Đại hội đại biểu VI đã thay đổi cơ bản phương thức phát triển của đất nước, mở đầu cho hàng loạt những đổi mới toàn diện sau này trên tất cả các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, văn hó
Trang 1TIỂU LUẬN MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG
ĐỀ TÀI: ĐẠI HỘI VI VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐH VI.
Sinh viên: PHẠM HỒNG QUANG MINH
Mã sinh viên: 2621216123
Lớp: QL26.19
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ……… 3
I Lý do chọn đề tài ……… 3
II Mục đích nghiên cứu.……… 3
III Kết cấu của đề tài……… 4
NỘI DUNG I. Quyết định chuyển đổi thể chế KT……… 4
II. Đặc trưng của KTTT……… 7
III. Thành tựu, hạn chế ……… 9
IV. Quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, phương hướng ……… 16
KẾT LUẬN ……….19
TÀI LIỆU THAM KHẢO………20
Trang 3V. MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Đã hơn 20 năm kể từ Đại hội VI(15 – 18/6/1986) của Đảng, công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước đã có sự chuyển biến rõ rệt, vượt qua tình trạng khó khăn, chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nhiệp hóa - hiện đại hóa, thế và lực được tăng cường, vị thế quốc tế được nâng cao Nước ta không còn là một nước nông nghiệp lạc hậu, kém phát triển Nước ta từ quan liêu bao cấp đã trở thành nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Đại hội đại biểu VI đã thay đổi cơ bản phương thức phát triển của đất nước, mở đầu cho hàng loạt những đổi mới toàn diện sau này trên tất cả các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, văn hóa, xã hội… Việc gia nhập WTO là thách thức nhưng cũng là cơ hội lớn để nước ta phát triển, nó cũng khẳng định được những thay đổi đúng hướng của Đảng mà Đại hội Đảng VI đã mở đầu cho công cuộc đổi mới này
Nhận thấy tầm quan trọng và ý nghĩa lịch sử to lớn của Đại hội VI với sự
đổi mới và phát triển của đất nước, em đã chọn đề tài “Đại hội Đại biểu VI của
Đảng – Đại hội đổi mới toàn diện đất nước” cho tiểu luận của mình Tiểu luận
sẽ phân tích rõ hoàn cảnh lịch sử, nội dung cơ bản cũng như ý nghĩa lịch sử của Đại hội để làm rõ sự tiến bộ, đúng đắn trong đường lối mà Đảng ta đã đề ra trong Đại hội, đồng thời nêu bật những tác động to lớn của đường lối đó trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Trang 4Tìm hiểu về Đại hội VI và những đóng góp của Đại hội VI đối với Nhà Nước
III KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI:
1 Quyết định chuyển đổi thể chế KT
2 Đặc trưng của KTTT
3 Thành tựu, hạn chế?
4 Quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, phương hướng
NỘI DUNG
VI Quy ết định chuyển đổi thể chế KT
* Ở miền Bắc (vùng tự do)
Thời kỳ năm 1945-1954, thể chế kinh tế thị trường dân chủ nhân dân Đây là thời kỳ thực thi thị trường tự do có sự chỉ đạo của Nhà nước, với nền kinh nhiều thành phần, trong đó đa phần là kinh tế tư nhân, kinh tế quốc doanh chiếm
tỉ lệ còn nhỏ, chưa có thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (do Việt Nam
bị bao vây, cô lập về kinh tế
Sau 9 năm kháng chiến chống Pháp (1946-1954), qua 2 năm khôi phục kinh tế
Trang 5(1955-1956), nền kinh tế thị trường có nhiều khởi sắc, đảm bảo đủ lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng, ổn định đời sống nhân dân, ổn định lòng dân, vật giá bình ổn giá thị trường lúc này xuống thấp hơn cả giá quy định của Nhà nước, đã xuất khẩu được 60 vận tấn gao
Cho tới cuối năm 1956, Đảng và Nhà nước ta vẫn chủ trương trong một số năm trước mắt chưa xóa bỏ kinh tế tư nhân và kinh tế thị trường
Thời kỳ 1958-1960 và kéo dài đến năm 1985 chuyển sang kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp
Hội nghị TW 4 (Khóa II, 11-1958) đề ra kế hoạch 3 năm (1958-1960) phát triển kinh tế, văn hóa và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế có thể và kinh tế tư bản tư doanh Chuyền sở hữu cá thể về tư liệu sản xuất thành sở hữu
xã hội chủ nghĩa dưới 2 hình thức toàn dân và tập thể
Hội nghị TW 16 (Khóa II, 4-1959) quyết định tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp và cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, chủ trương cải tạo hòa bình đối với giai cấp tư sản
Từ kết quả cải tạo xã hội chủ nghĩa, Đảng áp dụng cơ chế kinh tế kế hoạch hóa trực tiếp trong toàn bộ nền kinh tế, coi đó là mô hình phát triển tổng quát của nền kinh tế nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Cơ chế này được xác lập và thực hành ở miền Bắc nước ta từ năm 1960 đến
1975 Trong điều kiện chiến tranh chống Mỹ cứu nước nó trở thành cơ chế kinh
tế bao cấp có nhiều điểm phù hợp với thời chiến Sau chiến thắng 30/4/1975 cơ chế này vẫn được duy trì và mở rộng ra cả nước, kéo dài đến tận năm 1985, gây
ra cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng suốt 20 năm (1976-1996) Đó
là một sai lầm đáng tiếc
Trang 6* Ở miền Nam (vùng do chính quyền Việt Nam Cộng hòa quản lý)
Thời kỳ 1955-1975, thể chế kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa
Ở miền Nam vàng do Chính phủ Việt Nam Cộng hòa quản lý, có một nền kinh tế thị trường khá phát triển, thiết lập quan hệ kinh tế, thương mại với nhiều nước tư bản trên thế giới
* Thời kỳ 1975-1978 và kéo dài đến 1986, chuyển sang thể chế kinh tế
kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp
Sau giải phóng 30/4/1975, việc hợp tác hóa ở miền Nam được tiến hành khẩn trương trong 3 năm Đến khoảng năm 1979-1980 thì hợp tác hóa về cơ bản hoàn thành, gần 90% hộ nông dân đã vào các tập đoàn sản xuất hoặc hợp tác xã Các tập đoàn sản xuất và hợp tác xã được coi như những đơn vị kinh tế xã hội chủ nghĩa thực hiện thể chế kinh tế kế hoạch hóa trực tiếp
Cuộc cải tạo công thương nghiệp được tiến hành từ cuối năm 1975 đến 1978
đã xóa bỏ thành phần kinh tế tư nhân, chuyên sở hữu tư nhân thành sở hữu xã hội chủ nghĩa với hai hình thức toàn dân và tập thể thực hiện thể chế kinh tế kế hoạch hóa trực tiếp
Đến đây thì cả nước thống nhất thực hiện thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung quản lý bao cấp
* Cả nước chuyển sang thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (sau năm 1986)
Trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới , từ Đại hội VI đến Đại hội IX, tư duy của Đảng ta về kinh tế thị trường đã có sự thay đổi quan trọng, đã coi kinh tế thị trường không phải là cái riêng có của chủ nghĩa tư bản mà là thành tựu phát
Trang 7triển chung của toàn văn minh nhân loại Đã thừa nhận có thể và cần thiết sử dụng kinh tế thị trường để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Đại hội IX (2001) đưa ra khái niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xác định: Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đây là bước ngoặt quyết định về đổi mới tư duy kinh tế, coi kinh tế thị trường không chỉ là một công cụ, một cơ chế quản lý kinh tế, mà như một thể chế kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ, thay thế hoàn toàn cho thể chế kinh tế
kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp tổn tại từ năm 1958 đến năm 1985 ở nước ta
Qua hơn 30 năm đổi mới, nhất là từ Đại hội X đến nay, Đảng đẩy mạnh việc xây dụng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, coi đây là một nhiệm vụ chiến lược, là khâu đột phá quan trọng, tạo động lực để phát triển nhanh và bền vững Đồng thời hoàn thiện thể chế chính trị mà trọng tâm là đổi mới nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của tổ chức bộ máy và cán bộ
VII Đặc trưng của KTTT
Về chủ thể kinh tế:
Các chủ thể kinh tế được tự do sản xuất kinh doanh theo luật pháp và được bình đẳng không phân biệt đối xử Các chủ thể kinh tế đều có cơ hội
để tiếp cận các nguồn lực phát triển có hiệu quả
Về thị trường:
Thực hiện các giải pháp để tạo lập và phát triển các yếu tố thị trường cơ bản như thị trường hàng hóa và dịch vụ; thị trường vốn, tiền tệ; thị trường khoa
Trang 8học, công nghệ; thị trường lao động, thị trường bất động sản và lành mạnh hóa các yếu tố thị trường đó nhằm tạo điều kiện cho nền kinh tế thị trường phát triển
ổn định, bền vững và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa
Về cơ chế vận hành:
Tôn trọng tính khách quan của các quy luật kinh tế thị trường; tính năng động của cơ chế thị trường
Về vai trò của Nhà nước:
Nhà nước điều tiết nền kinh tế thị trường trên cơ sở vận dụng các quy luật kinh tế của nền kinh tế thị trường vào điều kiện Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế để định hướng phát triển nền kinh tế, tạo lập môi trường cho nền kinh tế phát triển ổn định, bền vững và hạn chế mặt trái của cơ chế thị
trường.
Trang 9VIII. Thành tựu, hạn chế
3.1 Thành tựu:
Chủ trương đổi mới đã được Đảng ta đề ra tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VI của Đảng Đến nay, sau 35 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện và có ý nghĩa lịch sử, thay đổi đời sống mọi mặt của người dân: kinh tế tăng trưởng ở mức tương đối cao, đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện, tình hình chính trị và xã hội ổn định, quan hệ đối ngoại được mở rộng và vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế
IX. Quy mô nền kinh tế tăng nhanh
Trong suốt 35 năm qua, kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng khá ấn tượng Nếu như trong giai đoạn đầu đổi mới (1986-1990), mức tăng trưởng GDP bình quân hằng năm chỉ đạt 4,4% thì giai đoạn 1991-1995, GDP bình quân đã tăng gấp đôi, đạt 8,2%/năm; các giai đoạn sau đó đều có mức tăng trưởng khá cao; giai đoạn 2016-2019 đạt mức bình quân 6,8%
Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên, nếu như năm 1989 mới đạt 6,3 tỷ USD/năm thì đến năm 2020 đã đạt khoảng 268,4 tỷ USD/năm Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt, năm 1985 bình quân thu
Trang 10nhập đầu người mới đạt 159 USD/năm thì đến năm 2020 đạt khoảng 2.750 USD/năm Các cân đối lớn của nền kinh tế về tích lũy-tiêu dùng, tiết kiê ‡m-đầu
tư, năng lượng, lương thực, lao đô ‡ng-viê ‡c làm… tiếp tục được bảo đảm, góp phần củng cố vững chắc nền tảng kinh tế vĩ mô
Những nỗ lực đổi mới trong 35 năm qua đã giúp cho môi trường đầu tư liên tục được cải thiện, nhờ đó đã thu hút ngày càng nhiều hơn vốn đầu tư cho phát triển Tính riêng năm 2019, vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành đạt 2.046,8 nghìn tỷ đồng; tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 38,02 tỷ USD, cao nhất trong vòng 10 năm lại đây Năm 2020, trong bối cảnh đại dịch COVID-19, Việt Nam vẫn là một điểm đến tin cậy cho các nhà đầu tư với tổng vốn FDI đạt 28,5 tỷ USD
Ngoài ra, tại Việt Nam đã hình thành các vùng kinh tế trọng điểm để làm động lực cho phát triển kinh tế vùng, miền và cả nước; phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp tập trung nhằm thu hút vốn đầu tư phát triển, đồng thời hình thành các vùng chuyên môn hóa cây trồng, vật nuôi gắn với chế biến công nghiệp Nhìn chung, các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế đều có bước phát triển mạnh mẽ
Qua 35 năm, từ chỗ thiếu ăn, Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất khẩu nông sản lớn trên thế giới Kim ngạch xuất khẩu của nhiều mặt hàng nông sản, như càphê, gạo, hạt điều, rau quả, tôm, gỗ và sản phẩm từ gỗ luôn duy trì
ở mức cao Các mặt hàng xuất khẩu khác cũng có bước tiến lớn
Đặc biệt, trong bối cảnh bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch COVID-19 khiến hoạt động thương mại và đầu tư thế giới suy giảm, các nước nhập khẩu ngày càng siết chặt hàng rào phi thuế quan, bảo hộ trong nước gia tăng, thì tổng kim ngạch xuất
Trang 11nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam năm 2020 vẫn đạt 543,9 tỷ USD, tăng 5,1%
so với năm 2019; xuất siêu 19,1 tỷ USD - cao nhất trong 5 năm liên tiếp xuất siêu kể từ năm 2016
Với kim ngạch xuất nhập khẩu ấn tượng đã đưa Việt Nam xếp thứ 22 thế giới về quy mô kim ngạch và năng lực xuất khẩu, đứng thứ 26 về quy mô thương mại quốc tế Đây chính là bước tạo đà, tạo lực bứt phá cho hoạt động xuất nhập khẩu trong giai đoạn tới
X. Gắn kết hài hòa với phát triển văn hóa-xã hội
Trong suốt quá trình 35 năm đổi mới, việc tăng trưởng kinh tế đã cơ bản gắn kết hài hòa với phát triển văn hóa, xây dựng con người, tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường Tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo đảm tiến bộ
và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển Từ chỗ Nhà nước bao cấp toàn bộ trong việc giải quyết việc làm đã dần chuyển trọng tâm sang thiết lập cơ chế, chính sách để các thành phần kinh tế và người lao động đều tham gia tạo việc làm; từ chỗ không chấp nhận có sự phân hóa giàu-nghèo đã đi đến khuyến khích mọi người làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa đói giảm nghèo Đặc biệt, công tác giảm nghèo của Việt Nam đã đạt được những thành tựu ấn tượng Tỷ lệ hộ nghèo trên cả nước đã giảm từ 58% năm 1993 xuống 22% năm 2005; 9,45% năm 2010, 7% năm 2015 và còn dưới 3% năm 2020 (theo chuẩn nghèo đa chiều)
Công tác giáo dục đạt được nhiều thành tựu Quy mô giáo dục tiếp tục được phát triển, cơ sở vật chất được nâng cao, chất lượng đào tạo từng bước đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực Nhiều chỉ số về giáo dục phổ thông của Việt Nam được
Trang 12đánh giá cao trong khu vực, như: tỷ lệ huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 99% (đứng thứ 2 trong khu vực ASEAN, sau Singapore); tỷ lệ học sinh đi học và hoàn thành Chương trình tiểu học sau 5 năm đạt 92,08%, đứng ở tốp đầu của khối ASEAN
Vị thế các trường đại học của Việt Nam đã được nâng lên trong bảng xếp hạng châu Á và thế giới, năm 2019 xếp thứ 68/196 quốc gia trên thế giới, tăng 12 bậc
so với năm 2018 Lần đầu tiên, Việt Nam có 4 cơ sở giáo dục đại học được vào top 1.000 trường đại học tốt nhất thế giới Việt Nam đang là điểm đến được lựa chọn của nhiều sinh viên quốc tế trong những năm gần đây…
Năng lực của hệ thống các cơ sở y tế được củng cố và phát triển Nhờ đó, người dân dễ dàng tiếp cận với các dịch vụ y tế hơn Bên cạnh đó, cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế cũng được chú trọng đầu tư, đáp ứng tốt hơn nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân… Việt Nam là một trong số ít quốc gia có hệ thống y tế hoàn chỉnh, tổ chức rộng khắp tới tận thôn, bản; làm chủ được nhiều kỹ thuật công nghệ cao mang tầm thế giới như: ghép chi, tim, gan, thận ; kiểm soát được nhiều dịch bệnh nguy hiểm, trong đó có COVID-19; chủ động sản xuất được nhiều loại vắcxin phòng bệnh, mới đây nhất là vắcxin phòng COVID-19 Bên cạnh đó, công tác bảo đảm an sinh xã hội luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm thực hiện Đến nay, diện thụ hưởng chính sách an sinh xã hội ngày càng mở rộng, mức hỗ trợ được nâng lên, đời sống vật chất và tinh thần của người dân, đặc biệt là người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số Trong 25 năm qua, ngành bảo hiểm xã hội đã giải quyết cho hơn 112,5 triệu lượt người hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội
Trang 13Ngoài ra, các phong trào “Tương thân tương ái,” “Đền ơn đáp nghĩa,” “Uống nước nhớ nguồn” do các cấp và các đoàn thể, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp và toàn thể nhân dân thực hiện và hưởng ứng tham gia trong những năm qua cũng đã phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đóng góp đáng kể vào nâng cao sách an sinh xã hội cho nhân dân, nhất là người nghèo, vùng khó khăn
XI. Hội nhập quốc tế sâu rộng, vị thế ngày càng được nâng cao
35 năm đổi mới cũng là một chặng đường hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức, theo nguyên tắc và chuẩn mực của thị trường toàn cầu Việt Nam đã thiết lập được nhiều quan hệ đối tác chiến lược về kinh tế; tích cực xây dựng Cộng đồng ASEAN 2015 và hoàn thiện thị trường trong nước đầy đủ hơn theo cam kết WTO Đến nay, đã có 71 quốc gia công nhận nền kinh
tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường, trong đó có các đối tác thương mại lớn của Việt Nam
Từ khi gia nhập WTO đến nay, Việt Nam đã ký kết 15 FTA khu vực và song phương và đang đàm phán 2 FTA với các đối tác khác Các FTA mà Việt Nam tham gia có độ phủ rộng hầu hết các châu lục với gần 60 nền kinh tế có tổng GDP chiếm gần 90% GDP thế giới, trong đó có 15 nước thành viên G20 và 9/10 đối tác kinh tế-thương mại lớn nhất của Việt Nam thuộc 3 trung tâm kinh tế lớn nhất thế giới là Bắc Mỹ, Tây Âu và Đông Á Do đó, việc tham gia và thực thi các FTA sẽ mang lại những cơ hội lớn cho Việt Nam, tác động tích cực tới phát triển kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm Việt Nam cũng là thành viên chủ động, tích cực và có trách nhiệm cao trong các
tổ chức quốc tế Việt Nam đã tham gia vào Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á