Một trong những vấn đề được nhiều giáo viên quan tâm là tìm các giải pháp để dạy học nhằm nâng cao kết quả học tập của học sinh.. Trước tình hình đó tôi xin đưa ra đề tài “Một số giải ph
Trang 2SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN
Số điện thoại : 0987469646
Trang 31.2 Một số điều kiện cần thiết để giúp cho học sinh nâng cao kết quả học tập
3
1.6 Thực trạng sách giáo khoa “chân trời sáng tạo” môn hóa học lớp 10 và việc dạy học của giáo viên, học sinh tại trường
8
Trang 4trung học phổ thông Quỳnh lưu 4 trong quá trình tác giả thực hiện đề tài
Chương 2 Một số giải pháp nâng cao kết quả học tập môn hóa học cho học sinh lớp 10 trung học phổ thông
9
2.1 Giáo viên chủ động xây dựng môi trường học tập thân thiện
9
2.4 Tăng thời gian học tập chuyên sâu và ra thêm bài tập cho những em khá giỏi
10
2.4.1 Những thuận lợi, khó khăn trong công tác dạy học chuyên
2.6 Phối hợp với nhóm chuyên môn trong việc ôn tập, ra ma
2.7.1.1 Giải pháp để đạt kết quả cao hơn khi dạy chương cấu tạo nguyên tử
14
2.7.1.2 Tiết 13 theo phân phối chương trình môn hóa học lớp 10 14
2.7.1.3 Tiết 14 theo phân phối chương trình môn hóa học lớp 10 21 2.7.2 CHƯƠNG 2 BẢNG TUẦN HOÀN CÁC NGUYÊN TỐ
HÓA HỌC
26
2.7.2.1 Giải pháp chính để dạy học chương bảng tuần hoàn 26
2.7.2.2 Tiết 24 theo phân phối chương trình môn hóa học lớp 10 26
Trang 52.7.3 CHƯƠNG 3 LIÊN KẾT HÓA HỌC 33 2.7.3.1 Giải pháp chính để nâng cao hiệu quả dạy học và kết
2.7.3.2 Tiết 39 theo phân phối chương trình môn hóa học lớp 10
Trang 6PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Lí do chọn đề tài
Xã hội càng phát triển, tay nghề lao động càng phải chuyên môn hóa Chính
vì lẽ đó mà từ trước đến nay hóa học là môn học bắt buộc cho tất cả học sinh trung học phổ thông, nhưng trong chương trình giáo dục phổ thông 2018, môn hóa học được học sinh lựa chọn theo định hướng nghề nghiệp, sở thích và năng lực của bản thân Trong chương trình sách giáo khoa có nhiều nội dung, chuyên đề học tập mới
và được phân tích đánh giá là khó đối với học sinh Chính vì vậy trong quá trình dạy học giáo viên nói chung và tác giả đề tài nói riêng phải không ngừng tìm tòi khám phá tri thức, khai thác tối đa thiết bị dạy học, vận dụng các biện pháp và phương pháp dạy học tích cực, phù hợp để nâng cao hiệu quả trong quá trình dạy học
Nhiệm vụ của nhà giáo có nhiều nội dung cần phải làm, nhưng đào tạo thế
hệ trẻ trở thành những người năng động sáng tạo, chủ động tìm tòi, học hỏi, tích lũy kiến thức là vấn đề nhiều thầy cô giáo và các những nhà giáo dục rất quan tâm trong bối cảnh hiện nay
Để đạt được hiệu quả cao trong quá trình dạy học, yêu cầu người giáo viên phải đổi mới phương pháp dạy học Vấn đề đó được thể hiện qua việc tổ chức các hoạt động dạy học tích cực cho học sinh Từ đó khơi dậy và thúc đẩy lòng đam mê, phát triển nhu cầu tìm tòi, khám phá, chiếm lĩnh tri thức
từ đó phát triển, phát huy khả năng tự học của học sinh Trước t h ự c t ế đó người giáo viên cần phải không ngừng tìm tòi khám phá, khai thác, tổ chức các hoạt động, vận dụng, sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học trong các giờ học sao cho phù hợp với từng kiểu bài, từng đối tượng học sinh, xây dựng cho học sinh khả năng tư duy l o g i c , chủ động, hợp tác, trải nghiệm và sán g tạo
Một trong những vấn đề được nhiều giáo viên quan tâm là tìm các giải pháp
để dạy học nhằm nâng cao kết quả học tập của học sinh Để thực hiện được vấn đề này thì người giáo viên không chỉ tích cực dạy học mà còn phải biết tìm tòi phương pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh và nâng dần kết quả học tập của học sinh
Trước tình hình đó tôi xin đưa ra đề tài “Một số giải pháp nâng cao kết quả
học tập môn hóa học cho học sinh lớp 10 trung học phổ thông”, nhằm hỗ trợ, khắc
phục cho giáo viên và học sinh một phần nhỏ những khó khăn gặp phải trong quá trình dạy và học môn hóa học lớp 10 trung học phổ thông
1.2 Mục đích của đề tài Thông qua các bài học tìm hiểu những khó khăn, vướng mắc dẫn đến kết quả học tập chưa cao Tìm ra các giải pháp nâng cao kết quả học tập và chất lượng giáo dục môn hóa học lớp 10 ở trường Trung học phổ thông
Trang 71.3 Nhiệm vụ của đề tài
Nghiên cứu cơ sở lí luận, các tài liệu dạy học liên quan đến đề tài
Nghiên cứu bài học, các bài kiểm tra, kết quả kiểm tra, năng lực thực tế của học sinh để tách nhóm phân công các mức độ bài tập phù hợp với từng đối tượng học sinh, soạn thảo hệ thống các bài tập, bài kiểm tra, các biện pháp phù hợp để nâng cao kết quả học tập môn hóa học của học sinh lớp 10 trung học phổ thông
1.4 Phạm vi của đề tài
Do khuôn khổ của đề tài có hạn nên đề tài chỉ nghiên cứu sách giáo khoa hóa học 10, chuyên đề hóa học 10, học sinh học môn hóa học lớp 10 trong thời gian nghiên cứu đề tài để đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao kết quả học tập môn hóa học cho học sinh lớp 10 trung học phổ thông
1.5 Tính mới của đề tài
Trong nội dung đề tài “Một số giải pháp nâng cao kết quả học tập môn hóa
học cho học sinh lớp 10 trung học phổ thông” lần đầu tiên được áp dụng để nghiên
cứu, thực hiện trong quá trình dạy sách giáo khoa mới của chương trình phổ thông
Trang 8PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn
1.1 Các khái niệm
1.1.1 Khái niệm giải pháp
Giải pháp là việc giải quyết một vấn đề lớn mà để giải quyết sẽ liên quan đến nhiều vấn đề nhỏ trong đó Nói cách khác, giải pháp là tổng hợp hệ thống các biện pháp và phương pháp thực hiện khác nhau
1.1.2 Khái niệm phương pháp
Phương pháp là cụm từ dùng để chỉ các cách thức hoặc đường lối có tính hệ thống đưa ra để có thể giải quyết một vấn đề nào đó, theo đó thì phương pháp có thể được rút ra từ những kết quả mà con người nhận thức được từ thực tiễn
1.1.3 Khái niệm biện pháp
Biện pháp là cách thức hay con đường dùng để tác động lên đối tượng để
xử lý vấn đề nào đó Biện pháp giúp cho chủ thể có thể thực hiện quản lý hiệu quả hơn
1.2 Một số điều kiện cần thiết để giúp cho học sinh nâng cao kết quả học tập
1.2.1 Đảm bảo sức khỏe
Sức khỏe là yếu tố quan trọng và cũng là phổ biến nhất gây ra hiện tượng mất tập trung trong học tập và nghe Thầy cô giảng bài Tuy nhiên, các em học sinh hiện nay thì lại có rất nhiều thói quen khiến sức khỏe của cơ thể bị ảnh hưởng
Đầu tiên là việc đảm bảo giấc ngủ Với độ tuổi của học sinh trung học phổ thông thì giấc ngủ ban đêm phải kéo dài từ 6 đến 8 tiếng, đó là thời gian đủ để cơ thể và bộ não phục hồi sau một ngày làm việc và học tập vất vả Tuy nhiên, đặc điểm của các em học sinh THPT hiện nay là việc thường xuyên thức rất khuya để lướt mạng trên điện thoại thông minh Việc thức quá khuya nhưng lại phải dậy sớm vào sáng hôm sau khiến giấc ngủ không đủ, đẫn đến nhiều em không thể tập trung trong quá trình học tập
Nhưng cũng có những trường hợp các em ngủ đủ số thời gian từ 6 đến 8 tiếng, thậm chí nhiều hơn Đó là việc thức khuya nhưng dậy muộn Việc “thức đêm ngủ ngày” tuy đảm bảo thời gian ngủ nhưng lại không đảm bảo chất lượng của giấc ngủ Đó là lí do vì sao sau khi dậy muộn các em thường thấy đau đầu khi thức dậy, còn trong quá trình nghe giảng thì các em thấy đầu thiếu minh mẫn và khó tiếp thu
Vì vậy giấc ngủ rất quan trọng để các em đảm bảo sức khỏe của mình Chưa
kể, các thói quen ăn uống, tập thể dục, các thói quen hoạt động,v,v… cũng là những nguyên nhân khiến sức khỏe của các em bị ảnh hưởng và mất tập trung
Trang 9Vậy giải pháp để đảm bảo sức khỏe là gì? Điều này rất đơn giản, các em nên
đi ngủ đúng giờ, không nên thức quá khuya Nên đảm bảo giấc ngủ kéo dài ít nhất
là 6 tiếng Ngoài ra, các em nên duy trì chế độ ăn uống đều đặn và hợp lý Nếu rèn được thói quen dậy sớm tập thể dục thì càng tốt cho sức khỏe Việc đảm bảo thể trạng sức khỏe tốt nhất sẽ giúp đầu óc tập trung và phát huy tốt nhất quá trình học tập của các em
1.2.2 Lập kế hoạch cho ngày mới
Một nguyên nhân quan trọng khiến các em mất tập trung, là do các em không xác định được hôm nay các em phải làm những gì? Đó là vì các em không
có một kế hoạch cụ thể cho ngày hôm đó Chính vì vậy mà khiến nhiều em đang làm việc này nhưng lại giật mình nhớ ra mình đang có một việc khác chưa làm Ví
dụ như khi đang học bài, các em sực nhớ ra một nhiệm vụ khác chưa làm, lúc này các em sẽ phân tán tư tưởng vào việc chuẩn bị cho nhiệm vụ khác Điều này khiến các em rất mất tập trung vào công việc mà mình đang làm
Giải pháp là gì? Các em hãy dành một chút ít thời gian của tối hôm trước, trước khi đi ngủ, để đánh dấu các công việc của ngày hôm sau Một cuốn sổ tay hay một cuốn lịch để bàn các em dành ít phút để ghi thứ tự những công việc quan trọng của mình làm trong ngày hôm sau Việc đánh dấu những việc quan trọng giúp các em kiểm soát công việc cũng như thời gian một cách chủ động và có thể tập trung hoàn toàn cho một công việc trong ngày mới
Tất nhiên, trong một ngày có rất nhiều những công việc xảy ra không theo
kế hoạch Chính vì vậy các em cần vận dụng và điều chỉnh linh hoạt kế hoạch của riêng mình
1.2.3 Đảm bảo không gian học tập
Không gian học tập phù hợp sẽ đảm bảo quá trình học tập một cách tập trung hơn Có rất nhiều yếu tố khiến các em mất tập trung khi ngồi học, ví dụ như xe cộ, tivi, điện thoại, facebook,v.v Đơn giản khi các em đang ngồi học, nếu để điện thoại cạnh bên mình, khi bất chợt có một tin nhắn, bạn sẽ ngoái ngay sang để trả lời, điều này rất mất tập trung và lãng phí thời gian
Chính vì thế để những đồ vật khiến các em có thể mất tập trung trên bàn học thì tốt nhất là các em hãy để vị trí hợp lí tránh ảnh hưởng đến quá trình học tập
Trước khi bắt tay vào học, các em cần chuẩn bị tất cả các tư liệu, tài liệu cần thiết cho việc học để không mất thời gian đi tìm
Một điểm nữa là các em nên tạo một không gian học tập thoáng mát, thoải mái, gọn gàng phù hợp với bản thân, để tạo hứng thú cho việc học Một chậu cây, một hồ cá nhỏ, một bức tranh,v.v sẽ khiến đầu óc các em thấy thoải mái hơn khi học tập căng thẳng
Trang 101.2.4 Lựa chọn thời gian học phù hợp
Mỗi người lại có một khoảng thời gian phù hợp nhất để học tập Đó là lí do tại sao có lúc thì các em thấy học tập rất dễ vào, rất dễ thuộc bài, lúc thì học tập lại thấy khó tư duy, không vào Điều này là do mỗi bộ não của mỗi cá nhân lại có một khoảng thời gian làm việc sung sức nhất định, cũng có thể là do thói quen hình thành trong một khoảng thời gian dài
Giải pháp cho vấn đề này cũng không có gì phức tạp Có em thì thích học vào ban đêm, có em thì lại thích học vào sáng sớm, vì vậy các em hãy thử học ở nhiều thời điểm khác nhau và khi nào thấy khoảng thời gian thích hợp nhất thì các
em sẽ cố gắng tập trung học vào khoảng thời gian đó Một lưu ý là nếu đã thấy không thể tập trung được thì không nên cố, lúc này các em nên cân bằng lại bằng cách nghe một bản nhạc, ngắm cây cối, tập một môn thể thao nhẹ hay đọc một mẩu tin tức,
1.2.5 Sắp xếp các môn học hợp lí
Một thói quen thường thấy của các em học sinh hiện nay là việc học chỉ một môn duy nhất trong suốt một thời gian dài Có thể nó hợp với nhiều người, tuy nhiên, việc học chỉ một môn duy nhất khiến đầu óc dễ bị căng thẳng và mất tập trung Mà như đã biết, khi căng thẳng thì không thể học bài hiệu quả, chưa kể các
em sẽ nghĩ tới nhiều thứ ngoài lề hấp dẫn hơn việc học
Giải pháp đưa ra là các em nên đan xen nhiều môn học nếu học trong khoảng thời gian dài, tốt nhất là từ 3 đến 4 môn Việc này sẽ giúp não bộ duy trì được sức bền và các em thấy không bị nhàm chán, mà cảm thấy hứng thú hơn Ví
dụ như trong thời gian 3 tiếng, các em nên xen kẽ 3 môn học, mỗi môn khoảng 1 tiếng Tuy nhiên, một lưu ý là khi chuyển tiếp các môn, các em nên thư giãn, nghỉ ngơi 5 đến 10 phút bằng nhiều hình thức khác nhau, tùy thuộc vào không gian, sở thích của mỗi cá nhân, nhưng chú ý là không để các hoạt động ấy lôi cuốn các em quên đi việc học
1.2.6 Chuẩn bị bài trước khi đến lớp
Có thể là một việc rất đơn giản mà ai cũng hiểu, nhưng không phải ai cũng làm và hiểu được tầm quan trọng của việc chuẩn bị bài mới, các em hầu như chỉ tập trung vào bài cũ
Có một hiện tượng không hiếm gặp ở các em học sinh là việc lên lớp ngồi nghe thầy cô giảng bài nhưng lại không hiểu bài học Đó là hậu quả của việc các
em chưa đọc trước bài học mới Trong thực tế, một nguyên lý của bộ não là khi không hiểu thì không muốn tiếp tục nghe, tiếp tục phân tích nữa, mà chuyển sang việc khác Điều này rất không tốt cho việc tiếp thu và hiểu bài dù các em có là người thông minh và đọc nhiều sách đến mức nào chăng nữa
Vì thế, giải pháp là các em hãy chuẩn bị bài trước khi đến lớp Buổi tối hôm trước sau khi đã làm bài cũ xong, các em nên đọc trước bài mới hôm sau sẽ học
Trang 11Việc đọc bài trước cũng không cần quá chi tiết, các em chỉ cần đọc sơ qua các phần, các mục, các câu hỏi cuối bài,… Việc này giúp các em hiểu trước về nội dung bài mới sẽ học, thấy được những điều hay và chuẩn bị hỏi những gì chưa hiểu “Chưa hiểu hết” vấn đề sẽ kích thích trí não khám phá, để hoàn chỉnh vấn đề, chính vì vậy các em sẽ hứng thú học bài hơn Việc hỏi những điều chưa hiểu và chia sẻ những điều thú vị của bài sẽ giúp các em nhớ lâu hơn rất nhiều
Giải pháp là các em nên đặt cho mình những câu hỏi trước khi làm việc gì
đó Ví dụ như: “lí do mình làm việc này là gì?”, “làm xong việc này mình muốn đạt được cái gì?”,… việc xác định được những điều này sẽ thôi thúc các em cố gắng hơn, không dễ bị chán nản và buông xuôi Kể cả khi gặp khó khăn, những mục tiêu đề ra sẽ quay lại thúc đẩy các em tiến lên để hoàn thành công việc
1.2.8 Khắc phục các lí do khách quan
Tất cả các yếu tố đã nêu trên đều thuộc về các yếu tố chủ quan Nhưng có những yếu tố khách quan rất thường xuyên làm mất tập trung mà các em không thể đoán trước được Ví dụ như đang học bài thì có bạn bè đến rủ đi chơi, đang học thì
mẹ gọi làm giúp một việc gì đó, hay những việc xảy ra bất ngờ trong đời sống hàng ngày Những việc này ảnh hưởng lớn đến sự tập trung học tập, nhưng lại ngoài tầm kiểm soát của các em Vậy phải làm sao để khắc phục? Giải pháp là đặt ra kỉ luật cho chính mình Các em ấn định một khoảng thời gian để học bài và trong khoảng thời gian đó bản thân phải loại bỏ tất cả những điều chi phối, trừ khi có việc rất quan trọng Chẳng hạn như nếu bạn bè đến rủ đi chơi thì các em phải tìm cách lựa lời nói khéo để từ chối
Sự tập trung là điều vô cùng quan trọng trong học tập và công việc Hãy đặt quyết tâm rèn luyện sự tập trung tốt nhất để công việc và việc học tập của các em phát huy hiệu quả tốt nhất
1.3 Khái niệm về môi trường học tập
Môi trường học tập là những yếu tố tác động đến việc học tập cả từ bên trong và bên ngoài, môi trường học tập đóng vai trò quan trọng và góp phần quyết định đến sự tập trung của người học, mà sự tập trung là yếu tố quyết định đến hiệu quả của việc học Môi trường học tập có thể hiểu là tập hợp các âm thanh xung quanh, ánh sáng, cơ sở vật chất, phương pháp giảng dạy,…
Trang 121.4 Khái niệm về môi trường học tập thân thiện
Môi trường học tập thân thiện là môi trường đảm bảo cho học sinh học tập trong điều kiện đảm bảo an toàn về cơ sở vật chất; tài liệu, học liệu sử dụng để giảng dạy phù hợp với mục tiêu, nội dung chương trình giáo dục, bảo đảm tính khoa học, chính xác, tính sư phạm, tính nhân văn và tính thẩm mỹ
Học tập trong môi trường học tập thân thiện học sinh sẽ được tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí, văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao phù hợp với độ tuổi, đặc điểm tâm sinh lý đối với các thành viên trong cơ sở giáo dục Đặc biệt, học sinh được trang bị kiến thức, kỹ năng về phòng, chống xâm hại trẻ em, bạo lực học đường…
Môi trường học tập thân thiện phải đảm bảo đầy đủ các yếu tố: cảnh quan môi trường, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, đội ngũ nhà giáo, đối tượng học tập là học sinh
1.5 Cách xây dựng môi trường học tập thân thiện
Để xây dựng môi trường học tập thân thiện thì cần thực hiện các vấn đề như sau:
+ Cảnh quan môi trường: Cảnh quan môi trường là một yếu tố tác động rất lớn đến việc học tập, sự tập trung của người học Để có một trường học tập thân thiện thì trường học cần cảnh quan môi trường phải sạch sẽ, thoáng mát, rộng rãi, yên tĩnh, trồng nhiều cây xanh và hoa ở khuôn viên trường học
+ Điều kiện cơ sở vật chất: Cơ sở vật chất cần được đáp ứng cho việc học tập, cần có đầy đủ phòng học, phòng chức năng, nhà vệ sinh, khu vui chơi,…
+ Đội ngũ nhà giáo: Đội ngũ nhà giáo là một yếu tố quan trọng tạo nên môi trường học tập thân thiện Nhà giáo cần nhiệt tình, năng động, sáng tạo, có chuyên môn tốt, có đạo đức, phẩm chất, lối sống tốt, tận tâm với công việc, yêu nghề hết lòng vì sự nghiệp giáo dục, vì học sinh thân yêu
+ Đối với học sinh: Học sinh cần có ý thức đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập và các hoạt động ở trường Học sinh phải thực hiện nếp sống văn minh, lịch sự, lành mạnh; phải có ý thức thực hiện tốt các quy định của nhà trường, xã hội một cách tự giác;
Bên cạnh đó, thì nhà trường cần quan tâm tổ chức nhiều sân chơi, nhiều cuộc thi bổ ích để học sinh tham gia tạo không khí học tập sôi nổi, đồng thời rèn luyện tri thức, đạo đức và kĩ năng sống cho học sinh
Việc áp dụng những hình thức giảng dạy sáng tạo, giúp người học tự tìm tòi, nghiên cứu phát huy khả năng của mình, tránh sự gò bó, ép buộc, nhồi nhét kiến thức làm cho học sinh áp lực với việc học
Tiếp đó, việc xây dựng môi trường học tập thân thiện cần có sự chung tay của nhà trường, cha mẹ học sinh, cũng như các cơ quan đoàn thể ngoài nhà trường vào công tác giáo dục Điều này giúp cho việc xây dựng môi trường học tập dễ thực hiện và đạt kết quả tốt hơn
Trang 131.6 Thực trạng sách giáo khoa “chân trời sáng tạo” môn hóa học lớp 10
và việc dạy học của giáo viên, học sinh tại trường trung học phổ thôngQuỳnh lưu 4 trong quá trình tác giả thực hiện đề tài
Sách giáo khoa hóa học lớp 10 được các tác giả viết tương đối đầy đủ, chi tiết, có nhiều câu hỏi cho học sinh trả lời trong các bài học, nên thuận tiện cho giáo viên giảng dạy và học sinh học bài
Sách giáo khoa mới trong chương trình giáo dục phổ thông 2018 giúp giáo viên không phải mất nhiều thời gian để tìm kiếm câu hỏi cho học sinh làm trong quá trình dạy học
Nội dung kiến thức có chiều sâu và rộng, liên hệ nhiều đến kiến thức thực tiễn nên các em học sinh liên hệ được vào trong các bài học
Sách giáo khoa “Chân trời sáng tạo” hóa học 10 sử dụng đa số các danh pháp bằng tiếng anh nên cũng làm cho giáo viên và học sinh được tăng cường học tập thêm kiến thức ngoại ngữ, mở rộng được hiểu biết của bản thân
Nội dung chương trình vận dụng nhiều hình ảnh, áp dụng công nghệ thông tin vào dạy học giúp giáo viên và học sinh mở mang được kiến thức và tầm hiểu biết của mình
Tuy nhiên, sách giáo khoa mới có nhiều bài với nội dung khó và kiến thức cao so với tình hình thực tế của học sinh và giáo viên
Các chất hóa học chủ yếu gọi tên bằng tiếng anh nên làm cho giáo viên và học sinh mất nhiều thời gian học tập tiếng anh, làm giảm thời gian nghiên cứu chuyên sâu môn hóa học
Sách giáo khoa được tô nhiều màu sắc trong từng trang giấy làm giảm tính tập trung của người dạy và học
Trong quá trình học tập môn hóa học nhiều em chưa nhận thức được vai trò quan trọng của hóa học trong đời sống thực tiễn, nên các em còn xem nhẹ bộ môn hóa học
Nhiều học sinh kỉ năng vận dụng kiến thức lí thuyết, công thức hóa học vào làm các dạng bài tập hóa học còn hạn chế và kết quả chưa cao
1.7 Kết quả khảo sát học sinh khi chưa sử dụng đề tài
Kết quả kiểm tra khảo sát đối với học sinh các lớp khối 10 ban khoa học tự nhiên tại trường trung học phổ thông nơi tác giả đề tài dạy học vào đầu năm học thu được kết quả như sau:
Trang 14Về phần ý thức chủ động học tập môn hóa học tác giả thu thập được số lượng các em học sinh biết chủ động, tích cực thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao kết quả học tập môn hóa học còn ít, phương pháp học tập còn một số hạn chế, thiếu sót và đạt kết quả chưa cao
Nhìn chung các em chủ yếu học tập theo cảm tính, sở thích, độ tích cực, chủ động trong học tập môn hóa học còn nhiều hạn chế Đặc biệt là ở cấp trung học cơ
sở các em chỉ học các môn Toán, Văn, Tiếng anh, phục vụ cho thi tuyển vào lớp 10 trung học phổ thông không chuyên
Chính vì vậy, tác giả viết đề tài “Một số giải pháp nâng cao kết quả học tập
môn hóa học cho học sinh lớp 10 trung học phổ thông”, nhằm khắc phục phần nào
những khó khăn, vướng mắc của các em học sinh trong các giờ học môn hóa học ở trên lớp cũng như ở nhà trong chương trình giáo dục phổ thông 2018 môn hóa học lớp 10 bậc trung học phổ thông
Chương 2 Một số giải pháp nâng cao kết quả học tập môn hóa học cho học sinh lớp 10 trung học phổ thông
2.1 Giáo viên chủ động xây dựng môi trường học tập thân thiện
Sự thân thiện của giáo viên là điều kiện cần để những biện pháp đạt hiệu quả cao Thông qua cử chỉ, lời nói, ánh mắt, nụ cười… giáo viên tạo sự gần gũi, cảm giác an toàn nơi học sinh để các em bày tỏ những khó khăn trong học tập, trong cuộc sống của bản thân mình
Giáo viên luôn tạo cho bầu không khí lớp học thoải mái, nhẹ nhàng, không mắng hoặc dùng lời thiếu tôn trọng với các em, đừng để cho học sinh cảm thấy sợ giáo viên mà hãy làm cho học sinh thương yêu và tôn trọng mình
Bên cạnh đó, giáo viên phải là người đem lại cho các em những phản hồi tích cực Ví dụ như giáo viên nên thay chê bai bằng khen ngợi, giáo viên tìm những việc làm mà em hoàn thành dù là những việc nhỏ để khen ngợi các em
2.2 Đánh giá phân loại đối tượng học sinh
Giáo viên cần xem xét, phân loại học sinh theo đúng trình độ năng lực của các em, với những đặc điểm vốn có của các em để lựa chọn biện pháp giúp đỡ phù hợp với đặc điểm chung và riêng của từng em Một số khả năng thường hay gặp ở các em là: chênh lệch về sức khoẻ, khả năng tiếp thu bài, khả năng tự học, khả năng giao tiếp, thực hiện nhiệm vụ học tập,…
Trong quá trình soạn kế hoạch bài học, giáo viên cần cân nhắc các mục tiêu
đề ra nhằm tạo điều kiện cho tất cả các em học sinh đều được củng cố và luyện tập phù hợp với trình độ năng lực của mình
Trong dạy học cần phân hóa đối tượng học tập trong từng hoạt động, dành cho t ừ n g đối tượng học sinh những câu hỏi từ dễ đến khó, những bài tập từ đơn giản đến phức tạp để tạo điều kiện cho tất cả các em được tham gia trình
Trang 15bày trước lớp, từng bước giúp các em tìm được vị trí đích thực của mình trong tập thể lớp
Ngoài ra, giáo viên có thể tổ chức phụ đạo cho những học sinh có học lực chưa đạt và đạt, bồi dưỡng nâng cao cho những học sinh khá giỏi nhằm giúp các
em có kết quả học tập tốt hơn trong quá trình học tập Tuy nhiên, việc tổ chức tách nhóm học tập cần phải có đủ điều kiện cơ sở vật chất và có sự kết hợp của phụ huynh, học sinh, giáo viên, nhà trường thì mới đạt được kế hoạch đề ra
2.3 Giáo dục ý thức học tập cho học sinh
Trong các tiết dạy học giáo viên nên liên hệ nhiều kiến thức bài học vào thực tế để học sinh thấy được ứng dụng và tầm quan trọng của môn học trong thực tiễn Từ đây, các em sẽ yêu thích và say mê khám phá tìm tòi trong việc chiếm lĩnh tri thức khoa học
Bên cạnh đó, giáo viên phải tìm hiểu từng đối tượng học sinh về hoàn cảnh gia đình và nề nếp sinh hoạt, khuyên nhủ học sinh về thái độ học tập, tổ chức các trò chơi có lồng ghép việc giáo dục học sinh về ý thức học tập tốt và ý thức vươn lên trong học tập, làm cho học sinh thấy tầm quan trọng của việc học Đồng thời, giáo viên phối hợp với gia đình, nhà trường và xã hội trong việc giáo dục ý thức học tập của học sinh
2.4 Tăng thời gian học tập chuyên sâu và ra thêm bài tập cho những
các em có sự yêu thích bộ môn nên giáo viên dễ truyền thụ kiến thức chuyên sâu
để các em hiểu, biết và làm được bài tập
Giáo viên chưa có chương trình sách giáo khoa dạy học riêng cho đối tượng học sinh khá giỏi, chỉ dạy theo kinh nghiệm của bản thân, theo chủ quan, tự nghiên cứu, tự sưu tầm tài liệu nên gặp một số khó khăn nhất định
Trang 16Một số phụ huynh học sinh chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của con
em mình, chưa nhắc nhở, đôn đốc việc học tập và rèn luyên để con em có kết quả tốt hơn
2.4.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi
Giải pháp 1 Đối với nhà trường Thường xuyên tuyên truyền, nâng cao nhận thức về sự nghiệp giáo dục trong toàn xã hội Tăng cường công tác tham mưu cho chính quyền địa phương, phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể để thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về giáo dục Nâng cao chất lượng công tác dạy bồi dưỡng học sinh giỏi
Trên cơ sở phương hướng thực hiện nhiệm vụ năm học, ngay từ đầu năm học ban giám hiệu xây dựng kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi
Phân công chuyên môn một cách hợp lý chọn lựa những đồng chí giáo viên
có năng lực chuyên môn, có kinh nghiệm, tinh thần trách nhiệm, cố gắng phân công theo hướng ổn định có tính kế thừa và phát huy kinh nghiệm
Phát hiện, lập danh sách những em học sinh giỏi bộ môn từ đầu năm lớp 10,
cử giáo viên có kinh nghiệm dạy bồi dưỡng nâng cao và chuyên sâu
Mua sắm đầy đủ trang thiết bị như sách nâng cao, tài liệu tham khảo cho bộ môn và giáo viên được phân công giảng dạy
Tạo mọi điều kiện cho giáo viên tham gia các lớp học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kiến thức từ đồng nghiệp để đáp ứng với yêu cầu ngày càng cao của thời đại
Giải pháp 2 Đối với giáo viên bộ môn Giáo viên dạy phát hiện và lập danh sách học sinh, soạn hệ thống bài tập để bồi dưỡng học sinh trong các bài học và ở nhà bằng nhiều hình thức khác nhau
Việc lựa chọn phân loại đối tượng học sinh cần tiến hành ngay sau khi các
em vào ổn định lớp 10, để lựa chọn những em có khả năng, tư chất, trí tuệ, lòng đam mê vào nhóm học sinh giỏi, làm nguồn cho năm học kế tiếp
Bồi dưỡng học sinh giỏi cần được tiến hành thường xuyên cả trên lớp và các buổi chiều, buổi tối riêng
Giải pháp 3 Giáo viên tự học tập và tích lũy kiến thức Muốn có học sinh giỏi phải có giáo viên giỏi vì thế người thầy phải luôn luôn có ý thức tự rèn luyện, tích lũy kiến thức và kinh nghiệm, trau dồi chuyên môn, luôn xứng đáng là “người dẫn đường tin cậy” cho học sinh noi theo Phải thường xuyên tìm tòi các tư liệu, có kiến thức nâng cao trên các phương tiện, đặc biệt là trên mạng internet Lựa chọn trang Web nào hữu ích nhất, tiện dụng nhất, tác giả nào hay có các chuyên đề hay, khả quan nhất để sưu tầm tài liệu…
Trang 17Trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, khâu đầu tiên là khâu tuyển chọn học sinh khâu này rất quan trọng
Bước tiếp theo, sau khi lựa chọn được học sinh, chúng ta lập kế hoạch cho học sinh và cho mình một cách cụ thể tránh tình trạng thích đâu dạy đó Dạy theo chuyên đề là biện pháp mà tôi thấy đó là hữu hiệu nhất mà tôi sử dụng
Nắm vững phương châm: dạy chắc cơ bản rồi mới nâng cao Thông qua những bài luyện cụ thể để dạy phương pháp tư duy, dạy kiểu dạng bài có quy luật trước, loại bài có tính đơn lẻ, đặc biệt sau
Để giải được các bài toán dành cho học sinh giỏi, học sinh cần phải hiểu kiến thức một cách cơ bản, hệ thống, vững chắc, sâu sắc và có khả năng vận dụng linh hoạt
Lý do phải dạy theo những phương châm nêu trên:
+ Dạy chắc cơ bản trước rồi mới nâng cao: Các bài cơ bản là những bài ở mức độ nhận biết, thông hiểu chỉ liên quan đến một hoặc vài loại kiến thức kỹ năng, cần phải luyện tập nắm vững từng loại trước đã Sau đó mới nâng cao dần những bài tổng hợp nhiều loại kiến thức, học sinh đã nắm vững từng loại sẽ dễ dàng nhận ra và giải quyết được Đối với học sinh giỏi bước này có thể làm nhanh, hoặc cho tự làm nhưng phải kiểm tra, biết nắm chắc cơ bản rồi mới nâng cao, nếu
bỏ qua bước này trình độ của học sinh sẽ không ổn định và không vững chắc
+ Mỗi loại cần thông qua một hoặc hai bài điển hình, quan trọng là phải rút
ra phương pháp rồi cho thêm một số bài cho học sinh tự vận dụng cho thành thạo phương pháp, cần kiểm tra thẩm định xem học sinh đã nắm chắc kiến thức chưa, nếu chưa nắm chắc cần phải củng cố đến khi nắm được mới thôi
+ Hầu hết các bài đều có thể quy về một loại nào đó cùng nhiều bài khác có quy tắc giải chung, đó là phổ biến: mỗi loại bài toán có một loại nguyên tắc, phải xác định đúng loại bài, sử dụng đúng nguyên tắc là giải quyết được Nhưng đặc biệt có một số bài không theo những nguyên tắc chung, thuộc những tình huống riêng biệt, có thể sử dụng những cách riêng, thường không rõ quy luật, nhưng giải quyết nhanh Cần phải coi trọng loại bài có nguyên tắc là chính Loại sau chỉ nên giới thiệu sau khi đã học kỹ loại trên, vì loại đó học bài nào chỉ biết bài đó mà không áp dụng cho nhiều bài khác được
Giáo viên cần lưu ý một số vấn đề sau:
+ Một số giáo viên mới bồi dưỡng học sinh giỏi, thường hay nôn nóng, bỏ qua bước làm chắc kiến thức cơ bản, cho ngay bài khó, học sinh mới đầu đã gặp ngay một “mớ bòng bong”, không nhận ra và ghi nhớ được từng đơn vị kiến thức
kỹ năng, kết quả là không định hình được phương pháp từ đơn giản đến phức tạp, càng học càng hoang mang
+ Một số lại coi những bài đơn lẻ không có quy luật chung là quan trọng, cho học sinh làm nhiều hơn và trước những bài có nguyên tắc chung (coi những
Trang 18bài đó mới là “thông minh”), kết quả là học sinh bị rối loạn, không học được phương pháp tư duy theo kiểu đúng đắn khoa học và thông thường là: mỗi loại sự việc có một nguyên tắc giải quyết, chỉ cần nắm vững một số nguyên tắc là giải quyết được hầu hết các sự việc
Cuối cùng là công tác kiểm tra kiến thức sau mỗi chủ đề để nắm được khả năng tiếp thu, vận dụng của các em từ đó hướng dẫn các em rút ra được những sai sót để sửa chữa, giáo viên cũng có kế hoạch dạy những phần các em còn hổng kiến thức (nếu có)
Về chương trình bồi dưỡng
- Giáo viên cần biên soạn chương trình, nội dung bồi dưỡng rõ ràng, cụ thể, chi tiết cho các em, rèn luyện các kỹ năng ngôn ngữ theo số tiết quy định và nhất thiết phải bồi dưỡng theo quy trình từ thấp đến cao, từ dễ đến khó để các em học sinh bắt nhịp dần
- Xác định rõ trọng tâm kiến thức giảng dạy cho từng khối lớp để tránh trùng lặp Chương trình bồi dưỡng cần có sự liên thông trong suốt 3 năm
Giải pháp 4 Đối với học sinh:
- Học sinh phải nhận thức đúng về tầm quan trọng của học tập
- Học sinh phải yêu thích, có tố chất môn hóa học học, say mê trong học tập
và ham học hỏi (đây là điều kiện quan trọng)
- Học sinh phải cần cù tích luỹ và chăm chỉ rèn luyện, ngoài luyện sách giáo khoa, học sinh cần luyện thêm bài tập ở sách tham khảo và nhiều nguồn tài liệu bồi dưỡng khác
Giải pháp 5 Đối với phụ huynh:
- Quan tâm tạo điều kiện, động viên tích cực con em học tập tốt hơn
- Trang bị đầy đủ dụng cụ học tập
- Thường xuyên liên lạc với giáo viên, nhà trường để nắm tình hình học tập của con mình
- Để hỗ trợ cho công tác dưỡng học sinh giỏi có hiệu quả, lãnh đạo và các tổ chức trong trường như: Chi bộ, ban giám hiệu, công đoàn, đoàn thanh niên, tổ nhóm chuyên môn, giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm… cũng cần quan tâm,
hỗ trợ, tạo điều kiện cho giáo viên và học sinh tham gia bồi dưỡng Cụ thể như:
giảm bớt tiết dạy, bồi dưỡng thỏa đáng cho giáo viên, có chế độ ưu tiên khuyến khích đối với học sinh đội tuyển, đặc biệt là đạt giải; tuyên dương khen thưởng kịp thời đối với các giáo viên và học sinh đạt thành tích; quan tâm theo dõi và đáp ứng các nhu cầu chính đáng của giáo viên và học sinh về lịch học, phòng học và những vấn đề khác liên quan liên quan đến dạy và học
Trang 19Giáo viên có vai trò quyết định nhất đối với kết quả học tập của các em học sinh Kết quả công tác bồi dưỡng học sinh giỏi có đạt hay không, điều đó còn phụ thuộc rất lớn ở năng lực, sức khỏe, tâm lí thi cử của các em học học sinh và nhiều yếu tố liên quan khác.
2.5 Tăng cường phụ đạo và giúp đỡ thêm cho học sinh có điểm học tập
Lập danh sách học sinh yếu kém thông qua bài kiểm tra chất lượng đầu năm
và quá trình học tập trên lớp để có biện pháp hỗ trợ các em sao cho phù hợp
Điểm danh học sinh mỗi buổi học, ghi nhận và thông báo những trường hợp học sinh không thực hiện nhiệm vụ học tập để có biện pháp khắc phục
2.6 Phối hợp với nhóm chuyên môn trong việc ôn tập, ra ma trận đề và
đề thi cho học sinh
Ngay từ đầu năm học, tổ nhóm chuyên môn đã có kế hoạch ra đề cương ôn tập, ma trận đề, bảng đặc tả ma trận đề và đề kiểm tra đánh giá học sinh giữa kỳ và cuối kỳ Giáo viên ôn tập theo ma trận đề, bảng đặc tả ma trận đề cho học sinh một cách kỹ càng trước khi bước vào tham dự kiểm tra chính thức
2.7 Thực hiện vào quá trình dạy học cụ thể
Để thực hiện tốt nhất các giải pháp, giáo viên cần thực hiện đề tài trong các tiết học mà ở đó kiến thức của học sinh là tổng hợp nhất Chính vì vậy mà tác giả chọn các tiết luyện tập chương để áp dụng giải pháp thực hiện của đề tài, nhằm phát huy tối đa khả năng thể hiện của giáo viên và học sinh
2.7.1 CHƯƠNG 1 CẤU TẠO NGUYÊN TỬ
2.7.1.1 Giải pháp để đạt kết quả cao hơn khi dạy chương cấu tạo nguyên tử
Do chương này chủ yếu nghiên cứu các hạt vi mô nhỏ bé, mắt thường không nhìn thấy được, nên giải pháp chính để tăng hiệu quả, kết quả học tập là truyền thụ cho các em biết những thông tin về lý thuyết, sau đó rèn luyện kỹ năng làm bài tập
Giáo viên luyện tập cho các em bốn mức độ: Nhận biết, thông hiểu, vận dụng và vận dụng cao
2.7.1.2 Tiết 13 theo phân phối chương trình môn hóa học lớp 10
Trang 20KẾ HOẠCH BÀI DẠY: ÔN TẬP CHƯƠNG 1
Khối lượng (amu)
Khối lượng (g)
- Khối lượng nguyên tử rất nhỏ bé, để biểu thị khối lượng của nguyên tử, ta
dùng đơn vị khối lượng nguyên tử, kí hiệu amu: 1amu =
Trong nguyên tử : Số đơn vị điện tích hạt nhân = Số proton = Số electron
- Số khối: bằng tổng số hạt proton và neutron của hạt nhân đó A = Z + N
Trang 21- Nguyên tố hóa học: Nguyên tố hóa học là những nguyên tử có cùng điện
tích hạt nhân
- Số hiệu nguyên tử: Số đơn vị điện tích hạt nhân nguyên tử của 1 nguyên tố
đƣợc gọi là số hiệu nguyên tử của nguyên tố đó (Z)
- Kí hiệu nguyên tử: Z A X
- Đồng vị: là những nguyên tử có cùng số proton nhƣng khác nhau về số
nơtron, do đó số khối của chúng khác nhau
- Nguyên tử khối của một nguyên tử cho biết khối lƣợng của nguyên tử đó
nặng gấp bao nhiêu lần đơn vị khối lƣợng nguyên tử
Vì khối lƣợng nguyên tử tập trung ở hạt nhân nguyên tử nên nguyên tử khối coi nhƣ bằng số khối (khi không cần độ chính xác)
- Nguyên tử khối trung bình: Trong tự nhiên đa số nguyên tố hóa học là hỗn
hợp của nhiều đồng vị (có số khối khác nhau), khi đó nguyên tử khối của nguyên
tố là nguyên tử khối trung bình của các đồng vị đó
2 2 1 1 _
n n n
n
n x A x A x A x
x x
A x A
x A x
100
) 100
1
- Cấu hình electron nguyên tử:
+ Các electron trên cùng một lớp có mức năng lƣợng gần bằng nhau
+ Nguyên lý vững bền : Các electron trong nguyên tử ở trạng thái cơ bản lần
lƣợt chiếm các mức năng lƣợng từ thấp đến cao
Trang 22+ Nguyên tử X có số hạt ( n, p, e ) nhận thêm a electron →Ion Xa- có số hạt
3 Phẩm chất
- Tham gia tích cực hoạt động nhóm phù hợp với khả năng của bản thân;
- Hình thành thói quen tư duy, vận dụng các kiến thức đã học với thực tiễn cuộc sống;
- Có niềm say mê, hứng thú với việc khám phá và học tập hóa học
II PHƯƠNG PHÁP VÀ KĨ THUẬT DẠY HỌC
- Phương pháp dạy học theo nhóm
- Phương pháp giải quyết vấn đề
- Kỹ thuật: “Chia sẻ nhóm đôi”, “Các mảnh ghép”, “Bể cá”
III CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Hoạt động 1: Học sinh vận dụng các kiến thức đã học để làm các bài tập
ở mức độ nhận biết và thông hiểu
Mục đích: Hoạt động này nhằm đạt được mục tiêu chính của bài học Giáo viên hướng dẫn học sinh khám phá kiến thức bằng các câu hỏi hóa học Học sinh vận dụng kiến thức đã học, định hướng của giáo viên để thực hiện và hoàn thành nội dung các bài tập mà bài học đề ra
Thời gian: 10 đến 15 phút
Tổ chức hoạt động học:
Bước 1: Giáo viên chia 4 đến 6 học sinh thành một nhóm, nêu mục đích, nhiệm vụ, hướng dẫn học sinh làm việc nhóm Tùy thuộc vào trình độ năng lực học sinh của từng lớp học mà giáo viên có thể để một hoặc hai em học lực giỏi môn hóa học, không thuộc nhóm nào đi quan sát, theo dõi kết quả trả lời của từng nhóm Những em này sẽ là người thay giáo viên đưa ra kết luận sơ bộ ban đầu cho từng nhóm
Bước 2: Trình chiếu hệ thống bài tập cho học sinh theo nội dung sau:
Mức độ Nhận biết:
Đối với mức độ nhận biết, giáo viên yêu cầu tất cả các em có khả năng học tập từ mức chưa đạt đến giỏi đều phải nắm được và làm được các câu hỏi này
Câu 1: Hạt nhân của hầu hết các nguyên tử do các loại hạt sau cấu tạo nên
A electron, proton và neutron B electron và neutron
Trang 23C proton và neutron D electron và proton
Câu 2: Một nguyên tử đƣợc đặc trƣng cơ bản bằng
A Số proton và điện tích hạt nhân B Số proton và số electron
C Số khối A và số neutron D Số khối A và số hiệu nguyên tử
Câu 3: Nguyên tố hóa học bao gồm các nguyên tử
Câu 4: Điều khẳng định nào sau đây là sai ?
A Hạt nhân nguyên tử đƣợc cấu tạo bởi các hạt proton, electron, neutron
B Trong nguyên tử số hạt proton bằng số hạt electron
C Số khối A là tổng số proton (Z) và tổng số neutron (N)
D Hầu hết nguyên tử đƣợc cấu tạo nên bởi các hạt proton, electron, neutron
Câu 5: Phát biểu nào sau đây không đúng?
A Nguyên tử đƣợc cấu tạo từ các hạt cơ bản là proton, neutron, electron
B Nguyên tử có cấu trúc đặc khít, gồm vỏ nguyên tử và hạt nhân nguyên tử
C Hầu hết hạt nhân nguyên tử cấu tạo bởi các hạt proton và neutron
D Vỏ nguyên tử đƣợc cấu tạo từ các hạt electron
Mức độ thông hiểu
Đối với mức độ thông hiểu, giáo viên yêu cầu tất cả các em có khả năng học tập từ chƣa đạt đến giỏi đều phải nắm đƣợc và làm đƣợc các câu hỏi này
Câu 6: Mệnh đề nào sau đây không đúng?
(1) Số đơn vị điện tích hạt nhân nguyên tử và số khối đặc trƣng cơ bản cho một nguyên tử
(2) Chỉ có hạt nhân nguyên tử oxygen mới có 8 proton
(3) Chỉ có hạt nhân nguyên tử oxygen mới có 8 neutron
(4) Chỉ có trong nguyên tử oxygen mới có 8 electron
A 3 và 4 B 1 và 3 C 4 D 3
Câu 7: Chọn câu phát biểu sai:
1 Trong một nguyên tử luôn có số proton bằng số electron bằng số đơn vị điện tích hạt nhân
2 Tổng số proton và số electron trong một hạt nhân gọi là số khối
3 Số khối A là khối lƣợng tuyệt đối của nguyên tử
Trang 244 Số proton bằng số đơn vị điện tích hạt nhân
5 Đồng vị là các nguyên tử có cùng số proton nhưng khác nhau về số neutron
A 2, 4, 5 B 2, 3 C 3, 4 D 2, 3, 4
Câu 8: Cho ba nguyên tử magnesium có kí hiệu là 2412Mg, 2512Mg, 2612Mg Phát biểu nào sau đây là sai?
A Số hạt electron của các nguyên tử Mg lần lượt là: 12, 13, 14
B Đây là 3 đồng vị của magnesium
C Ba nguyên tử trên đều thuộc nguyên tố magnesium
D Hạt nhân của mỗi nguyên tử magnesium đều có 12 proton
Câu 9: Chọn câu phát biểu sai:
A Số khối bằng tổng số hạt proton và neutron
B Tổng số proton và số electron được gọi là số khối
C Trong 1 nguyên tử số proton = số electron = số đơn vị điện tích hạt nhân
D Số proton bằng số electron
A Nguyên tử Calcium có 2 electron lớp ngoài cùng
B Số hiệu nguyên tử của Calcium là 20
C Calcium ở ô thứ 20 trong bảng tuần hoàn
D Tổng số hạt cơ bản của Calcium là 40
Câu 12: Những phát biểu nào sau đây là đúng:
1 Orbital nguyên tử là vùng không gian xung quanh hạt nhân mà tại đó xác suất có mặt của electron là rất lớn (khoảng 90%)
2 Đám mây electron không có ranh giới rõ rệt còn obitan nguyên tử có ranh giới rõ rệt
3 Mỗi orbital nguyên tử chứa tối đa 2 electron với chiều tự quay giống nhau
4 Trong cùng một phân lớp, các electron sẽ được phân bố trên các orbital sao cho các electron độc thân là tối đa và các electron phải có chiều tự quay khác nhau
5 Mỗi orbital nguyên tử chứa tối đa 2 electron với chiều tự quay khác nhau
A 1, 3, 5 B 3, 2, 4 C 3, 5, 4 D 1, 2, 5
Bước 3: Học sinh làm việc theo nhóm
Trang 25Bước 4: Các nhóm trình bày kết quả làm việc của nhóm, các nhóm theo dõi, nhận xét và bổ sung (nếu có)
Bước 5: Giáo viên nhận xét và đưa ra đáp án chính thức
Hoạt động 2: Tìm số proton, electron, neutron, số khối, ký hiệu nguyên
tử và viết cấu hình electron nguyên tử
Mục đích: Giáo viên hướng dẫn học sinh cách giải bài tập về cấu tạo nguyên
tử, viết cấu hình electron của nguyên tử, của ion âm, ion dương
Thời gian: 20 đến 25 phút
Tổ chức hoạt động dạy học Bước 1: Giáo viên chia học sinh lớp học theo nhóm: 4 đến 6 em vào một nhóm, chia theo sơ đồ chỗ ngồi
Bước 2: Giáo viên trình chiếu hệ thống bài tập cho học sinh các câu sau đây:
Mức độ vận dụng
Câu 13: Nguyên tử của nguyên tố X có tổng số hạt là 40 Tổng số hạt mang
điện nhiều hơn tổng số hạt không mang điện là 12 hạt Nguyên tố X có số khối là:
A 27 B 26 C 28 D 23
Câu 14: Trong nguyên tử một nguyên tố A có tổng số các loại hạt là 58 Biết
số hạt proton ít hơn số hạt neutron là 1 hạt Kí hiệu của A là
A 1938K B 1939K C 2039K D 2038K
Câu 15: Tổng các hạt cơ bản trong một nguyên tử là 155 hạt Trong đó số hạt
mang điện nhiều hơn số hạt không mang điện là 33 hạt Số khối của nguyên tử đó là
A 119 B 113 C 112 D 108
Mức độ vận dụng cao
Đối với mức độ vận dụng cao, giáo viên yêu cầu học sinh mức khá, giỏi phải làm được, còn những em học sinh ở mức chưa đạt và đạt giáo thì viên ghép với
những em khá giỏi để học tập và làm các bài tương tự
Câu 16: Tổng số hạt mang điện trong ion AB43- là 50 Số hạt mang điện trong nguyên tử A nhiều hơn số hạt mang điện trong hạt nhân nguyên tử B là 22
Số hiệu nguyên tử A, B lần lượt là:
A 16 và 7 B 7 và 16 C 15 và 8 D 8 và 15
mang điện nhiều hơn số hạt không mang điện là 44 hạt Số khối của M lớn hơn số khối của X là 23 Tổng số hạt p, n, e trong nguyên tử M nhiều hơn trong nguyên tử
X là 34 hạt Công thức phân tử của M2X là:
A K O B Rb O C Na O D Li O
Trang 26Câu 18: Trong phân tử MX2 có tổng số hạt p, n, e bằng 164 hạt, trong đó số hạt mang điện nhiều hơn số hạt không mang điện là 52 hạt Số khối của nguyên tử
M lớn hơn số khối của nguyên tử X là 5 Tổng số hạt p, n, e trong nguyên tử M lớn hơn trong nguyên tử X là 8 hạt Số hiệu nguyên tử của M là:
A 12 B 20 C 26 D 9
Bước 3: Học sinh làm việc theo nhóm
Bước 4: Các nhóm trình bày kết quả làm việc của nhóm, các nhóm theo dõi, nhận xét và bổ sung (nếu có)
Bước 5: Giáo viên nhận xét và đưa ra đáp án chính thức
Hoạt động 3: Tổng kết
Thời gian:Khoảng 5 phút
Mục đích: Giáo viên tổng kết tiết học, nhận xét ưu khuyết điểm mà các nhóm thực hiện trong tiết học, những vấn đề cần rút kinh nghiệm, khắc phục trong quá trình vận dụng lý thuyết để giải bài tập tiết học tiếp theo
Nhắc các em về nhà ôn lại bài học để hiểu sâu hơn kiến thức nâng cao
2.7.1.3 Tiết 14 theo phân phối chương trình môn hóa học lớp 10
KẾ HOẠCH BÀI DẠY: ÔN TẬP CHƯƠNG 1
- Từ cấu hình electron của nguyên tử Cấu hình electron của ion tương ứng
+ Cấu hình electron của ion dương: bớt đi số electron ở phân lớp ngoài cùng của nguyên tử bằng đúng điện tích ion đó
+ Cấu hình electron của ion âm: nhận thêm số electron bằng đúng điện tích ion đó vào phân lớp ngoài cùng của nguyên tử
Trang 27- Dựa vào cấu hình electron, xác định cấu tạo nguyên tử, tính chất của nguyên tố
+ Lớp ngoài cùng có 1, 2, 3 electron nguyên tố kim loại
+ Lớp ngoài cùng có 4 electron chu kì nhỏ là phi kim, chu kì lớn là kim loại
3 Phẩm chất
- Tham gia tích cực hoạt động nhóm phù hợp với khả năng của bản thân
- Hình thành thói quen tư duy, vận dụng các kiến thức đã học với thực tiễn cuộc sống
- Có niềm say mê, hứng thú với việc khám phá và học tập hóa học
II PHƯƠNG PHÁP VÀ KĨ THUẬT DẠY HỌC
- Phương pháp dạy học theo nhóm
- Phương pháp giải quyết vấn đề
- Kỹ thuật: “Chia sẻ nhóm đôi”, “Các mảnh ghép”, “Bể cá”
III CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Hoạt động 1: Xác định nguyên tử khối trung bình, số khối, phần trăm các đồng vị, số phân tử hình thành từ nhiều nguyên tử khác nhau
Mục đích: Giáo viên cho học sinh luyện tập cách tính nguyên tử khối trung bình, số khối, phần trăm đồng vị và liệt kê số phân tử hình thành từ các nguyên tử
Thời gian: 10 đến 15 phút
Tổ chức hoạt động dạy học Bước 1: Giáo viên chia học sinh lớp học theo nhóm: 4 đến 6 em vào một nhóm, chia theo tổ học tập hoặc theo sơ đồ chỗ ngồi
Bước 2: Giáo viên trình chiếu hệ thống bài tập cho học sinh các câu sau đây:
và 157N (0,37%) Nguyên tử khối trung bình của nitrogen là
A 14,7 B 14,0 C 14,4 D 13,7
Trang 28Câu 4: Biết magnesium có 3 đồng vị 1224Mg(79%), 1225Mg(10%), còn lại là
Bước 3: Học sinh làm việc theo nhóm
Bước 4: Các nhóm trình bày kết quả làm việc của nhóm, các nhóm khác theo dõi, nhận xét và góp ý bổ sung (nếu có)
Bước 5: Giáo viên nhận xét và đưa ra đáp án chính thức
Hoạt động 2: Bài tập tìm số phân lớp, lớp, cấu hình electron, số
electron ngoài cùng, xác định nguyên tố
Mục đích: Giúp học sinh biết cách giải bài tập về xác định số phân lớp, số lớp, cấu hình electron, số electron lớp ngoài cùng và xác định tên nguyên tố
Thời gian: khoảng 10 phút
Tổ chức hoạt động dạy học Bước 1: Giáo viên chia học sinh lớp học theo nhóm: 4 đến 6 em vào một nhóm, chia theo tổ học tập hoặc theo sơ đồ chỗ ngồi
Bước 2: Giáo viên trình chiếu hệ thống bài tập cho học sinh các câu sau đây:
Mức độ thông hiểu
Câu 8: Nguyên tử của nguyên tố Aluminium có 13 electron và cấu hình
electron là 1s22s22p63s23p1 Kết luận nào sau đây đúng ?
A Lớp electron ngoài cùng của Aluminium có 3 electron
B Lớp electron ngoài cùng của Aluminium có 1 electron
C Lớp L (lớp thứ 2) của Aluminium có 3 electron
D Lớp M (lớp thứ 3) của Aluminium có 5 electron
Câu 9: Ở trạng thái cơ bản, nguyên tử của nguyên tố có số hiệu bằng 7 có
mấy electron độc thân ?
A 3 B 5 C 2 D 1