Đó là các nguyên nhân về phía chủ quan của các em và một số nguyên nhân khách quan: các em HS khi nói đến những vấn đề liên quan đến giới tính còn khá dè dặt, các em chưa mạnh dạn, chủ đ
Trang 1PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lí do chọn đề tài
Lứa tuổi học sinh trung học phổ thông (THPT) là một giai đoạn đặc biệt của
sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tâm sinh lí, tâm hồn, nhân sinh quan và các mối quan hệ Chính vì vậy, đây là giai đoạn quan trọng ảnh hưởng đến cuộc đời mỗi con người Trong đó, vấn đề sức khỏe sinh sản (SKSS) đối với học sinh nữ có một vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển bản thân từng cá nhân, gia đình và toàn
xã hội vì vậy chứa đựng giá trị nhân văn sâu sắc
Trong xã hội phát triển ngày nay, học sinh ảnh hưởng nhiều yếu tố khác nhau như chế độ dinh dưỡng, các chất kích thích trong đồ ăn thức uống, cùng với những hình ảnh, video về giới tính và tình dục tràn lan trên mạng nên nhiều em dậy thì rất sớm Với đặc điểm của lứa tuổi này rất hay tò mò và hay làm thử nên nhiều học sinh bắt đầu quan hệ tình dục trong khi chưa hiểu biết đúng đắn về SKSS Do thiếu hiểu biết về kiến thức, lại thiếu sự quan tâm giáo dục từ gia đình, nhà trường nên hiện nay lứa tuổi vị thành niên có hành vi quan hệ tình dục thiếu trách nhiệm, hệ lụy là tình trạng mang thai sớm, tỷ lệ nạo phá thai ở tuổi vị thành niên ngày một tăng Hàng năm trên thế giới có khoảng 15 triệu trẻ em gái từ 15-19 sinh con, chiếm 10% tổng số trẻ em sinh ra toàn thế giới
Việt Nam hiện nay cũng đang phải đối mặt với nhiều vấn đề liên quan đến nguy cơ về sức khoẻ sinh sản vị thành niên Là nước có tỷ lệ nạo phá thai ở tuổi vị thành niên cao nhất Đông Nam Á và xếp thứ 5 trên thế giới, mỗi năm Việt Nam có khoảng 300.000 ca nạo hút thai ở độ tuổi 15 – 19 (Hội thảo “Sức khoẻ sinh sản vị thành niên, thanh niên” 14/12/2021)
Tại các trường THPT, có tới 1/3 các bạn học sinh chưa được tiếp cận với các biện pháp tránh thai an toàn, đặc biệt chưa biết cách xử lý khi mang thai ngoài ý muốn
có đến 90% biết nguy cơ mang thai ngoài ý muốn nhưng có tới 80% các em không dùng biện pháp tránh thai
Ở những vùng nông thôn miền núi, do chất lượng cuộc sống còn thấp, nhận thức còn hạn chế, sự giáo dục tuyên truyền về sức khoẻ sinh sản còn chưa được quan tâm đúng mức, nên tỉ lệ mang thai sớm và nạo phá thai ở lứa tuổi vị thành niên còn cao Trường THPT Đô lương 2 là một ngôi trường đóng tại địa bàn xã Lam Sơn huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An, học sinh của trường chủ yếu ở các xã miền núi huyện Đô Lương Nhận thức của học sinh ở đây về hậu quả của quan hệ tình dục không an toàn vẫn chưa cao nên mức độ vận dụng để có tình dục an toàn còn ở mức thấp Học sinh có biết về quá trình thụ thai nhưng lại chưa nắm được thời điểm mang thai Các biện pháp tránh thai nằm ở mức độ “chưa biết”, chỉ có một vài biện pháp ở mức độ “biết chút ít” như biện pháp bao cao su, thuốc tránh thai Khảo sát về sức khoẻ sinh sản tại trường năm 2022 cho thấy mỗi năm có khoảng hơn 20 học sinh bỏ học, trong đó có khoảng 6 học sinh nữ bỏ học vì mang thai ngoài ý muốn Điều đó không
Trang 2chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe, cuộc sống, khả năng học tập, tương lai của chính các
em mà còn tác động lớn đến chất lượng dân số của toàn xã hội
Có một số nguyên nhân dẫn đến thực trạng nhận thức của HS nữ THPT về vấn đề SKSS Đó là các nguyên nhân về phía chủ quan của các em và một số nguyên nhân khách quan: các em HS khi nói đến những vấn đề liên quan đến giới tính còn khá dè dặt, các em chưa mạnh dạn, chủ động trong quá trình tìm hiểu hay tiếp thu những kiến thức SKSS, thiếu nguồn thông tin, thiếu sự quan tâm của gia đình…
Bên cạnh đó, trong chương trình đào tạo của Việt Nam, vấn đề giáo dục giới tính cho HS chưa được quan tâm đúng mức Chưa hề có môn giáo dục giới tính được đưa vào nội dung giảng dạy Giáo dục giới tính và SKSS được lồng ghép vào một
số nội dung trong môn Sinh học, Giáo dục công dân, Hướng nghiệp Tuy nhiên, những nội dung đó vẫn còn chung chung, chưa đáp ứng được nhu cầu hiểu biết và
sự cần thiết phải nắm vững các kiến thức về giới tính của các em HS Hơn nữa, đội ngũ giáo viên giảng dạy các bộ môn khi đề cập đến những kiến thức về giới tính - SKSS còn ngượng ngại, không tự tin phân tích cho các em…
Như vậy, việc giáo dục giới tính và SKSS cho học sinh nữ THPT là vấn đề cần
thiết và cấp bách Chính vì những lí do đó mà chúng tôi chọn đề tài “Một số biện pháp nhằm nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản cho học sinh nữ trường THPT Đô Lương 2 huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An” với mong muốn góp phần
nâng cao nhận thức để có những định hướng và biện pháp chăm sóc sức khỏe sinh sản khoa học và hiệu quả hơn
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Đề xuất một số biện pháp nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản cho học sinh nữ trường THPT Đô Lương 2 huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về sức khỏe sinh sản và tâm lí lứa tuổi vị thành niên
- Khảo sát và đánh giá thực trạng nhận thức về sức khoẻ sinh sản cho học sinh
nữ trường THPT Đô Lương 2 huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An
- Đề xuất một số phương pháp nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản cho học sinh nữ ở trường THPT Đô Lương 2
- Khảo nghiệm tính khả thi của các giải pháp
3 Giới hạn nghiên cứu
- Giới hạn nội dung: Đề tài tập trung vào nghiên cứu thực trạng, nhận thức về
sức khoẻ sinh sản của học sinh nữ trường THPT Đô Lương 2 huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An và một số phương pháp nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản cho các
em
Trang 3- Địa bàn nghiên cứu: Học sinh nữ trường THPT Đô Lương 2, tỉnh Nghệ An
- Thời gian nghiên cứu: Trong 2 năm học: 2021- 2022 và 2022 - 2023
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu lý luận nhận thức về sức khỏe sinh sản cho học sinh THPT để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
4.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp dùng phiếu điều tra bằng bảng hỏi (Ankét): Khảo sát thu thập
thông tin và đánh giá về thực trạng, nhận thức về sức khoẻ sinh sản của học sinh nữ trường THPT Đô Lương 2 huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An
- Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân: Phương pháp này được thực hiện để thu
thập những thông tin định tính, nhằm làm phong phú thêm cho những thông tin định An
- Các phương pháp đối chiếu so sánh: Sử dụng các phương pháp đối chiếu so
sánh các số liệu, kết quả thống kê giữa nhóm thử nghiệm và đối chứng để có được những đánh giá khách quan, chính xác, khoa học
lượng nhằm thu thập chi tiết thực trạng và các giải pháp nâng cao nhận thức về
SKSS của học sinh
4.3 Phương pháp xử lý số liệu
- Các phương pháp thống kê toán học: Sử dụng các công thức toán thống kê
như: số trung bình cộng, số trung bình, hệ số tương quan…để thu thập, xử lý số liệu định lượng kết quả nghiên cứu từ đó đề xuất một số phương pháp nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản của học sinh nữ trường THPT Đô Lương 2 huyện Đô Lương tỉnh Nghệ
5 Đóng góp của đề tài
5 1 Tính mới của đề tài
- Về lý luận: Sáng kiến đóng góp những phương pháp nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản của học sinh nữ trường THPT
- Về thực tiễn: Đi sâu vào các giải pháp cụ thể, có tính khả thi cao để nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản của học sinh nữ trường THPT
5.2 Những đóng góp của đề tài
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về những kiến thức, kỹ năng sống đầy đủ về giới tính, sức khỏe sinh sản đối với học sinh nữ THPT
- Làm sáng tỏ thực trạng, nhận thức về sức khỏe sinh sản của học sinh nữ trường THPT Đô Lương 2, tỉnh Nghệ An
- Đề xuất được một số phương pháp nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản của học sinh nữ trường THPT nhằm cung cấp cho các em những kiến thức, kỹ năng
Trang 4sống đầy đủ về giới tính, sức khỏe sinh sản để các em chủ động, tích cực bảo vệ cho chính mình góp phần to lớn, quan trọng trong việc phát triển thể lực, trí tuệ, giáo dục đạo đức, kĩ năng sống cho học sinh nữ từ đó thích ứng tốt trong thời đại hiện nay
- Kết quả nghiên cứu đề tài trở thành tài liệu tham khảo cho công tác giáo dục
kĩ năng sống trong các trường phổ thông
6 Cấu trúc của đề tài
Phần I Đặt vấn đề Phần II Nội dung đề tài Phần III Một số kết luận và khuyến nghị
Trang 5PHẦN II NỘI DUNG
1 Cơ sở lí luận và thực tiễn 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Một số khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm về nhận thức
Để có thể sống và hoạt động con người phải nhận thức, tỏ thái độ (tình cảm),
và hành động đối với thế giới khách quan Như vậy, nhận thức là một trong ba mặt
cơ bản của đời sống tâm lý con người (nhận thức, tình cảm và hành động) Nhận thức có quan hệ chặt chẽ với tình cảm và hành động cũng như với các hiện tượng tâm lý khác của con người Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khẳng định: “Nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào trong đầu óc của con người trên cơ sở thực tiễn” [35, tr.249]
Trong Tâm lý học, nhận thức được coi là một qúa trình tâm lý, có nghĩa là có khởi đầu, diễn biến, kết thúc Ở con người, quá trình này thường gắn với mục đích nhất định nên nhận thức của con người là một hoạt động Đặc trưng nổi bật nhất của hoạt động nhận thức là phản ánh hiện thực khách quan Hoạt động nhận thức bao gồm nhiều qúa trình khác nhau, thể hiện những mức độ phản ánh hiện thực khác nhau (cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng ) và mang lại những sản phẩm khác nhau về hiện thực khách quan (khái niệm, hình ảnh, biểu tượng)
a Các mức độ của nhận thức
Căn cứ vào tính chất phản ánh có thể chia hoạt động nhận thức thành hai mức độ: Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính
- Nhận thức cảm tính: Nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu, sơ đẳng trong toàn
bộ hoạt động nhận thức của con người Đặc điểm chủ yếu của nhận thức cảm tính
là chỉ phản ánh những thuộc tính bề ngoài, cụ thể của sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của con người Nhận thức cảm tính gồm có 2 mức
độ : Cảm giác và tri giác
+ Cảm giác: Là một qúa trình tâm lý phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật và hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan [37, tr 82]
+ Tri giác: Là một qúa trình tâm lý phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính
bề ngoài của sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của ta [37,
tr 83]
- Nhận thức lý tính: Nhận thức lý tính là giai đoạn cao hơn của nhận thức cảm
tính Nhận thức lý tính phản ánh những mối liên hệ bản chất của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà con người chưa biết Do vậy mà nhận thức lý tính
có vai trò rất quan trọng trong việc hiểu bản chất, những mối liên hệ có tính quy luật của sự vật hiện tượng tạo điều kiện để con người làm chủ tự nhiên, xã hội và bản thân mình Nhận thức lý tính bao gồm hai mức độ : Tư duy và tưởng tượng
Trang 6+ Tư duy: Là một quá trình phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết [37, tr 92]
+ Tưởng tượng: Là một qúa trình tâm lý phản ánh những cái chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có [37, tr 104] Trong hoạt động nhận thức của con người nhận thú cảm tính và nhận thức lý tính có quan hệ chặt chẽ với nhau, bỏ sung, hỗ trợ cho nhau Lênin cũng đã tổng kết mối quan hệ này thành quy luật của hoạt động nhận thức “ từ trực quan sinh động đến tư dy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn – đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan” [12, tr.98] Như vậy, hoạt động nhận thức giúp con người nhận biết được những thuộc tính bề ngoài và những thuộc tính bên trong của sự vật hiện tượng Nói cách khác hoạt động nhận thức giúp con người hiểu biết về các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan Sự hiểu biết ấy có thể diễn ra ở nhiều mức độ khác nhau như đã nêu trên Tuy nhiên, trong nghiên cứu đánh giá nhận thức của người học người ta thường vận dụng thang đo mức độ nhận thức của Benjamin S.Bloom
b Các mức độ của nhận thức theo tác giả Benjamin S.Bloom
Theo S.Bloom có 6 cấp độ trong nhận thức, đó là: nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá Tuy nhiên, trong đánh giá nhận thức của học sinh, người ta thường chỉ đánh giá 3 mức độ: biết, hiểu và vận dụng Cụ thể:
`- Mức độ 1(biết): Là mức độ nhận thức ở bậc thấp, chỉ nắm được những dấu
hiệu bên ngoài của khái niệm, chưa có được khả năng liên hệ những dấu hiệu bên ngoài với bản chất bên trong, chưa có khả năng vận dụng để giải quyết những tình huống, những hiện tượng Hiểu biết ở mức độ này được biểu hiện bằng các dấu hiệu sau : nhận ra vấn đề, nhận biết được hình thức bên ngoài, nhận biết được một số biểu hiện cụ thể
- Mức độ 2 (hiểu): Nắm được một số thuộc tính bản chất, nắm được mối liên
hệ giữa những thuộc tính bản chất với những dấu hiệu bên ngoài, nắm được khái niệm nhưng có thể chưa biết vận dụng tốt những thuộc tính đó để giải quyết vấn đề
- Mức độ 3 (vận dụng): Nắm vững các thuộc tính bản chất, nắm vững khái
niệm và có thể dùng khái niệm để giải quyết các vấn đề, các tình huống Trong đề tài nghiên cứu của mình, người nghiên cứu khảo sát nhận thức của sinh viên hệ cao đẳng trường Đại học Đồng Nai về vấn đề sức khoẻ sinh sản ở 3 mức độ: biết, hiểu
và vận dụng như đã nêu trên
1.1.1.2 Sức khỏe sinh sản
a Khái niệm về sức khỏe sinh sản
Theo tổ chức y tê thế giới (WHO), SKSS “là trạng thái hoàn toàn khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và xã hội của tất cả những gì liên quan đến hoạt động và chức năng
Trang 7của bộ máy sinh sản chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật hay khuyết tật gì”
[30, tr 114] Đây là định nghĩa về SKSS đã được chấp nhận và chính thức hóa trong phạm vị toàn thế giới kể từ nghị quốc tế lần thứ tư về dân số và phát triển, họp tại Cairo, thủ đô Ai Cập vào tháng 9/1994
Trước đây, khi nói đến khái niệm SKSS, người ta thường nghĩ rằng đó chỉ đơn thuần là những vấn đề như kế hoạch hóa gia đình, vấn đề sinh sản và sức khỏe của phụ
nữ [18, tr 24] Tuy nhiên theo định nghĩa về SKSS như trên của tổ chức y tế thế giới thì SKSS bao gồm cả yếu tố thể chất, và đặc biệt cả yếu tố tinh thần, xã hội có liên quan đến bộ máy sinh sản Trong đề tài nghiên cứu của mình chúng tôi cũng đồng tình
và theo quan điểm về SKSS trên của tổ chức ý tế thế giới “Sức khỏe sinh sản hàm ý cho con người có thể có một cuộc sống tình dục an toàn, thỏa mãn và có quyền sinh sản và tự do quyết định sinh sản”
Như vậy, khái niệm SKSS còn ngụ ý đó là sức khỏe tình dục, đảm bảo con người
có thể có cuộc sống tình dục khỏe mạnh - trước, trong và sau khi sinh hoạt tình dục, có thể mang thai và sinh nở nếu họ muốn hoặc có thể chỉ sinh hoạt tình dục đơn thuần không vì mục đích sinh con Cũng theo tổ chức y tế thế giới, khi bàn đến sức khỏe sinh sản cũng phải nói đến quyền của nam giới và phụ nữ được thông tin và tiếp cận các biện pháp kế hoạch hóa gia đình an toàn, hiệu quả đủ khả năng chấp nhận được, cũng như các biện pháp khác họ tự chọn để điều hòa sinh sản mà không trái với pháp luật, quyền được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe thích hợp, giúp người phụ nữ được
an toàn từ lúc mang thai đến khi sinh nở và đem lại cho các cặp vợ chồng điều may mắn là sinh được những đứa con khỏe mạnh
Như vậy: khái niệm SKSS bao hàm trong nó các vấn đề có liên quan đến sinh sản: thể chất, tinh thần, xã hội Tất cả các yếu tố này đảm bảo cho một đời sồng tình dục và sinh sản khỏe mạnh, lành mạnh góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của con người
b Nội dung cơ bản của vấn đề sức khỏe sinh sản
SKSS là một vấn đề của giới tính, nó lại có quan hệ mật thiết với vấn đề dân số, giáo dục dân số, vì vậy các nội dung của SKSS đã được trình bày trong các tài liệu về giới tính và giáo dục dân số cũng như các tài liệu về SKSS
Vấn đề SKSS là vấn đề có nội dung khá phong phú, có nhiều cách hiểu khác nhau, nhiều quan điểm khác nhau
Theo Quỹ dân số Liên hợp quốc vấn đề này gồm 6 nội dung chính: tình dục, kế hoạch hóa gia đình, sức khỏe phụ nữ và làm mẹ an toàn, nhiễm khuẩn sinh sản và bệnh lây truyền qua đường tình dục, phá thai, vô sinh
Theo tác giả Đào Xuân Dũng, vấn đề SKSS bao gồm một số vấn đề cụ thể sau:
- Hành vi sinh sản và tình dục có trách nhiệm
- Dịch vụ KHHGĐ rộng rãi và thuận tiện
Trang 8- Kiểm soát có hiệu quả các bệnh nhiễm khuẫn đường sinh sản
- Phòng và điều trị vô sinh
- Loại trừ phá thai không an toàn
- Phòng và điều trị các bệnh ác tính ở cơ quan sinh sản
Ngoài ra SKSS còn có ảnh hưởng qua lại với nhiều khía cạnh khác của sức khỏe, đặc biệt HIV/AIDS, sức khỏe trẻ em, sức khỏe vị thành niên, tình dục, lối sống và môi trường
Còn tác giả Bùi Ngọc Oánh lại cho rằng nội dung cơ bản của vấn đề SKSS bao gồm:
- Tình trạng sức khỏe của hệ cơ quan sinh dục nam và nữ …
- Sự dậy thì và sự chín muồi giới tính, sự nảy sinh xuất hiện những nhu cầu của đời sống tình dục
- Những biểu hiện của đời sống tình dục và những chức năng khác trong hoạt động của các cơ quan sinh dục
- Đời sống tình dục trong đó có sức khỏe tình dục
- Sự thụ thai và các vấn đề phòng tránh, chữa trị trong sinh nở nuôi con … + Vấn
đề KHHGĐ
- Những kiến thức về bệnh lý liên quan đến đường tình dục
- Ý thức và trách nhiệm trong quan hệ yêu đương, quan hệ tình dục
- Ý thức tôn trọng phụ nữ, tôn trọng quyền bình đẳng nam nữ Tuy có nhiều quan điểm khác nhau song tựu trung lại các tác giả đều đồng ý rằng vấn đề SKSS bao gồm một số nội dung cơ bản sau:
- Cấu tạo, chức năng, hoạt động của cơ quan sinh dục
- Các vấn đề về mang thai và làm mẹ an toàn
- Vấn đề bình đẳng giới trong chăm sóc SKSS - Chăm sóc sức khỏe của phụ nữ
và trẻ em Từ những nội dung cơ bản nêu trên, đối với từng lứa tuổi người ta lại nhấn mạnh đến một số nội dung trọng tâm khác nhau và yêu cầu hiểu biết ở mức độ khác
Trang 9Theo Quỹ dân số Liên hợp quốc chăm sóc SKSS bao gồm có 6 nội dung chính:
tình dục, kế hoạch hóa gia đình, sức khỏe phụ nữ và làm mẹ an toàn, nhiễm khuẩn sinh sản và bệnh lây truyền qua đường tình dục, phá thai, vô sinh Trên cơ sở 6 nội dung chính đó, mỗi quốc gia lại có những vấn đề ưu tiên riêng
1.1.1.4 Giáo dục SKSS
Trên thực tế các nội dung của SKSS không phải chỉ thể hiện trong một môn gọi
là “Giáo dục SKSS” Thông thường các nội dung của SKSS được thể hiện phong phú,
đa dạng trong các môn học, chuyên đề khác nhau như: “Giáo dục giới tính”, “Giáo dục dân số” Giáo dục SKSS là một bộ phận của “Giáo dục giới tính” và giáo dục SKSS cũng có mối quan hệ mật thiết, chặt chẽ với “giáo dục dân số” Theo tác giả Bùi Ngọc Oánh, giáo dục SKSS là “hoạt động giáo dục trang bị cho con người tri thức và những kỹ năng gìn giữ, đảm bào cho SKSS ở tình trạng tốt, giúp cho con người có sức khỏe, có đời sống tình dục an toàn, yêu đương lành mạnh, gia đình hạnh phúc, có tri thức đầy đủ về SKSS, bảo đảm được sự sinh nở bình thường, nuôi con khỏe mạnh, thông minh và phát triển”
Mục tiêu cơ bản của giáo dục SKSS là gây tác động đến vấn đề sức khỏe, cụ thể bao gồm các vấn đề có liên quan đến hệ sinh sản và các vấn đề sức khỏe có liên quan đến giống nòi Ở Việt Nam, vấn đề SKSS chủ yếu đặt ra đối với lứa tuổi thanh thiếu niên đó là: tình trạng mang thai ngoài ý muốn, các bệnh LTQĐTD, vấn đề nạo phá thai
và các vấn đề khác có liên quan như sự phân biệt, trọng nam khinh nữ, vấn đề bạo lực đối với phụ nữ Việc giáo dục SKSS phải làm cho thanh thiếu niên có hiểu biết và có những quyết định và thái độ đúng đắn hơn đối với những vấn đề này
1.1.1.5 Học sinh Trung học phổ thông
a Khái niệm học sinh THPT
Hiện nay có nhiều cách định nghĩa khác nhau về học sinh:
Theo từ điển tiếng Việt: “học sinh là người học ở bậc phổ thông”, tức là giới hạn đối tượng là những người đang học ở bậc phổ thông (tiểu học, Trung học cơ sở
và Trung học phổ thông) Theo từ điển Giáo dục học: Học sinh bậc trung học phổ thông thuộc lứa tuổi đầu thanh niên từ 14-15 tuổi đến 17-18 tuổi Như vậy học sinh Trung học phổ thông nằm trong độ tuổi từ 14-15 tuổi đến 17-18 tuổi, là những người đang theo học các trường THPT trong hệ thống giáo dục quốc dân
Trang 10b Đặc điểm tâm, sinh lí của HS THPT
Tuổi đầu thanh niên (14 – 18 tuổi) là thời kì đạt được sự trưởng thành về mặt
thể lực, nhưng sự phát triển cơ thể còn kém so với sự phát triển cơ thể của người lớn Lứa tuổi này là sự chuyển tiếp từ thời thơ ấu sang tuổi trưởng thành Sự khác biệt cơ bản của lứa tuổi VTN với các em ở lứa tuổi khác là sự phát triển mạnh mẽ, thiếu cân đối giữa các mặt: cơ thể, trí tuệ, tâm sinh lí
Thời kì VTN được đặc trưng bởi sự phát triển rất nhanh cả về trí và thể lực, thời kì này không dài nhưng lại có nhiều biến động về tâm lí và sinh lí Các hiện tượng tâm lí trong giai đoạn này có đặc điểm biến động nhanh, mạnh, có tình trạng mất cân đối của hiện tượng tâm lí Tuổi VTN thường có những hành vi, những thử nghiệm biểu hiện sự hào phóng, có khi có nguy cơ gây hại cho bản thân và xã hội
Mặt khác, ở độ tuổi này VTN chưa được trang bị đầy đủ kiến thức về SKSS, làm
mẹ an toàn nên có nhiều tai biến sản khoa trong quá trình sinh đẻ vì vậy nếu mang thai và sinh con ở độ tuổi này sẽ gây ảnh hưởng không tốt đến quá trình phát triển theo quy luật tự nhiên và ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của người mẹ Vì vậy cần
có sự nỗ lực của bản thân VTN, sự quan tâm, định hướng của nhà trường, gia đình
và xã hội để VTN phát triển nhân cách đúng hướng, tránh các sai lệch không đáng
có Cần có giáo dục về SKSS, về hôn nhân gia đình…tạo điều kiện cho các em vượt qua giai đoạn khủng hoảng của tuổi dậy thì để trở thành người lớn với đúng nghĩa của nó
1.1.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức về SKSS
Các yêu tố ảnh hưởng đến nhận thức về SKSS có thể phân chia thành các yếu
tố chủ quan và các yếu tố khách quan
1.1.2.1 Một số yếu tố chủ quan
Những yếu tố thuộc về thể chất như: sự hoàn thiện về cơ thể, sự trưởng thành
về mặt sinh dục có ảnh hưởng quan trọng đến nhận thức của sinh viên về SKSS
Những yếu tố tâm lý có thể kể đến như tính tích cực nhận thức, sự quan tâm, nhu cầu, hứng thú… của chính học sinh đối với vấn đề SKSS
Giáo dục có ảnh hưởng một cách tự giác, chủ động đến nhận thức của học sinh
về SKSS Giáo dục SKSS là một bộ phận của giáo dục nhân cách học sinh Vấn đề giáo dục SKSS cho vị thành niên vẫn còn nhiều ý kiến trái chiều Một bộ phận không nhỏ (đặc biệt là các bậc cha mẹ) còn cho rằng giáo dục SKSS là “vẽ đường cho hươu chạy”, sẽ làm tăng hoạt động tình dục ở thanh thiếu niên Một bộ phận lại
Trang 11cho rằng cần phải giáo dục SKSS cho thanh thiếu niên bởi tính cấp thiết của nó, hoạt động này không làm tăng hoạt động tình dục như nhều người vẫn thường nghĩ
Về mặt lý luận khi có nhận thức (hiểu biết) đầy đủ, đúng đắn thì sẽ có thái độ và hành vi phù hợp Cho nên nếu có hiểu biết đầy đủ về SKSS thì học sinh sẽ dè dặt hơn khi bước vào đời sống tình dục sớm (tức hạn chế được hành vi tình dục) và nếu
có bước vào đời sống tình dục ở tuổi học sinh thì cũng biết cách để lựa chọn tình dục an toàn, biết cách tránh thai và phòng tránh các bệnh VNĐSS và bệnh LQĐTD
- Các yếu tố khác: yếu tố kinh tế xã hội, dư luận xã hội Trong các nhóm yếu tố trên, nhóm yếu tố giáo dục có vị trí quan trọng nhất ảnh hưởng đến nhận thức của học sinh về SKSS
1.1.2.3 Ý nghĩa của việc giáo dục SKSS vị thành niên cho HS lớp chủ nhiệm
Từ cơ sở lý thuyết nêu trên, có thể khẳng định rằng, giáo dục giới tính - SKSS
cho HS vừa là chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm của GVCN trước nhà trường và cha mẹ học sinh, vừa là mục đích và phương tiện để giáo dục nhân cách từng HS
Mỗi người GVCN nếu giáo dục SKSS cho HS lớp chủ nhiệm sẽ mang lại hiệu quả giáo dục vô cùng ý nghĩa:
- Nhân cách của mỗi thành viên HS trong lớp ngày càng được hoàn thiện tốt đẹp với sự hòa quyện giữa phẩm chất chung của người học sinh trong mục tiêu giáo dục của nhà trường và mục tiêu giáo dục của lớp chủ nhiệm
- Lớp học sẽ trở thành nơi để mỗi thành viên HS đều được bày tỏ suy nghĩ, trao đổi tâm tư tình cảm và giải tỏa những thắc mắc trong học tập, trong quan hệ bạn bè và những vấn đề về SKSS vị thành niên
- Từ đó sẽ hỗ trợ HS rèn luyện kỹ năng sống, tăng cường ý chí, niềm tin, bản lĩnh, thái độ ứng xử phù hợp trong các mối quan hệ xã hội, rèn luyện sức khỏe thể chất và tinh thần, góp phần xây dựng và hoàn thiện nhân cách
- Góp phần ổn định đời sống tâm hồn, tình cảm và giúp HS thực hiện được nguyện vọng và ước mơ của mình
2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 2.1 Khái quát về địa bàn khảo sát Trường THPT Đô lương 2 là một ngôi trường đóng tại địa bàn xã Lam Sơn
huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An, học sinh của trường chủ yếu ở các xã Ngọc Sơn, Lam Sơn, Bài Sơn, Giang Sơn (Giang sơn Đông, Giang sơn Tây), Hồng Sơn, Nam Sơn đây là những xã có điều kiện kinh tế còn khó khăn, trình độ dân trí thấp Nhận thức của học sinh ở đây về hậu quả của quan hệ tình dục không an toàn vẫn chưa cao nên mức độ vận dụng để có tình dục an toàn còn ở mức thấp Học sinh có biết về quá trình thụ thai nhưng lại chưa nắm được thời điểm mang thai Các biện pháp tránh thai nằm ở mức độ “chưa biết”, chỉ có một vài biện pháp ở mức độ “biết chút ít” như biện pháp bao cao su, thuốc tránh thai Khảo sát về sức khoẻ sinh sản tại trường năm 2022
Trang 12cho thấy mỗi năm có khoảng hơn 20 học sinh bỏ học, trong đó có khoảng 6 học sinh
nữ bỏ học vì mang thai ngoài ý muốn Điều đó không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe, cuộc sống, khả năng học tập, tương lai của chính các em mà còn tác động lớn đến chất lượng dân số của toàn xã hội
2.2 Kết quả khảo sát GV về giáo dục SKSS HS nữ ở trường THPT Đô Lương 2
Kết quả hỏi ý kiến giáo viên ở trường THPT Đô Lương 2 (link khảo sát)
https://forms.gle/EGyjvURnCDGvx1if6 có 38 giáo viên trả lời trong đó có các
câu hỏi đem lại kết quả đáng chú ý là:
Khi được hỏi về sự cần thiết của việc giáo dục nâng cao nhận thức về SKSS của HS nữ trường THPT Đô Lương 2 thì có đến 78,9 % giáo viên cho là rất cần thiết, 21,1 % giáo viên cho là cần thiết và không có giáo viên nào cho là không cần thiết 0%
Khi được hỏi về việc Thầy cô đã giáo dục sức khỏe sinh sản cho HS nữ ở trường THPT Đô Lương 2 chưa thì có đến 71,1% trả lời có nhưng ít, 21,1% thường xuyên và 7,9 % là chưa từng
Trang 13Khi được hỏi về việc Thầy cô có tổ chức giáo dục SKSS cho HS nữ lớp mình chủ nhiệm ở trường THPT Đô Lương 2 thì có đến 73,7 % giáo viên trả lời là có nhưng ít, 18,4 % giáo viên trả lời là thường xuyên và 7,9 % giáo viên trả lời là chưa từng
2.3 Kết quả khảo sát nhận thức về SKSS của HS nữ THPT Đô Lương 2 Nghệ An
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát học sinh nữ ở 3 khối 10,11,12 trường THPT
Đô Lương 2 với 611 em HS thực hiện bằng hệ thống câu hỏi thông qua phiếu khảo sát (link khảo sát) https://forms.gle/3dAGeGBSdK128SiMA kết hợp với phỏng vấn
sâu chúng tôi thu được kết quả như sau:
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát với tổng số điều tra là 611 lượt học sinh nữ của 3 khối với độ tuổi 15, 16, 17 và 18 tuổi có kết quả như sau:
Trang 14Ở độ tuổi 15 chỉ có 44 HS tham gia chiếm 7,2%, độ tuổi 16 có 191 HS tham gia chiếm 31,3%, độ tuổi 17 có 206 HS tham gia chiếm 33,7% và 18 tuổi 134 HS tham gia chiếm 21,9%
2.3.1 Nhận thức của học sinh nữ trường THPT Đô Lương 2 đối với các nội dung SKSS
Để tìm hiểu nhận thức của các bạn về một số nội dung của SKSS, chúng tôi đã
để cho các em HS tự đánh giá về mức độ hiểu biết của mình đối với từng nội dung
rõ gần 250 HS, biết gần 150 HS, chưa biết gần 50 HS và hoàn toàn không biết là không Nạo phá thai mức biết rất rõ gần 200 HS, biết rõ hơn 250 HS, biết hơn 100
HS, chưa biết gần 50 HS và hoàn toàn không biết có 1 vài HS Các biện pháp tránh thai biết rất rõ 200 HS, biết rõ hơn 200 HS, biết hơn 100 HS, chưa biết gần 50 HS
và hoàn toàn không biết có 1 vài HS Các bệnh VNĐSS và bệnh LQĐTD mức biết rất rõ 200 HS, biết rõ gần 250 HS, biết hơn 100 HS, chưa biết khoảng 50 HS và hoàn toàn không biết không Vô sinh biết rất rõ gần 200 HS, biết rõ hơn 250 HS, biết 100 HS, chưa biết gần 50 HS và hoàn toàn không biết có 1 vài HS
Trang 152.3.3 Nhận thức về tình dục an toàn Trong đề tài chúng tôi đã khảo sát nhận thức của các em HS về TDAT,
cụ thể tìm hiểu xem các em hiểu như thế nào về khái niệm tình dục an toàn, hậu quả của QHTD không an toàn, cần phải làm gì để có QHTD an toàn
Biểu đồ 2: Mức hiểu biết về tình dục an toàn
Kết quả ở biểu đồ 2 cho thấy trên 45,6% học sinh đã chỉ ra một cách chính xác, đầy đủ về khái niệm tình dục an toàn (tức đạt mức hiểu về khái niệm) Có 26,9%
học sinh đã nhận ra được một số dấu hiệu cơ bản của khái niệm tình dục an toàn, nhưng chưa đầy đủ (xếp vào mức biết), 20,5% chưa có hiểu biết gì về khái niệm này Như vậy, phần lớn các bạn đã nhận biết được các dấu hiệu cơ bản của khái niệm tình dục an toàn, trong đó hơn một nửa số học sinh đã nhận thức đầy đủ các dấu hiệu cơ bản của khái niệm (tức hiểu về khái niệm tình dục an toàn) Có thể đánh giá mức hiểu về khái niệm tình dục an toàn vẫn chưa cao Học sinh nữ THPT độ tuổi 17 đạt mức hiểu cao hơn so với học sinh nữ THPT độ tuổi 16 và độ tuổi 15
Học sinh nữ THPT ở độ tuổi 16 và 15 chủ yếu đạt mức biết, số học sinh nữ không biết về khái niệm tình dục an toàn tập trung cao ở độ tuổi 15
2.3.4 Nhận thức về hậu quả của QHTD không an toàn
Trong đề tài chúng tôi đưa ra 5 hậu quả của QHTD không an toàn Kết quả ở biểu đồ 3 cho thấy phần lớn HS đã biết đến một số hậu quả của QHTD không an toàn, số HS nữ chưa biết về hậu quả của QHTD không an toàn chiếm tỷ lệ (3,8%)
Trong 5 hậu quả mà chúng tôi đưa ra thì hậu quả bị nhiễm HIV và các bệnh lây qua đường tình dục được các bạn học sinh nữ biết đến nhiều nhất với 81.4%; vô sinh là hậu quả mà các bạn biết đến ít nhất (14,8%), nó là hậu quả kéo theo của việc bị nhiễm các VNĐSS và bệnh LQĐTD Chúng tôi đã phỏng vấn các bạn và các thầy
cô giáo về lý do HS nữ THPT là đối tượng dễ có QHTD không an toàn thì được biết
là: “do lứa tuổi này dễ rung động trước người bạn khác giới, xúc cảm yêu đương
phát triển nhanh và mạnh; chưa ý thức được hậu quả từ hành vi tình dục của mình”
Trang 16Biểu đồ 3: Mức độ nhận thức hậu quả QHTD không an toàn
2.3.5 Nhận thức về các biện pháp QHTD an toàn
Để tìm hiểu khả năng vận dụng tri thức về tình dục an toàn vào trong thực tế
cuộc sống chúng em đã đặt ra câu hỏi “Để thực hiện tình dục an toàn cần phải làm
gì” và điều tra mở một tình huống nhằm thăm dò thái độ của các bạn về việc mang
theo bao cao su khi đi chơi với người yêu Kết quả nhận thức đối với từng biện pháp như sau:
Biểu đồ 4 Nhận thức của HS về biện pháp để có tình dục an toàn
Kết quả ở biểu đồ 4 cho thấy trên 67,4% học sinh đã chỉ ra một cách chính xác, đầy đủ về khái niệm tình dục an toàn (tức đạt mức hiểu về khái niệm) Có 27,2%
học sinh đã nhận ra được một số dấu hiệu cơ bản của khái niệm tình dục an toàn, nhưng chưa đầy đủ (xếp vào mức biết), 5,4% chưa có hiểu biết gì về khái niệm này
Trang 17Như vậy, phần lớn các bạn đã nhận biết được các dấu hiệu cơ bản của khái niệm tình dục an toàn, trong đó hơn một nửa số học sinh đã nhận thức đầy đủ các dấu hiệu cơ bản của khái niệm (tức hiểu về khái niệm tình dục an toàn) Có thể đánh giá mức hiểu về khái niệm tình dục an toàn vẫn chưa cao Học sinh nữ THPT độ tuổi
17, 18 đạt mức hiểu cao hơn so với học sinh nữ THPT độ tuổi 16 và độ tuổi 15 Học sinh nữ THPT ở độ tuổi 16 và 15 chủ yếu đạt mức biết, số học sinh nữ không biết
về khái niệm tình dục an toàn tập trung cao ở độ tuổi 15
2.3.6 Nhận thức của học sinh nữ về quá trình thụ thai, thời điểm mang thai, biện pháp tránh thai và hậu quả của nạo phá thai
2.2.3.1 Hiểu biết của học sinh về quá trình thụ thai
Khảo sát ý kiến của học sinh về mức độ hiểu biết về quá trình thụ thai chúng tôi đã đưa ra một số câu hỏi:
“Theo bạn, câu nào sau đây miêu tả chính xác nhất về quá trình thụ thai” với
bốn câu gợi ý, câu chính xác nhất là câu thứ (2) (dựa theo sách giáo khoa bộ môn Sinh học) Kết quả khảo sát thu được thể hiện ở biểu đồ 5 dưới đây:
Biểu đồ 5: Cách hiểu của học sinh về quá trình thụ thai
2.3.7 Hiểu biết của học sinh về thời điểm mang thai
Cùng nằm trong nội dung này, chúng tôi đã khảo sát hiểu biết của học sinh về
sự rụng trứng và khả năng mang thai trong chu kì kinh nguyệt: “Trong chu kì kinh nguyệt (28 ngày), sự rụng trứng thường xảy ra vào ngày nào? Ngày thứ 10 (1), ngày thứ 14 (2), ngày thứ 20 (3), ngày thứ 25 (4) Đáp án đúng theo chương trình Sinh học sgk lớp 11 là đáp án (2) Có 69,8% số học sinh nữ lựa chọn đúng, vẫn còn 30,2%
học sinh nữ xác định sai, dù đã được học ở chương trình sinh học nhưng các bạn
vẫn không nắm được chu kì rụng trứng
Tiếp tục với câu hỏi về sự thụ thai Trong chu kì kinh nguyệt (28 ngày) những ngày nào khi giao hợp thì sẽ mang thai? Chúng em đã đưa ra 4 lựa chọn: Ngày rụng trứng (ngày thứ 14), ngày hành kinh (ngày thứ 1,2,3), ngày thứ 4 đến thứ 9, ngày
Trang 18thứ 20 đến 28 Đáp án đúng theo chương trình sinh học 11 là ngày rụng trứng (ngày thứ 14) Kết quả khảo sát được thể hiện qua biểu đồ sau:
Biểu đồ 6: Biểu đồ kết quả khảo sát về thời điểm mang thai
Từ biểu đồ trên ta thấy có 34,4% nữ học sinh xác định được đúng vào ngày rụng trứng giao hợp thì sẽ mang thai, vẫn còn 65,6% học sinh chưa xác định được Cụ thể,
có đến 25% học sinh còn cho là vào ngày hành kinh nếu giao hợp thì sẽ mang thai, 13,1% học sinh xác định vào ngày thứ 20 – 28 và 27,5% học sinh vào ngày thứ 4 - 9
Như vậy, các bạn có hiểu biết về quá trình thụ thai và kiến thức cụ thể về chu kì kinh nguyệt nhưng các bạn còn nắm chưa rõ ở thời điểm nào nếu QHTD sẽ có thai Trong thực tế, những trường hợp khi cơ thể có hưng phấn cao, nhất là ở tuổi VTN khi có QHTD thì tỉ lệ có thai rất cao Đặc biệt là các bạn nữ không biết rõ được nguyên nhân
và thời điểm có thai sẽ vô cùng khó khăn trong việc phòng tránh thai
2.3.8 Hiểu biết của học sinh về các biện pháp tránh thai Chúng tôi đã chia mức độ hiểu biết của các bạn về các BPTT thành các mức:
Biểu đồ 7 Mức độ hiểu biết về các biện pháp tránh thai (BPTT)
Trang 19Biểu đồ 8 Mức độ hiểu biết về các biện pháp tránh thai (BPTT)
Biểu đồ 9 Mức độ hiểu biết về các biện pháp tránh thai (BPTT)
Biểu đồ 10 Mức độ hiểu biết về các biện pháp tránh thai (BPTT)
Trang 20- Xét riêng đối với từng biện pháp có sự chênh lệch về ĐTB, chúng tôi sắp xếp theo thứ bâc từ cao xuống thấp như sau:
+ Mức biết chút ít: Biện pháp dùng bao cao su có ĐTB cao nhất, tiếp đến là biện pháp thuốc tránh thai thông thường, biện pháp đặt vòng tránh thai và biện pháp thuốc tránh thai khẩn cấp Bốn biện pháp này được xếp thứ hạng cao nhưng cũng chỉ nằm trong mức độ “biết chút ít”
+ Mức chưa biết: Các BPTT còn lại có ĐTB dao động từ 0.5 đến 1.02, tức vẫn nằm trong mức “chưa biết” Biện pháp có ĐTB thấp nhất là biện pháp tính vòng kinh, tiêm cấy thuốc tránh thai và dùng màng ngăn âm đạo
Khảo sát nhận thức của các bạn về cơ chế của từng biện pháp tránh thai kết quả cho thấy hầu hết học sinh đã trả lời “không biết”, hoặc hiểu sai, ngoại trừ biện pháp
số 1 (dùng bao cao su) Biện pháp dùng bao cao su được hiểu về cơ chế tránh thai cao nhất khi có tới 65% HS chỉ đúng cơ chế là “ngăn không cho tinh trùng gặp trứng”
Mức độ hiểu đúng về biện pháp số 3 (xuất tinh ngoài âm đạo) được xếp thứ 2 nhưng cũng chỉ có 38.2% học sinh chỉ đúng cơ chế của biện pháp này Các biện pháp tính vòng kinh và màng ngăn âm đạo có tỷ lệ HS chỉ đúng cơ chế rất thấp (dưới 20%), trong đó biện pháp tính vòng kinh 19.2%, màng ngăn âm đạo 17.7% Các phương pháp đặt vòng, triệt sản, thuốc tránh thai khẩn cấp, thuốc tránh thai thông thường có
tỷ lệ hiểu về cơ chế của nó cực kỳ thấp (dưới 10%) Như vậy, học sinh nữ THPT Đô
Lương 2 chủ yếu vẫn chưa hiểu đúng về cơ chế của các BPTT
2.3.9 Nguyên nhân của thực trạng nhận thức về SKSS của học sinh nữ Trường THPT Đô Lương 2
Để có cái nhìn đa chiều về các nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhận thức của học sinh nữ THPT về vấn đề SKSS chưa cao, chúng em đã khảo sát về các nguyên nhân cụ thể Kết quả khảo sát được thể hiện ở bảng sau:
Biểu đồ 11: Nguyên nhân thực trạng nhận thức về SKSS
Trang 21Qua khảo sát thông tin mở về các nguyên nhân khiến học sinh nữ THPT Đô Lương chưa có nhận thức đầy đủ về SKSS chúng tôi nhận thấy nguyên nhân chính vẫn là do chính bản thân, các em còn e ngại khi tìm hiểu vấn đề này Ngoài ra cũng
có nguyên nhân khách quan như việc giáo dục SKSS trong nhà trường, gia đình còn hạn chế, do thiếu thông tin về SKSS
3 Tổng hợp kết quả khảo sát thực trạng nhận thức về SKSS của học sinh
nữ THPT Đô Lương, Nghệ An
Từ kết quả nghiên cứu chúng tôi rút ra một số đánh giá chung như sau:
Trong 2 vấn đề nghiên cứu sâu trong đề tài là tình dục an toàn, BPTT và hậu quả nạo phá thai chúng tôi nhận thấy: Nhận thức của HS nữ THPT Đô Lương về hậu quả của QHTD không an toàn vẫn chưa cao, đa số HS mới chỉ biết đến hậu quả của QHTD không an toàn Mức độ vận dụng để có tình dục an toàn của HS nữ THPT Đô Lương 2 còn ở mức thấp HS có biết về quá trình thụ thai nhưng lại chưa nắm được thời điểm mang thai Các BPTT nằm ở mức độ “chưa biết”, chỉ có 1 vài biện pháp ở mức độ “biết chút ít” như biện pháp BCS, thuốc tránh thai Mức độ hiểu
về cơ chế của các BPTT còn rất thấp HS đã có những hiểu biết nhất định về tác hại của nạo phá thai So sánh nhận thức về các nội dung trên giữa các độ tuổi thì có sự khác biệt, độ tuổi 17 có nhận thức tốt hơn độ tuổi 16, 15
Có một số nguyên nhân dẫn đến thực trạng nhận thức của sinh HS nữ THPT
về vấn đề SKSS Đó là các nguyên nhân về phía chủ quan của các em và một số nguyên nhân khách quan: chưa được học đầy đủ vấn đề này ở nhà trường, thiều nguồn thông tin, người lớn ít hướng dẫn…trong đó nguyên nhân chủ quan thuộc về học sinh và nguyên nhân không được học đầy đủ vấn đề này ở nhà trường, do thiếu thông tin là những nguyên nhân quan trọng nhất
4 Một số biện pháp nhằm nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản cho học sinh nữ trường THPT Đô Lương 2 huyện Đô Lương tỉnh Nghê An
4.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp
Để đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao nhận thức của HS nữ THPT
về SKSS chúng em dựa trên các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn
Trang 224.2.1 Biện pháp 1: Tích hợp, lồng ghép giáo dục SKSS cho HS qua một số tiết học chính khóa (Sinh học, GDCD, GD địa phương, Tiết chủ nhiệm)
Hiện nay, giáo dục SKSS đang được lồng ghép trong các bộ môn sinh học, giáo dục công dân, giáo dục địa phương Tuy nhiên, nội dung giáo dục giới tính còn sơ sài, nhiều giáo viên còn e ngại khi giảng dạy những nội dung này Bởi vậy, các bài học đã sơ sài, nay lại thêm phương pháp tổ chức tẻ nhạt, thiếu thuyết phục nên ít HS muốn tham gia cho dù những kiến thức đó là rất cần thiết đối với bản thân
Chưa kể đến việc bố trí các bài học có thể tích hợp giáo dục SKSS chủ yếu nằm ở khung chương trình cuối năm nên nhiều GV ở các trường THPT đã bỏ qua Hậu quả, nhiều HS thiếu hiểu biết về SKSS và có những hành vi sai lệch mà chúng ta đã thống kê ở trên
Bởi vậy, chúng tôi xác định rõ vai trò của bản thân và các tổ chức trong trường học, cùng GV bộ môn, GVCN rất quan trọng trong công tác giáo dục SKSS
Cách thức thực hiện:
- Xác định được mục tiêu bài học, xác định được những bài có thể lồng ghép giáo dục SKSS
- Chủ động tìm các phương pháp phù hợp với nội dung lồng ghép và đối tượng HS
- Thiết kế một cách linh hoạt các trò chơi trong dạy học như giải ô chữ, Ai nhanh hơn, trò chơi tiếp sức
Từ đó, góp phần hạn chế những tác hại của việc thiếu hiểu biết về SKSS cho HS nữ trong trường
4.2.2 Tích hợp, lồng ghép giáo dục SKSS cho HS qua một số tiết học chính khóa
môn Sinh học
- Những nội dung dạy học trong bộ môn Sinh học có thể tích hợp, lồng ghép để giáo dục SKSS vị thành niên cho HS
Bảng 1 Những nội dung tích hợp, lồng ghép để giáo dục giới tính - SKSS
trong chương trình sinh học lớp 10 (SGK kết nối tri thức với cuộc sống)
Bài 16 Chu kỳ tế bào và nguyên phân
HIV/AIDS: con đường lây truyền, các giai đoạn phát triển của bệnh, cách phòng tránh, cách ứng xử với người nhiễm HIV
Bài 25 Một số bệnh do virus và các thành tựu nghiên cứu ứng dụng virus
Các phương thức lây truyền: qua quan hệ tình dục, truyền từ mẹ sang con
Các bệnh truyền nhiễm thường gặp do virut: bệnh đường sinh dục và cách phòng tránh