Nhận thấy được nhu cầu của các chủ thể trong xã hội và xu hướng phát triển tất yếu của thị trường liên quan đến hoạt động quản lý chất thải nguy hại, nhà nước đã ban hành các văn bản quy
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HỒ CHÍ MINH
PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60380107
Người hướng dẫn khoa học: Ts Phạm Văn Võ
Học viên: Trần Linh Huân Lớp: Cao học Luật, khóa 23
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các nội dung trong Luận văn này hoàn toàn do chính tôi
nghiên cứu thực hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Phạm Văn Võ, Giảng
viên Khoa Luật Thương Mại, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Trong luận văn tôi có trích dẫn, sử dụng số liệu của một số bài báo, ý kiến, quan điểm của một số tác giả, nhà nghiên cứu Sự trích dẫn này được thể hiện cụ thể trong Danh mục tài liệu tham khảo
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của các thông tin, số liệu, ý kiến, quan điểm khoa học đã trình bày trong luận văn
Tác giả luận văn
Trần Linh Huân
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮC
Kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại KDDVQLCTNH
Nghị định số 19/2015/NĐ-CP của Chính phủ
ngày 14 tháng 02 năm 2015 về quy định chi
tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi
ngày 01 tháng 07 năm 2016 về quy định một
số điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực
tài nguyên và môi trường
Trang 5tướng Chính phủ ngày 16 tháng 07 năm 1999
về việc ban hành quy chế quản lý chất thải
nguy hại
Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT của Bộ Tài
nguyên và Môi trường ngày 26 tháng 12 năm
2006 về hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ
tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề,
mã số quản lý chất thải nguy
Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT
Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT của Bộ Tài
nguyên và Môi trường ngày 14 tháng 04 năm
2011 về quản lý chất thải nguy hại
Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT
Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT của Bộ Tài
nguyên và Môi trường ngày 30 tháng 06 năm
2015 về quản lý chất thải nguy hại
Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI 7
1.1 Tổng quan về quản lý chất thải nguy hại 7
1.1.1 Khái niệm chất thải nguy hại 7
1.1.2 Khái niệm quản lý chất thải nguy hại 9
1.1.3 Nội dung quản lý chất thải nguy hại 11
1.2 Tổng quan về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại 13
1.2.1 Khái niệm kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại 13
1.2.2 Đặc điểm kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại 15
1.2.3 Vai trò kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại 17
1.3 Tổng quan pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại 19
1.3.1 Sự cần thiết của pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại…… 19
1.3.2 Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại 22
1.3.3 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 32
2.1 Thực trạng pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại 32
2.1.1 Quy định về chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại 32
2.1.2 Quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại 35
2.1.3 Quy định về hợp đồng dịch vụ quản lý chất thải nguy hại 43
2.1.4 Quy định về giá cung ứng dịch vụ quản lý chất thải nguy hại 48
2.1.5 Quy định về kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm trong hoạt động kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại 50
2.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại 57
Trang 72.2.1 Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về chủ thể kinh doanh dịch vụ quản
lý chất thải nguy hại 57 2.2.2 Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại 59 2.2.3 Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về hợp đồng dịch vụ quản lý chất thải nguy hại 66 2.2.4 Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về giá cung ứng dịch vụ quản lý chất thải nguy hại 68 2.2.5 Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm trong hoạt động kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại 69
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 73 KẾT LUẬN CHUNG 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác.1 Chất thải nguy hại có khả năng gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe con người, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, do đó cần phải có cơ chế, giải pháp hiệu quả, phù hợp để thực hiện tốt công tác quản lý đối với loại chất thải này Theo thống kê, mỗi ngày môi trường phải tiếp nhận hàng trăm loại chất thải nguy hại phát sinh từ nhiều lĩnh vực khác nhau như nông nghiệp, công nghiệp, giao thông, y tế, sinh hoạt, thương mại, dịch vụ2
Với số lượng chất thải nguy hại thải ra ngày càng nhiều cùng với đặc tính nguy hiểm cao vì vậy muốn quản lý được đòi hỏi các chủ thể phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện về cơ sở vật chất, điều kiện về nhân sự và được cấp giấy phép theo quy định pháp luật3 Tuy nhiên, để đáp ứng được tất cả các yêu cầu trên
là một thách thức lớn đối với các chủ nguồn thải chất thải nguy hại, đặc biệt là chủ nguồn thải chất thải nguy hại có quy mô nhỏ và yếu về tiềm lực tài chính Vì vậy, đòi hỏi tất yếu là phải có các chủ thể cung ứng các loại hình dịch vụ quản lý chất thải nguy hại để phục vụ cho chủ thể có nhu cầu
Nhận thấy được nhu cầu của các chủ thể trong xã hội và xu hướng phát triển tất yếu của thị trường liên quan đến hoạt động quản lý chất thải nguy hại, nhà nước
đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động này.4 Tuy nhiên, thực tế việc thực hiện các quy định pháp luật về hoạt động kinh doanh dịch vụ quản
lý chất thải nguy hại vẫn chưa thật sự hiệu quả, còn nhiều vụ việc gây bức xúc dư luận xã hội liên quan đến hoạt động quản lý chất thải nguy hại5 Lý giải cho vấn đề
Chính phủ quy định về quản lý chất thải và phế liệu, Nghị định số 60/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 07 năm
2016 của Chính phủ về quy định một số điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường, Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại và một số văn bản hướng dẫn có liên quan khác
gần 2 tấn chất thải nguy hại về nhà máy xử lý theo đúng yêu cầu đã ký với Công ty Musasi, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh chuyển giao chất thải nguy hại cho Công ty Cổ phần Tư vấn Xây dựng Quản lý môi trường Đô thị Kỳ Anh là đơn vị không có Giấy phép xử lý chất thải nguy hại, Công ty Cổ phần Môi trường xanh Minh Phúc xử lý chất thải nguy hại trái pháp luật gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, Công ty Tân Phương Đông sau khi thu gom bùn thải nguy hại từ Công ty Hào Dương đã đem đổ ra trên địa bàn tỉnh Bình Dương gây ô nhiễm môi trường cho đến nay không thể thu hồi để
Trang 9trên có thể xuất phát từ nhiều lý do khác nhau nhưng lý do quan trọng hơn cả đó là các quy định pháp luật điều chỉnh về hoạt động kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại vẫn còn những hạn chế, bất cập nhất định Đó là những hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật về chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại, điều kiện kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại, hợp đồng dịch vụ quản lý chất thải nguy hại, giá cung ứng dịch vụ quản lý chất thải nguy hại, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong hoạt động kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại Điều này ảnh hưởng lớn đến hiệu quả công tác quản lý chất thải nguy hại, tác động tiêu cực đến quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại, gây khó khăn cho nhà nước trong việc quản lý các hoạt động cung ứng loại hình dịch vụ này
Xuất phát từ thực tế trên, việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng bất cập trong các quy định pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại
và đưa ra giải pháp để hoàn thiện là điều cần thiết Đó là lý do tác giả chọn đề tài:
“Pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại” làm luận văn Thạc
sĩ
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tại Việt Nam, pháp luật về quản lý chất thải nguy hại và kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại là một lĩnh vực tương đối mới so với các lĩnh vực pháp luật khác Nhiều năm qua đã có một số công trình nghiên cứu có liên quan đến hoạt động quản lý chất thải nguy hại dưới góc độ khoa học pháp lý, cụ thể như:
+ Lê Phương Linh (2012), Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại và thực
tiễn áp dụng trên địa bàn Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trong luận văn tác giả đã làm rõ một số vấn đề lý luận về quản lý chất thải nguy hại
và pháp luật về quản lý chất thải nguy hại, nêu ra một số điểm bất cập khi áp dụng pháp luật quản lý chất thải nguy hại trên địa bàn Hà Nội, từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện Tuy nhiên, trong công trình của mình, tác giả chỉ đánh giá sơ lược các quy định pháp luật, chưa có sự phân tích chuyên sâu, chỉ chủ yếu đánh giá, kiến nghị về mặt áp dụng pháp luật trên thực tế tại địa bàn Hà Nội
Trang 10+ Nguyễn Mạnh Thắng (2014), Hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải
nguy hại ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà
Nội Trong luận văn, tác giả đã làm rõ các cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải nguy hại, đánh giá thực trạng pháp luật quản lý chất thải nguy hại Việt Nam hiện nay, từ đó nêu ra một số quan điểm và giải pháp hoàn thiện về pháp luật quản lý chất thải nguy hại Các phân tích và kiến nghị của tác giả có giá trị tham khảo, tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đến các vấn đề về hoạt động kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại
+ Phạm Thị Thanh Thủy (2016), Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại
trong khu công nghiệp ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trong luận văn, tác giả đã làm rõ được các vấn đề tổng quan về chất thải nguy hại
và pháp luật về quản lý chất thải nguy hại trong khu công nghiệp ở Việt Nam, chỉ ra được những thực trạng, bất cập trong quy định pháp luật và thực hiện pháp luật quản lý chất thải nguy hại trong các khu công nghiệp Việt Nam, nêu ra được nguyên nhân của sự bất cập, từ đó đưa ra được những định hướng, giải pháp hoàn thiện Công trình có giá trị tham khảo về mặt học thuật, tuy nhiên đây là một đề tài tập trung khai thác sâu ở góc độ quản lý chất thải nguy hại trong các khu công nghiệp ở Việt Nam
+ Vũ Thị Duyên Thủy (2009), “Vai trò của pháp luật quản lý chất thải nguy
hại ở Việt Nam”, Tạp chí Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, số 3(106), tr.50
-57 Trong bài viết, tác giả chủ yếu tập trung phân tích và làm rõ vai trò của pháp luật quản lý chất thải nguy hại trong việc đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong lành của con người, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường trong sản xuất kinh doanh dịch vụ, gắn kết lợi ích kinh tế, xã hội, góp phần đảm bảo cho sự phát triển của đất nước Mặc dù phạm vi bài viết hẹp nhưng các phân tích của tác giả về vai trò của pháp luật quản lý chất thải nguy hại có giá trị tham khảo
và sẽ được tham khảo có chọn lọc trong luận văn
+ Nguyễn Ngọc Anh Đào (2012), “Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát vận
chuyển chất thải nguy hại”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, số
20(228), tr.51-56 Trong bài viết, tác giả tập trung phân tích và chỉ ra những điểm bất cập về cơ chế tổ chức thực hiện và hệ thống pháp luật về kiểm soát chất thải nguy hại, từ đó đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện Bài viết có giá trị tham khảo, tuy nhiên tác giả chỉ chủ yếu tập trung vào các vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt
Trang 11động vận chuyển chất thải nguy hại mà chưa đề cập một cách đầy đủ các vấn đề liên quan đến hoạt động quản lý chất thải nguy hại
Qua việc sơ lược nội dung của các công trình nghiên cứu nêu trên, hầu hết các công trình này chỉ đề cập các vấn đề liên quan đến các quy định pháp luật về quản lý chất thải nguy hại nói chung hoặc chỉ xoay quanh thực trạng, công tác quản
lý chất thải nguy hại trên thực tế mà chưa đi sâu vào nghiên cứu phân tích, đánh giá trong lĩnh vực pháp luật về hoạt động kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại Riêng về hoạt động kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại, trong khả năng tìm hiểu của mình cho đến nay tác giả vẫn chưa thấy có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này ở Việt Nam
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Tìm ra điểm hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật điều chỉnh về hoạt động kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại, chỉ ra những vướng mắc trong việc áp dụng các quy định này trên thực tế Từ đó, đưa ra một số giải pháp hoàn thiện về mặt pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại dưới góc độ Luật môi trường
Nhiệm vụ nghiên cứu: Làm rõ được các vấn đề về khái niệm, đặc điểm, vai trò của hoạt động kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại và sự cần thiết của pháp luật điều chỉnh về loại hình kinh doanh dịch vụ này Đồng thời, hệ thống được một cách đầy đủ các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại, khái quát được quá trình hình thành, phát triển của pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại Trên cơ sở đó, tiến hành phân tích, đánh giá các quy định pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại, làm rõ nội hàm, chỉ ra những điểm tiến bộ, đồng thời xác định được các vấn đề còn hạn chế, bất cập để từ đó kiến nghị đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu các vấn đề lý luận và luật thực định về hoạt động kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại thông qua các quy định pháp luật có liên quan như: Luật Bảo vệ môi trường 2014, Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 04 năm 2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu, Nghị định số 60/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ
về quy định một số điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực tài nguyên và môi
Trang 12trường, Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại và một số văn bản có liên quan khác
Phạm vi nghiên cứu: Tác giả không nghiên cứu các vấn đề chuyên sâu về các nghiệp vụ quản lý chất thải nguy hại mang tính kỹ thuật và các vấn đề pháp lý chuyên sâu dưới góc độ thương mại, dịch vụ mà chỉ tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật có liên quan đến hoạt động kinh doanh dịch vụ thu gom, vận chuyển,
xử lý chất thải nguy hại dưới góc độ pháp luật môi trường Trong đó, tập trung làm
rõ các vấn đề pháp lý quy định về chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại, điều kiện kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại, hợp đồng dịch vụ quản
lý chất thải nguy hại, giá cung ứng dịch vụ quản lý chất thải nguy hại, các vấn đề về thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong hoạt động kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại thông qua các văn bản pháp luật môi trường và một số văn bản pháp luật khác có liên quan
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng chủ yếu những phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích: Được sử dụng để phân tích các khái niệm, dữ liệu, quan điểm khoa học, các quy định pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại Phương pháp này được dùng chủ yếu và phổ biến ở các chương
- Phương pháp so sánh: Dùng để so sánh giữa các quy định pháp luật có liên quan, so sánh giữa các quy định pháp luật hiện hành với các quy định pháp luật trước đây Phương pháp này được sử dụng ở cả hai chương của luận văn
- Phương pháp thống kê: Được sử dụng để cung cấp các thông tin, số liệu và
dữ liệu liên quan đến kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại để phục vụ cho việc thực hiện đề tài… Phương pháp này được sử dụng ở cả hai chương của luận văn
- Phương pháp chứng minh: Được dùng để chứng minh cho những nhận định
và kiến nghị của tác giả về thực trạng pháp luật, chứng minh tính cần thiết, tính khả thi của các kiến nghị Phương pháp này được tác giả sử dụng chủ yếu ở chương 2
- Phương pháp tổng hợp: Dùng để tổng hợp các kết quả phân tích, đánh giá
từ đó đưa ra kết luận Phương pháp này được sử dụng ở cả hai chương
Trang 136 Kết quả thu được sau khi nghiên cứu đề tài
Về điểm mới: Luận văn là một công trình nghiên cứu chuyên sâu các vấn đề pháp lý liên quan đến kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại Hệ thống hóa được các quy định pháp luật liên quan đến việc điều chỉnh hoạt động kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại Chỉ ra được những ưu điểm, hạn chế trong quy định pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại từ đó đưa ra các kiến nghị giải pháp phù hợp
Đóng góp về mặt lý luận, thực tiễn: Với những kết quả nghiên cứu đạt được, Luận văn là một công trình khoa học nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại, góp phần hoàn thiện pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại nói riêng và quản lý chất thải nguy hại nói chung Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan, doanh nghiệp và những cá nhân, tổ chức có nhu cầu tìm hiểu về lĩnh vực kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI 1.1 Tổng quan về quản lý chất thải nguy hại
1.1.1 Khái niệm chất thải nguy hại
Trong cuộc sống, cùng với việc tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu của mình, con người cũng đã tạo ra nhiều loại chất thải Tùy thuộc vào từng tiêu chí, chất thải
có thể được phân thành nhiều loại khác nhau, một trong những tiêu chí để phân loại chất thải đó là tính chất nguy hại Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hại, chất thải được chia thành CTNH và chất thải thông thường, CTNH là một dạng của chất thải Thuật ngữ CTNH lần đầu tiên xuất hiện vào thập niên 70 tại các nước Âu –
Mỹ, sau đó mở rộng ra nhiều quốc gia khác Sau một thời gian nghiên cứu và phát triển, tùy thuộc vào sự phát triển khoa học kỹ thuật và xã hội cũng như quan điểm của mỗi quốc gia mà hiện nay trên thế giới có nhiều định nghĩa khác nhau về CTNH Chẳng hạn như ở Philippines, CTNH được định nghĩa là những chất có độc tính, ăn mòn, gây kích thích, hoạt tính, có thể cháy, nổ mà gây nguy hiểm cho người
và động vật6
Ở Canada, CTNH được định nghĩa là những chất mà do bản chất và tính chất của chúng có khả năng gây nguy hại đến sức khỏe con người và/hoặc môi trường và những chất này yêu cầu các kỹ thuật xử lý đặc biệt để loại bỏ hoặc giảm đặc tính nguy hại của nó7 Theo chương trình môi trường của Liên Hợp Quốc (12/1985) xác định: “CTNH là chất thải (dạng rắn, lỏng, bán rắn-semisolid và các bình chứa khí) mà do hoạt tính hóa học, độc tính, nổ, ăn mòn hoặc có đặc tính khác, gây nguy hại hay có khả năng gây nguy hại đến sức khỏe con người hoặc môi trường bởi chính bản thân chúng hay khi được cho tiếp xúc với chất thải khác”8
Còn ở Mỹ để có thể được coi là CTNH thì chất đó phải nằm trong mục CTNH và có một trong bốn đặc tính do EPA9 đưa ra gồm cháy-nổ, ăn mòn, phản ứng và độc tính được nhà sản xuất công bố là CTNH10 Nhìn chung, nội dung của các định nghĩa thường sẽ phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng phát triển khoa học – xã hội của mỗi
6 Lâm Minh Triết, Lê Thanh Hải (2006), Giáo trình quản lý chất thải nguy hại, Nxb Xây dựng Hà Nội, tr1
7 Lâm Minh Triết, Lê Thanh Hải (2006), tlđd 3, tr.4
8 Lâm Minh Triết, Lê Thanh Hải (2006), tlđd 3, tr.4
9
EPA là cơ quan Bảo vệ Môi sinh Hoa Kỳ, Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ hay Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ (tiếng Anh: United States Environmental Protection Agency, viết tắt là EPA) là một tổ chức thuộc chính phủ liên bang Hoa Kỳ với nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe con người và giữ gìn môi trường sống
10
Lâm Minh Triết, Lê Thanh Hải (2006), tlđd 3, tr.4
Trang 15nước Trong các định nghĩa nêu trên định nghĩa về CTNH của Mỹ là rõ ràng và
có nội dung rộng nhất, việc này sẽ giúp cho công tác xác định và quản lý CTNH được dễ dàng hơn
Ở Việt Nam, tại khoản 13 Điều 3 Luật BVMT 2014 đưa ra khái niệm:
“CTNH là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây
ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác” Khái niệm này đưa ra được
dấu hiệu, tiêu chí để nhận diện CTNH, tuy nhiên nếu chỉ dựa vào khái niệm trên để xác định một chất nào đó trên thực tế có phải là CTNH hay không là chưa đủ và rất
dễ bị nhầm lẫn Để xác định được CTNH bên cạnh dựa vào các dấu hiệu, tiêu chí được nêu ra tại khái niệm còn phải căn cứ vào danh mục CTNH11
, chỉ có những chất được liệt kê tại mục 1C nằm trong danh mục CTNH ban hành kèm theo Thông
tư số 36/2015/TT-BTNMT mới được xem là CTNH Trong danh mục CTNH có hai loại CTNH gồm loại (*) và loại (**), nếu chất thải thuộc nhóm (*) thì cần phải áp dụng ngưỡng CTNH theo quy định của Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng CTNH (QCVN 07:2009/BTNMT) để phân định, nếu chất thải có tính chất hoặc thành phần vượt quá ngưỡng CTNH theo quy định tại phần II của Quy chuẩn này
đó là CTNH, còn nếu thấp hơn ngưỡng CTNH thì vẫn xem là chất thải thông thường mặc dù có chứa các yếu tố độc hại, nếu chất thải hoặc hỗn hợp chất thải có chứa ít nhất một chất thải thành phần thuộc loại (**) trong danh mục CTNH thì không cần so sánh với ngưỡng CTNH mà xác định ngay chất thải đó là CTNH hoặc hỗn hợp CTNH Việc phân định CTNH theo như danh mục CTNH là rất quan trọng, cần thiết, giúp dễ dàng xác định được một chất nào đó là CTNH, nếu CTNH không được phân định rõ việc xác định CTNH sẽ rất khó khăn từ đó dẫn đến những
hệ lụy tiêu cực trong việc xác định trách nhiệm pháp lý của các chủ thể có liên quan Đơn cử như trường hợp Nhà máy bia Vinaken ký hợp đồng nhận xử lý 54.670 thùng bia nhãn hiệu Budweiser nhập khẩu đã hết hạn sử dụng với Công ty TNHH Tân Châu Bình Ban đầu trong quá trình thanh tra, kiểm tra các cơ quan chức năng xác định bia Budweiser hết hạn sử dụng là CTNH nên đã ra kết luận Nhà máy bia Vinaken vi phạm pháp luật do không có giấy phép xử lý CTNH và bị yêu cầu phải dừng hoạt động xử lý.12 Tuy nhiên, sau đó các tổ nghiệp vụ đã kiểm tra và xác định bia Budweiser hết hạn sử dụng không phải là CTNH và cuối cùng nhà máy bia
12 Hoài Nam, Nhiều sai phạm tại Nhà máy bia Vinaken, may-bia-vinaken-334735.html, truy cập ngày 15/5/2018
Trang 16http://www.sggp.org.vn/nhieu-sai-pham-tai-nha-Vinaken được tiếp tục xử lý theo hợp đồng đã ký.13 Sự bất cập, không thống nhất trong vụ việc trên xuất phát từ cách xác định CTNH, ban đầu do cơ quan chức năng chỉ dựa vào các dấu hiệu, tiêu chí của CTNH được quy định trong khái niệm mà không căn cứ vào danh mục CTNH để xác định nên đã dẫn đến kết quả không chính xác, sau đó các tổ nghiệp vụ đã phân tích, so sánh, đối chiếu các thông số của bia Budweiser với các thông số trong danh mục CTNH nên đã xác định được kết quả chính xác Như vậy, có thể thấy nếu không căn cứ vào danh mục CTNH thì rất dễ bị nhầm lẫn khi xác định CTNH, điều này tạo ra những hệ lụy rất lớn Trong trường hợp nêu trên nếu tổ nghiệp vụ không xác định lại chính xác thì Nhà máy bia Vinaken đã phải gánh chịu những hậu quả trách nhiệm pháp lý bất lợi, bên cạnh đó còn làm cho lượng bia hết hạn sử dụng tiếp tục ùn ứ do không được xử lý, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường, con người Vì vậy, danh mục CTNH có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định chính xác CTNH để phục vụ cho hoạt động KDDVQLCTNH nói riêng và hoạt động quản lý CTNH nói chung
Tóm lại, có thể thấy các khái niệm về CTNH hầu hết đều đề cập đến các tính chất của CTNH như tính dễ nổ, dễ cháy, dễ ô xi hóa, ăn mòn, có độc tính và dễ lây nhiễm Tùy vào từng trường hợp, CTNH có thể có một, một số hoặc toàn bộ các tính chất nguy hại, các tính chất này đều có khả năng gây nguy hiểm cao cho môi trường, con người Hiện nay dưới góc độ pháp lý đã có cái nhìn ổn định và thống nhất về khái niệm CTNH, điều này hỗ trợ rất lớn trong việc xác định CTNH, từ đó làm cơ sở để xây dựng, ban hành các quy định pháp luật phù hợp nhằm thực hiện các hoạt động quản lý đối với loại chất thải nguy hiểm này
1.1.2 Khái niệm quản lý chất thải nguy hại
Khái niệm quản lý CTNH lần đầu tiên được định nghĩa tại Quy chế quản lý CTNH ban hành kèm theo Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg, cụ thể tại khoản 3
Điều 3 quy định: “Quản lý CTNH là các hoạt động kiểm soát CTNH trong suốt quá
trình từ phát sinh đến thu gom, vận chuyển, quá cảnh, lưu giữ, xử lý và tiêu hủy CTNH” Theo Quy chế, quản lý CTNH được hiểu là các hoạt động nhằm kiểm soát
toàn bộ quá trình từ khâu sản sinh CTNH đến thu gom, vận chuyển, quá cảnh, lưu giữ, xử lý, tiêu hủy CTNH Sau đó, khái niệm quản lý CTNH được tiếp tục sửa đổi,
bổ sung trong Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT và Thông tư số
đát là hợp lý, http://plo.vn/thoi-su/giam-doc-so-tnmt-tphcm-vinaken-tieu-huy-bia-het-dat-la-hop-ly-112651 html, truy cập ngày 15/05/2018
Trang 17BTNMT Cụ thể, tại mục 2.1 Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT quy định: “Quản lý
CTNH bao gồm các hoạt động liên quan đến việc phòng ngừa, giảm thiểu, phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý (kể cả tái chế, thu hồi), tiêu huỷ CTNH” và
khoản 1 Điều 3 Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT quy định: “Quản lý CTNH là các
hoạt động liên quan đến việc phòng ngừa, giảm thiểu, phân định, phân loại, tái sử dụng trực tiếp, lưu giữ tạm thời, vận chuyển và xử lý CTNH” 14 Với cách đưa ra các khái niệm về quản lý CTNH trong hai văn bản nêu trên đã thể hiện rõ tư duy thay đổi về cách tiếp cận trong hoạt động quản lý CTNH, nếu như cách tiếp cận trong Quy chế quản lý CTNH ban hành kèm theo Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg là cách tiếp cận từ thời điểm khi CTNH phát sinh, thì trong hai văn bản sau này đã có một bước tiến lớn trong cách tiếp cận tức là tiếp cận ngay từ giai đoạn tiền phát sinh CTNH để giảm thiểu tối đa việc phát sinh CTNH, điều này thể hiện rõ nguyên tắc phòng ngừa của pháp luật môi trường Với cách quy định như vậy các chủ thể không chỉ thực hiện các hoạt động quản lý CTNH kể từ thời điểm phát sinh mà còn phải thực hiện trách nhiệm quản lý ngay cả trước khi CTNH xuất hiện Việc đưa cụm từ “phân định” vào khái niệm quản lý CTNH được quy định trong Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT mang lại ý nghĩa rất lớn, cụm từ này bổ sung thêm một công đoạn nữa buộc các chủ thể có liên quan phải xác định được một chất có phải là CTNH hay không rồi mới tiến hành các hoạt động tiếp theo, việc bổ sung này giúp quy định chi tiết hơn về việc thực hiện hành vi quản lý CTNH
Tuy nhiên, khi Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT được ban hành thay thế cho Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT lại không đưa ra khái niệm về quản lý CTNH như các Thông tư đã hết hiệu lực trước đó Việc bỏ đi khái niệm quản lý CTNH theo quan điểm của tác giả là đáng tiếc, điều này có thể tạo ra cách hiểu và áp dụng không thống nhất trong hoạt động quản lý CTNH Như vậy, để xác định được khái niệm quản lý CTNH thì phải dựa trên cơ sở khái niệm về quản lý chất thải được quy định trong Luật BVMT 2014 Theo quy định tại khoản 15 Điều 3 Luật BVMT
2014: “Quản lý chất thải là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại,
thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải” Xuất phát từ bản chất
CTNH là một dạng của chất thải, hoạt động quản lý CTNH cũng là một phần của hoạt động quản lý chất thải nên từ khái niệm quản lý chất thải có thể đưa ra khái
niệm quản lý CTNH như sau: “Quản lý CTNH là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu,
14
Khoản 1 Điều 3 của Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT
Trang 18giám sát, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý CTNH” Với
sự xuất hiện của ba cụm từ “phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát” đặt vào vị trí trước
những hoạt động phổ biến, cơ bản của quá trình quản lý CTNH trong khái niệm đã làm cho nội hàm của hoạt động này được mở rộng và phù hợp với nguyên tắc phòng ngừa của Luật môi trường Cách định nghĩa này cho thấy nội dung của hoạt động quản lý chất thải, trong đó có hoạt động quản lý CTNH đã được thay đổi phù hợp với xu hướng quản lý tiến bộ hiện nay Đó là cách quản lý tổng hợp chất thải, cách quản lý này đáp ứng được yêu cầu giảm thiểu việc phát sinh CTNH cả về số lượng, nồng độ lẫn độc tính độc hại ngay tại nguồn phát thải chứ không chỉ đơn thuần là giảm thiểu sự tác động của chất thải như trước đây
1.1.3 Nội dung quản lý chất thải nguy hại
Quản lý CTNH một quá trình gồm nhiều khâu, nhiều công đoạn khác nhau nhằm kiểm soát CTNH trong suốt quá trình từ phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát đến
phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế, xử lý CTNH Trong đó:
Phòng ngừa CTNH là việc ngăn chặn sự phát thải hoặc tránh tạo ra việc phát thải CTNH, khi sự phát thải đạt được đến mức bằng không đó là sự phòng ngừa tuyệt đối, phòng ngừa được coi là phương thức tốt nhất để giảm thiểu CTNH ngay
từ nguồn phát sinh Giảm thiểu CTNH là việc hạn chế tối đa sự phát thải CTNH Phòng ngừa và giảm thiểu được xem là hai nấc thang trên cùng trong thang bậc quản lý chất thải.15 Giám sát CTNH là việc theo dõi, xem xét, đánh giá đối với CTNH, hoạt động giám sát không chỉ thực hiện ngay từ ban đầu mà còn được thực hiện trong tất cả các khâu, các bước trong quy trình quản lý CTNH, giám sát giúp thực tốt công tác quản lý CTNH
Phân loại CTNH là hoạt động phân tách CTNH thành các loại khác nhau tùy vào đặc tính nguy hại, mục đích tái sử dụng, tái chế hoặc xử lý, tiêu hủy nhằm phòng tránh bị ngộ độc khi tiếp xúc và đảm bảo an toàn khi lưu giữ, vận chuyển, xử
lý CTNH phải được phân loại theo mã CTNH để lưu giữ trong các bao bì hoặc thiết
bị lưu chứa phù hợp, đối với các mã CTNH có cùng tính chất, không có khả năng gây phản ứng, tương tác lẫn nhau và có khả năng xử lý cùng một phương pháp thì
có thể được sử dụng chung bao bì hoặc thiết bị lưu chứa Hoạt động phân loại CTNH không chỉ giúp tránh được các nguy cơ ô nhiễm mà còn tạo điều kiện thuận
hợp chất thải rắn – Cách tiếp cận mới cho công tác bảo vệ môi trường”, Tạp chí Khoa học, số 20a, tr47-48
Trang 19lợi và khoa học cho việc vận chuyển, lưu giữ, tiết kiệm được thời gian, đẩy nhanh quá trình xử lý chúng sau này
Thu gom CTNH là hoạt động thu nhặt, tập hợp CTNH từ các nguồn thải, các điểm tập kết sau khi đã thực hiện phân loại và lưu giữ tạm thời trước khi vận chuyển đến nơi xử lý theo quy định, thu gom CTNH là một giai đoạn trong quá trình quản lý CTNH Quá trình thu gom CTNH là một quá trình có nhiều công đoạn nhỏ phải làm trong hoạt động quản lý CTNH, bao gồm việc thu gom từ các nguồn thải sau đó tập trung thành một điểm gọi là điểm tập kết hoặc trung chuyển, sau đó tiếp tục thu gom từ các điểm tập kết, trung chuyển để đưa đến nơi xử lý theo đúng quy định Việc thu gom CTNH chỉ được phép thực hiện bởi các tổ chức, cá nhân có Giấy phép xử lý CTNH, các phương tiện, thiết bị thu gom CTNH phải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và quy trình quản lý theo quy định
Vận chuyển CTNH là quá trình chuyên chở CTNH từ nơi phát sinh, thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi tái sử dụng, tái chế, xử lý và tiêu hủy CTNH phải được vận chuyển bằng phương tiện, thiết bị chuyên dụng phù hợp và được ghi trong Giấy phép xử lý CTNH Việc vận chuyển CTNH phải theo lộ trình tối ưu về tuyến đường, quãng đường, thời gian, bảo đảm an toàn giao thông và phòng ngừa, ứng phó sự cố, phù hợp với quy định của cơ quan có thẩm quyền về phân luồng giao thông
Tái sử dụng CTNH là việc sử dụng lại CTNH một cách trực tiếp hoặc sau khi
sơ chế mà không làm thay đổi tính chất của CTNH Tái chế CTNH là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật để thu lại các thành phần có giá trị từ CTNH Việc tái sử dụng, tái chế CTNH sẽ vừa hạn chế được tình trạng ô nhiễm môi trường, vừa tiết kiệm được chi phí cho việc tiêu hủy, vừa mang lại hiệu quả cho việc phát triển kinh tế thông qua việc tận dụng các giá trị có ích còn lại của CTNH
Xử lý CTNH là quá trình sử dụng công nghệ nhằm làm mất khả năng gây hại của CTNH đối với sức khỏe của con người và môi trường Các công nghệ, thiết bị phục vụ cho việc xử lý phải phù hợp với đặc tính hóa học, lý học và sinh học của từng loại CTNH để đảm bảo xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường, trường hợp trong nước không có công nghệ, thiết bị xử lý thì phải lưu giữ theo quy định của pháp luật
và hướng dẫn của các cơ quan quản lý nhà nước về BVMT cho đến khi được xử lý
Xử lý CTNH thường được thực hiện bằng hai phương thức gồm chôn lấp dưới lòng đất và thiêu đốt Chôn lấp CTNH là việc loại bỏ CTNH bằng phương pháp chôn nén
và phủ lấp bề mặt trong điều kiện được hoặc không được kiểm soát, chôn lấp là
Trang 20công nghệ cổ điển và thông dụng đối với nhiều nơi và nhiều nước trên thế giới, chôn lấp là giải pháp lựa chọn cuối cùng, về phương diện kinh tế là giải pháp ít tốn kém, nhưng về phương diện xã hội và môi trường lại thường đặt ra nhiều vấn đề giải quyết phải cân nhắc.16
Thiêu đốt CTNH là quá trình xử lý CTNH ở nhiệt độ cao, thiêu đốt ở nhiệt độ cao CTNH sẽ được xử lý triệt để, đảm bảo loại trừ các độc tính, có thể giảm thiểu thể tích rác đến 90-95% và tiêu diệt hoàn toàn vi khuẩn gây bệnh Phương pháp này đáp ứng tất cả các tiêu chí về tiêu hủy an toàn ngoại trừ việc phát thải ra các khí thải cần được xử lý nên đây có thể coi là phương pháp xử lý triệt
để nhất so với các phương pháp xử lý khác.17
Tóm lại, quản lý CTNH là hoạt động phái sinh của quản lý chất thải nói chung vì vậy nó cũng sẽ có đầy đủ các đặc điểm của quản lý chất thải Nội dung quản lý CTNH bao gồm các hoạt động được tích hợp bởi nhiều hành vi có sự liên kết với nhau thành một quá trình thống nhất được tính từ giai đoạn tiền phát sinh CTNH cho đến khi hình thành và cuối cùng là sử dụng các biện pháp thích hợp để
xử lý CTNH
1.2 Tổng quan về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại
1.2.1 Khái niệm kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại
Kinh doanh theo nghĩa thông thường được hiểu là tổ chức việc sản xuất, mua bán, dịch vụ nhằm sinh lời18 KDDVQLCTNH là một loại hình kinh doanh dịch vụ môi trường, mặc dù loại hình kinh doanh dịch vụ này đã được hình thành khá lâu nhưng đến nay vẫn chưa có một khái niệm cụ thể nào về hoạt động này Do vậy, để đưa ra được khái niệm KDDVQLCTNH đòi hỏi phải dựa vào các văn bản pháp luật
có liên quan Cụ thể:
Theo LDN 2014: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất
cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”19 Như vậy, mục tiêu chính của kinh doanh là tạo ra lợi nhuận, dưới góc độ pháp lý khi xác định hành vi kinh doanh chúng ta thường quan tâm đến việc có hay không có mục tiêu lợi nhuận, chứ không quan tâm đến việc thực hiện hành vi đó như thế nào Lợi nhuận là đích
Trang 21cuối cùng của các nhà kinh doanh, bất cứ hoạt động nào nhằm mục đích kiếm lời trên thị trường cũng là hoạt động kinh doanh20
Theo Luật giá “Dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và
tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật”21 Dịch vụ là loại sản phẩm vô hình không cầm nắm được, dịch vụ không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất dưới dạng những sản phẩm hữu hình nhưng chúng lại tạo ra giá trị thặng dư do có sự khai thác sức lao động, tri thức, chất xám của con người Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công22, là kết quả tạo ra do các hoạt động tiếp xúc giữa người cung ứng, khách hàng và các hoạt động nội bộ của người cung ứng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng nhằm thoả mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt23
Tại khoản 9 Điều 3 LTM
2005 định nghĩa:“Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau
đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận” Mặc dù
trong mỗi lĩnh vực khác nhau hoạt động cung ứng dịch vụ sẽ được điều chỉnh bởi những văn bản pháp luật chuyên ngành khác nhau, nhưng các quyết định mang tính nguyên tắc của hoạt động cung ứng dịch vụ với tư cách là một hoạt động thương mại và các vấn đề cơ bản về hợp đồng cung ứng dịch vụ được điều chỉnh bởi LTM
200524 Tựu trung lại, kinh doanh dịch vụ được hiểu là hoạt động thực hiện một loại hình dịch vụ dưới dạng nghĩa vụ và được hưởng thù lao tương xứng cho việc thực hiện loại dịch vụ đó Đây là cách hiểu chung cho hầu hết tất cả các loại hình kinh doanh dịch vụ trong thực tế hiện nay, do đó nó cũng được dùng để giải thích cho loại hình kinh doanh dịch vụ trong lĩnh vực môi trường mà cụ thể là KDDVQLCTNH
Như vậy, thông qua việc sử dụng khái niệm có liên quan trong các văn bản pháp luật nêu trên đồng thời căn cứ vào nội dung của hoạt động quản lý CTNH có
thể đưa ra khái niệm: “KDDVQLCTNH là hình thức cung ứng dịch vụ, theo đó bên
21 Khoản 2 Điều 4 Luật giá 2012
22
Hoàng Phê (2004), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, tr.256
dịch vụ, Nxb Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, tr.167
Trang 22cung ứng dịch vụ có nghĩa vụ thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động trong quy trình quản lý CTNH và nhận thu lao, bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ thanh toán thù lao và được sử dụng dịch vụ quản lý CTNH thông qua hợp đồng dịch vụ quản lý CTNH”
1.2.2 Đặc điểm kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại
Hoạt động KDDVQLCTNH về bản chất cũng là một dạng hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ do đó sẽ có một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, hành vi KDDVQLCTNH diễn ra trên thị trường Có thể hiểu một
cách khái quát, thị trường là nơi gặp gỡ giữa người mua và người bán Thị trường KDDVQLCTNH là nơi thực hiện hoạt động chuyển giao và tiếp nhận trách nhiệm quản lý CTNH giữa chủ nguồn thải CTNH đóng vai trò là khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ quản lý CTNH và chủ thể KDDVQLCTNH đóng vai trò là các doanh nghiệp đưa ra các loại hình dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý CTNH đạt điều kiện theo quy định của pháp luật Hoạt động KDDVQLCTNH diễn ra trên thị trường mang tính chất tự do, bình đẳng, các chủ thể có quyền tự do kinh doanh nhưng không phải tự do vô tổ chức mà luôn đặt trong trật tự thị trường để đảm bảo sự phát triển có định hướng của thị trường, giải quyết hài hòa hợp lý về lợi ích của các chủ thể tham gia, không để ai có thể vì lợi ích của mình mà xâm phạm đến quyền và lợi ích của người khác Chủ thể sử dụng dịch vụ được phép tùy ý lựa chọn đối tượng cung ứng dịch vụ đạt chất lượng, đáp ứng đủ điều kiện pháp luật và giá thành hợp lý nhất cho mình mà không bị bất kỳ rào cản gì Bên cạnh đó, sau khi lựa chọn chủ thể cung ứng dịch vụ cả hai bên có thể tự do thỏa thuận các điều khoản cần thiết trong hợp đồng dựa trên cơ sở pháp luật theo tiêu chí tự nguyện
Thứ hai, KDDVQLCTNH là lĩnh vực đầu tư kinh doanh có điều kiện, đối
tượng kinh doanh đặc biệt, chi phí đầu tư cao Theo quy định tại Mục 232 Phụ lục
IV ban hành kèm theo Luật sửa đổi, bổ sung LĐT 2014 hoạt động kinh doanh dịch
vụ vận chuyển, xử lý CTNH thuộc danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện Điều này cũng dễ hiểu bởi lẽ không giống như các loại chất thải thông thường khác, CTNH là một loại chất thải đặc biệt với nhiều đặc tính nguy hiểm cao, khả năng tác động tiêu cực đến môi trường và con người rất lớn, nếu không cẩn trọng và đáp ứng đầy đủ các điều kiện cần thiết trong hoạt động quản lý thì khả năng để lại hậu quả vô cùng nghiêm trọng Vì vậy, nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động quản
lý CTNH đòi hỏi các chủ thể KDDVQLCTNH phải đầu tư rất nhiều thời gian, công
Trang 23sức, đặc biệt là tài chính Hơn nữa, khác với các loại hình hoạt động kinh doanh dịch vụ khác, dịch vụ quản lý CTNH là một dạng dịch vụ đặc biệt bởi có sự đan xen giữa dịch vụ thương mại và dịch vụ công ích Hoạt động này không chỉ mang lại lợi ích cho chủ thể kinh doanh dịch vụ, chủ thể sử dụng dịch vụ mà còn góp phần đảm bảo nâng cao chất lượng môi trường, ổn định xã hội, nếu hoạt động KDDVQLCTNH càng hiệu quả thì chất lượng môi trường ngày càng được cải thiện, đời sống của nhân dân ngày càng được đảm bảo Vì vây, không phải bất kỳ chủ thể nào cũng được phép thực hiện hoạt động KDDVQLCTNH mà chỉ có những chủ thể đáp ứng đủ các điều kiện và được cấp phép thì mới được phép cung ứng dịch vụ quản lý CTNH
Thứ ba, hoạt động KDDVQLCTNH được thực hiện thông qua hợp đồng
bằng văn bản và phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Hợp đồng KDDVQLCTNH được thiết lập bằng văn bản giữa chủ thể cung ứng dịch vụ và chủ thể sử dụng dịch vụ, là cơ sở để ràng buộc trách nhiệm của các chủ thể này, đồng thời cũng là căn cứ để giải quyết khi có tranh chấp phát sinh Nội dung của hợp đồng phải thể hiện đầy đủ các thỏa thuận về công việc thực hiện, thù lao thanh toán, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên Tuy nhiên, có một điểm cần lưu ý là khác với các loại hợp đồng thương mại, dịch vụ thông thường khác, hợp đồng KDDVQLCTNH sau khi được xác lập, các bên phải thực hiện trách nhiệm đăng ký hợp đồng này tại cơ quan quản lý có thẩm quyền Như vậy, dù hợp đồng được xác lập dựa trên sự thỏa thuận của các bên nhưng việc thực hiện hợp đồng phải chịu sự quản lý, giám sát của nhà nước Điều này xuất phát từ đặc thù của hoạt động kinh doanh dịch quản lý CTNH là một hoạt động luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro vì vậy cần có
sự quản lý, theo dõi, giám sát chặt chẽ của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền nhằm đảm bảo các bên tham gia hợp đồng thực hiện đúng trách nhiệm, nghĩa
vụ của mình theo quy định pháp luật, góp phần ngăn ngừa, hạn chế những hành vi
vi phạm trong quá trình thực hiện các công việc liên quan đến hoạt động KDDVQLCTNH
Thứ tư, hành vi KDDVQLCTNH mang tính chất thường xuyên với mục đích
sinh lời Sau khi được cấp giấy phép chủ thể KDDVQLCTNH sẽ phải thực hiện thường xuyên các hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý CTNH theo quy định của pháp luật Trong trường hợp nếu sau một năm kể từ ngày được cấp Giấy phép xử lý CTNH chủ thể được cấp giấy phép không hoạt động sẽ bị nhà nước thu hồi, trừ
Trang 24những trường hợp bất khả kháng.25 Bản chất của hoạt động KDDVQLCTNH là một dạng hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lời, lợi nhuận tạo ra là động lực để các chủ thể tham gia vào hoạt động cung ứng loại hình dịch vụ này Khi ký hợp đồng tiếp nhận trách nhiệm quản lý CTNH do chủ nguồn thải CTNH chuyển giao, chủ thể cung ứng dịch vụ quản lý CTNH luôn nhắm đến lợi nhuận đạt được là khoản thanh toán mình sẽ được nhận sau khi hoàn tất công việc cung ứng dịch vụ cho bên sử dụng dịch vụ dựa trên cơ sở hợp đồng đã được ký kết giữa hai bên
Tóm lại, giống như các loại hình kinh doanh dịch vụ khác, KDDVQLCTNH cũng có đầy đủ các yếu tố, dấu hiệu cơ bản của một hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, bên cạnh những điểm tương đồng, hoạt động KDDVQLCTNH cũng có những dấu hiệu đặc trưng riêng như đã trình bày ở trên, điều này giúp nhận diện và phân biệt được loại hình KDDVQLCTNH với các loại hình kinh doanh khác
1.2.3 Vai trò kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại
KDDVQLCTNH có vai trò rất lớn trong việc đảm bảo chất lượng môi trường, bảo vệ sức khỏe con người, đồng thời góp phần vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, thực hiện mục tiêu phát triển bền vững.26
Thứ nhất, KDDVQLCTNH giúp thực hiện tốt công tác phòng ngừa, khắc
phục được các vấn đề về ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường, góp phần BVMT
và quyền được sống trong môi trường trong lành của con người Quyền được sống trong môi trường trong lành được khẳng định là một trong những quyền tự nhiên cơ bản của con người, quyền này đã được ghi nhận trong luật pháp quốc tế và luật pháp của hầu hết các quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, thực trạng ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng, sự cố môi trường ngày càng gia tăng về cường độ và tần suất, điều này đã xâm phạm nghiêm trọng đến quyền tự nhiên của con người Một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường là do CTNH gây ra, với các đặc tính nguy hại, CTNH có khả năng gây ảnh hưởng tiêu cực rất lớn đến chất lượng môi trường, sức khỏe, tính mạng con người nếu như không được quản lý hiệu quả Chính vì vậy, hoạt động KDDVQLCTNH với việc cung ứng các dịch vụ quản lý CTNH chất lượng, phù hợp, hiệu quả sẽ góp vai trò quan trọng trong việc BVMT Vì thông qua quá trình cung cấp các dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý CTNH, con người có thể giảm thiểu, phòng ngừa, ứng phó, khắc phục được những
học, Trường Đại học Luật Hà Nội, số 3(106), tr53
Trang 25vấn đề về ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường do CTNH gây ra, từ đó góp phần đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong lành của con người
Thứ hai, thông qua hoạt động KDDVQLCTNH nhà nước tạo được khoảng
không gian cho các chủ thể tự do thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp quy định pháp luật, điều này thúc đẩy sự phát triển đa dạng của ngành dịch vụ trong
đó có ngành dịch vụ môi trường Qua đó, thu hút nhiều chủ thể khác nhau bao gồm
cả các chủ thể trong nước và nước ngoài cùng tham gia vào việc cung ứng loại hình dịch vụ quản lý CTNH Từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh giữa các chủ thể tham gia cung ứng dịch vụ để có thể tạo ra chất lượng dịch vụ tốt nhất, có lợi cho chủ thể
sử dụng
Thứ ba, KDDVQLCTNH góp phần thúc đẩy sự phát triển của hoạt động
nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến hiện đại vào công tác BVMT trong quá trình quản lý CTNH Như đã phân tích ở phần 1.1.1 CTNH là một loại chất thải có nhiều độc tính nguy hiểm, vì vậy hoạt động KDDVQLCTNH đòi hỏi phải sử dụng công nghệ, trang thiết bị, phương tiện hiện đại để vừa đáp ứng được yêu cầu về BVMT vừa đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe cho những người tham gia thực hiện các hoạt động quản lý CTNH Những đòi hỏi trên đã góp phần vào việc thúc đẩy phát triển các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật hiện đại để đáp ứng nhu cầu kiểm soát ô nhiễm môi trường, từ đó góp phần tạo động lực cho sự phát triển của nền kinh tế dựa trên cơ sở BVMT
Thứ tư, KDDVQLCTNH mang lại các giá trị kinh tế, góp phần ổn định xã
hội Khi có sự xuất hiện của ngành nghề KDDVQLCTNH sẽ mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho các chủ thể có liên quan Đối với chủ nguồn thải, việc cung ứng các loại hình KDDVQLCTNH là một trong những giải pháp tối ưu giúp các chủ thể sản xuất, kinh doanh tiết kiệm chi phí nhưng vẫn đảm bảo được các nghĩa vụ theo yêu cầu bằng việc sử dụng dịch vụ quản lý CTNH do các chủ thể cung ứng dịch vụ cung cấp Đối với các chủ thể cung ứng dịch vụ quản lý CTNH, khi tham gia cung ứng dịch vụ sẽ thu được lợi nhuận từ việc đầu tư trang thiết bị, phương tiện, nhân lực, đáp ứng được yêu cầu doanh thu và lợi nhuận Đối với nhà nước, sẽ thu được một phần kinh phí vào ngân sách thông qua các công cụ thuế, phí liên quan đến hoạt động KDDVQLCTNH, điều này tạo động lực phát triển nền kinh tế, ổn định xã hội Ngoài ra, khi doanh nghiệp đầu tư KDDVQLCTNH sẽ phát sinh nhu cầu sử dụng
Trang 26lao động, điều này tạo công ăn việc làm và thu nhập cho một số bộ phận người dân, giúp họ không rơi vào các tệ nạn qua đó góp phần đảm bảo trật tự an toàn xã hội
Tóm lại, loại hình kinh doanh dịch vụ nào cũng đều hướng tới mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, tuy nhiên, đối với loại hình KDDVQLCTNH còn mang đến ý nghĩa
to lớn hơn cả lợi nhuận trong kinh doanh đó là cải thiện môi trường sống, ổn định
xã hội, bảo vệ con người Vì vậy, các chủ thể kinh doanh loại hình dịch vụ này phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật đang điều chỉnh
1.3 Tổng quan pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại
1.3.1 Sự cần thiết của pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại
So với chất thải thông thường, CTNH vô cùng nguy hiểm bởi chứa các yếu
tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác.27
Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, CTNH phát sinh ngày càng nhiều, theo báo cáo của Sở TN&MT các tỉnh, thành phố, lượng CTNH phát sinh trên toàn quốc ước khoảng 800 ngàn tấn/năm.28 Với lượng CTNH ngày càng gia tăng đã hủy hoại nghiêm trọng chất lượng môi trường, đe dọa tính mạng, sức khỏe con người Tuy nhiên, với thành phần phức tạp, đặc tính nguy hiểm cao nên không phải chủ thể nào khi phát sinh CTNH cũng có khả năng tự xử lý được vì vậy buộc họ phải sử dụng dịch vụ quản lý CTNH do các chủ thể KDDVQLCTNH cung cấp để quản lý CTNH đạt yêu cầu theo quy định pháp luật Tuy nhiên, trên thực tế các chủ thể tham gia cung ứng dịch vụ quản lý CTNH thường có tâm lý muốn đạt được lợi nhuận tối đa nên hay cố tình vi phạm pháp luật29, điển hình như vụ Công ty Cổ phần Sonadezi Long Thành chưa được cấp giấy phép vận chuyển và hành nghề xử lý CTNH, song trong gần 10 năm Công ty này vẫn đứng ra thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý 5.316 tấn CTNH cho nhiều doanh nghiệp và Khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai thu lợi hàng tỷ đồng30; hay vụ Công ty TNHH Xử lý môi trường sạch Việt Nam ký hợp đồng với
ww.quantracmoitruong.gov.vn/VN/TINTRANGCHU_Content/tabid/330/cat/115/nfriend/3747688/language/ vi-VN/Default.aspx, truy cập ngày 15/05/2018
29
Đào Minh Khoa, “57 tháng tù cho nhóm bị cáo đổ CTNH ra môi trường”, 113/57-thang-tu-cho-nhom-bi-cao-do-chat-thai-nguy-hai-ra-moi-truong-491478/, truy cập ngày 18/05/2018
http://www.sggp.org.vn/sonadezi-da-lam-gi-voi-5316-tan-chat-thai-nguy-hai-136734.html, truy cập ngày 08/03/2018
Trang 27Nhà máy nhiệt điện Hậu Giang để xử lý CTNH trong quá trình vận hành nhà máy, tuy nhiên, sau khi lấy số dầu thải máy biến thế điện tại Nhà máy nhiệt điện Hậu Giang, thay vì chở về Khu xử lý chất thải tập trung Tóc Tiên để xử lý theo hợp đồng xử lý CTNH thì Công ty TNHH Xử lý môi trường sạch Việt Nam lại đem về Quận Cái Răng để thuê người dân xử lý CTNH, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường.31 Tất cả những vấn đề trên không chỉ gây nguy hiểm cho con người mà còn có khả năng đe dọa nghiêm trọng đến vấn đề an ninh môi trường trong hoạt động quản lý CTNH Vì vậy, các quy định pháp luật điều chỉnh về hoạt động KDDVQLCTNH có vai trò đặc biệt quan trọng, được xem là điều kiện cốt lõi để giải quyết triệt để các vấn đề phát sinh trong hoạt động KDDVQLCTNH Thông qua các quy định pháp luật sẽ quy định rõ ràng, cụ thể về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm mang tính ràng buộc của các chủ thể có liên quan đến hoạt động quản lý CTNH như chủ nguồn thải CTNH, chủ thể cung ứng dịch vụ quản lý CTNH, các cơ quan quản lý nhà nước Khi quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ thể được thể chế hóa buộc các chủ thể phải thực hiện đúng và đầy đủ các yêu cầu của pháp luật khi tham gia vào các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động KDDVQLCTNH Nếu các chủ thể này không tuân thủ và thực hiện đúng theo trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ của mình tùy vào mức độ vi phạm sẽ bị áp dụng các chế tài như bị xử phạt vi phạm hành chính, bồi thường thiệt hại, truy cứu trách nhiệm hình sự, khắc phục hậu quả… Với việc phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi, các chủ thể buộc thay vì thực hiện các hành vi tiêu cực, bất chấp mọi thủ đoạn gian lận gây thiệt hại lợi ích của các chủ thể khác, làm ảnh hưởng đến sự ổn định, phát triển của nền kinh tế sẽ phải tự ý thức điều chỉnh hành vi của mình theo chiều hướng tích cực, tự giác tuân thủ đúng theo các yêu cầu của pháp luật nhằm mang lại hiệu quả cao trong công tác thu gom, vận chuyển, xử lý CTNH Điều này vừa thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao hiệu quả BVMT vừa tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, thống nhất giúp cho các chủ thể tham gia cung ứng dịch vụ quản lý CTNH có thể tự bảo vệ được quyền lợi của mình, hạn chế những rủi ro có thể phát sinh
Bên cạnh đó, thông qua các quy tắc xử sự chung điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong hoạt động KDDVQLCTNH, pháp luật về KDDVQLCTNH đã cụ thể hóa các quy định từ các văn bản nguồn như LTM 2005, LDN 2014, LĐT 2014,
31 Mai Trâm, “Làm rõ vụ xử lý trái phép chất thải nguy hại từ nhiệt điện Hậu Giang”, https://thanh nien.vn/thoi-su/lam-ro-vu-xu-ly-trai-phep-chat-thai-nguy-hai-tu-nhiet-dien-hau-giang-958877.html, truy cập 30/6/2018.
Trang 28Luật BVMT 2014, Công ước Basel, các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO… thành các yêu cầu về KDDVQLCTNH một cách minh bạch, phù hợp với
sự phát triển kinh tế xã hội trong nước và xu hướng hội nhập quốc tế Qua đó không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể kinh doanh được quyền tự do lựa chọn
mô hình hoạt động phù hợp với năng lực, nhu cầu xã hội, thỏa mãn yêu cầu của người sử dụng mà còn giúp nhà nước duy trì được môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng giữa các chủ thể KDDVQLCTNH, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các chủ thể và xã hội
Ở góc độ khác, pháp luật điều chỉnh về hoạt động KDDVQLCTNH còn góp phần đảm bảo thực hiện các yêu cầu trong xu hướng hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh dịch vụ môi trường Song song với quá trình hội nhập kinh tế thế giới, việc mở cửa thị trường và tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho các ngành dịch vụ nói chung và ngành dịch vụ môi trường nói riêng là một vấn đề rất quan trọng và không thể thiếu trong các hoạt động đàm phán thương mại song phương, đa phương, cũng như các khuôn khổ hợp tác quốc tế Rõ nét nhất là sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đã cam kết về
mở cửa thị trường dịch vụ môi trường ở năm phân ngành trong WTO bao gồm: Dịch vụ xử lý nước thải; dịch vụ xử lý rác thải; dịch vụ làm sạch khí thải; dịch vụ
xử lý tiếng ồn và dịch vụ đánh giá tác động của môi trường32 Do vậy, việc xây dựng chính sách và cơ sở pháp lý để phát triển dịch vụ môi trường, trong đó có dịch
vụ quản lý CTNH đang là một nhu cầu hết sức cấp thiết ở Việt Nam
Tóm lại, pháp luật với tư cách là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội, luôn
có tác động và ảnh hưởng mạnh mẽ đến các quan hệ xã hội trong đó có các quan hệ
xã hội phát sinh trong hoạt động quản lý CTNH Với đặc điểm mang tính quy phạm phổ biến, được thể hiện dưới hình thức xác định và được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh của nhà nước nên pháp luật về KDDVQLCTNH có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh hành vi xử sự của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ xã hội liên quan đến hoạt động KDDVQLCTNH Qua đó, góp phần đưa hoạt động KDDVQLCTNH đi theo một trật tự nhất định, đảm bảo quyền lợi của các chủ thể liên quan trong quá trình kinh doanh và sử dụng dịch vụ quản lý CTNH Nếu không
có pháp luật, việc quản lý CTNH cũng như việc KDDVQLCTNH sẽ không thể mang lại hiệu quả như mong muốn cho các chủ thể kinh doanh, chủ thể sử dụng
http://www.trungtamwto.vn/wto/cam-ket-chung-ve-dich-vu-cua-viet-nam-trong-wto, truy cập ngày 10/03/2018
Trang 29dịch vụ, các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, xa hơn là sẽ làm cho chất lượng môi trường không được đảm bảo, cuộc sống con người sẽ bị ảnh hưởng
1.3.2 Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại
Quá trình phát triển của pháp luật về KDDVQLCTNH gắn liền với sự phát triển của pháp luật môi trường Khi pháp luật môi trường ở Việt Nam chưa ra đời thì pháp luật về KDDVQLCTNH cũng chưa được nhắc tới Quá trình phát triển của Luật Môi trường nói chung và pháp luật về KDDVQLCTNH nói riêng được chia thành hai giai đoạn gồm:
Giai đoạn một: Giai đoạn trước năm 1986, toàn bộ nguồn lực đều phải tập
trung dồn vào phục vụ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, sau khi dành thắng lợi lại phải tập trung khắc phục hậu quả chiến tranh, phục hồi kinh tế, đất nước khó khăn nên vấn đề BVMT không được chú trọng Điểm manh nha pháp lý đầu tiên về vấn đề BVMT trong giai đoạn này là sự ra đời của sắc lệnh số 142/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 21 tháng 12 năm 1949 quy định
về việc kiểm soát lập biên bản các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng, đây được xem là văn bản sớm nhất đề cập về vấn đề môi trường Tuy nhiên, văn bản này chưa
đủ để điều chỉnh các vấn đề liên quan đến công tác quản lý và BVMT, trong đó có vấn đề quản lý CTNH Vì vậy, hoạt động KDDVQLCTNH vẫn chưa được quan tâm
và điều chỉnh bằng các quy định pháp luật, nếu có thì cũng chỉ là hoạt động quản lý chất thải đặt dưới sự hỗ trợ, bao cấp của nhà nước
Giai đoạn hai: Giai đoạn từ năm 1986 đến nay, vào những năm 70 và đầu
những năm 80, xuất hiện cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội trên phạm vi diện rộng, điều này đã dẫn đến sự ra đời của các cuộc cải cách kinh tế bằng việc xóa bỏ cơ chế tập trung bao cấp và chuyển sang cơ chế thị trường đã làm thay đổi nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội33
Chính sự thay đổi này đã làm cho xã hội bắt đầu tiến trình
đô thị hóa, kinh tế thị trường xuất hiện, dẫn đến hệ quả chạy đua phát triển kinh tế bất chấp sự suy thoái môi trường Quá trình này đã gây sức ép cho môi trường do không kiểm soát được lượng chất thải phát sinh, nhất là CTNH dẫn đến môi trường
bị ô nhiễm, suy thoái, điều này đe dọa nghiêm trọng đến sự tồn tại và phát triển của con người, do đó vấn đề BVMT đã được xem trọng Vì vậy, lúc này đòi hỏi các quy
33
Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật Môi trường, Nxb.Công an nhân dân, tr.50
Trang 30định pháp luật điều chỉnh về hoạt động quản lý CTNH phải ra đời để điều chỉnh các vấn đề liên quan đến việc quản lý CTNH, trong đó có hoạt động KDDVQLCTNH
Ngày 27 tháng 12 năm 1993 Quốc hội khoá IX đã thông qua Luật BVMT
1993 Sau đó, ngày 18 tháng 10 năm 1994 Chính phủ ban hành Nghị định số 175/CP để hướng dẫn thi hành Luật BVMT 1993 Sự ra đời của hai văn bản này đã đánh dấu một cột mốc quan trọng về hoạt động BVMT dưới góc độ pháp lý nói chung và hoạt động quản lý chất thải nói riêng Tuy nhiên, trong hai văn bản pháp luật này không đề cập đến nội dung hoạt động quản lý CTNH cũng như hoạt động KDDVQLCTNH Điều này để lại một lỗ hỏng lớn trong công tác BVMT vì chưa có quy định điều chỉnh cụ thể về hoạt động quản lý CTNH, trong khi CTNH là một loại chất thải có tính chất nguy hiểm cao cho môi trường và con người
Để lấp lỗ hỏng nêu trên, ngày 16 tháng 07 năm 1999 Thủ tướng Chính phủ
đã ra Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg ban hành quy chế quản lý CTNH Đây là văn bản đầu tiên quy định một cách khá chi tiết, riêng biệt về hoạt động quản lý CTNH Nội dung của Quy chế này quy định việc quản lý CTNH nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu tối đa việc phát sinh các tác động nguy hại đối với môi trường và sức khoẻ con người, quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm của các chủ thể có liên quan đến hoạt động quản lý CTNH Tại khoản 1 Điều 10 của Quy chế quy định chủ nguồn
thải CTNH “khi không có đủ năng lực tự thu gom, vận chuyển, xử lý, tiêu hủy
CTNH phát sinh tại cơ sở của mình thì phải ký hợp đồng với các chủ thu gom, vận chuyển, xử lý, tiêu hủy CTNH” và phải “kiểm tra, xác nhận CTNH trong quá trình thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý, tiêu hủy đến đúng địa điểm, cơ sở theo quy định của hợp đồng”34, chủ thể tiếp nhận phải có trách nhiệm “tiếp nhận CTNH từ
các chủ nguồn thải, thu gom, vận chuyển trên cơ sở hợp đồng ký giữa hai bên, kèm theo đầy đủ chứng từ CTNH”35 Như vậy, với các quy định nêu trên Quy chế đã thừa nhận hoạt động KDDVQLCTNH thông qua việc cung ứng và sử dụng các dịch
vụ thu gom, vận chuyển, xử lý CTNH giữa chủ nguồn thải và chủ thể cung ứng dịch
Trang 31được chôn cất trực tiếp vào bãi chôn lấp, các yêu cầu về việc lựa chọn địa điểm, thiết kế và xây dựng bãi chôn lấp CTNH, các vấn đề về vận hành, quan trắc khu vực chôn lấp CTNH… Các quy định này tạo nền tảng cơ sở bước đầu, góp phần giúp cho hoạt động KDDVQLCTNH đi vào khuôn khổ, nề nếp thông qua việc phải đáp ứng các yêu cầu trong công tác xử lý CTNH khi cung ứng dịch vụ theo Quyết định nêu trên
Tuy nhiên, sau mười năm có hiệu lực, Luật BVMT 1993 đã cho thấy những tồn tại thiếu sót, hạn chế và cần thiết phải có một văn bản quy phạm pháp luật mới quy định cụ thể, đầy đủ hơn về hoạt động BVMT nói chung và hoạt động quản lý chất thải nói riêng, trong đó có CTNH Xuất phát từ nhu cầu đó, ngày 29 tháng 11 năm 2005 Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật BVMT 2005 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2006 thay thế Luật BVMT 1993 Luật BVMT 2005 kế thừa
ưu điểm, khắc phục những bất cập, hạn chế của Luật BVMT 1993; luật hoá một số quy định tại các văn bản hướng dẫn thi hành Luật BVMT 1993 đã được kiểm nghiệm qua thực tế; tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các nước trong khu vực
và trên thế giới để hoàn thiện công tác BVMT, trong đó có hoạt động quản lý CTNH Tại mục 2 Chương VIII, Luật BVMT 2005 đã đưa ra các quy định cụ thể, chi tiết về hoạt động quản lý CTNH từ Điều 70 đến Điều 76 quy định các vấn đề về việc lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép và mã số hoạt động quản lý CTNH; phân loại, thu gom, lưu giữ tạm thời CTNH; vận chuyển, xử lý CTNH; cơ sở xử lý CTNH; khu chôn lấp CTNH và quy hoạch về thu gom, xử lý, chôn lấp CTNH Cụ thể, tại khoản
1 Điều 71 quy định “Tổ chức, cá nhân có hoạt động làm phát sinh CTNH phải tổ
chức phân loại, thu gom hoặc hợp đồng chuyển giao cho bên tiếp nhận quản lý chất thải thu gom CTNH”, khoản 4 Điều 73 quy định “việc chuyển giao trách nhiệm xử
lý CTNH giữa chủ thể có hoạt động làm phát sinh chất thải và bên tiếp nhận trách nhiệm xử lý chất thải được thực hiện bằng hợp đồng, có xác nhận của cơ quan chuyên môn về BVMT cấp tỉnh”, khoản 5 Điều 73 quy định “Hợp đồng chuyển giao trách nhiệm xử lý CTNH phải ghi rõ xuất xứ, thành phần, chủng loại, công nghệ xử
lý, biện pháp chôn lấp chất thải còn lại sau xử lý” Các quy định trên là cơ sở quan
trọng để điều chỉnh các vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động quản lý CTNH nói chung và hoạt động KDDVQLCTNH nói riêng
Cùng với sự ra đời của Luật BVMT 2005 hàng loạt các văn bản hướng dẫn thi hành khác cũng được ban hành liên quan đến hoạt động quản lý CTNH như: Ngày 09 tháng 08 năm 2006 Chính phủ ban hành Nghị định số 80/2006/NĐ-CP quy
Trang 32định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BVMT 2005, tại Điều 20 của Nghị định đề cập đến trách nhiệm quản lý CTNH của các cơ quan nhà nước Ngày 09 tháng 08 năm 2006 Chính phủ ban hành Nghị định số 81/2006/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT, trong đó có các quy định xử phạt hành chính liên quan đến công tác quản lý CTNH, Nghị định này có hiệu lực thay thế cho Nghị định số 121/2004/NĐ-CPngày 12 tháng 5 năm 2004 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT Tiếp
đó, để thuận lợi trong công tác quản lý CTNH ngày 26 tháng 12 năm 2006 Bộ TN&MT đã ban hành Thông tư số 12/2006/BTNMT về việc hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý CTNH Bên cạnh đó, để phục vụ cho việc xác định các loại CTNH được chính xác trên thực
tế nhằm tạo điều thuận lợi cho hoạt động quản lý CTNH được hiệu quả, ngày 26 tháng 12 năm 2006 Bộ trưởng Bộ TN&MT đã ra Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT ban hành danh mục CTNH, sự ra đời của danh mục này góp phần rất lớn trong việc dễ dàng xác định một chất nào đó có phải là CTNH hay không để từ đó
có thể áp dụng các quy định pháp luật về quản lý CTNH để điều chỉnh được chính xác Đến ngày 28 tháng 02 năm 2008 Chính phủ lại tiếp tục ban hành Nghị định số 21/2008/NĐ-CP quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
số 80/2006/NĐ-CP vì trong quá trình triển khai Nghị định số 80/2006/NĐ-CP có những bộc lộ thiếu sót, tại khoản 12 Điều 1 Nghị định số 21/2008/NĐ-CP đã đưa ra một quy định liên quan đến quản lý CTNH đó là nghiêm cấm việc đổ CTNH xuống vùng biển nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.Ngày 14 tháng 01 năm 2009
để ưu đãi, hỗ trợ cho hoạt động BVMT trong đó có hoạt động quản lý CTNH, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 04/2009/NĐ-CP quy định về ưu đãi hỗ trợ hoạt động BVMT để góp phần đảm bảo công tác BVMT được hiệu quả Đến ngày
14 tháng 04 năm 2011 Bộ TN&MT đã ban hành Thông tư số 12/2011/BTNMT quy định về quản lý CTNH, Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 06 năm 2011 thay thế Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT và Quyết định
số 23/2006/QĐ-BTNMT Ngày 14 tháng 11 năm 2013 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 179/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường, Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 30 tháng 12 năm 2013 thay thế Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2009 của Chính phủ về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT… Như vậy, trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2014 nhà nước đã ban hành khá nhiều các văn bản pháp luật điều chỉnh về hoạt
Trang 33động quản lý CTNH, trong đó có liên quan đến hoạt động kinh doanh dịch vụ CTNH, điều này chứng tỏ nhà nước đã dành sự quan tâm lớn về vấn đề quản lý CTNH Các văn bản pháp luật trong giai đoạn này nói chung đã tạo được hành lang pháp lý mang tính chuyên ngành điều chỉnh riêng biệt cho hoạt động quản lý CTNH trong đó có hoạt động KDDVQLCTNH
Giống như Luật BVMT 1993, sau một thời gian thực hiện Luật BVMT 2005 lại tiếp tục bộc lộ những bất cập, hạn chế trong hoạt động BVMT, trong đó có hoạt động liên quan đến vấn đề quản lý CTNH Vì vậy, ngày 23 tháng 06 năm 2014 Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật BVMT 2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày
01 tháng 01 năm 2015 thay thế Luật BVMT 2005 Các vần đề pháp lý liên quan đến vấn đề quản lý CTNH được quy định tại Mục II gồm 5 điều, từ Điều 90 đến Điều
94, về cơ bản kế thừa các nội dung về quản lý CTNH của Luật BVMT 2005 Tuy nhiên, Luật BVMT 2014 đã quy định rõ hơn về điều kiện của cơ sở xử lý CTNH, đây là cơ sở pháp lý quan trọng và cần thiết để điều chỉnh các vấn đề liên quan đến các hoạt động kinh doanh dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý CTNH
Dựa trên cơ sở của Luật BVMT 2014 được ban hành và có hiệu lực, hàng loạt các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan đến hoạt động quản lý CTNH đã được ban hành như: Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật BVMT 2014, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 04 năm 2015 và chấm dứt hiệu lực của các văn bản gồm: Nghị định số 80/2006/NĐ-CP, Nghị định số 21/2008/NĐ-CP, Nghị định
số 04/2009/NĐ-CP Ngày 24 tháng 04 năm 2015, Chính phủ ban hành Nghị định
số 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu, trong đó các vấn đề pháp lý về quản lý CTNH được quy định chi tiết tại Chương II từ Điều 5 đến Điều 14 của Nghị định để cụ thể các nội dung về hoạt động quản lý CTNH được quy định trong Luật BVMT 2014 Ngày 30 tháng 06 năm 2015 Bộ TN&MT ban hành Thông tư số 36/2015/BTNMT quy định về quản lý CTNH, Thông tư này có hiệu lực thi hành kể
từ ngày 01 tháng 9 năm 2015 thay thế cho Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT Ngày
01 tháng 07 năm 2016 Chính phủ ban hành Nghị định số 60/2016/NĐ-CP quy định một số điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường, trong
đó có quy định về điều kiện cấp phép xử lý CTNH, yêu cầu kỹ thuật quy trình quản
lý đối với chủ xử lý CTNH Ngày 18 tháng 11 năm 2016 Chính phủ ban hành Nghị định số 155/2016/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT, Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 02 năm 2017 và thay
Trang 34thế Nghị định số 179/2013/NĐ-CP Tất cả các văn bản trên đều là cơ sở pháp lý cơ bản, quan trọng, tích cực quan trọng trong việc điều chỉnh các hoạt động quản lý CTNH, trong đó có hoạt động KDDVQLCTNH, đồng thời qua đó góp phần thúc đẩy, duy trì và đảm bảo được các yêu cầu về phát triển kinh tế, BVMT, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững trong hoạt động KDDVQLCTNH.
Như vậy, từ quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về KDDVQLCTNH như đã phân tích ở trên, có thể thấy các quy định của pháp luật về hoạt động quản lý CTNH nói chung và hoạt động KDDVQLCTNH nói riêng đã thường xuyên được sửa đổi, bổ sung, thay thế nhằm phù hợp với từng giai đoạn, đặc điểm yêu cầu về thị trường và công tác BVMT Qua đó, cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu trong hoạt động quản lý CTNH ở Việt Nam
1.3.3 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản
lý chất thải nguy hại
Pháp luật về KDDVQLCTNH là một hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa bên cung ứng và bên sử dụng dịch vụ quản lý CTNH và mối quan hệ giữa các chủ thể này với các cơ quan nhà nước trong hoạt động quản lý CTNH Các quy định pháp luật điều chỉnh về hoạt động KDDVQLCTNH là một bộ phận của pháp luật môi trường, bao gồm các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lý điều chỉnh những mối quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động quản lý CTNH, góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu quả trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ môi trường nói chung và dịch vụ quản lý CTNH nói riêng Hiện nay, pháp luật về KDDVQLCTNH vẫn chưa được cụ thể hóa thành một hệ thống pháp luật riêng biệt mà vẫn còn chủ yếu nằm rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Hiến pháp 2013, BLDS 2015, BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, LTM 2005, LDN 2014, LĐT 2014 sửa đổi bổ sung năm 2016, Luật BVMT 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành36… Mặc dù, được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật khác nhau, nhưng giữa các quy định đều có mối quan hệ tác động biện chứng hổ trợ cho nhau góp phần quan trọng vào việc điều chỉnh các vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động KDDVQLCTNH Cụ thể:
Đầu tiên có thể kể đến Hiến pháp 2013, tại Điều 33 Hiến pháp 2013 quy
định:“Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật
không cấm” Có thể nói đây là cơ sở hiến định về quyền tự do kinh doanh của các
chất thải nguy hại”, Tạp chí Giáo dục và Xã hội, số đặc biệt kỳ 1 tháng 06/2018, tr142
Trang 35chủ thể trong xã hội, dựa vào đó để xây dựng, ban hành các quy định pháp luật về hoạt động KDDVQLCTNH
Tiếp đến, Luật BVMT 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành như Nghị định số 19/2015/NĐ-CP, Nghị định số 38/2015/NĐ-CP, Nghị định số 60/2016/NĐ-
CP, Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT… Đây là những văn bản chuyên ngành rất quan trọng điều chỉnh trực tiếp lĩnh vực hoạt động dịch vụ môi trường, trong đó có dịch vụ quản lý CTNH Các văn bản này quy định chi tiết, hướng dẫn cụ thể các vấn
đề về trình tự thủ tục, thành phần hồ sơ đăng ký cấp phép xử lý CTNH, các vấn đề pháp lý về nội dung quản lý CTNH, các điều kiện cơ sở xử lý CTNH cần đáp ứng, trách nhiệm của các chủ thể trong việc thực hiện hoạt động quản lý CTNH, đưa ra danh mục CTNH và các yêu cầu kỹ thuật quy trình quản lý CTNH Các văn bản nêu trên, mặc dù không trực tiếp nhắc đến hoạt động KDDVQLCTNH nhưng đã đưa ra các quy định có liên quan để điều chỉnh hoạt động này, từ đó giúp các chủ thể nắm rõ được các vấn đề pháp lý cần phải tuân thủ, thực hiện khi tham gia kinh doanh loại hình dịch vụ đặc biệt này
Ngoài ra, LDN 2014 và LĐT 2014 sửa đổi, bổ sung 2016 cũng quy định các vấn đề về chủ thể kinh doanh, điều kiện và phạm vi hoạt động ngành nghề dịch vụ
có liên quan đến hoạt động quản lý CTNH Trong đó, LDN 2014 giúp xác định các loại hình doanh nghiệp mà chủ thể cung ứng dịch vụ có thể hình thành Ngoài ra,
LDN 2014 còn quy định về nghĩa vụ của doanh nghiệp phải: “Đáp ứng đủ điều kiện
kinh doanh khi kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo quy định của Luật Đầu tư và bảo đảm duy trì đủ điều kiện đầu tư kinh doanh đó trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh”37 Tùy theo ngành, nghề cụ thể mà pháp luật yêu cầu phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh khác nhau, điều kiện này được thể hiện thông qua giấy phép hay giấy chứng nhận Còn LĐT 2014 giúp xác định được điều kiện và phạm vi hoạt động của các loại hình dịch vụ, tùy theo ngành nghề kinh doanh khác nhau thì sẽ có các điều kiện kinh doanh khác nhau được quy định cụ thể Đối với lĩnh vực kinh doanh dịch vụ vận chuyển, xử lý CTNH thì đây là ngành nghề kinh doanh có điều kiện38 Các chủ thể muốn tham gia thực hiện hoạt động
37
Khoản 1 Điều 8 LDN 2014
03/2016/QH14 sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật đầu tư
Trang 36KDDVQLCTNH cần phải đáp ứng các điều kiện nêu trên thì mới được phép thực hiện
Bên cạnh đó, BLDS 2015 và LTM 2005 cũng đóng vai trò nền tảng quan trọng trong việc điều chỉnh các vấn đề pháp lý liên quan đến hợp đồng KDDVQLCTNH BLDS 2015 đưa ra khái niệm tương đối đầy đủ, súc tích về hợp đồng cung ứng dịch vụ39, quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ của các bên và những vấn đề liên quan đến hợp đồng40 Đáng lưu ý là BLDS 2015 có quy định về các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng, yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng, cách thức trả tiền dịch vụ41 Nếu BLDS 2015 được xem là văn bản chung nhất quy định các vấn đề về thực hiện các giao dịch dân sự, trong đó có các loại hình dịch vụ,
kể cả dịch vụ quản lý CTNH thì LTM 2005 quy định chi tiết hơn về hình thức của hợp đồng cung ứng dịch vụ là bằng văn bản, bằng lời nói hay bằng hành vi cụ thể42 Bên cạnh đó, nếu như BLDS 2015 chỉ mới đề cập phải hoàn thành nghĩa vụ mà không nói rõ thời hạn bao lâu43 thì LTM 2015 đã quy định cụ thể về thời hạn phải
hoàn thành nghĩa vụ, cụ thể: “Trường hợp không có thỏa thuận về thời hạn hoàn
thành dịch vụ thì bên cung ứng dịch vụ phải hoàn thành dịch vụ trong một thời hạn hợp lý trên cơ sở tính đến tất cả các điều kiện và hoàn cảnh mà bên cung ứng dịch
vụ biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng, bao gồm bất kỳ nhu cầu cụ thể nào của khách hàng có liên quan đến thời gian hoàn thành dịch vụ” Có thể nói, hai văn
bản pháp luật nêu trên là cơ sở pháp lý tiền đề quan trọng để áp dụng điều chỉnh hợp đồng cung ứng dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý CTNH trong hoạt động KDDVQLCTNH, từ đó góp phần giúp các bên thực hiện tốt và đảm bảo được quyền lợi của mình trong hoạt động KDDVQLCTNH
Đối với vấn đề xử lý các hành vi vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hoạt động KDDVQLCTNH, tùy vào từng loại chủ thể với các mức độ vi phạm, thiệt hại
mà có thể sẽ phải gánh chịu các hậu quả pháp lý và mức bồi thường khác nhau Vấn
đề xử lý vi phạm và bồi thường thiệt trong hoạt động KDDVQLCTNH được điều chỉnh trong một số văn bản như Luật Cán bộ, công chức 2008, Nghị định số 155/2016/NĐ-CP, BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, BLDS 2015, Nghị định số
dịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ, còn bên thuê dịch vụ phải trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ”
Trang 3703/2015/NĐ-CP Cụ thể, tại Điều 78, Điều 79 Luật Cán bộ, Công chức 2008 quy định các hình thức kỷ luật đối với các đối tượng là cán bộ, công chức có hành vi vi phạm trong hoạt động KDDVQLCTNH Đối với các hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động KDDVQLCTNH sẽ được điều chỉnh bởi Nghị định số 155/2016/NĐ-CP, Nghị định này quy định về việc xác định các hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, biện pháp xử lý, thẩm quyền xử phạt, mức tiền phạt đối với những hành vi vi phạm trong lĩnh vực quản lý CTNH và các hoạt động liên quan đến KDDVQLCTNH Còn các hành vi được xem là tội phạm sẽ được điều chỉnh bởi BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, văn bản này quy định trách nhiệm hình sự, xác định các tội danh đối với tội phạm môi trường, trong đó có các tội danh liên quan đến CTNH được quy định tại Chương XIX như tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 235), tội vi phạm về quy định quản lý CTNH (Điều 236), tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam (Điều 239) Bên cạnh xử phạt còn có vấn đề bồi thường thiệt hại, hiện nay cơ sở pháp lý để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường trong hoạt động KDDVQLCTNH được xác định theo Điều 602 BLDS 2015 và Nghị định số 03/2015/NĐ-CP Các văn bản pháp lý nêu trên góp phần quan trọng vào việc điều chỉnh hoạt động KDDVQLCTNH của các chủ thể theo hướng tích cực và đạt được hiệu quả cao
Ở góc độ Công ước quốc tế, ngày 10 tháng 6 năm 1995 Việt Nam gia nhập
và trở thành thành viên chính thức của Công ước Basel về kiểm soát vận chuyển qua biên giới các phế thải nguy hiểm và việc tiêu hủy chúng Công ước này được xây dựng nhằm mục đích bảo vệ sức khỏe con người và môi trường trước tác động
có hại từ việc sản sinh và quản lý không hợp lý CTNH và các chất thải khác bằng một hệ thống các biện pháp kiểm soát nghiêm ngặt quá trình vận chuyển và tiêu hủy các chất đó Ở Việt Nam việc vận chuyển CTNH sang nước khác phải tuân thủ các điều ước quốc tế mà Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, trong đó
có Công ước Basel mà Việt Nam đã tham gia và ký kết, điều này cũng chi phối đến hoạt động KDDVQLCTNH trong đó có hoạt động vận chuyển
Như vậy, hệ thống pháp luật của Việt Nam hiện tại đã xây dựng được các quy định để điều chỉnh chung cho hoạt động KDDVQLCTNH, tạo cơ sở vững chắc
và thuận lợi cho việc thực hiện, áp dụng pháp luật trong thực tế.44
chất thải nguy hại”, Tạp chí Giáo dục và Xã hội, số đặc biệt kỳ 1 tháng 06/2018, tr144
Trang 38KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Từ những phân tích trong Chương 1, có thể đưa ra những kết luận sau:
1 Chất thải nguy hại là một dạng chất thải có khả năng gây nguy hiểm cao cho con người và môi trường do xuất phát từ đặc tính độc hại của chúng, vì vậy quản lý chất thải nguy hại là một hoạt động vô cùng quan trọng và cần thiết trong cuộc sống hiện nay Thực hiện tốt công tác quản lý chất thải nguy hại sẽ góp phần tích cực vào việc duy trì chất lượng cuộc sống và bảo vệ môi trường được hiệu quả
2 Hoạt động kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại là một hệ quả tất yếu của nhu cầu xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta hiện nay Hoạt động này vừa đáp ứng được nhu cầu thực hiện các nghĩa vụ của chủ nguồn thải chất thải nguy hại khi họ không có khả năng quản lý đạt yêu cầu, vừa tạo được lợi nhuận cho các chủ thể thực hiện cung ứng dịch vụ quản lý chất thải nguy hại Qua đó, góp phần tạo được động lực phát triển kinh tế, ổn định xã hội, bảo vệ môi trường, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững
3 Để hoạt động kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại được đi vào nề nếp
và hoạt động hiệu quả thì sự điều chỉnh của các quy định pháp luật về hoạt động này đóng vai trò quan trọng đặc biệt và không thể thiếu Pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại vừa ràng buộc được trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan, vừa duy trì được các quy luật cung cầu của thị trường, đảm bảo cạnh tranh lành mạnh, tạo điều kiện để các chủ thể cùng tham gia vào hoạt động cung ứng và sử dụng loại dịch vụ hữu ích này Xuất phát
từ yêu cầu đó, trong thời gian qua, nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về hoạt động quản lý chất thải nguy hại, trong đó có hoạt động kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại Tuy nhiên, hiện nay pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại chưa được cụ thể hóa thành một hệ thống pháp luật riêng biệt mà còn quy định rời rạc trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau Chính vì vậy, việc xây dựng và hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật hoàn chỉnh để điều chỉnh cho lĩnh vực kinh doanh dịch vụ quản
lý chất thải nguy hại là điều rất cần thiết
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ QUẢN LÝ
CHẤT THẢI NGUY HẠI VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
Theo Báo cáo Môi trường quốc gia được Bộ TN&MT công bố cuối năm
2016, thống kê từ các địa phương cho thấy tổng lượng CTNH phát sinh trên toàn quốc hiện nay khoảng 800.000 tấn/năm45, tính đến tháng 10 năm 2017, Bộ TN&MT
đã cấp Giấy phép xử lý CTNH cho 107 cơ sở xử lý CTNH46 để cung ứng các dịch
vụ quản lý CTNH Tuy nhiên, tình trạng vi phạm các quy định pháp luật trong hoạt động KDDVQLCTNH vẫn diễn ra phổ biến ở mức báo động cao.47
Tại hội thảo
phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm về môi trường, Thượng tá Đặng Mạnh Liêu - Phó trưởng Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về môi trường (PC49) - Công an TP.HCM cho biết thực trạng về vi phạm trong việc quản lý CTNH ngày càng tinh vi
và phức tạp.48 Tất cả những vấn đề này không chỉ xuất phát từ thực trạng quản lý chưa hiệu quả mà còn xuất phát từ những thiếu sót, bất cập trong các quy định pháp luật Trong chương II này tác giả sẽ tập trung phân tích, đánh giá những điểm bất cập, hạn chế trong quy định pháp luật và trên cơ sở đó đề ra giải pháp nhằm khắc phục, hoàn thiện
2.1 Thực trạng pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại
2.1.1 Quy định về chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại
Điều 33 Hiến pháp 2013 quy định “Mọi người có quyền tự do kinh doanh
những ngành nghề mà pháp luật không cấm”, tức là tất cả các chủ thể từ cơ quan
nhà nước đến các tổ chức, cá nhân đều có quyền tự do kinh doanh, giới hạn của quyền tự do đó là những gì pháp luật không cấm Trên thực tế, đa phần các chủ thể cung ứng dịch vụ quản lý CTNH hiện nay là các tổ chức kinh tế trong nước, như
45 An Dương, “Bất cập trong thu gom và xử lý chất thải nguy hại gây ô nhiễm môi trường”, http://moitruong net.vn/bat-cap-trong-thu-gom-va-xu-ly-chat-thai-nguy-hai-gay-o-nhiem-moi-truong/, truy cập ngày 9/3/2018
giải pháp”, http://vea.gov.vn/vn/truyenthong/tapchimt/, truy cập ngày 06/03/2018
47 Một vài trường hợp phải kể đến như: Công ty TNHH khoa học kỹ thuật năng lượng mặt trời BoViet chuyển giao 260 vỏ thùng đựng hóa chất đã qua sử dụng có dung tích 1000 lít/thùng, tương đương 15.600 kg cho Công ty TNHH đầu tư Golden Star Việt Nam không có Giấy phép xử lý CTNH theo quy định; hay những sai phạm của công ty URENCO Hà Nội, công ty Tường Hựu, công ty TNHH Apple Film Đà Nẵng, Công ty Hydra Việt Nam có địa chỉ tại các khu công nghiệp trên TP Đà Nẵng có hành vi chuyển giao CTNH cho tổ chức, cá nhân không có năng lực xử lý theo quy định
48 Huyền Nga, “Tràn lan vi phạm về quản lý chất thải nguy hại”, pham-ve-quan-ly-chat-thai-nguy-hai-183728/, truy cập ngày 06/03/2018
Trang 40http://cand.com.vn/Kinh-te/Tran-lan-vi-vậy vấn đề đặt ra là có phải tất cả các chủ thể trong xã hội đều được phép cung ứng dịch vụ quản lý CTNH không hay chỉ có những chủ thể có tư cách pháp nhân mới được cung ứng Căn cứ theo điểm a khoản 1 phụ lục 5.B.1 ban hành kèm theo Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT quy định một trong các loại giấy tờ phải có trong
hồ sơ pháp lý để xin cấp giấy phép là Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc các giấy tờ tương đương Như vậy, quy định này cho thấy để được thực hiện hoạt động cung ứng dịch vụ quản lý CTNH đòi hỏi các chủ thể phải thành lập tổ chức kinh tế49 Việc hình thành tổ chức kinh tế là điều cần thiết nhằm đảm bảo hoạt động KDDVQLCTNH được hiệu quả, bảo vệ được quyền và lợi ích của các chủ thể liên quan, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động cung ứng dịch vụ quản lý CTNH Tuy nhiên, vẫn cần phải tính đến nét đặc thù trong quản lý CTNH đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ, trên thực tế các chủ thể này rất khó ký được hợp đồng chuyển giao CTNH cho các đơn vị đủ điều kiện quản lý
vì khối lượng CTNH của họ ít Trong khi tại nhiều địa phương lượng “cầu” cao hơn
“cung” nên các đơn vị cung ứng dịch vụ quản lý CTNH không quan tâm đến việc cung ứng dịch vụ cho các chủ thể này vì chi phí lớn nhưng tỷ suất lợi nhuận không cao Việc phát sinh lượng CTNH lớn, đòi hỏi phải có lực lượng thu gom, vận chuyển, xử lý tương ứng với mức độ phát thải Do đó, nếu chỉ trong chờ vào hoạt động cung ứng dịch vụ quản lý CTNH của các doanh nghiệp tư nhân là rất khó để đáp ứng được nhu cầu xử lý CTNH trong điều kiện hiện nay, dẫn đến tình trạng ùn
ứ CTNH, gây nhiều hệ lụy tiêu cực cho môi trường và con người Hiện nay, pháp luật chuyên ngành chưa có sự đa dạng, phân hóa về các loại chủ thể được phép tham gia vào hoạt động quản lý CTNH, chưa phát huy triệt để được các nguồn lực trong xã hội để phục vụ cho công tác quản lý CTNH Các chủ thể được phép tham gia thực hiện cung ứng dịch vụ quản lý CTNH đa phần là các Công ty TNHH, Công
ty Cổ phần hoặc Hợp tác xã còn các chủ thể khác như Hộ kinh doanh thì vẫn chưa được phép tham gia cung ứng loại hình dịch vụ này Đây là một điểm hạn chế rất lớn, bởi chủ thể này vẫn có khả năng thực hiện được các hoạt động quản lý CTNH tại các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ có lượng CTNH phát sinh ít nếu như hộ kinh doanh
định của pháp luật Việt Nam, gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và các tổ chức khác thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh”