

3.1.5 Thời gian vô sinh của các cặp vợ chồng nghiên cứu

Bảng 3.5 Thời gian vô sinh của các cặp vợ chồng nghiên cứu

Thời gian Số trường hợp (n) Tỷ lệ (%)

Thời gian vô sinh 3,28 ± 2,42 (ngắn nhất 1 năm, cao nhất 13năm) Nhận xét:

Trong các nhóm thời gian vô sinh, nhóm từ 3 – 4 năm chiếm tỷ lệ cao nhất đạt 40,0%, tiếp theo là nhóm từ 1 – 2 năm chiếm 24,55% Nhóm từ 5 – 6 năm chiếm 23,64%, trong khi nhóm từ 7 – 8 năm là 5,45% Nhóm trên 10 năm chiếm 3,64%, thấp nhất là nhóm từ 9 – 10 năm với tỷ lệ 2,73% Thời gian vô sinh kéo dài nhất ghi nhận là 13 năm, trong khi thời gian ngắn nhất là 1 năm, phản ánh sự đa dạng trong thời gian vô sinh của các bệnh nhân.

3.1.6 Tiền sử viêm nhiễm sinh dục của vợ

Bảng 3.6 Tiền sử viêm nhiễm sinh dục của vợ

Tiền sử viêm nhiễm Số trường hợp Tỉ lệ %

Trong tổng số 110 phụ nữ được khảo sát, 17 người (chiếm tỷ lệ 15,45%) có tiền sử viêm nhiễm sinh dục, trong khi đó 93 người còn lại (chiếm tỷ lệ 84,55%) không có tiền sử viêm nhiễm sinh dục Điều này cho thấy tỷ lệ phụ nữ mắc bệnh viêm nhiễm sinh dục trong nhóm khảo sát là khá thấp Việc xác định tiền sử viêm nhiễm sinh dục giúp đánh giá nguy cơ và đưa ra các biện pháp phòng ngừa phù hợp Tỷ lệ này cung cấp cái nhìn rõ hơn về tình hình sức khỏe sinh sản của phụ nữ trong cộng đồng.

3.1.7 Tiền sử nạo buồng tử cung

Bảng 3.7 Tiền sử nạo buồng tử cung

Tiền sử nạo buồng TC Số trường hợp Tỷ lệ %

Tiền sử nạo sẩy thai có 19 trường hợp, chiếm tỉ lệ 17,270% Tiền sử nạo phá thai có 6 trường hợp, chiếm tỉ lệ 5,45%

3.1.8 Tiền sử áp dụng các biện pháp kế hoạch hóa gia đình

Bảng 3.8 Tiền sử áp dụng các biện pháp kế hoạch hóa gia đình

Tiền sử dùng biện pháp tránh thai Tần số Tỷ lệ %

Các biện pháp ngừa thai được áp dụng

- Tiền sử áp dụng biện pháp ngừa thai có 28/110 trường hợp, chiếm tỉ lệ là 25,55%

Trong tổng số 28 trường hợp áp dụng các biện pháp tránh thai, tỷ lệ đặt dụng cụ tử cung chiếm 14,29% với 4 trường hợp, trong khi sử dụng thuốc tránh thai viên kết hợp chiếm tỷ lệ cao hơn là 32,14% với 9 trường hợp Biện pháp dùng bao cao su chiếm 25,0% tương đương 7 trường hợp, còn phương pháp giao hợp tránh ngày phóng noãn (OGINO) được áp dụng trong 8 trường hợp, chiếm 28,57%.

3.1.9 Chỉ số khối cơ thể của các cặp vợ chồng nghiên cứu

Bảng 3.9 Chỉ số khối cơ thể của các cặp vợ chồng nghiên cứu

Chỉ số khối cơ thể

Tần số Tỷ lệ (%) Tần số Tỷ lệ (%)

Trong số 110 cặp vợ chồng vô sinh, tỷ lệ phụ nữ có chỉ số khối cơ thể (BMI) ≤ 23 kg/m² chiếm tới 83,64%, trong khi ở nam giới là 51,82% Ngược lại, phụ nữ có BMI ≥ 23 kg/m² chiếm 16,36%, còn nam giới là 48,18% Những kết quả này cho thấy mối liên hệ giữa chỉ số khối cơ thể và tỷ lệ vô sinh ở các cặp đôi, nhấn mạnh tầm quan trọng của quản lý cân nặng trong việc nâng cao khả năng sinh sản.

3.1.10 Tần suất giao hợp của các cặp vợ chồng nghiên cứu

Bảng 3.10 Tần suất giao hợp của các cặp vợ chồng nghiên cứu

Tần suất giao hợp/ tuần Số trường hợp Tỷ lệ %

Tần suất giao hợp 3 – 4 lần / tuần chiếm tỉ lệ cao nhất là 87,16%, kế đến là tần suất giao hợp 1 – 2 lần / tuần, chiếm 9,17% Tần suất giao hợp trên

4 lần / tuần, chiếm 3,67% Nhìn chung tần suất giao hợp của các bệnh nhân vô sinh cao.

Tỉ lệ nguyên nhân vô sinh do vợ, do chồng hoặc do cả hai vợ chồng và một số yếu tố liên quan đến vô sinh

và một số yếu tố liên quan đến vô sinh

3.2.1 Tỉ lệ các nguyên nhân vô sinh ở các cặp vợ chồng nghiên cứu

3.2.1.1 Phân loại vô sinh ở các cặp vợ chồng nghiên cứu

Bảng 3.11 Phân loại vô sinh ở các cặp vợ chồng nghiên cứu

Phân loại Số trường hợp Tỷ lệ %

Trong nghiên cứu gồm 110 cặp bệnh nhân vô sinh, tỷ lệ vô sinh nguyên phát chiếm đa số với 70,91%, trong khi đó vô sinh thứ phát chiếm 29,09% Điều này cho thấy rằng tỷ lệ vô sinh nguyên phát vượt trội trong nhóm bệnh nhân được nghiên cứu, phản ánh xu hướng phổ biến của tình trạng vô sinh trong cộng đồng.

3.2.1.2 Phân loại vô sinh theo vợ chồng

Bảng 3.12 Phân loại vô sinh theo vợ chồng

Phân loại Số trường hợp Tỉ lệ %

Do cả hai vợ chồng 53 48,18

Nguyên nhân vô sinh do vợ chiếm tỷ lệ 8,18% với 9 trường hợp, trong khi đó nguyên nhân xuất phát từ chồng chiếm đến 42,73% với 47 trường hợp Các trường hợp vô sinh do cả hai vợ chồng cùng gặp vấn đề chiếm tỷ lệ cao nhất, đạt 48,18% với 53 trường hợp Ngoài ra, có một trường hợp vô sinh không xác định rõ nguyên nhân chiếm 0,91%.

3.2.1.3 Nguyên nhân vô sinh do vợ

Bảng 3.13 Nguyên nhân vô sinh do vợ

Nguyên nhân vô sinh vợ Số trường hợp Tỷ lệ %

Tắc nghẽn vòi tử cung 2 3,17

Tắc nghẽn vòi tử cung - Rối loạn phóng noãn

Lạc nội mạc tử cung - Rối loạn phóng noãn

Buồng trứng đa nang - Rối loạn phóng noãn

Trong tổng số 63/110 bệnh nhân vô sinh do nguyên nhân của vợ, rối loạn phóng noãn chiếm tỷ lệ cao nhất với 37 trường hợp, tương đương 58,73% Nguyên nhân kết hợp giữa buồng trứng đa nang và rối loạn phóng noãn chiếm 10 trường hợp, chiếm 15,87% Vô sinh không rõ nguyên nhân chiếm 17,46% với 11 trường hợp, trong khi tắc vòi tử cung chỉ gặp ở 3 bệnh nhân, chiếm 4,76% Các nguyên nhân khác như dính buồng tử cung và lạc nội mạc tử cung có tỷ lệ lần lượt là 1,59%.

3.2.1.4 Nguyên nhân vô sinh do chồng

Bảng 3.14 Nguyên nhân vô sinh do chồng

Nguyên nhân vô sinh do chồng Số trường hợp Tỷ lệ %

Do bất thường tinh dịch 100 90,91

Rối loạn chức năng tình dục 0 0,00

Nguyên nhân vô sinh chồng có 100/110 trường hợp do bất thường tinh dịch, chiếm tỉ lệ 90,91%

3.2.1.5 Đặc điểm tinh dịch đồ ở những người chồng có bất thường tinh dịch Bảng 3.15 Đặc điểm tinh dịch đồ ở những người chồng có bất thường tinh dịch

Nguyên nhân Số trường hợp Tỉ lệ %

Tinh trùng ít-yếu-dị dạng 4 4.0

Trong các trường hợp về tinh trùng yếu, có tới 86% số lượng chiếm tỷ lệ cao nhất, phản ánh mức độ phổ biến của vấn đề này Tiếp theo, tinh trùng yếu- ít chiếm khoảng 9%, trong khi đó tinh trùng yếu- ít và dị dạng chiếm 4%, còn tinh trùng ít chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ khoảng 1%.

3.2.1.6 Nguyên nhân vô sinh nguyên phát (VSNP)

Bảng 3.16 Nguyên nhân vô sinh nguyên phát ở vợ

Nguyên nhân Số trường hợp Tỷ lệ %

Tắc nghẽn vòi tử cung 1 2,38

Lạc nội mạc tử cung - Rối loạn phóng noãn

Buồng trứng đa nang - Rối loạn phóng noãn

Nguyên nhân gây vô sinh nguyên phát ở phụ nữ chủ yếu là rối loạn phóng noãn chiếm tới 59,92% Các nguyên nhân phối hợp như buồng trứng đa nang kết hợp rối loạn phóng noãn chiếm tỷ lệ 19,05% Tắc nghẽn vòi tử cung và lạc nội mạc tử cung đều chiếm tỷ lệ 2,38%, trong khi đó, không rõ nguyên nhân chiếm tới 16,67%.

Bảng 3.17 Nguyên nhân vô sinh nguyên phát ở chồng

Nguyên nhân Số trường hợp Tỷ lệ %

Tinh trùng yếu và ít 7 10,00

Tinh trùng yếu, ít và dị dạng 4 5,71

Tinh trùng yếu chiếm tỷ lệ cao nhất trong các nguyên nhân gây VSNP ở chồng (82,86%)

3.2.1.8 Nguyên nhân vô sinh thứ phát (VSTP)

Bảng 3.18 Nguyên nhân vô sinh thứ phát ở vợ

Nguyên nhân Số trường hợp Tỉ lệ %

Tắc nghẽn vòi tử cung 1 4,76

Tắc nghẽn vòi tử cung - Rối loạn phóng noãn 1 4,76

Buồng trứng đa nang - Rối loạn phóng noãn

Trong các nguyên nhân gây nên vô sinh thứ phát: nguyên nhân Rối loạn phóng noãn có 12 trường hợp, chiếm 57,14% Không rõ nguyên nhân có

4 trường hợp chiếm 19.05% Tắc nghẽn vòi tử cung và buồng trứng đa nang đều có 2 trường hợp, chiếm tỉ lệ bằng nhau là 9,52%, dính buồng tử cung có

Bảng 3.19 Nguyên nhân vô sinh thứ phát ở chồng

Nguyên nhân Số trường hợp Tỉ lệ %

Tinh trùng yếu và ít 2 6,67

Tinh trùng yếu, ít và dị dạng 0 0,00

Tinh trùng yếu cũng chiếm tỷ lệ cao nhất trong các nguyên nhân gây

3.2.2 Các yếu tố liên quan đến vô sinh

3.2.2.1 Các yếu tố liên quan đến vô sinh do vợ

Bảng 3.20 Liên quan giữa nhóm tuổi với tỷ lệ vô sinh của vợ

Tuổi vợ Vô sinh vợ

Độ tuổi vô sinh chủ yếu gặp ở phụ nữ trong nhóm 30-34 tuổi, chiếm tỷ lệ 53,33%, trong khi nhóm trên 35 tuổi cao hơn với 71,43% Ngoài ra, có đến 55,56% phụ nữ vô sinh dưới 24 tuổi Tuy nhiên, sự khác biệt về độ tuổi giữa các nhóm không có ý nghĩa thống kê rõ rệt, cho thấy yếu tố tuổi tác ảnh hưởng theo cách đa dạng mà không đồng nhất.

Bảng 3.21 Liên quan giữa TĐHV với tỷ lệ vô sinh của vợ

Phụ nữ vô sinh có trình độ trên trung học phổ thông cao hơn nhóm dưới trung học phổ thông, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê

Bảng 3.22 Liên quan giữa nghề nghiệp với tỷ lệ vô sinh của vợ

Phụ nữ vô sinh xuất hiện trong nhiều nhóm nghề nghiệp khác nhau, tập trung chủ yếu ở nhóm công nhân, cán bộ và các người làm ngành buôn bán Tuy nhiên, sự khác biệt này chưa được xác nhận là có ý nghĩa thống kê rõ ràng, cho thấy cần thêm nghiên cứu để hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng.

Bảng 3.23 Liên quan giữa TS viêm nhiễm sinh dục với tỷ lệ vô sinh của vợ

TS viêm SD Vô sinh vợ

Phụ nữ vô sinh có tiền sử viêm nhiễm có vô sinh là 64,71%, sự khác biệt này chưa có ý nghĩa thống kê

Bảng 3.24 Liên quan giữa TS nạo phá thai với tỷ lệ vô sinh của vợ

Có 6 phụ nữ nạo phá thai và vô sinh là 4 người, chiếm 66,67%; sự khác biệt này chưa có ý nghĩa thống kê

3.2.2.2 Các yếu tố liến quan đên vô sinh do chồng

Bảng 3.25 Vô sinh liên quan đến uống rượu, hút thuốc lá từ chồng Đặc điểm Vô sinh chồng

Tỉ lệ vô sinh ở người chồng có uống rượu chiếm 87%

Tỉ lệ vô sinh ở người chồng có hút thuốc là 41% (p < 0,05)

Bảng 3.26 Vô sinh liên quan đến tiền sử mắc bệnh quai bị từ chồng

Quai bị Vô sinh chồng

Tỉ lệ vô sinh ở người chồng có tiền sử mắc bệnh quai bị chiếm 88,89%.

Nhu cầu và khả năng điều trị vô sinh của các cặp vợ chồng

3.3.1 Nhu cầu điều trị theo nguyên nhân vô sinh của các cặp vợ chồng

3.3.1.1 Nhu cầu được điều trị theo nguyên nhân vô sinh của vợ

Trong số 110 người vợ vô sinh được nghiên cứu, có 63 người phát hiện nguyên nhân gây vô sinh qua thăm khám, giúp xác định rõ các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn những người vợ này mong muốn được điều trị vô sinh, và kết quả cho thấy nhiều trường hợp mong muốn tìm kiếm giải pháp phù hợp để nâng cao khả năng thụ thai và cải thiện chất lượng cuộc sống Các kết quả này góp phần quan trọng trong việc xây dựng các phương pháp điều trị hiệu quả cho nhóm bệnh nhân vô sinh nữ.

Bảng 3.27 Mong muốn điều trị vô sinh ở vợ

Tắc nghẽn vòi tử cung 2 100.0% 0 0%

Trong tổng số 110 người vợ vô sinh, có 63 người (chiếm tỷ lệ 57%) được xác định nguyên nhân hoặc nguyên nhân không rõ ràng nhưng đều mong muốn điều trị vô sinh để có con Điều này cho thấy rằng hầu hết các phụ nữ bị vô sinh đều quan tâm và sẵn sàng tìm kiếm giải pháp để xây dựng gia đình Những kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc khám và điều trị vô sinh để giúp các cặp đôi hiện thực hóa ước mơ làm cha mẹ.

3.3.1.2 Nhu cầu được điều trị theo nguyên nhân vô sinh của chồng

Bảng 3.28 Mong muốn điều trị vô sinh ở chồng

Do bất thường tinh dịch 100 90,9 % 0 0%

Rối loạn chức năng tình dục 0 0 0 0%

Trong số 110 người chồng được phỏng vấn, hầu hết đều mong muốn điều trị nguyên nhân vô sinh để có cơ hội làm cha Có tới 100 người chồng vô sinh do bất thường về tinh dịch, trong khi đó, 10 người chồng bình thường nhưng lại có vợ gặp các vấn đề gây vô sinh Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc xác định chính xác nguyên nhân để có phương pháp điều trị phù hợp, giúp tăng khả năng có con cho các cặp đôi.

3.3.2 Khả năng điều trị thực tế theo nguyên nhân ở các cặp vợ chồng 3.3.2.1 Khả năng điều trị thực tế ở các cặp vợ chồng vô sinh

Bảng 3.29 Tỉ lệ khả năng điều trị được ở vợ theo nhóm tuổi

Tuổi Số trường hợp Số có thai Tỷ lệ %

Nhận xét: Ở vợ < 25 tuổi, trong 18 trường hợp mong muốn được điều trị vô sinh chỉ có 2 trường hợp có khả năng điều trị thành công chiếm 11,11%

Nhóm tuổi 25-30 trong 34 trường hợp mong muốn được điều trị vô sinh chỉ có 6 trường hợp có khả năng điều trị thành công chiếm 17,65%; nhóm tuổi

31-35 trong 30 trường hợp, chỉ có 2 trường hợp điều trị thành công chiếm 6,67%; nhóm tuổi > 35 trong 28 trường hợp, chỉ có 4 trường hợp điều trị thành công chiếm 14,29%

Bảng 3.30 Tỉ lệ khả năng điều trị thực tế ở vợ theo nguyên nhân vô sinh

Có 63 phụ nữ tìm thấy nguyên nhân gây vô sinh trong số 110 phụ nữ khám hiếm muộn, chiếm tỷ lệ 57,27%

Nguyên nhân vô sinh vợ Số trường hợp

Tỷ lệ % Số có thai

Tắc nghẽn vòi tử cung 2 3,17 0 0

Tắc nghẽn vòi tử cung -

Lạc nội mạc tử cung - Rối loạn phóng noãn

Buồng trứng đa nang - Rối loạn phóng noãn

Trong 63/110 người vợ vô sinh được tìm thấy nguyên nhân 37 trường hợp rối loạn phóng noãn (58,73%) có 6/37 trường hợp có thai chiếm 16,2%

Trong tổng số các trường hợp kết hợp buồng trứng đa nang và rối loạn phóng noãn, tỷ lệ thành công mang thai đạt 20% với 2 trường hợp có thai Tuy nhiên, 5,87% các trường hợp còn lại không có khả năng thụ thai do các nguyên nhân vô sinh khác Đây là những dữ liệu quan trọng giúp đánh giá khả năng sinh sản ở phụ nữ mắc buồng trứng đa nang kết hợp rối loạn phóng noãn.

Bảng 3.31 Tỉ lệ khả năng điều trị thực tế ở chồng theo nguyên nhân vô sinh

Kết quả có thai Nguyên nhân vô sinh

Tinh trùng yếu- ít và dị dạng 1 (25) 3 (75) 4

Trong tổng số các trường hợp, có đến 86% người gặp phải vấn đề tinh trùng yếu, chiếm tỷ lệ cao nhất Tiếp theo là các trường hợp tinh trùng yếu ít, chiếm khoảng 9%, trong khi đó, những người mắc tinh trùng yếu kèm theo dị dạng chiếm 4% Các trường hợp tinh trùng ít có tỷ lệ thấp hơn, chỉ chiếm 1%, phản ánh sự phổ biến của các vấn đề liên quan đến chất lượng và số lượng tinh trùng trong cộng đồng.

Trong các nguyên nhân trên tỉ lệ điều trị thành công cao nhất thuộc về nhóm nguyên nhân tinh trùng yếu có 10 trường hợp có thai, chiếm tỉ lệ 11,63%

Bảng 3.32 Tỉ lệ khả năng có thai theo thời gian vô sinh của các cặp vợ chồng

Số trường hợp có thai

Trong số các trường hợp vô sinh, có 84 trường hợp kéo dài chưa quá 5 năm, trong đó tỷ lệ có thai là 11,9% với 10 trường hợp Ngược lại, có 26 trường hợp vô sinh trên 5 năm, tỷ lệ có thai giảm còn 15,38%, chỉ 4 trường hợp đạt được khả năng mang thai.

3.3.2.2 Khả năng điều trị về kinh tế

Bảng 3.33 Tỉ lệ đã điều trị vô sinh ở các cặp vợ chồng

Tiền sử điều trị vô sinh Tần số Tỷ lệ % Đã điều trị vô sinh Không 90 81,82

Chu kỳ điều trị Có

Trong tổng số 110 trường hợp vô sinh, đã có 20 trường hợp được điều trị thành công, chiếm tỷ lệ 18,18% Trong số các ca đã điều trị, 65% số trường hợp đã trải qua từ 3 chu kỳ trở lên, cho thấy quá trình điều trị tích cực và liên tục Trung bình mỗi người điều trị khoảng 2,8 ± 1,54 chu kỳ, trong đó chu kỳ ngắn nhất là 1 và dài nhất là 5, phản ánh sự đa dạng trong thời gian điều trị vô sinh.

Bảng 3.34 Tình hình kinh tế của các cặp vợ chồng vô sinh

Kinh tế của các cặp vợ chồng n Tỉ lệ %

Nghèo (thu nhập ≤ 1 triệu/tháng) 22 20,0

Khá (thu nhập 1- 3 triệu/tháng) 49 44,54

Giàu (thu nhập > 3 triệu/tháng) 39 35,45

Thu nhập trung bình 3400000 ± 1806,97 (thấp nhất 1 triệu, cao nhất 8 triệu)

Chúng tôi khảo sát thu nhập bình quân đầu người/tháng dựa trên mức lương tối thiểu, ghi nhận rằng 20% các cặp vợ chồng có thu nhập thấp, phản ánh khả năng kinh tế còn hạn chế Trong khi đó, 44,54% cặp vợ chồng có thu nhập khá, chiếm tỷ lệ lớn hơn, còn lại 35,45% có thu nhập cao Thu nhập trung bình của các cặp vợ chồng là khoảng 3.400.000 đồng, với mức dao động từ 1 triệu đến 8 triệu đồng, cho thấy sự chênh lệch rõ rệt về khả năng tài chính trong cộng đồng.

BÀN LUẬN

Đặc điểm của mẫu nghiên cứu

Khoa Hiếm muộn, BVĐKTPCT là trung tâm tiếp nhận và điều trị vô sinh cho các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, chủ yếu phục vụ dân cư tại Cần Thơ, Vĩnh Long, Kiên Giang, Đồng Tháp, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau Trong số 110 cặp vợ chồng vô sinh nghiên cứu, 52,73% sống tại thành phố, trong khi gần nửa còn lại đến từ vùng nông thôn, cho thấy tỷ lệ vô sinh ở thành thị và nông thôn gần như bằng nhau Các nghiên cứu của Đỗ Thị Kim Ngọc và Trương Thị Linh Giang đều khẳng định tỷ lệ vô sinh và phương thức khám, điều trị hỗ trợ sinh sản tại khu vực này đều khá phổ biến cả ở thành phố và nông thôn Mặc dù các phương pháp hỗ trợ sinh sản mới triển khai tại BVĐK thành phố Cần Thơ trong thời gian gần đây, nhưng lượng bệnh nhân tiêu biểu cho cả hai đối tượng khu vực vẫn lớn, do trung tâm nằm ở trung tâm các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, thuận tiện đi lại, giá thành phù hợp, đáp ứng mong muốn có con của nhiều cặp vợ chồng.

Theo bảng 3.2, đối tượng đến khám và điều trị vô sinh chủ yếu là cán bộ công nhân viên, chiếm 47,27% đối với chồng và 43,64% đối với vợ, cho thấy nhóm này có xu hướng tiếp cận dịch vụ y tế sớm hơn Kế đến, nhóm nghề tự do như nội trợ, thợ may, chăn nuôi chiếm 27,27% ở nhóm vợ, trong khi nhóm buôn bán chiếm 17,27% ở nhóm vợ và 19,09% ở nhóm chồng, phản ánh các yếu tố về nghề nghiệp ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận điều trị vô sinh Nhóm làm ruộng và công nhân có tỷ lệ thấp nhất khi đến khám, có thể do họ gặp khó khăn về tài chính và nhận thức hạn chế về vô sinh Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Trương Thị Linh Giang tại Bệnh viện Đại học, cho thấy các yếu tố nghề nghiệp và nhận thức đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp cận điều trị vô sinh.

Y khoa Huế đã điều trị vô sinh cho 96 cặp vợ chồng, trong đó phần lớn là cán bộ với tỷ lệ 48,96% ở phụ nữ và 45,83% ở nam giới, thể hiện nhu cầu điều trị vô sinh ngày càng cao trong cộng đồng Nhiều khách hàng mong muốn điều trị vô sinh xuất phát từ các thành phần xã hội khác nhau, phản ánh vấn đề phổ biến về sức khỏe sinh sản Việc phát triển dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản dành cho người có điều kiện kinh tế thấp, đặc biệt là điều trị vô sinh, là nhiệm vụ phù hợp và khả thi tại BVĐKTP Điều này mở ra cơ hội chăm sóc sức khỏe sinh sản tốt hơn cho phụ nữ vô sinh tại thành phố Cần Thơ, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của các gia đình.

Trình độ học vấn của khách hàng đóng vai trò quan trọng trong nhận thức về vô sinh và nhu cầu điều trị Gần một nửa số khách hàng phụ nữ (43,64%) có trình độ trung cấp hoặc đại học, trong khi đó 28,18% có trình độ trung học phổ thông và 26,36% có trình độ trung học cơ sở Trong nhóm khách hàng nam giới, 36,36% có trình độ trung cấp hoặc đại học, 40% có trình độ trung học phổ thông, và 21,82% có trình độ trung học cơ sở, với số ít chỉ học đến tiểu học Nghiên cứu của Quách Hoàng Bảy tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ cho thấy, khách hàng có trình độ trung cấp hoặc đại học chiếm tỷ lệ cao hơn trong nhóm vô sinh, lần lượt là 40,91% đối với phụ nữ và 42,72% đối với nam giới, cho thấy trình độ học vấn cao hơn giúp khách hàng nhận thức rõ hơn về vấn đề vô sinh và nhu cầu điều trị.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi thấy rằng: Độ tuổi trung bình nhóm vợ trong mẫu là 30,63 ± 6,3, trong đó tuổi nhỏ nhất là 18 và tuổi lớn nhất là

Trong nghiên cứu, nhóm tuổi vợ điều trị vô sinh cao nhất là 25-29 tuổi, chiếm tỷ lệ 30,91%, trong khi nhóm dưới 24 tuổi chiếm 16,36%, thể hiện rằng độ tuổi sinh sản bắt đầu suy giảm sau 30 tuổi Đối với chồng, độ tuổi trung bình là 33,07 ± 5,41, với nhóm trên 35 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất là 37,27%, còn nhóm dưới 24 tuổi chỉ 5,45%, cho thấy tỷ lệ điều trị vô sinh tăng khi tuổi tăng lên Nghiên cứu cho thấy tập trung vào nhóm tuổi 25-40, giai đoạn sinh sản chính của nam và nữ Tỉ lệ có thai giảm dần theo độ tuổi, đặc biệt khi vượt qua 35 tuổi, nguy cơ thai dị tật cao hơn và khả năng sinh sản giảm, phù hợp với các nghiên cứu như của Quách Hoàng Bảy, nhấn mạnh mối liên hệ giữa tuổi tác và khả năng sinh sản.

Trong mẫu nghiên cứu, độ tuổi trung bình của nhóm vợ là 32,5 ± 4,8 tuổi Trong đó, nhóm tuổi 25-29 có tỷ lệ điều trị hiếm muộn cao nhất, chiếm 34,55% Tiếp theo là nhóm 30-34 tuổi với 33,64%, nhóm tuổi 35-39 chiếm 12,27%, và trên 40 tuổi là 10,8% Ngoài ra, còn có 3,64% trường hợp trong độ tuổi từ 20-24, cho thấy độ tuổi là yếu tố quan trọng trong việc điều trị hiếm muộn.

Trong nghiên cứu, độ tuổi trung bình của nhóm chồng là 35,42 ± 5,83, với tuổi thấp nhất là 26 và cao nhất là 53, trong đó nhóm tuổi từ 30-34 chiếm tỷ lệ cao nhất là 32,73% và nhóm từ 25-29 có tỷ lệ thấp nhất là 17,27% Theo nghiên cứu của Trương Thị Linh Giang, độ tuổi trung bình của nhóm vợ là 32,69 ± 5,2, với tuổi nhỏ nhất là 24 và lớn nhất là 47, và nhóm tuổi từ 25-30 chiếm tỷ lệ cao nhất là 36,46%, trong khi nhóm từ 20-24 chỉ chiếm 1,04% Độ tuổi trung bình của chồng trong nhóm này là 36,31 ± 6,35, với tuổi nhỏ nhất là 27 và lớn nhất là 64, trong đó nhóm tuổi từ 31 trở lên có tỷ lệ cao hơn.

35 và 36- 40, chiếm tỉ lệ bằng nhau là 30,21% Nhóm tuổi chồng điều trị vô sinh thấp nhất là 25- 30 tuổi, chiếm 17,71%

Trong nghiên cứu này, thời gian vô sinh ngắn nhất là 1 năm và dài nhất là 13 năm Phần lớn các cặp vợ chồng sống chung trong vòng một năm không sử dụng biện pháp tránh thai và đã chủ động đến khám hiếm muộn- vô sinh khi nhận thức rõ về tình trạng của mình, đặc biệt là những trường hợp khám sớm trong vòng 6 năm, chiếm tỷ lệ cao hơn so với những người khám sau hơn 6 năm Tuy nhiên, vẫn còn 3,64% khách hàng có thời gian vô sinh trên 10 năm, cho thấy cần đẩy mạnh tuyên truyền và triển khai các phương pháp điều trị hỗ trợ sinh sản để bảo vệ sức khỏe, duy trì nòi giống của gia đình và xã hội Các nghiên cứu khác như của Quách Hoàng Bảy, Trương Thị Linh Giang và Đặng Thị Ngọc đều thống nhất rằng thời gian vô sinh trung bình dao động từ 3,5 đến hơn 4 năm, với các tỷ lệ nhóm thời gian vô sinh khác nhau, trong đó nhóm từ 1-2 năm chiếm phần lớn, còn nhóm trên 10 năm tỷ lệ khá cao, điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc khám sớm và chủ động điều trị vô sinh.

4 năm chiếm 77,4%, thời gian vô sinh trung bình là 3,7 ± 2,9 Kết quả nghiên cứu của các tác giả trên phù hợp với kết quả của chúng tôi

Ngoài yếu tố tuổi tác, các yếu tố khác ảnh hưởng đến khả năng thụ thai bao gồm các yếu tố viêm nhiễm, tình trạng nạo phá thai và nạo buồng tử cung sau sẩy hoặc sinh nở Ngoài ra, việc áp dụng các phương pháp tránh thai, tần suất quan hệ vợ chồng cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình thụ thai.

Trong số 17 khách hàng có tiền sử viêm nhiễm sinh dục, chiếm 15,45%, có 3 trường hợp tổn thương vòi tử cung, tuy nhiên số liệu này chỉ phản ánh viêm nhiễm sinh dục nói chung chưa được phân loại chính xác từng loại Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thảo cho thấy phụ nữ có tiền sử viêm sinh dục có nguy cơ vô sinh do vòi tử cung cao gấp hơn 2 lần so với phụ nữ không có tiền sử, đặc biệt phụ nữ nhiễm Chlamydia có nguy cơ này cao gấp 8 lần Thời gian viêm nhiễm kéo dài, số đợt cấp tính nhiều và điều trị không triệt để làm tăng nguy cơ vô sinh liên quan đến vòi tử cung Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu của nhiều tác giả về mối liên hệ giữa viêm nhiễm sinh dục và vô sinh do nguyên nhân từ vòi tử cung.

4.1.7 Tiền sử nạo buồng tử cung Đối với các trường hợp có tiền sử nạo buồng tử cung do các nguyên nhân khác nhau như nạo sau đẻ, sau sẩy thai, sau phá thai (điều hòa kinh nguyệt) v.v…Theo bảng 3.7 cho thấy tổng số 25/110 trường hợp có 19 trường nạo buồng tử cung do sẩy thai, thai lưu chiếm tỉ lệ 17,27% và có 6 trường hợp nạo hút buồng tử cung do phá thai, chiếm tỉ lệ 5,45% Nghiên cứu của Văn Thị Kim Huệ (2001) tiền sử sẩy thai, nạo buồng tử cung có tỉ lệ 74,19% [11] Như vậy nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn nhiều so với của Văn Thị Kim Huệ, điều này để giải thích được đòi hỏi chúng tôi phải nghiên cứu thêm Tham khảo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thảo, phụ nữ có tiền sử nạo phá thai có nguy cơ vô sinh do vòi tử cung cao gấp 2,2 lần so với những người không có tiền sử nạo phá thai Phụ nữ có tiền sử nạo phá thai không có tai biến có nguy cơ vô sinh do vòi tử cung cao gấp gần 6 lần so với phụ nữ không có tiền sử nạo phá thai; Phụ nữ có tiền sử nạo phá thai có tai biến có nguy cơ vô sinh do vòi tử cung tăng gấp hơn 28 lần so với phụ nữ không có tiền sử nạo phá thai ở cùng nơi cư ngụ Phụ nữ có tiền sử nạo phá thai bằng phương pháp hút thai làm giảm nguy cơ vô sinh do vòi tử cung xuống 0,4 lần so với nạo phá thai bằng phương pháp khác và có dùng kháng sinh sau nạo phá thai sẽ làm giảm nguy cơ vô sinh do vòi tử cung xuống 0,2 lần so với phụ nữ có tiền sử nạo phá thai nhưng không dùng kháng sinh sau nạo phá thai có cùng nơi cư ngụ Việc theo dõi tai biến sau nạo phá thai và dùng kháng sinh sau nạo phá thai có liên quan chặt chẽ đến vấn đề tư vấn và theo dõi sau nạo phá thai Những vấn đề này sẽ dẫn đến hậu quả là nhiễm khuẩn đường sinh dục sau nạo phá thai, mấu chốt trong mối liên quan giữa tiền sử nạo phá thai và nguy cơ vô sinh do nguyên nhân vòi tử cung Phụ nữ được cung cấp dịch vụ nạo phá thai an toàn, không có tai biến, được tư vấn kỹ để dùng kháng sinh sau nạo phá thai sẽ làm giảm được nguy cơ vô sinh do vòi tử cung rất nhiều

4.1.8 Tiền sử áp dụng các biện pháp ngừa thai

Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi, có 28 trường hợp sử dụng các biện pháp tránh thai, chiếm tỷ lệ 25,55%; trong đó, đặt dụng cụ tử cung chiếm 14,29%, dùng thuốc tránh thai viên kết hợp chiếm 32,14%, sử dụng bao cao su chiếm 25,0%, và biện pháp giao hợp gián đoạn tránh ngày rụng noãn chiếm 28,57% Nghiên cứu của Văn Thị Kim Huệ ghi nhận tỷ lệ phụ nữ có tiền sử áp dụng biện pháp tránh thai là 11,36%, chủ yếu qua dụng cụ tử cung và thuốc ngừa thai, phù hợp với kết quả của chúng tôi Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thảo, phụ nữ có tiền sử đặt dụng cụ tử cung từ hai lần trở lên có nguy cơ vô sinh cao gấp 2,2 lần so với những người không đặt dụng cụ, nhưng phân tích hồi quy cho thấy không có mối liên hệ chặt chẽ giữa số lần đặt dụng cụ tử cung và vô sinh do nguyên nhân vòi tử cung Các nhà nghiên cứu như Grimes và cộng sự cũng xác nhận rằng dụng cụ tử cung không làm tăng nguy cơ vô sinh do vòi tử cung, trong khi các bệnh nhiễm khuẩn như lậu, Chlamydia, không được điều trị, mới là yếu tố làm tăng tỷ lệ vô sinh, bất kể có hay không đặt dụng cụ tử cung.

4.1.9 Chỉ số khối cơ thể của các cặp vợ chồng nghiên cứu

Chỉ số khối cơ thể là yếu tố quan trọng trong chẩn đoán nguyên nhân vô sinh do vợ, đặc biệt liên quan đến hội chứng buồng trứng đa nang, khi chỉ số này càng lớn thì nguy cơ mắc hội chứng càng cao Chúng tôi ghi nhận 16,36% phụ nữ có chỉ số khối trên 23 kg/m², trong khi tỷ lệ này ở nam giới là 48,18%, cho thấy tỷ lệ béo phì ở nữ không cao nhưng vẫn ảnh hưởng đến khả năng sinh sản Tỷ lệ cao hơn nhiều so với nữ giới cho thấy người chồng cần điều chỉnh chỉ số khối để giảm nguy cơ vô sinh Việc nâng cao nhận thức về kiểm soát cân nặng ở cả nam và nữ là yếu tố quan trọng giúp giảm thiểu các nguyên nhân vô sinh liên quan đến chỉ số khối cơ thể.

Tần suất giao hợp đóng vai trò quan trọng trong khả năng thụ thai, với nghiên cứu chỉ ra rằng các cặp vợ chồng có tần suất 3-4 lần/tuần chiếm tỷ lệ cao nhất (87,16%), trong khi tần suất 1-2 lần/tuần tăng lên 9,17% Tuy nhiên, các số liệu này chưa phản ánh đầy đủ chính xác và cần xem xét kỹ lưỡng để đưa ra nhận định về mối liên hệ Theo nghiên cứu của Quách Hoàng Bảy, tỷ lệ giao hợp dưới 10 lần/tháng là 54,54%, còn trên 10 lần/tháng là 45,45% Y văn cho biết tần suất giao hợp tối ưu để tăng khả năng thụ thai là 2-3 lần/tuần, đặc biệt là trong khoảng thời gian 3 ngày trước và một ngày sau rụng trứng, trong khi giao hợp mỗi ngày có thể làm giảm số lượng và chất lượng tinh trùng Do đó, tần suất giao hợp 2-3 lần mỗi tuần được xem là tối ưu để tăng khả năng thụ thai so với tần suất cao hơn hoặc thấp hơn.

Các nguyên nhân gây vô sinh ở các cặp vợ chồng

Trong nghiên cứu của chúng tôi (bảng 3.11), ghi nhận 110 cặp vô sinh, trong đó tỷ lệ vô sinh nguyên phát chiếm 70,91%, cao hơn so với vô sinh thứ phát là 29,09%, cho thấy nhiều người gặp khó khăn trong việc có thai tự nhiên ngay sau khi lập gia đình mà không sử dụng biện pháp tránh thai Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước như của Quách Hoàng Bảy (2010) với tỷ lệ vô sinh nguyên phát 66,36% và thứ phát 33,64%, Trương Thị Linh Giang (2006) với 73,96% vô sinh nguyên phát và 26,04% thứ phát, Đặng Thị Ngọc (2004) với 66% nguyên phát và 34% thứ phát, cùng Nguyễn Châu Mai Phương (2005) với tỷ lệ nguyên phát 69,7% và thứ phát 30,3% — đều cho thấy tỷ lệ vô sinh nguyên phát cao tại các nghiên cứu liên quan.

Bảng 4.1 Tỉ lệ vô sinh nguyên phát và thứ phát của các tác giả

Các nghiên cứu VSNP VSTP

Quách Hoàng Bảy, 2010 [5] 73 66,36% 37 33,64% Trương Thị Linh Giang, 2006 [7] 71 73,96% 25 26,04% Đặng Thị Ngọc, 2004 [21] 66% 34%

Như vậy, nguyên nhân vô sinh nguyên phát chiếm tỉ lệ cao hơn nhiều so với nguyên nhân vô sinh thứ phát

4.2.2 Tỷ lệ các nguyên nhân vô sinh

Phân tích kết quả từ bảng 3.12 cho thấy nguyên nhân vô sinh do vợ chiếm tỷ lệ 8,18%, do chồng chiếm 42,73%, do cả hai vợ chồng chiếm 48,18%, trong khi tỷ lệ vô sinh không rõ nguyên nhân chỉ là 0,91%, thấp hơn so với các nghiên cứu của các tác giả khác Theo nghiên cứu của Quách Hoàng Bảy, nguyên nhân do vợ chiếm 38,64%, do chồng chiếm 40%, do cả hai chiếm 2,73%, và không rõ nguyên nhân là 18,63% Trong khi đó, nghiên cứu của Văn Thị Kim Huệ ghi nhận nguyên nhân do vợ chiếm 51,81%, do chồng 30%, do cả hai 16,36%, và tỷ lệ không rõ nguyên nhân là 1,81% Điều đáng chú ý là tỷ lệ vô sinh không rõ nguyên nhân trong nghiên cứu của chúng tôi có sự chênh lệch lớn so với các tác giả khác, nguyên nhân chính do nhiều bệnh nhân không đồng ý thực hiện các xét nghiệm chuyên sâu để xác định nguyên nhân, đây là hạn chế trong quá trình nghiên cứu.

4.2.3 Tỷ lệ nguyên nhân vô sinh do vợ Ở các người vợ vô sinh, nguyên nhân do rối loạn phóng noãn gồm 37 trường hợp chiếm 58,73%, cao nhất trong các nguyên nhân gây vô sinh Nguyên nhân do bệnh lý buồng trứng đa nang 10 trường hợp chiếm 15,87% Đối với nguyên nhân tắc vòi tử cung, trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi có

Nghiên cứu của Trương Thị Linh Giang cho thấy tỷ lệ các trường hợp bất thường về sinh sản như sau: chiếm 4,76% gồm có 3 trường hợp, trong đó có 1 trường hợp dính buồng tử cung và 1 trường hợp lạc nội mạc tử cung, đều chiếm tỷ lệ 1,59%, còn lại 11 trường hợp không rõ nguyên nhân, chiếm 17,46% Ngoài ra, trong các nguyên nhân gây rối loạn chức năng sinh sản, có 18 trường hợp rối loạn phóng noãn, 16 trường hợp buồng trứng đa nang, 19 trường hợp lạc nội mạc tử cung, 20 trường hợp vô sinh không rõ nguyên nhân và 13 trường hợp tắc vòi tử cung, phản ánh mức độ đa dạng của các yếu tố gây vô sinh nữ giới.[7]

Rối loạn phóng noãn, hay còn gọi là sự không phóng noãn hoặc phóng noãn không đều, là nguyên nhân phổ biến gây vô sinh nữ, đặc biệt trong các trường hợp vô sinh nguyên phát Theo các nghiên cứu, tỷ lệ rối loạn phóng noãn chiếm đến 77,78%, với biểu hiện lâm sàng thường gặp nhất là kinh thưa, kinh ít hoặc vô kinh; trong đó kinh thưa chiếm 42,73% Các số liệu từ các tác giả khác cũng cho thấy tỷ lệ không phóng noãn dao động khoảng 20-25%, như nghiên cứu của J.C Ponjola (20%), W Buckett (24%) và Cao Ngọc Thành (19,8%) Tại Thành phố Hồ Chí Minh, Vương Thị Ngọc Lan ghi nhận khoảng 20-25% các cặp vợ chồng vô sinh có bất thường về phóng noãn Kết quả của chúng tôi cho thấy tỷ lệ nguyên nhân rối loạn phóng noãn cao hơn các nghiên cứu khác, điều này có thể do phương pháp nghiên cứu dựa trên xét nghiệm cận lâm sàng và lời khai về tiền sử kinh nguyệt của khách hàng.

Tắc nghẽn vòi trứng là nguyên nhân phổ biến gây vô sinh ở phụ nữ, chiếm tỷ lệ cao trong các vấn đề về khả năng sinh sản Viêm nhiễm cơ quan sinh dục, đặc biệt là viêm phần phụ do các tác nhân khác nhau, là một trong những yếu tố quan trọng dẫn đến tắc nghẽn vòi trứng Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng, các viêm nhiễm này góp phần đáng kể vào việc làm hỏng và tắc nghẽn vòi trứng, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thụ thai của phụ nữ Điều trị hiệu quả các vấn đề viêm nhiễm này là yếu tố then chốt trong phòng ngừa và giảm thiểu tỷ lệ vô sinh liên quan đến tắc nghẽn vòi trứng.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ chiếm 3 trường hợp là 4,76%, thấp hơn so với các nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Phượng (40%) và Trương Thị Linh Giang (13,54%) Ngoài ra, tỷ lệ các nguyên nhân do tắc nghẽn vòi trứng thấp hơn 12,73% so với các tác giả khác Điều này có thể giải thích do đa số khách hàng trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi sống ở thành thị, có trình độ học vấn cao, làm việc trong lĩnh vực hành chính, nên có nhận thức tốt về vệ sinh cá nhân và phòng tránh nhiễm khuẩn, đặc biệt là các bệnh lây qua đường tình dục Bên cạnh đó, điều kiện cơ sở vật chất, dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, cũng như các hoạt động tuyên truyền, tư vấn và thực hiện nạo phá thai an toàn đóng vai trò quan trọng trong giảm tỷ lệ các nguyên nhân này.

Nguyên nhân dính buồng tử cung chiếm tỷ lệ rất thấp, chủ yếu được chẩn đoán dựa trên tiền sử kinh nguyệt, triệu chứng lâm sàng và khảo sát qua siêu âm tử cung Trường hợp này tương tự như nguyên nhân tắc nghẽn vòi trứng, tuy nhiên, do phương pháp nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào các yếu tố lâm sàng và hình ảnh siêu âm, tỷ lệ mắc phải dính buồng tử cung còn hạn chế.

Hội chứng buồng trứng đa nang là tình trạng gây rối loạn chu kỳ kinh không có phóng noãn, được chẩn đoán dựa trên siêu âm với hơn 10 nang noãn không phóng noãn hoặc qua phẫu thuật nội soi thấy hình ảnh buồng trứng đa nang Đây là bệnh lý phổ biến ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của phụ nữ và cần được phát hiện sớm để điều trị hiệu quả Các phương pháp chẩn đoán hiện nay bao gồm siêu âm và nội soi để xác định sự hiện diện của các nang noãn bất thường trên buồng trứng.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi không phân nhóm nguyên nhân lạc nội mạc tử cung do số lượng trường hợp phát hiện quá thấp và không đạt ý nghĩa thống kê Tuy nhiên, tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với thực tế và không phản ánh accurately tần suất cũng như vai trò của lạc nội mạc tử cung đối với vô sinh Theo các tài liệu, tỷ lệ lạc nội mạc tử cung ở phụ nữ vô sinh dao động từ 4% đến 33%, cho thấy tầm quan trọng của vấn đề này trong cuộc sống sinh sản của phụ nữ.

4.2.4 Tỷ lệ nguyên nhân vô sinh do chồng

Nguyên nhân vô sinh – hiếm muộn ở nam giới ngoài các trường hợp bất thường về giải phẫu hoặc rối loạn chức năng tình dục còn chủ yếu do bất thường tinh dịch, được phát hiện qua xét nghiệm tinh dịch đồ – một yếu tố khách quan rất quan trọng trong đánh giá khả năng sinh sản của nam giới Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng trên 90% các trường hợp vô sinh do nam giới biểu hiện qua kết quả tinh dịch đồ, ngoại trừ các nguyên nhân chức năng Nguyên nhân vô sinh do nam giới chiếm khoảng 40%, tương đương với tỷ lệ vô sinh do nữ giới; cùng với đó là khoảng 10% trường hợp liên quan đến cả hai vợ chồng và 10% không rõ nguyên nhân Như vậy, nam giới chịu trách nhiệm ít nhất 50% các ca vô sinh – hiếm muộn.

Chẩn đoán vô sinh-hiếm muộn ở nam giới thường gặp khó khăn do nguyên nhân chủ yếu liên quan đến chất lượng tinh trùng, được xác định dựa trên kết quả của xét nghiệm tinh dịch đồ theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới Các chỉ số của tinh dịch đồ như số lượng tinh trùng, thể tích tinh dịch và mật độ tinh trùng có thể thay đổi theo thời gian và kỹ thuật phân tích, gây ảnh hưởng đến độ chính xác của kết quả Tuy nhiên, tinh dịch đồ vẫn là một xét nghiệm cận lâm sàng quan trọng, giúp xác định nguyên nhân vô sinh ở nam giới một cách chủ yếu.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, nguyên nhân vô sinh do chồng chiếm tỷ lệ cao, với 100 trên 110 trường hợp Trong đó, tinh trùng yếu là nguyên nhân phổ biến nhất, chiếm đến 86,0% Các nguyên nhân khác gồm nhóm tinh trùng ít, yếu, dị dạng nhẹ lần lượt chiếm 9,0%, 4,0%, và 1,0% Phân tích so sánh với các tác giả khác, nhóm nguyên nhân do tinh trùng yếu trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn nhiều so với các số liệu đã được báo cáo Theo Trương Thị Linh Giang, tỷ lệ các trường hợp vô sinh không rõ nguyên nhân là 20%, trong đó nhóm tinh trùng yếu chiếm 31,25%; tinh trùng ít, yếu, dị dạng nhẹ là 18,75%; nhóm tinh trùng dị dạng nhẹ là 10,42%, và nhóm tinh trùng yếu, dị dạng nhẹ thấp nhất với 9,38% Trong nghiên cứu của Quách Hoàng Bảy, nguyên nhân vô sinh do chồng chiếm 29 trường hợp, trong đó tinh trùng yếu chiếm 26,36%, tinh trùng ít là 11,82%, tinh trùng dị dạng nhẹ cũng 11,82%, còn nhóm tinh trùng ít, yếu, dị dạng chiếm tỷ lệ 19,09%.

Nghiên cứu này gặp hạn chế trong việc chưa xác định đầy đủ các nguyên nhân vô sinh- hiếm muộn ở nam giới, như chất lượng và số lượng tinh trùng, bất thường giải phẫu tinh hoàn, rối loạn cương dương, tắc nghẽn ống dẫn tinh hoặc không sinh tinh, cũng như các yếu tố thần kinh, sinh lý, nội tiết, môi trường sống và công việc ảnh hưởng đến quá trình sinh tinh Mặc dù vậy, kết quả của nghiên cứu cho thấy sự khác biệt nhẹ về tỷ lệ các trường hợp bất thường tinh trùng so với các nghiên cứu khác, với nguyên nhân phổ biến nhất là vấn đề về số lượng và chất lượng tinh trùng qua xét nghiệm tinh dịch đồ.

4.2.5 Tỷ lệ vô sinh nguyên phát

Trong các nguyên nhân vô sinh nguyên phát, chúng tôi thấy nổi bật lên

Hai nhóm nguyên nhân chính của vô sinh nữ là rối loạn phóng noãn, chiếm tỷ lệ 59,52%, và buồng trứng đa nang với 19,05% (Bảng 3.16), mặc dù sự khác biệt thống kê không ý nghĩa Đa số phụ nữ gặp rối loạn phóng noãn có biểu hiện kinh thưa, khoảng 3-4 tháng hoặc chỉ có kinh 1-2 lần mỗi năm Các bất thường về rụng trứng thường được chẩn đoán dựa trên lâm sàng, như theo dõi nhiệt độ, dịch nhầy cổ tử cung, và sự phát triển của nang noãn trên siêu âm Theo Văn Thị Kim Huệ, tỷ lệ nguyên nhân do rối loạn phóng noãn trong các nguyên nhân vô sinh nguyên phát là 18,18%, thấp hơn nhiều so với kết quả của nghiên cứu này Tuy nhiên, việc đánh giá khả năng rụng trứng hiện chủ yếu dựa trên đặc điểm lâm sàng, đó là hạn chế của nghiên cứu.

4.2.6 Tỷ lệ vô sinh thứ phát

Các yếu tố liên quan đến vô sinh

4.3.1 Các yếu tố liên quan đến vô sinh ở vợ

- Tiền sử viêm nhiễm sinh dục

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tiền sử viêm nhiễm vùng chậu và phụ khoa có mối liên hệ mật thiết với nguyên nhân vô sinh do viêm nhiễm sinh dục, trong đó tỷ lệ vô sinh chiếm 64,71% ở các bệnh nhân có tiền sử viêm nhiễm sinh dục Tuy nhiên, việc phân loại chính xác các loại viêm nhiễm chưa được thực hiện do bệnh nhân chỉ nhớ mang máng về tiền sử bệnh, không rõ loại viêm nhiễm đã từng mắc Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thảo, phụ nữ có tiền sử viêm sinh dục có nguy cơ vô sinh do vòi tử cung cao gấp hơn 2 lần so với các phụ nữ không có tiền sử viêm sinh dục, đặc biệt, những người từng nhiễm Chlamydia có nguy cơ vô sinh cao gấp 8 lần do tác động đến vòi tử cung.

Chlamydia Phụ nữ viêm sinh dục thời gian càng lâu, có số đợt nhiễm cấp tính càng nhiều thì nguy cơ vô sinh do vòi tử cung càng cao [34]

Kết quả này phù hợp với nhiều nghiên cứu cho thấy viêm nhiễm sinh dục và vô sinh do tắc vòi trứng liên quan chặt chẽ Nguy cơ vô sinh do vòi tử cung tăng theo số lần viêm nhiễm và thời gian kéo dài, đặc biệt là do viêm vùng tiểu khung và chậm trễ trong điều trị Các tác giả ước tính rằng nguy cơ tổn thương vòi tử cung là 12% sau một đợt viêm vùng chậu, tăng lên 50% sau ba hoặc nhiều hơn các đợt viêm Hậu quả của viêm Chlamydia không được khám, tầm soát và điều trị kịp thời rất nghiêm trọng, hiện nay các tổ chức y tế như WHO đã đặc biệt chú trọng tầm soát Chlamydia cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, nhất là phụ nữ trẻ Phụ nữ sống ở thành thị có nguy cơ vô sinh do tắc vòi trứng cao gấp 2,8 lần so với phụ nữ ở vùng nông thôn, đặt ra nhiều câu hỏi về mối liên hệ giữa yếu tố nguy cơ và vô sinh Các vi khuẩn gây bệnh lây qua đường tình dục như Chlamydia, giang mai và lậu thường gặp nhiều hơn ở phụ nữ thành thị, nơi có số bạn tình và độ tuổi quan hệ tình dục cao hơn, tạo điều kiện gia tăng tổn thương vùng chậu và vòi trứng.

Tiền sử nạo phá thai là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến nguy cơ vô sinh, đặc biệt khi liên quan đến các nguyên nhân khác nhau như nạo sau đẻ, sẩy thai hoặc phá thai điều hòa kinh nguyệt Nghiên cứu cho thấy, trong số 25 bệnh nhân từng nạo buồng tử cung, tỷ lệ nạo do sẩy thai và thai lưu chiếm khoảng 17,27%, trong khi nạo hút do phá thai chiếm 5,45%, với 66,67% trong số này gặp vô sinh Theo Nguyễn Thị Thảo, phụ nữ có tiền sử nạo phá thai có nguy cơ vô sinh do vòi tử cung cao hơn gấp 2,2 lần so với những người không có tiền sử này; đặc biệt, phụ nữ nạo phá thai không biến chứng có nguy cơ cao hơn 6 lần, còn những có biến chứng tăng gấp hơn 28 lần Phương pháp hút thai và việc sử dụng kháng sinh sau nạo phá thai giúp giảm đáng kể nguy cơ vô sinh do vòi tử cung, lần lượt giảm xuống còn 0,4 lần và 0,2 lần so với nhóm không dùng kháng sinh Việc theo dõi tai biến và tư vấn sử dụng kháng sinh sau nạo phá thai đóng vai trò then chốt trong phòng ngừa nhiễm khuẩn đường sinh dục và hạn chế nguy cơ vô sinh, nhấn mạnh tầm quan trọng của dịch vụ nạo phá thai an toàn và chăm sóc kỹ lưỡng sau thủ thuật để giảm thiểu các hậu quả nguy hiểm này.

4.3.2 Các yếu tố liên quan đến vô sinh ở chồng

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ vô sinh ở nam giới có uống rượu chiếm 87% với 87 trường hợp, trong khi nhóm không uống rượu chỉ chiếm 13% với 13 trường hợp (Bảng 3.25) Tuy nhiên, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ vô sinh giữa nhóm có uống rượu và nhóm không uống rượu Theo nghiên cứu của Pajarinen và cộng sự, trong số 50 người đàn ông uống rượu hàng ngày, có đến 48% gặp phải tình trạng ngưng trệ một phần quá trình sinh tinh, còn 10% ngưng trệ tuần hoàn Nghiên cứu của Goverde và cộng sự cho thấy, mặc dù không có sự khác biệt ý nghĩa về các thông số chất lượng tinh trùng giữa nhóm có uống rượu và nhóm không uống rượu, nhưng tỷ lệ tinh trùng dị dạng cao hơn đáng kể ở nhóm uống rượu Những kết quả này phù hợp với phát hiện của chúng tôi về tác động của rượu tới chất lượng tinh trùng và khả năng sinh sản của nam giới.

Hút thuốc có ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe tổng thể đã được khẳng định bởi nhiều nghiên cứu y học đa ngành Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, gần 3 triệu người trên toàn cầu tử vong hàng năm do các bệnh liên quan đến thuốc lá, như ung thư và bệnh tim mạch Nguy cơ sức khỏe ngày càng tăng đòi hỏi nhận thức rõ ràng về tác hại của thuốc lá để thúc đẩy các hoạt động phòng chống và giảm thiểu người hút thuốc.

Trong cuộc triển khai kế hoạch hành động phòng chống tác hại của thuốc lá giai đoạn 2002-2010 tại Hà Nội, Bộ Y tế đã cảnh báo về tình trạng hút thuốc lá hiện nay, với tỷ lệ lên tới 50% nam giới và 3,4% nữ giới Ước tính có khoảng 7,5 triệu người Việt Nam, chiếm 10% dân số, sẽ tử vong sớm do các bệnh liên quan đến thuốc lá, trong đó có 3,5 triệu người chết ở tuổi trung niên.

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ vô sinh ở nam giới hút thuốc là 41%, chiếm 41% trong tổng số bệnh nhân, trong khi nhóm không vô sinh có tỷ lệ hút thuốc là 59% So sánh giữa hai nhóm này cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Theo nghiên cứu của Lê Minh Tâm, tỷ lệ hút thuốc lá chiếm 62,5%, cao hơn nhiều so với nhóm không hút thuốc (37,5%) Tại Bệnh viện Từ Dũ, có sự liên hệ rõ ràng giữa hút thuốc lá và các bất thường về mật độ, độ di động, hình dạng cũng như tỷ lệ sống của tinh trùng Ngoài ra, nghiên cứu của Wong và cộng sự phát hiện tỷ lệ hút thuốc cao hơn ở nhóm vô sinh so với nhóm sinh sản bình thường, với tỷ suất chênh là 1,7 (95% CI), và có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa nồng độ nicotin trong tinh dịch và các bất thường hình thái tinh trùng.

- Tiền sử mắc bệnh quai bị từ chồng

Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi, 88,89% các trường hợp mắc quai bị trong nhóm vô sinh, trong khi chỉ 11,11% trong nhóm không vô sinh, tuy nhiên sự liên quan này không có ý nghĩa thống kê Tỷ lệ tiền sử mắc quai bị ở chồng là 8,18%, phù hợp với kết quả của Lê Minh Tâm với tỷ lệ 13,9% Theo báo cáo của Kausas năm 2002 tại Lithuania, đa số bệnh nhân trong độ tuổi 15-20 mắc quai bị, trong đó tỷ lệ biến chứng viêm tinh hoàn lên đến 59,72% ở nam giới Viêm tinh hoàn là một trong những biến chứng thường gặp của quai bị, đặc biệt là ở tuổi dậy thì, khi bệnh có khả năng gây vô sinh ở nam giới với tỷ lệ 20-30% sau căn bệnh này Biến chứng teo tinh hoàn chiếm tỷ lệ 30-40%, tuy nhiên, ở các nước phát triển, đây ít khi là nguyên nhân gây vô sinh Bệnh quai bị ảnh hưởng đáng kể đến chức năng sinh sản, đặc biệt khi bệnh xảy ra sau tuổi dậy thì kèm theo viêm tinh hoàn, dẫn đến khả năng hồi phục sinh tinh sau khoảng 2 năm hoặc tình trạng vô sinh.

Quai bị là một bệnh truyền nhiễm phổ biến, có thể dẫn đến nhiều biến chứng nghiêm trọng như viêm não, viêm tụy, và viêm cơ tim Trong đó, viêm tinh hoàn là biến chứng đáng chú ý vì ảnh hưởng lâu dài đến khả năng sinh sản của nam giới Việc tuyên truyền ý thức phòng ngừa lây nhiễm cho cộng đồng là vô cùng cần thiết, đặc biệt là đối với nam giới trưởng thành, tránh tiếp xúc với trẻ mắc bệnh Đồng thời, đảm bảo công tác khám chữa bệnh kịp thời và hạn chế tối đa các biến chứng liên quan đến quai bị để bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Nhu cầu và khả năng điều trị vô sinh của các cặp vợ chồng

Qua phỏng vấn, chúng tôi nhận thấy nhu cầu điều trị vô sinh của khách hàng là rất cao, với 100% các cặp vợ chồng đến khám và được chỉ định điều trị sau khi thăm khám lâm sàng và thực hiện các xét nghiệm cần thiết Kết quả này phản ánh rõ ràng sự cấp thiết của việc điều trị vô sinh tại bệnh viện, mặc dù chúng tôi chưa có dữ liệu toàn diện từ cộng đồng để đánh giá chính xác hơn vấn đề này.

4.4.2.1 Khả năng điều trị về chuyên môn

- Khả năng điều trị thành công ở các cặp vợ chồng vô sinh

+ Tuổi người vợ và tỉ lệ có thai

Khả năng có thai cao nhất ở nhóm tuổi từ 25 đến 35 tuổi theo bảng 3.29, trong khi tuổi của người vợ là yếu tố dự đoán thành công của điều trị, với khả năng có thai giảm dần theo tuổi tác Phụ nữ lớn tuổi, đặc biệt trên 40 tuổi, có cơ hội có thai rất thấp, làm giảm hiệu quả của các phương pháp hỗ trợ sinh sản Theo y văn, khả năng thụ thai giảm rõ rệt khi phụ nữ trên 35 tuổi, do đó điều trị hiếm muộn ở nhóm tuổi này thường sẽ được chỉ định là thụ tinh trong ống nghiệm Nghiên cứu của Trương Thị Linh Giang cho thấy, độ tuổi từ 20 đã bắt đầu có ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng thả, xác định tầm quan trọng của việc điều trị sớm để nâng cao khả năng thành công.

Dưới đây là những khả năng có thai cao nhất dựa trên các nghiên cứu gần đây Kết quả của Quách Hoàng Bảy [5] cho thấy, những yếu tố này có liên quan đến tỷ lệ thụ thai thành công, tương tự như kết quả của chúng tôi Ngoài ra, nghiên cứu của Hồ Mạnh Tường cũng xác nhận những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong quá trình mang thai.

Tuổi của khách hàng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tỷ lệ thành công của các phương pháp hỗ trợ sinh sản Kết quả nghiên cứu của Đặng Thị Ngọc cho thấy rằng, mức độ thành công của điều trị giảm rõ rệt theo tuổi của người mẹ, đặc biệt khi tuổi cao hơn Do đó, việc lựa chọn thời điểm phù hợp để can thiệp y học là yếu tố quyết định trong thành công của quá trình hỗ trợ sinh sản.

Khách hàng lớn tuổi có tỷ lệ mang thai thấp hơn và nguy cơ sẩy thai cao hơn, đặc biệt là những phụ nữ trên 40 tuổi còn rất ít thời gian điều trị vô sinh trước khi bước vào giai đoạn tiền mãn kinh Cụ thể, tỷ lệ có thai ở phụ nữ dưới 30 tuổi là 37,5%, trong khi ở phụ nữ trên 30 tuổi chỉ còn 13% Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc khám và điều trị vô sinh sớm để tăng khả năng thành công.

+ Thời gian vô sinh và tỉ lệ có thai

Kết quả khảo sát cho thấy 76,36% phụ nữ có thời gian vô sinh dưới 5 năm và tỷ lệ có thai sau điều trị đạt 11,9%, cho thấy khả năng điều trị thành công cao trong nhóm này Theo y văn, thời gian hiếm muộn dưới 5 năm là yếu tố quan trọng để dự đoán khả năng mang thai tự nhiên của các cặp vợ chồng hiếm muộn, vì đây phản ánh khả năng thụ thai tự nhiên trong vòng 12 tháng mà không sử dụng biện pháp tránh thai Thời gian vô sinh càng kéo dài, khả năng có thai mỗi tháng sẽ càng giảm đi; nghiên cứu của Quách Hoàng Bảy chỉ ra rằng tỷ lệ có thai là 24,05% ở nhóm vô sinh dưới 5 năm, trong khi chỉ còn 16,13% ở nhóm trên 5 năm Điều này cho thấy, thời gian vô sinh ngắn hơn liên quan đến khả năng thành công điều trị và tự nhiên cao hơn.

Nghiên cứu cho thấy, trong nhóm vô sinh dưới 5 năm, tỷ lệ có thai đạt 21,64%, trong khi nhóm vô sinh trên 5 năm chỉ đạt 14,81% Đặng Thị Ngọc [21] cũng nhận thấy phần lớn các trường hợp vô sinh kéo dài từ 1-4 năm, chiếm 77,4%, phù hợp với kết quả của chúng tôi Thời gian vô sinh càng kéo dài, khả năng điều trị bằng IUI càng giảm, cao nhất khi vô sinh dưới 2 năm và giảm rõ rệt sau 6 năm chung sống không có con.

4.4.2.2 Khả năng về kinh tế

Theo bảng 3.33, phần lớn các cặp vợ chồng khám và điều trị vô sinh lần đầu chiếm 81,82% với 90 trường hợp, trong khi những người đã từng điều trị trước đó chiếm 18,18% với 20 trường hợp Trong số những người đã điều trị trước, 30% đã trải qua 1 chu kỳ, 15% qua 2 chu kỳ, 20% qua 3 chu kỳ, 15% qua 4 chu kỳ, và 20% qua 5 chu kỳ điều trị Mỗi chu kỳ điều trị chủ yếu sử dụng thuốc kích thích phóng noãn kết hợp bơm tinh trùng vào buồng tử cung, và nếu thất bại, sẽ chuẩn bị cho chu kỳ tiếp theo với tối đa 6 chu kỳ trước khi chuyển sang phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy 65% các cặp vợ chồng đã điều trị từ 3 chu kỳ trở lên, điều này phản ánh khả năng kinh tế của họ đáp ứng được điều trị vô sinh cũng như sự rõ ràng hơn về nguyên nhân vô sinh sau quá trình điều trị.

Bảng 3.34 cho thấy phần lớn các cặp vợ chồng đến khám và điều trị vô sinh đều thuộc diện khá giàu, chiếm khoảng 80%, cho thấy khả năng tài chính để hỗ trợ điều trị vô sinh là có Tuy nhiên, chi phí điều trị vô sinh vẫn là một vấn đề đáng lưu ý, đặc biệt tại các khu vực có mức thu nhập thấp như đồng bằng sông Cửu Long Theo Nghị quyết số 08, 09/2014/NQ-HĐND ngày 11 tháng 7 năm, việc hỗ trợ về tài chính cho các cặp đôi gặp khó khăn trong điều trị vô sinh cần được quan tâm đúng mức để đảm bảo quyền tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng.

Năm 2014, Hội đồng nhân dân thành phố Cần Thơ đã duyệt bảng giá danh mục kỹ thuật điều trị vô sinh tại Bệnh viện đa khoa thành phố, giúp người dân miền Tây tiếp cận dịch vụ với mức giá phù hợp và giảm chi phí đi lại cũng như thời gian điều trị so với việc phải đến các trung tâm tại TP Hồ Chí Minh So với chi phí điều trị vô sinh trên thế giới, chi phí ở Việt Nam thấp hơn nhiều, tạo điều kiện thuận lợi cho các cặp đôi Thống kê từ Hội Nội tiết sinh sản và vô sinh TP Hồ Chí Minh cho thấy mỗi năm các trung tâm như Bệnh viện An Sinh, Vạn Hạnh và Từ Dũ tiếp nhận khoảng 200 trường hợp người nước ngoài đến điều trị thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON), dự kiến con số này sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới Hiện nay, Việt Nam có 15 trung tâm TTTON với hơn 10.000 trẻ sơ sinh ra đời, góp phần đưa quốc gia trở thành một trong những nước thực hiện kỹ thuật TTTON nhiều nhất thế giới, với tỷ lệ thành công trên 40% Theo GS.BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng, chi phí thụ tinh trong ống nghiệm tại Việt Nam chỉ bằng 1/4 hoặc 1/3 so với các nước trong khu vực Đông Nam Á và còn thấp hơn khoảng 6 đến 8 lần so với nhiều quốc gia phát triển, giúp nâng cao khả năng sinh con cho các cặp đôi infertile.

Mỹ nhưng giá cả không phải là yếu tố thu hút đối với các bệnh nhân Sản phẩm của Thụ tinh trong ống nghiệm là con người, vì vậy bệnh nhân nước ngoài cần có niềm tin vững chắc khi quyết định điều trị tại Việt Nam Họ hiểu rằng kết quả điều trị không chỉ ảnh hưởng đến bản thân mà còn liên quan đến sức khỏe của em bé sau này, đòi hỏi sự yên tâm và tin tưởng cao nhất.

Chi phí điều trị vô sinh là vấn đề đáng chú ý vì phần lớn các phương pháp hỗ trợ sinh sản không được bảo hiểm y tế chi trả, khiến khách hàng phải tự chi trả toàn bộ và đối mặt với áp lực tài chính lâu dài Chi phí điều trị phụ thuộc vào nguyên nhân gây vô sinh, vì các nguyên nhân khác nhau sẽ phát sinh các khoản chi phí khác nhau sau quá trình kiểm tra chẩn đoán Việc lựa chọn phương pháp điều trị dựa trên kết quả kiểm tra, tình trạng bệnh và thể chất của khách hàng, với chi phí có thể từ vài trăm triệu đến hàng chục triệu, hoặc trong những trường hợp nghiêm trọng, có thể không có phương pháp điều trị phù hợp do đặc thù bệnh lý, chứ không chỉ do vấn đề tài chính.

Vô sinh ngày càng có xu hướng gia tăng, khiến việc khám và phát hiện vô sinh trở thành nhiệm vụ quan trọng của ngành y tế Các nguyên nhân và yếu tố ảnh hưởng đến quá trình điều trị vô sinh đã được ghi nhận, giúp đánh giá năng lực của khách hàng và Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ Thông tin này mang tính chất quyết định, giúp các khách hàng và trung tâm y tế lựa chọn phương pháp khám và điều trị vô sinh hiệu quả cao, chi phí hợp lý.

Ngày đăng: 22/08/2023, 13:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Y Tế; Phạm Văn Lình và Cao Ngọc Thành chủ biên (2007), “Vô sinh”. Sản phụ khoa: Sách dùng đào tạo Bác sĩ đa khoa. Nhà xuất bản Y Học. Hà Nội, tr.642 – 651 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vô sinh”
Tác giả: Bộ Y Tế; Phạm Văn Lình và Cao Ngọc Thành chủ biên
Nhà XB: Nhà xuất bản Y Học. Hà Nội
Năm: 2007
2. Bộ môn Phụ sản Trường Đại học Y Hà Nội (2004), “Vô sinh”, Phụ khoa dành cho thầy thuốc thực hành, Nhà xuất bản Y học Hà Nội, tr.389 – 404 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vô sinh”, Phụ khoa dành cho thầy thuốc thực hành
Tác giả: Bộ môn Phụ sản Trường Đại học Y Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học Hà Nội
Năm: 2004
4. Bộ môn Phụ Sản, Trường Đại học Y Hà Nội, “Các phương pháp hỗ trợ sinh sản”, Bài Giảng Sản phụ khoa, tập II, tr.270-282 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp hỗ trợ sinh sản
5. Quách Hoàng Bảy (2010), “ Nghiên cứu nguyên nhân và kết quả điều trị vô sinh – hiếm muộn bằng phương pháp bơm tinh trùng sau khi lọc rửa vào buồng tử cung”. Luận án chuyên khoa cấp II, Trường Đại học y dược Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Nghiên cứu nguyên nhân và kết quả điều trị vô sinh – hiếm muộn bằng phương pháp bơm tinh trùng sau khi lọc rửa vào buồng tử cung”
Tác giả: Quách Hoàng Bảy
Năm: 2010
6. Phan Trường Duyệt (2003), “Siêu âm theo dõi sự phát triển của nang noãn và chẩn đoán phóng noãn”, Kỹ thuật siêu âm và ứng dụng trong Sản phụ khoa, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, tr.38-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Siêu âm theo dõi sự phát triển của nang noãn và chẩn đoán phóng noãn”, "Kỹ thuật siêu âm và ứng dụng trong Sản phụ khoa
Tác giả: Phan Trường Duyệt
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật
Năm: 2003
7. Trương Thị Linh Giang (2006), “ Đánh giá kết quả điều trị vô sinh bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo – bơm tinh trùng đã chuẩn bị vào buồng tử cung tại Bệnh viện Trường Đại học y dược Huế”. Luận văn Thạc sĩ y học, Trường Đại học y dược Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Đánh giá kết quả điều trị vô sinh bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo – bơm tinh trùng đã chuẩn bị vào buồng tử cung tại Bệnh viện Trường Đại học y dược Huế”
Tác giả: Trương Thị Linh Giang
Năm: 2006
8. Cao Ngọc Thành, Phạm Chí Kông, (1999), “Chẩn đoán vô sinh nam” Nam học và vô sinh nam, Nhà xuất bản Đại học Huế, tr.220-247 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chẩn đoán vô sinh nam"” "Nam học và vô sinh nam
Tác giả: Cao Ngọc Thành, Phạm Chí Kông
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Huế
Năm: 1999
9. Võ Thị Thiên Hương (1997), “ Bệnh quai bị”, Bệnh truyền nhiễm, Nhà xuất bản Y học, 277 – 287 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh quai bị"”, "Bệnh truyền nhiễm
Tác giả: Võ Thị Thiên Hương
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1997
10. Nguyễn Thị Xiêm, Lê Thị Phương Lan (2002), “Vô sinh do vòi tử cung”, Vô sinh, Nhà xuất bản Y học, tr 131-149 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vô sinh do vòi tử cung"”, "Vô sinh
Tác giả: Nguyễn Thị Xiêm, Lê Thị Phương Lan
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2002
11. Văn Thị Kim Huệ (2001), Tìm hiểu một số nguyên nhân và yếu tố ảnh hưởng đến vô sinh tại khoa Phụ sản Bệnh viện Trung ương Huế, Luận văn Thạc sĩ Y học, Trường Đại học Y khoa Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu một số nguyên nhân và yếu tố ảnh hưởng đến vô sinh tại khoa Phụ sản Bệnh viện Trung ương Huế
Tác giả: Văn Thị Kim Huệ
Năm: 2001
12. Ngô Hạnh Trà, Nguyễn Châu Mai Phương (2002), “ Tỉ lệ thành công của bơm tinh trùng vào buồng tử cung và một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị”, Vô sinh các vấn đề mới, Nhà xuất bản Y học, tr 65- 69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỉ lệ thành công của bơm tinh trùng vào buồng tử cung và một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị"”, "Vô sinh các vấn đề mới
Tác giả: Ngô Hạnh Trà, Nguyễn Châu Mai Phương
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2002
13. Vương Thị Ngọc Lan (1999), “Sự phát triển nang noãn, sự trưởng thành của noãn và sự rụng trứng”, Hiếm muộn – vô sinh và kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Bệnh viện phụ sản Từ Dũ, tr.151-160 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển nang noãn, sự trưởng thành của noãn và sự rụng trứng”, Hiếm muộn – vô sinh và kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Tác giả: Vương Thị Ngọc Lan
Năm: 1999
14. Vương Thị Ngọc Lan (1999), “ Không rụng trứng”, Hiếm muộn - vô sinh và các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Bệnh viện phụ sản Từ Dũ, tr.215-228 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Không rụng trứng"”, "Hiếm muộn - vô sinh và các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Tác giả: Vương Thị Ngọc Lan
Năm: 1999
15. Ủy ban Nhân dân Thành phố Cần Thơ, (2012), “Quyết định 17/2012/QĐ-UBND về thu một phần viện phí tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 17/2012/QĐ-UBND về thu một phần viện phí tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ
Tác giả: Ủy ban Nhân dân Thành phố Cần Thơ
Năm: 2012
16. Nguyễn Viết Tiến (2013), “Nguyên nhân vô sinh nữ giới”, Điều trị vô sinh bằng phương pháp bơm tinh trùng vào buồng tử cung, Nhà xuất bản Y học, tr. 101-120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên nhân vô sinh nữ giới”, Điều trị vô sinh bằng phương pháp bơm tinh trùng vào buồng tử cung
Tác giả: Nguyễn Viết Tiến
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2013
17. Nguyễn Khắc Liêu, (2007), “Sinh lý phụ khoa” Bài giảng sản phụ khoa, Tập I, Bộ môn Sản, Trường Đại học Y Hà Nội, Nhà xuất bản Y học, tr. 225-237 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý phụ khoa
Tác giả: Nguyễn Khắc Liêu
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2007
18. Nguyễn Khắc Liêu, (1999), “Đại cương về vô sinh” Bài giảng Sản phụ khoa, Trường Đại học Y Hà Nội, Nhà xuất bản Y học, tr. 219- 225 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương về vô sinh”
Tác giả: Nguyễn Khắc Liêu
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1999
19. Nguyễn Duy Hoàng Minh Tâm (2007), “Tỉ lệ tắc ống dẫn trứng ở bệnh nhân vô sinh thứ phát tại bệnh viện Từ Dũ”. Luận văn tốt nghiệp nội trú, Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỉ lệ tắc ống dẫn trứng ở bệnh nhân vô sinh thứ phát tại bệnh viện Từ Dũ
Tác giả: Nguyễn Duy Hoàng Minh Tâm
Năm: 2007
20. Đỗ Thị Kim Ngọc (2010) “ Nghiên cứu tỉ lệ vô sinh và một số yếu tố ảnh hưởng đến vô sinh trong cộng đồng tại Thành phố Cần Thơ”.Luận án chuyên khoa cấp II, Trường Đại học Y Dược Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Nghiên cứu tỉ lệ vô sinh và một số yếu tố ảnh hưởng đến vô sinh trong cộng đồng tại Thành phố Cần Thơ”
21. Đặng Thị Ngọc (2004), Đánh giá kết quả điều trị vô sinh bằng phương pháp bơm tinh trùng đã lọc rửa vào buồng tử cung tại khoa phụ sản Bệnh viện Trung ương Huế, Luận văn Thạc sĩ Y học, Trường Đại học Y Khoa Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả điều trị vô sinh bằng phương pháp bơm tinh trùng đã lọc rửa vào buồng tử cung tại khoa phụ sản Bệnh viện Trung ương Huế
Tác giả: Đặng Thị Ngọc
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.3. Trình độ học vấn của các cặp vợ chồng nghiên cứu - 0239 nghiên cứu tình hình vô sinh của các cặp vợ chồng đến khám tại bv đa khoa tp cần thơ
Bảng 3.3. Trình độ học vấn của các cặp vợ chồng nghiên cứu (Trang 57)
Bảng 3.4. Tuổi của các cặp vợ chồng nghiên cứu - 0239 nghiên cứu tình hình vô sinh của các cặp vợ chồng đến khám tại bv đa khoa tp cần thơ
Bảng 3.4. Tuổi của các cặp vợ chồng nghiên cứu (Trang 58)
Bảng 3.5. Thời gian vô sinh của các cặp vợ chồng nghiên cứu - 0239 nghiên cứu tình hình vô sinh của các cặp vợ chồng đến khám tại bv đa khoa tp cần thơ
Bảng 3.5. Thời gian vô sinh của các cặp vợ chồng nghiên cứu (Trang 59)
Bảng 3.7. Tiền sử nạo buồng tử cung - 0239 nghiên cứu tình hình vô sinh của các cặp vợ chồng đến khám tại bv đa khoa tp cần thơ
Bảng 3.7. Tiền sử nạo buồng tử cung (Trang 60)
Bảng 3.13. Nguyên nhân vô sinh do vợ - 0239 nghiên cứu tình hình vô sinh của các cặp vợ chồng đến khám tại bv đa khoa tp cần thơ
Bảng 3.13. Nguyên nhân vô sinh do vợ (Trang 63)
Bảng 3.14. Nguyên nhân vô sinh do chồng - 0239 nghiên cứu tình hình vô sinh của các cặp vợ chồng đến khám tại bv đa khoa tp cần thơ
Bảng 3.14. Nguyên nhân vô sinh do chồng (Trang 64)
Bảng 3.17. Nguyên nhân vô sinh nguyên phát ở chồng - 0239 nghiên cứu tình hình vô sinh của các cặp vợ chồng đến khám tại bv đa khoa tp cần thơ
Bảng 3.17. Nguyên nhân vô sinh nguyên phát ở chồng (Trang 65)
Bảng 3.20. Liên quan giữa nhóm tuổi với tỷ lệ vô sinh của vợ - 0239 nghiên cứu tình hình vô sinh của các cặp vợ chồng đến khám tại bv đa khoa tp cần thơ
Bảng 3.20. Liên quan giữa nhóm tuổi với tỷ lệ vô sinh của vợ (Trang 67)
Bảng 3.22. Liên quan giữa nghề nghiệp với tỷ lệ vô sinh của vợ - 0239 nghiên cứu tình hình vô sinh của các cặp vợ chồng đến khám tại bv đa khoa tp cần thơ
Bảng 3.22. Liên quan giữa nghề nghiệp với tỷ lệ vô sinh của vợ (Trang 68)
Bảng 3.25. Vô sinh liên quan đến uống rượu, hút thuốc lá từ chồng - 0239 nghiên cứu tình hình vô sinh của các cặp vợ chồng đến khám tại bv đa khoa tp cần thơ
Bảng 3.25. Vô sinh liên quan đến uống rượu, hút thuốc lá từ chồng (Trang 69)
Bảng 3.24. Liên quan giữa TS nạo phá thai với tỷ lệ vô sinh của vợ - 0239 nghiên cứu tình hình vô sinh của các cặp vợ chồng đến khám tại bv đa khoa tp cần thơ
Bảng 3.24. Liên quan giữa TS nạo phá thai với tỷ lệ vô sinh của vợ (Trang 69)
Bảng 3.27. Mong muốn điều trị vô sinh ở vợ - 0239 nghiên cứu tình hình vô sinh của các cặp vợ chồng đến khám tại bv đa khoa tp cần thơ
Bảng 3.27. Mong muốn điều trị vô sinh ở vợ (Trang 70)
Bảng 3.28. Mong muốn  điều trị  vô sinh ở chồng - 0239 nghiên cứu tình hình vô sinh của các cặp vợ chồng đến khám tại bv đa khoa tp cần thơ
Bảng 3.28. Mong muốn điều trị vô sinh ở chồng (Trang 71)
Bảng 3.33. Tỉ lệ đã điều trị vô sinh ở  các cặp vợ chồng - 0239 nghiên cứu tình hình vô sinh của các cặp vợ chồng đến khám tại bv đa khoa tp cần thơ
Bảng 3.33. Tỉ lệ đã điều trị vô sinh ở các cặp vợ chồng (Trang 74)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w