1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết

91 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp luật về Bảo vệ Cổ đông Thiểu số trong Công ty niêm yết
Tác giả Danh Phạm Mỹ Duyên
Người hướng dẫn PGS.TS. Bùi Xuân Hải
Trường học Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số cũng chỉ được trình bày một cách khái quát thông qua việc phân tích sự cần thiết phải bảo vệ cổ đông thiểu số trong quản trị công ty niêm yết và

Trang 1

DANH PHẠM MỸ DUYÊN

PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ

TRONG CÔNG TY NIÊM YẾT

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH, 09-2018

Trang 2

PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ

TRONG CÔNG TY NIÊM YẾT

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Trang 3

Tôi cam đoan rằng tất cả nội dung trong Luận văn này hoàn toàn được hình thành và phát triển từ những quan điểm cá nhân của tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Bùi Xuân Hải – Giảng viên Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh

Trong Luận văn có trích dẫn, sử dụng một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả Sự trích dẫn này được thể hiện cụ thể trong Danh mục tài liệu tham khảo và tuân thủ các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực, khách quan của các dữ liệu, số liệu và các thông tin được trình bày trong Luận văn

Tp Hồ Chí Minh, ngày 13 tháng 9 năm 2018

Tác giả luận văn

Danh Phạm Mỹ Duyên

Trang 4

1 BKS Ban kiểm soát

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ TRONG CÔNG TY NIÊM YẾT 7

1.1 Khái niệm và đặc điểm của “cổ đông thiểu số” trong công ty niêm yết 7

1.1.1 Khái niệm “cổ đông thiểu số” trong công ty niêm yết 7

1.1.2 Đặc điểm của “cổ đông thiểu số” trong công ty niêm yết 11

1.2 Sự cần thiết bảo vệ “cổ đông thiểu số” trong công ty niêm yết 18

1.2.1 Cổ đông thiểu số thường có vị thế bất lợi trong mối quan hệ với các cổ đông lớn và người quản lý công ty 18

1.2.2 Bảo vệ cổ đông thiểu số là một yếu tố quan trọng để các công ty niêm yết tại Việt Nam phát triển mạnh mẽ 22

1.2.3 Bảo vệ cổ đông thiểu số là một yếu tố quan trọng cho sự phát triển của thị trường chứng khoán 23

1.3 Nguyên tắc bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết 25

1.3.1 Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết phải tuân thủ quy tắc đa số 25 1.3.2 Bảo vệ cổ đông thiểu số phải đặt trong mối tương quan với lợi ích của công ty 26

1.4 Cách thức bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết 27

1.4.1 Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết bằng công cụ pháp luật 27

1.4.2 Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết bằng việc tổ chức thực thi pháp luật nghiêm minh 28

1.4.3 Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết thông qua cơ chế tự điều chỉnh: Điều lệ công ty 29

1.4.4 Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết thông qua các cách thức khác 30

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ TRONG CÔNG TY NIÊM YẾT VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 33

Trang 6

2.1.1 Quy định pháp luật về quyền chung của cổ đông 33 2.1.2 Quy định pháp luật về quyền của cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu từ 1% và từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên trong thời hạn ít nhất 6 tháng 40 2.1.3 Quy định pháp luật về quyền riêng của cổ đông trong công ty niêm yết 45

2.2 Thực trạng quy định pháp luật về quản trị nội bộ công ty của công ty niêm yết có liên quan đến bảo vệ cổ đông thiểu số và kiến nghị hoàn thiện 48

2.2.1 Quy định về Đại hội đồng cổ đông có liên quan đến vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số 49 2.2.2 Quy định về Ban kiểm soát của công ty niêm yết có liên quan đến vấn đề bảo

vệ cổ đông thiểu số 51 2.2.3 Quy định về Hội đồng quản trị của công ty niêm yết có liên quan đến vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số 55 2.2.4 Quy định về Người quản lý của công ty niêm yết có liên quan đến vấn đề bảo

vệ cổ đông thiểu số 60 2.2.5 Quy định về kiểm soát các giao dịch có nguy cơ dẫn đến xung đột về lợi ích trong công ty niêm yết có liên quan đến vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số 63

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 73 KẾT LUẬN 74

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Công ty niêm yết đang trở thành một xu thế phát triển tất yếu của các công ty cổ phần tại Việt Nam trong giai đoạn hội nhập với nhiều ưu điểm như huy động vốn nhanh, thanh khoản cao, khả năng khuếch trương công ty lớn Từ năm 2015 đến năm

2017, số lượng cổ phiếu niêm yết tăng từ 53,08 triệu cổ phiếu lên 67,99 triệu cổ phiếu,

doanh thu của các công ty niêm yết tăng từ 470.645,8 tỷ đồng lên 873.398,8 tỷ đồng1

Vì vậy, việc đảm bảo cho các công ty niêm yết phát triển trong bối cảnh hiện nay cần được quan tâm đúng mức Để đạt được sự phát triển đó, kết quả quản trị công ty, đặc biệt là vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số là vấn đề được đặc biệt coi trọng Chính vì thế, việc xây dựng một khung pháp lý hoàn thiện về quản trị công ty niêm yết, trong đó có vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số - bảo vệ chủ sở hữu – bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán trong các công ty niêm yết càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết

Về mặt lý luận, cổ đông trong công ty bình đẳng về quyền và lợi ích Tuy nhiên,

do tính chất đối vốn của các công ty niêm yết nên quyền của các cổ đông phụ thuộc vào lá phiếu tương ứng với số cổ phần có quyền biểu quyết mà họ sở hữu Điều này dẫn đến hệ quả là các cổ đông trong công ty niêm yết sẽ hình thành các lợi ích khác nhau Trong mối tương quan về lợi ích đó, “một sự thật hiển nhiên là không phải tất cả các cổ đông công ty đều có các quyền lợi ngang nhau, đều có khả năng chi phối, tham gia các hoạt động kiểm soát, quản lý công ty”2 Những cổ đông sở hữu nhiều

cổ phiếu hơn sẽ có nhiều quyền chi phối, tham gia các hoạt động nhằm kiểm soát công ty và có thể gây ra các bất lợi cho các cổ đông nhỏ nhằm mang lại lợi ích cao nhất cho mình Tuy nhiên, dù là cổ đông sở hữu ít cổ phiếu nhưng khi các cổ đông thiểu số tập hợp lại thì họ lại là lực lượng đầu tư chính, là những người chủ thực sự của các công ty niêm yết Do đó, nếu quyền lợi chính đáng của họ bị xâm hại sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của công ty và cả thị trường chứng khoán

1 Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, “Báo cáo về Tình hình hoạt động của các công ty niêm yết và Khối lượng chứng khoán đăng ký niêm yết, đăng ký giao dịch đến tháng 9/2017”, http://www.ssc.gov.vn/ubck/faces/vi/vimenu/vipages_vithongtinthitruong/thongkethị trường chứng khoán;jsessionid=ChvlZ5vL1pqMJpx2ntgRG2xPPLVvzJLLz5Tzp3Lj1L7MK1DTGtGW!2044097873!- 205653828?_afrLoop=8073070191450794&_afrWindowMode=0&_afrWindowId=null#%40%3F_afrWindo wId%3Dnull%26_afrLoop%3D8073070191450794%26_afrWindowMode%3D0%26_adf.ctrl-

state%3Dqn5b61lpp_4 , truy cập ngày 01/11/2017

2 Bùi Xuân Hải, (2010), “Bảo vệ cổ đông: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn trong Luật Doanh nghiệp năm

2005”, Tạp chí Khoa học pháp lý, (01), tr 27

Trang 8

Trên thực tế, quyền lợi chính đáng của các cổ đông nhỏ bị các cổ đông lớn xâm phạm không còn là vấn đề quá xa lạ trong các công ty niêm yết Trước thực trạng đó, Việt Nam cũng đang tích cực nỗ lực hoàn thiện khung pháp lý về quản trị công ty niêm yết nói chung và bảo vệ cổ đông thiểu số nói riêng Tuy nhiên, pháp luật về bảo

vệ quyền lợi của cổ đông, đặc biệt là các cổ đông thiểu số ở các công ty niêm yết – nơi

có hàng nghìn, hàng vạn cổ đông vẫn chưa có sự đột phá đáng kể Các công ty niêm yết vẫn chưa nhận thức đúng mực và thực sự quyết liệt trong vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số Báo cáo thẻ điểm quản trị công ty năm 2012 do Tổ chức Tài chính quốc tế và Diễn đàn Quản trị công ty toàn cầu phối hợp cùng Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Việt Nam đã ghi nhận rằng, những điểm yếu kém về quản trị công ty ở Việt Nam cụ thể có liên quan đến hiệu lực thực sự của quyền cổ đông Thực trạng cho thấy các công ty mới chỉ tuân thủ nguyên tắc về quyền cổ đông trên hình thức nhiều hơn là nội dung.3

Với mong muốn nghiên cứu chuyên sâu về bảo vệ cổ đông thiểu số trong các công ty niêm yết, tác giả đã chọn đề tài “Pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết” làm đề tài luận văn Thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề bảo vệ cổ đông và cổ đông thiểu số trong các công ty cổ phần hiện nay

đã có không ít các học giả quan tâm nghiên cứu, phân tích và bình luận Trong đó,

có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau: Bùi Xuân Hải (2011), Luật Doanh

nghiệp: Bảo vệ cổ đông – Pháp luật và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia Đây là

một trong những tài liệu quý giá phân tích chuyên sâu về vấn đề bảo vệ cổ đông trong công ty cổ phần và thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn Tuy nhiên, dưới góc độ là sách chuyên khảo, các nội dung nghiên cứu được trình bày trong sách của PGS.TS Bùi Xuân Hải thể hiện ở góc độ bảo vệ cổ đông trong công ty cổ phần nói chung và thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn mà chưa nghiên cứu chuyên sâu

về vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết

Lê Vũ Nam (chủ biên) (2017), Pháp luật về quản trị công ty niêm yết trên thị

trường chứng khoán Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Tp Hồ Chí Minh là sách

chuyên khảo có giá trị về quản trị công ty niêm yết Vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số

3 Tổ chức Tài chính quốc tế, Diễn đàn quản trị công ty toàn cầu, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Việt Nam, (2012), “Báo cáo thẻ điểm quản trị công ty năm 2012”, tr 51

Trang 9

trong quản trị công ty niêm yết cũng được các tác giả đề cập trong sách chuyên khảo này Tuy nhiên, vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số cũng chỉ được trình bày một cách khái quát thông qua việc phân tích sự cần thiết phải bảo vệ cổ đông thiểu số trong quản trị công ty niêm yết và một số quy định pháp luật về bảo vệ quyền của

cổ đông thiểu số trong quản trị công ty niêm yết

Tác giả Nguyễn Hoàng Thùy Trang với đề tài “Bảo vệ cổ đông thiểu số trong

công ty cổ phần – So sánh giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật Vương quốc Anh”,

Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh đã thực sự thành công khi phân tích và so sánh pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật của Anh Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu của đề tài cũng lại là các quy định pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần nói chung, trong đó trọng tâm là so sánh các quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần ở Vương quốc Anh và Việt Nam mà không phải là nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số trong các công ty niêm yết

Bên cạnh đó, một số bài báo, tạp chí chuyên ngành cũng có bàn luận về vấn đề này, cụ thể: Bùi Xuân Hải (2010), “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ cổ

đông thiểu số”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 3 (58); Lê Minh Thắng (2014), “Một

số ý kiến liên quan đến các quy định về bảo vệ cố đông thiểu số trong Dự thảo Luật

Doanh nghiệp sửa đổi”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Viện Hàn lâm khoa học xã

hội Việt Nam, Số 9 (317); Nguyễn Thị Thu Hương (2014), “Nhu cầu bảo vệ cổ

đông thiểu số trong công ty cổ phần ở Việt Nam”, Dân chủ & Pháp luật, số 271;

Huỳnh Thị Trúc Linh (2016), “Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần theo

Luật Doanh nghiệp 2014”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 06(310); Bùi Xuân Hải (2010), “Bảo vệ cổ đông thiểu số - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Kỷ yếu hội

thảo, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh; Nguyễn Quốc Vinh (2010), “Bảo vệ

cổ đông thiểu số qua cơ chế thỏa thuận cổ đông nhìn về pháp luật thực định hiện tại

của Việt Nam”, Kỷ yếu hội thảo, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh Các bài

viết trên đều có cách tiếp cận khác nhau về vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu chuyên sâu về bảo vệ cổ đông thiểu số của các công ty niêm yết, đặc biệt là các quy định cụ thể để bảo vệ quyền lợi của họ khi Luật Doanh nghiệp năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành có hiệu lực Trong số các bài nghiên cứu, chỉ có bài viết của tác giả Huỳnh Thị Trúc Linh (2016), “Bảo vệ cổ

Trang 10

đông thiểu số trong công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2014”, Tạp chí Nghiên

cứu lập pháp, số 06 (310) là nghiên cứu về vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số theo quy

định của Luật Doanh nghiệp 2014 Tuy nhiên, bài viết trên lại được nghiên cứu khi Luật Doanh nghiệp mới ban hành, chưa có văn bản hướng dẫn và chưa có quá trình thực thi trên thực tế Đồng thời, bài viết phân tích về vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần chứ không nghiên cứu chuyên sâu đối với các công ty niêm yết

Thực tế hiện nay thiếu vắng các nghiên cứu về các quy định liên quan đến bảo

vệ cổ đông thiểu số trong các công ty niêm yết và thực tiễn thi hành Vì vậy, tác giả cho rằng, nghiên cứu các quy định pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số trong các công ty niêm yết là yêu cầu cần thiết nhằm thu hút được nguồn vốn nhàn rỗi trong dân chúng thông qua việc chuyển nhượng cổ phần trên thị trường chứng khoán, bảo

vệ được quyền lợi của cổ đông thiểu số sẽ đảm bảo cho sự phát triển của các công

ty niêm yết nói riêng và thị trường chứng khoán nói chung

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Mục đích chính của đề tài là nghiên cứu chuyên sâu các quy định về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết Luận văn nghiên cứu các cơ sở lý luận của việc bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết; phân tích thực trạng các quy định pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết và thực tiễn thi hành cũng như kinh nghiệm nước ngoài để phát hiện các hạn chế, bất cập, từ đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số trong các công ty niêm yết

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài

Thứ nhất, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số trong các công ty niêm yết là công ty cổ phần

Thứ hai, các quy định pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết được thể hiện trong nhiều các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau Trong đó, việc bảo vệ nhà đầu tư nói chung và cổ đông thiểu số nói riêng trong các công ty niêm yết không chỉ được quy định trong pháp luật doanh nghiệp mà còn có mối liên

hệ mật thiết với các quy định của pháp luật chứng khoán Vì vậy, trong đề tài này, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu các quy định về bảo vệ cổ đông thiểu số theo các quy định của pháp luật doanh nghiệp, pháp luật chứng khoán mà trọng tâm là Luật

Trang 11

Doanh nghiệp; Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn thi hành; Nghị định số 71/2017/NĐ-CP hướng đẫn chi tiết về quản trị công ty đại chúng

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, trong đề tài này, tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp để làm rõ các vấn đề về cổ đông thiểu số và thực trạng pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số, cụ thể:

- Phương pháp phân tích, bình luận: Phương pháp này được tác giả sử dụng trong Chương 1 và Chương 2 để phân tích các quy định về điều kiện liên quan đến

cổ đông trong các công ty niêm yết; các quy định pháp luật và một số bản án, vụ việc liên quan đến vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết Trên cơ

sở này, tác giả sử dụng phương pháp bình luận để nhận xét, đánh giá về đặc điểm cũng như sự cần thiết phải bảo vệ cổ đông thiểu số trong các công ty niêm yết, đồng thời nhận xét tính hợp lý, hạn chế của các quy định pháp luật hiện hành

- Phương pháp so sánh: Phương pháp này được tác giả sử dụng để so sánh sự khác biệt giữa công ty niêm yết và các loại hình doanh nghiệp khác; đặc điểm của

cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết với cổ đông thiểu số trong các công ty cổ phần bình thường khác xuyên suốt trong 2 chương của luận văn Ngoài ra, phương pháp này còn được tác giả sử dụng để so sánh pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số

ở Việt Nam với pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số ở một số nước để tham khảo một số kinh nghiệm và đề ra phương án hoàn thiện trong Chương 2

- Phương pháp thống kê: Phương pháp này được tác giả sử dụng nhằm đưa ra các số liệu chứng minh vai trò quan trọng của các công ty niêm yết tại Việt Nam, các số liệu chứng minh làm rõ một số đặc điểm của cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết nhằm chỉ ra sự cần thiết phải bảo vệ cổ đông thiểu số trong các công ty niêm yết tại Việt Nam

- Phương pháp lịch sử: Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở Chương 1 khi tác giả trình bày về khái niệm cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết qua từng thời kỳ, từ đó chỉ ra khái niệm cổ đông thiểu số

- Phương pháp quy nạp, tổng hợp: Trên cơ sở các phân tích, bình luận, đánh giá pháp luật, tác giả sẽ đưa ra các nhận định cụ thể về sự cần thiết phải bảo vệ cổ đông thiểu số, các nhận định về các quy định của pháp luật hiện hành về bảo vệ cổ

Trang 12

đông thiểu số Đồng thời, cuối mỗi chương, tác giả cũng sử dụng phương pháp tổng hợp để tóm tắt và đưa ra kết luận nội dung của từng chương và của cả Luận văn

6 Các điểm mới, các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn

Về mặt lý luận, tác giả đã đưa ra các phân tích về cổ đông thiểu số và đặc điểm của nhóm cổ đông này trong các công ty niêm yết Trên cơ sở các đặc điểm của cổ đông thiểu số, luận văn đã thể hiện sự cần thiết phải bảo vệ nhóm cổ đông này trong các công ty niêm yết Đồng thời, những nguyên tắc để bảo vệ cổ đông thiểu số cũng là đóng góp mới về lý luận khi tiến hành bảo vệ cổ đông thiểu số tại các công ty niêm yết

Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn phân tích về quyền của cổ đông thiểu số có thể được cổ đông tham khảo khi góp vốn vào các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Quyền của cổ đông được trình bày theo từng nhóm riêng biệt, kết cấu theo tỷ lệ sở hữu cổ phần của từng nhóm cổ đông nên các cổ đông có thể dễ dàng nhận diện và sử dụng các quyền phù hợp với mình Bên cạnh

đó, các phân tích và khuyến cáo về quy định quản trị nội bộ của doanh nghiệp có thể được Đại hội đồng cổ đông của các doanh nghiệp xem xét để thiết lập một cơ chế quản trị tốt nhất cho doanh nghiệp của mình Tác giả cũng tham vọng rằng, đề tài này có thể là tài liệu mang tính khoa học về pháp luật bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết để giảng viên và sinh viên nghiên cứu và học tập

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG CỦA PHÁP LUẬT

VỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ TRONG CÔNG TY NIÊM YẾT 1.1 Khái niệm và đặc điểm của “cổ đông thiểu số” trong công ty niêm yết

1.1.1 Khái niệm “cổ đông thiểu số” trong công ty niêm yết

Pháp luật Việt Nam hiện hành chưa có định nghĩa về “CĐTS” Tuy nhiên, việc nhận diện và đưa ra định nghĩa về CĐTS đã không còn là vấn đề mới khi nghiên cứu về quản trị CTCP nữa Bằng việc nhìn nhận CĐTS như “nhân vật trung tâm”, các nhà nghiên cứu trong thời gian qua đã nỗ lực nhận diện và đưa ra các cách thức nhằm bảo vệ chủ thể này Có quan điểm cho rằng, pháp luật cần phải định nghĩa rõ ràng CĐTS là ai, đặc điểm của CĐTS là gì, để có thể nhận dạng được họ.4 Ở khía cạnh khác, có tác giả trong nghiên cứu của mình đã cho rằng: “việc xác định CĐTS nên theo hướng mở, theo đó không nên chỉ xem xét vào tỷ lệ vốn góp mà còn phải căn cứ vào khả năng chi phối của công ty, nói cách khác là căn cứ vào cơ cấu sở hữu thực tế trong các CTCP, vì vậy luật nên dành quyền ghi nhận như thế nào là CĐTS cho chính các CTCP đó.”5 Theo PGS.TS Bùi Xuân Hải thì “chẳng có định nghĩa nào về CĐTS được phổ biến và công nhận rộng rãi trên toàn thế giới và nếu như ai đó đưa ra định nghĩa về CĐTS thì chỉ là định nghĩa về một phạm trù mang tính tương đối mà thôi.”6 Như vậy, vấn đề đặt ra là để nhận biết được CĐTS, chúng

ta phải dựa vào dấu hiệu cơ bản nào CĐTS là những cổ đông có số lượng thiểu số,

có cổ phần thiểu số, có tỷ lệ sở hữu cổ phần trong mối tương quan với các cổ đông khác thiểu số hay khả năng kiểm soát công ty thấp Chỉ khi làm rõ vấn đề này, chúng ta mới có thể đưa ra định nghĩa, biết được các đặc tính của họ và lí do vì sao

7 Nguyễn Hoàng Thùy Trang (2009), Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần – So sánh giữa pháp luật

Việt Nam và pháp luật Vương quốc Anh, Luận văn Thạc sĩ, tr 7

Trang 14

hẳn đã là cổ đông nhỏ Với các lập luận tương tự như thế, CĐTS trong các CTCP

nói chung được giới học thuật nhận diện thông qua 2 tiêu chí: Thứ nhất, nói đến

CĐTS phải nói đến vốn góp của họ thông qua tổng số cổ phần có quyền biểu quyết

mà họ sở hữu (tỷ lệ phần trăm) trong vốn điều lệ của công ty; Thứ hai, nói đến

CĐTS là nói đến khả năng của họ trong việc trong việc tác động tới chính sách kế hoạch kinh doanh, chiến lược phát triển, lựa chọn người quản lý công ty hay nói cách khác là nói tới vai trò của họ khi biểu quyết thông qua các vấn đề tại cơ quan quyền lực cao nhất trong công ty8 Khi tìm hiểu về CĐTS, tác giả cũng cho rằng các tiêu chí để xác định CĐTS trong CTCP như trên là hoàn toàn hợp lý Bởi lẽ, CTCP

sẽ có sự khác biệt nhất định về quy mô, số lượng cổ đông và sự phân tán cổ phần nên việc đưa ra định nghĩa dành cho tất cả các CTCP là điều bất khả thi

CTNY cũng là CTCP thuộc nhóm CTCP đại chúng Tuy nhiên, đây là loại công ty khá đặc biệt so với các CTCP thông thường bởi CTCP niêm yết phải là những công ty có quy mô lớn, số lượng cổ đông đông đảo và tỷ lệ cổ phần phân tán lớn Như vậy, liệu rằng định nghĩa về CĐTS có thể được đặt ra trong CTNY – một chủ thể hẹp trong nhóm CTCP hay không Định nghĩa về CĐTS trong các CTNY lần đầu tiên được đưa ra tại Nghị định số 48/1998/NĐ-CP ngày 11 tháng 7 năm

1998 quy định về chứng khoán và TTCK Theo đó, CĐTS được hiểu là người nắm giữ dưới 1% cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành.9 Với khái niệm này, Nghị định số 48/1998/NĐ-CP đã nhận diện CĐTS thông qua tỷ lệ sở hữu cổ phần có quyền biểu quyết của cổ đông mà hoàn toàn không xem xét đến khả năng tác động của họ đến các quyết định của công ty Đây được xem là điều không hợp

lý trong CTNY và rõ ràng không thể hiện được bản chất “thiểu số” của họ Hơn nữa, CTNY là doanh nghiệp có số lượng cổ đông rất lớn nên có những cổ đông mặc

dù sở hữu dưới 1% cổ phần có quyền biểu quyết nhưng rất có thể trong mối tương quan với các cổ đông khác thì tỷ lệ đó lại là tỷ lệ sở hữu cổ phần lớn và có khả năng tác động đến hoạt động của công ty Cách tiếp cận này của Nghị định số 48/2008/NĐ-CP về CĐTS tuy chưa thực sự hợp lý nhưng xét trong bối cảnh TTCK trong giai đoạn đó thì điều này cũng không có sự ảnh hưởng hay tác động lớn đến

sự phát triển của CTNY và TTCK Bởi lẽ, trong giai đoạn sơ khai này, việc niêm yết chứng khoán tỏ ra còn khá xa lạ với hầu hết các công ty ở Việt Nam Để tạo

8 Bùi Xuân Hải (2011), tldđ (6), tr 129; Nguyễn Hoàng Thùy Trang (2009), tlđd (7), tr 10;

9 Khoản 25, Điều 2, Nghị định số 48/1998/NĐ-CP ngày 11 tháng 7 năm 1998 của Chính phủ quy định về chứng khoán và thị trường chứng khoán

Trang 15

nguồn hàng và vận động các CTNY chứng khoán, các Trung tâm giao dịch chứng khoán còn phải bỏ ra các chi phí “ngoài luồng”, Bộ Tài chính thậm chí còn tổ chức các chiến dịch có quy mô lớn hơn với mục tiêu thu hút doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán.10 Tính đến thời điểm 31/12/2000, toàn thị trường chỉ có 5 công ty niêm yết với 32,1 triệu cổ phiếu.11 Sau nhiều lần sửa đổi thì định nghĩa về CĐTS này đã không còn tồn tại trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam Hiện nay, Luật Chứng khoán 2006 là luật chuyên ngành quy định về hoạt động chứng khoán, trong đó có quy định về các CTNY Tuy nhiên, văn bản này cũng không đưa ra định nghĩa về CĐTS hay nhắc đến CĐTS trong các quy định mà chỉ

định nghĩa về cổ đông lớn Theo đó,“cổ đông lớn là cổ đông sở hữu trực tiếp hoặc

gián tiếp từ năm phần trăm (5%) trở lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành” Từ định nghĩa này, nhiều chuyên gia cũng từng đặt vấn đề nhằm

tìm ra định nghĩa về CĐTS trong CTNY Cụ thể, nếu xem một chủ thể sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp từ 5% trở lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành là cổ đông lớn thì liệu rằng có thể xem các chủ thể sở hữu ít hơn 5% là CĐTS hay không Lý giải vấn đề này cũng vấp nhiều tranh luận, có quan điểm cho rằng, chúng ta nên chấp nhận cổ đông nhỏ là cổ đông sở hữu tỷ lệ vốn góp dưới 5% tổng

số cổ phần của CTCP mà cổ đông là thành viên.12 Tuy nhiên, tác giả khác lại cho rằng, nhận định CĐTS là những cổ đông nắm giữ dưới 5% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết là sai, bởi lẽ, những quy định về cổ đông nắm trên 5% nói trên liên quan đến vấn đề quản trị công ty (công bố thông tin) và những cổ đông thuộc tỷ

lệ này (và những người liên quan của họ) chịu sự điều chỉnh chặt hơn bởi pháp luật chứng khoán, do các giao dịch của họ có thể gây nên những biến động đối với công

ty và thị trường13 Tác giả cũng cho rằng, nếu chỉ dựa vào con số 5% tỷ lệ cổ phần

có quyền biểu quyết mà không cân nhắc đến các yếu tố khác để nhận diện CĐTS là điều không hợp lý bởi nếu xét về mặt quy mô vốn thì CTNY cũng có sự phân hóa

10 Vào thời điểm năm 2000, Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội đã được duyệt cấp 100 triệu đồng để vận động doanh nghiệp niêm yết Hoàng Ly, “HNX từng tạo hàng bằng ngân sách ngoài luồng” https://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/chung-khoan/hnx-tung-tao-hang-bang-ngan-sach-ngoai-luong- 2706273.html , truy cập ngày 12/7/2017

11 “Những con số đáng chú ý của thị trường chứng khoán Việt Nam sau 15 năm”, http://www.fpts.com.vn/VN/Tin-tuc/Trong-nuoc/Thi-truong/2015/01/3BA0F919_nhung-con-so-dang-chu-y- cua-TTCK-viet-nam-sau-gan-15-nam/ , truy cập ngày 12/7/2017

12 “Quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông của cổ đông nhỏ công ty cổ phần”, hop-dai-hoi-co-dong-cua-co-dong-nho-cong-ty-co-phan-hien-nay.html , truy cập 19/10/2017

https://phamlaw.com/quyen-du-13 Theo ĐTCK, “CĐTS là ai, được ai bảo vệ?”, d3908.html , ngày 15/9/2017

Trang 16

http://baodautu.vn/co-dong-thieu-so-la-ai-duoc-ai-bao-ve-về quy mô vốn và tỷ lệ sở hữu cổ phần tùy thuộc việc công ty đại chúng niêm yết chứng khoán trên Sở giao dịch cụ thể nào

Theo nghiên cứu của tác giả, pháp luật công ty ở một số nước cũng không đưa

ra định nghĩa về CĐTS mà chỉ phân định các quyền của cổ đông tương ứng với tỷ lệ

sở hữu cổ phần như pháp luật Việt Nam hiện nay Chẳng hạn, Luật Công ty Trung Quốc năm 2005 ấn định tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông theo các mốc 10%, 3%, 1% để làm cơ sở phân nhóm cổ đông Theo đó, cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu từ 3% cổ phần có quyền biểu quyết sẽ có quyền kiến nghị vấn đề đưa vào Chương trình họp ĐHĐCĐ14; cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu từ 10% cổ phần có quyền biểu quyết trở lên được đề nghị triệu tập họp ĐHĐCĐ bất thường15, đề nghị triệu tập cuộc họp ĐHĐCĐ16,… Hay Luật Công ty Nhật Bản cũng có các quy định tương tự khi phân 3 nhóm cổ đông với với mức độ quyền lực khác nhau, cụ thể: i) Cổ đông

sở hữu ít nhất một cổ phần trong thời hạn ít nhất 6 tháng liên tục; ii) Cổ đông sở hữu ít nhất 1% cổ phần có quyền biểu quyết tại công ty liên tục trong thời hạn 6 tháng; iii) Cổ đông sở hữu ít nhất 3% tổng số phiếu biểu quyết của công ty liên tục trong thời hạn 6 tháng.17 Cùng với đó, khi tiếp tục nghiên cứu quy định của pháp luật công ty ở các nước này, tác giả cũng không tìm thấy định nghĩa về CĐTS trong

14 Article 102 The Companny Law, 3 rd revision, Chinese Standing Committee of the National People’s Congress (2005) tại website: http://www.fdi.gov.cn/1800000121_39_4814_0_7.html#_Toc381707448 , truy cập ngày 12/5/2018

15 Article 100 The Companny Law, 3 rd revision, Chinese Standing Committee of the National People’s Congress (2005) tại website: http://www.fdi.gov.cn/1800000121_39_4814_0_7.html#_Toc381707448 , truy cập ngày 12/5/2018

16 Article 110 The Companny Law, 3 rd revision, Chinese Standing Committee of the National People’s Congress (2005) tại website: http://www.fdi.gov.cn/1800000121_39_4814_0_7.html#_Toc381707448 , truy cập ngày 12/5/2018

website: http://www.japaneselawtranslation.go.jp/law/detail/?vm=04&re=02&lvm=02&id=2455 , truy cập ngày 12/5/2018

Trang 17

được vị trí của cổ đông là CĐTS hay cổ đông đa số nếu không tính đến khả năng kiểm soát công ty.18 Do đó, đối với CTNY, tác giả cho rằng CĐTS cũng chỉ có thể nhận diện tương tự qua 2 tiêu chí dùng để nhận diện CĐTS trong CTCP như đã

phân tích ở trên Vì vậy, trong khuôn khổ luận văn này, cổ đông thiểu số trong

công ty niêm yết là cổ đông sở hữu ít cổ phần trong mối tương quan với các cổ đông khác và họ không có khả năng chi phối đến các quyết định của công ty

1.1.2 Đặc điểm của “cổ đông thiểu số” trong công ty niêm yết

Những phân tích về khái niệm CĐTS ở trên cho thấy, CĐTS dù ở CTCP hay CTNY đều giống nhau ở sự yếu thế trước các cổ đông lớn về khả năng tác động đến các hoạt động của công ty do nắm giữ quá ít số lượng cổ phần có quyền biểu quyết Tuy nhiên, khác với CĐTS trong CTCP thông thường, CĐTS trong CTNY do chịu

sự ảnh hưởng và bị chi phối bởi tính đặc thù của CTNY nên sẽ có một số các đặc

trưng khác với CĐTS trong CTCP thông thường, cụ thể:

Một là, cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết có số lượng lớn

CTNY là những công ty có chứng khoán được niêm yết trên các Sở giao dịch chứng khoán Theo đó, niêm yết chứng khoán là việc đưa chứng khoán có đủ điều kiện vào giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán.19 Bằng việc niêm yết chứng khoán, các tổ chức phát hành có nhiều thuận lợi hơn về khả năng huy động vốn và khả năng mở rộng thị trường.20 Do đó, để được niêm yết chứng khoán trên các Sở giao dịch chứng khoán, tổ chức phát hành phải đáp ứng một số điều kiện khắt khe hơn các công ty chưa niêm yết21, trong đó có điều kiện về số lượng cổ đông của công ty Quy định này là một trong những nguyên nhân dẫn đến số lượng CĐTS trong CTNY lớn hơn rất nhiều lần so với các

công ty chưa niêm yết

Theo đó, nếu CTCP thông thường chỉ cần số lượng cổ đông tối thiểu là 3 cổ đông22 thì số lượng này trong CTNY sẽ lớn hơn rất nhiều lần tùy thuộc vào điều

18 Nguyễn Hoàng Thùy Trang (2008), Bảo vệ CĐTS trong CTCP – So sánh giữa pháp luật Việt Nam và

pháp luật Vương quốc Anh, Luận văn Thạc sĩ Luật học, ĐH Luật TP Hồ Chí Minh, tr12

19 Khoản 17 Điều 4 Luật Chứng khoán (Luật số 70/2006/QH11) ngày 29/6/2006

20 “Lên sàn lợi nhiều hơn hại”, Tạp chí Tài chính điện tử, nhieu-hon-hai-55155.html , truy cập ngày 12/5/2018

http://tapchitaichinh.vn/kinh-te-vi-mo/len-san-loi-21 Khoản 1 Điều 40 Luật Chứng khoán quy định: “Tổ chức phát hành khi niêm yết chứng khoán tại Sở giao

dịch chứng khoán, Trung tâm giao dịch chứng khoán phải đáp ứng các điều kiện về vốn, hoạt động kinh doanh và khả năng tài chính, số cổ đông hoặc số người sở hữu chứng khoán.”

22 Khoản 1 Điều 119 Luật Doanh nghiệp (Luật số 68/2014/QH13) ngày 24/11/2014

Trang 18

kiện niêm yết của từng Sở giao dịch chứng khoán Cụ thể, để được niêm yết chứng khoán tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội, các tổ chức phát hành phải có hơn 100

cổ đông không phải là cổ đông lớn nắm giữ 15% cổ phiếu có quyền biểu quyết trong công ty Còn tại Sở giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh – Sở giao dịch dành cho các doanh nghiệp có quy mô vốn lớn23 thì các tổ chức phát hành muốn niêm yết buộc phải có hơn 300 cổ đông không phải là cổ đông lớn nắm giữ ít nhất 20% cổ phiếu có quyền biểu quyết trong công ty.24 Điều này có nghĩa rằng, các CTNY tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và Sở giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh lần lượt có hơn 100 và hơn 300 cổ đông nắm giữ ít hơn 5% cổ phần có quyền biểu quyết của công ty Tại một số nước trên thế giới, số lượng cổ đông của công ty cũng là yêu cầu bắt buộc để được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán ở các nước này Cụ thể: Tại Sở giao dịch chứng khoán Singapore (SGX), để được niêm yết, công ty niêm yết phải đạt 25% cổ phần do 500 người đầu tư nắm giữ25; tại thị trường Đài Loan, cổ phần phổ thông phải do ít nhất 15.000 cổ đông cá nhân

sở hữu Trong đó, ít nhất 7.000 cổ đông nắm giữ từ 1.000 đến 50.000 cổ phần phải trên 20% cổ phần đang lưu hành26,…Như vậy, số lượng CĐTS lớn không chỉ là đặc

thù của CTNY ở Việt Nam mà các CTNY nước ngoài cũng có đặc điểm tương tự

Việc pháp luật quy định điều kiện về số lượng cổ đông của các CTNY phần nào buộc các doanh nghiệp này phải có chiến lược kinh doanh hiệu quả, minh bạch thông tin để tạo được niềm tin và thu hút được cổ đông trước khi được niêm yết trên sàn Tại Việt Nam hiện nay, các CTNY có số lượng cổ đông lớn thường là những doanh nghiệp có chiến lược kinh doanh hiệu quả, doanh thu lớn và quản trị công ty tốt, điển hình nhất là các Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietcombank) với hơn 1.220 cổ đông27, CTCP Đầu tư Thế giới di động là 9.248 cổ đông28,…Đây

26 “Thị trường chứng quyền trên thế giới – Ngược dòng lịch sử (bài 2), website Ủy ban Chứng khoán nhà nước”, http://www.ssc.gov.vn , truy cập ngày 23/1/2018

27 Theo “Biên bản Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2018 của Ngân hàng TMCP Công thương Việt

http://investor.vietinbank.vn/Sites/QuoteVN/SiteRoot/Copy%20of%20Bien%20ban%20DHDCD%20TN%2 02018.pdf , truy cập ngày 25/5/2018

Trang 19

đều là những doanh nghiệp trong bảng xếp hạng Top 10 Doanh nghiệp niêm yết uy tín năm 2017 theo nghiên cứu độc lập và khách quan của CTCP Báo cáo Đánh giá Việt Nam - Vietnam Report được công bố thường niên từ năm 2015, dựa trên phương pháp Media Coding.29

Bên cạnh đó, sự dễ dàng, nhanh chóng trong chuyển nhượng cổ phần ở các CTNY cũng là một trong những làm cho số lượng cổ đông trong công ty này lớn hơn nhiều lần so với công ty TNHH hay các CTCP đại chúng chưa niêm yết Cụ thể, nếu như việc chuyển nhượng cổ phần trong các công ty chưa niêm yết phải được thực hiện bằng cách giao dịch trực tiếp bằng hợp đồng, bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng hoặc đại diện ủy quyền của họ phải trực tiếp ký giấy tờ chuyển nhượng30 thì việc chuyển nhượng này tại các CTNY tỏ ra có nhiều ưu thế

vượt trội hơn hẳn Thứ nhất, việc mua bán cổ phần của các CTNY được thực hiện

trên các Sở giao dịch chứng khoán thông qua việc mua bán chứng khoán bằng cách đưa ra các lệnh giao dịch Với phương thức này, các cổ đông của công ty và các nhà đầu tư có thể linh hoạt đưa ra các lệnh giao dịch tùy theo chiến lược đầu tư của mình, đó có thể là lệnh mua hoặc lệnh bán chứng khoán tại một mức giá xác định hoặc tốt hơn; lệnh mua chứng khoán tại mức giá bán thấp nhất hoặc lệnh bán chứng khoán tại mức giá mua cao nhất hiện có trên thị trường; lệnh đặt mua hoặc đặt bán chứng khoán tại mức giá mở cửa hoặc tại mức giá đóng cửa.31 Thứ hai, phương

thức mua bán chứng khoán tại các Sở giao dịch chứng khoán diễn ra nhanh chóng hơn rất nhiều so với phương thức chuyển nhượng thông thường ở các công ty chưa niêm yết Các Sở giao dịch chứng khoán tổ chức giao dịch tất cả các loại chứng khoán niêm yết thông qua hệ thống giao dịch theo 02 phương thức: khớp lệnh và thỏa thuận Trong đó, phương thức khớp lệnh liên tục được xem là phương thức giao dịch nhanh nhất bởi giao dịch sẽ được hệ thống giao dịch thực hiện trên cơ sở

so khớp các lệnh mua và lệnh bán chứng khoán ngay khi lệnh được nhập vào hệ

28 Theo “Biên bản Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2018 của CTCP đầu tư Thế giới di động” được công bố trên website: https://mwg.vn/wp-content/uploads/delightful-downloads/2018/03/MWG_Bien-ban- hop-DHDCD-2018.pdf , truy cập ngày 25/5/2018

29 Hải Đăng, “Top 10 doanh nghiệp niêm yết tốt nhất năm 2017”, doanh/tai-chinh-doanh-nghiep/top-10-doanh-nghiep-niem-yet-uy-tin-nam-2017-130574.html , truy cập ngày 10/4/2018

http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-kinh-30 Khoản 2, Điều 126 Luật Doanh nghiệp (Luật số 68/2014/QH13) ngày 24/11/2014

31 Xem thêm quy định tại Điều 14 Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 341/QĐ-SDGHCM ngày 22/8/2016 về việc ban hành quy chế giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh và Điều 10 Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 529/QĐ-SDGHN ngày 25/8/2016 về việc ban hành quy chế giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

Trang 20

thống giao dịch.32 Do sự linh hoạt và nhanh chóng như vậy nên các CTNY thường thu hút được nhiều nhà đầu tư cổ phiếu trở thành cổ đông của công ty hơn so với các công ty đại chúng chưa niêm yết

Như vậy, có thể thấy, xuất phát từ bản chất đối vốn mạnh mẽ và sự thuận tiện trong việc chuyển nhượng cổ phiếu của CTNY nên số lượng cổ đông trong các công

ty này luôn lớn hơn rất nhiều lần so với số lượng cổ đông trong CTCP thông thường Số lượng cổ đông lớn nên tỷ lệ cổ phần trong CTNY thường có sự phân tán mạnh mẽ và dẫn đến hình thành nhiều CĐTS hơn những CTCP bình thường khác Bên cạnh đó, số lượng cổ đông lớn còn đồng nghĩa với việc các vấn đề liên quan đến quản trị công ty, đặc biệt là vấn đề dung hòa lợi ích giữa các chủ thể phải được đặc biệt xem trọng, trong đó có vấn đề về bảo vệ CĐTS

Hai là, cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết phần lớn là các nhà đầu tư cá nhân

Như đã phân tích, với các lợi thế của công ty có cổ phiếu được niêm yết trên

Sở giao dịch chứng khoán, CTNY thường thu hút được số lượng lớn nhà đầu tư trở thành cổ đông công ty Nghiên cứu của Thạc sĩ Lê Thị Thảo đã đưa ra kết luận rằng, những nhà đầu tư trên TTCK chủ yếu là các cá nhân, hộ gia đình có tiền tiết kiệm

và muốn đầu tư số tiền để dành của mình vào việc mua chứng khoán để hưởng lợi tức Họ cũng là người bán chứng khoán của mình trên TTCK thứ cấp để rút vốn khi cần thiết Mục tiêu cuối cùng của các nhà đầu tư là tối đa hoá lợi nhuận trong các khoản đầu tư của họ.33 Do đó, việc chuyển nhượng chứng khoán một cách nhanh chóng, dễ dàng và có nhiều lợi nhuận tại các Sở giao dịch chứng khoán đã thu hút rất nhiều nhà đầu tư cá nhân tham gia Điều này phần nào được thể hiện thông qua

số liệu số lượng tài khoản của các nhà đầu tư đăng ký tại các công ty chứng khoán

mà Ủy ban Chứng khoán Nhà nước ghi nhận lại trong bảng dưới đây:

32 Điều 6 Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 529/QĐ-SDGHN ngày 25/8/2016 của Tổng Giám đốc

Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội

33 Lê Thị Thảo, “Bảo vệ nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp điện tử,

http://vnclp.gov.vn/ct/cms/tintuc/Lists/ThucTienPhapLuat/View_detail.aspx?ItemID=88 , truy cập ngày 29/5/2018

Thời gian

Tổng cộng

Tăng/giảm (%)

Cá nhân Tổ chức Cá

nhân Tổ chức

So với tháng trước

So với năm trước 31/12/2016 1.685.598 7.438 16.850 2.503 1.712.389 1,3% 13,3%

Trang 21

Đơn vị tính: Tài khoản

Có thể thấy, từ năm 2016 đến tháng 3/2018, số lượng các nhà đầu tư cá nhân ở trong nước và nước ngoài tại Việt Nam luôn luôn cao hơn so với các nhà đầu tư là

tổ chức Theo một số nghiên cứu thì nhóm này là phân khúc giao dịch cao nhất của TTCK và được các công ty môi giới chứng khoán đặc biệt quan tâm.35 Chẳng hạn như CTCP chứng khoán Sài Gòn (SSI) đã củng cố và đào sâu đối tượng là khách hàng cá nhân thông qua việc mở rộng mạng lưới (SSI hiện có 12 chi nhánh, phòng giao dịch kể cả hội sở), đồng thời tăng cường đội ngũ phân tích, chuyên viên nghiên cứu Các bản tin dành cho khách hàng cá nhân của SSI ngày càng đa dạng, kỹ lưỡng, trong đó có bản tin chứng khoán phái sinh hàng ngày.36 Tại Mỹ, nghiên cứu của Bertrand et al (2008) cũng chỉ ra rằng, các nhà đầu tư cá nhân chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu cổ đông của các CTNY, trong khi sở hữu gia đình hoặc tổ chức tài chính chỉ chiếm khoảng 18%.37

34 Theo thống kê số lượng tài khoản nhà đầu tư tính đến tháng 3/2018 của Ủy ban Chứng khoán nhà nước, http://www.ssc.gov.vn/ubck/faces/vi/vimenu/vipages_vithongtinthitruong/thongkettck?_afrLoop=261142230 52406794&_afrWindowMode=0&_afrWindowId=null#%40%3F_afrWindowId%3Dnull%26_afrLoop%3D2 6114223052406794%26_afrWindowMode%3D0%26_adf.ctrl-state%3Dac7c460og_4 , truy cập ngày 29/5/2018

35 Thành Nam, “Nhà đầu tư cá nhân lên ngôi”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn online, http://www.thesaigontimes.vn/165479/Nha-dau-tu-ca-nhan-len-ngoi.html , truy cập ngày 29/5/2018

36 Thành Nam, “Nhà đầu tư cá nhân lên ngôi”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn online, http://www.thesaigontimes.vn/165479/Nha-dau-tu-ca-nhan-len-ngoi.html , truy cập ngày 29/5/2018

37 Dương Thanh Hải, “Bảo vệ cổ đông nhỏ đảm bảo thị thường chứng khoán hoạt động hiệu quả minh bạch”,

Tạp chí tài chính điện tử, chung-khoan-hoat-dong-hieu-qua-minh-bach-114625.html , truy cập ngày 12/12/2017

http://tapchitaichinh.vn/kinh-te-vi-mo/bao-ve-co-dong-nho-dam-bao-thi-truong-31/1/2017 1.696.766 7.490 16.951 2.521 1.723.728 0,7% 0,7% 28/2/2017 1.713.590 7.549 17.065 2.570 1.740.774 1% 1,66% 31/3/2017 1.733.531 7.634 17.274 2.604 1.761.043 1,16% 2,84% 30/4/2017 1.747.110 7.703 17.433 2.627 1.774.873 0,79% 3,65% 31/5/2017 1.764.212 7.809 17.658 2.657 1.792.336 0,98% 4,67% 30/6/2017 1.781.880 7.877 17.880 2.684 1.810.321 1% 5,72% 31/7/2017 1.799.847 7.952 18.073 2.694 1.828.566 1% 6,78% 31/8/2017 1.820.712 8.090 18.332 2.734 1.849.868 1,16% 8,03% 29/9/2017 1.837.142 8.139 18.587 2.766 1.866.634 0,91% 9,01% 31/10/2017 1.853.379 8.228 18.889 2.796 1.883.292 0,89% 9,98% 30/11/2017 1.871.197 8.338 19.279 2.835 1.901.649 0,97% 11,05% 29/12/2017 1.890.521 8.472 19.696 2.865 1.921.554 1,05% 12,21% 31/01/2018 1.918.957 8.534 20.248 2.887 1.950.626 1,51% 1,51% 28/02/2018 1.938.329 8.572 20.636 2.922 1.970.459 1,02% 2,55% 30/03/2018 1.978.883 8.669 21.430 2.982 2.011.964 2,11% 4,71%

Trang 22

Các số liệu trên cho thấy, các nhà đầu tư cá nhân là nhóm chủ thể đầu tư chính vào các CTNY trên TTCK Tuy nhiên, vì họ là những nhà đầu tư cá nhân nên thường có năng lực tài chính nhỏ Do đó, khi tham gia giao dịch trên TTCK thì đa phần trong số họ chỉ có thể sở hữu một lượng ít cổ phần và trở thành CĐTS trong các CTNY Đây cũng là một trong những điểm đặc trưng của CĐTS trong CTNY so với các loại hình doanh nghiệp khác

Ba là, cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết thường có tỷ lệ sở hữu cổ phần nhỏ

CTNY với số lượng cổ đông lớn nên cổ phần của công ty có sự phân tán mạnh mẽ hơn so với công ty TNHH và CTCP chưa niêm yết Sự phân tán này dẫn đến các CĐTS trong CTNY thường chỉ chiếm tỷ lệ sở hữu cổ phần rất nhỏ trong công ty Chẳng hạn, tỷ lệ sở hữu cổ phần của các CĐTS trong các CTNY như Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam với hơn 1.220 cổ đông38 sẽ khác với CTCP Đầu tư Thế giới di động có tới 9.248 cổ đông39 và chắc chắn tỷ lệ này sẽ nhỏ hơn rất nhiều lần so với các CTCP bình thường chưa đến 100 cổ đông Điều này cũng cho thấy, các CTNY có số lượng cổ đông càng lớn thì tỷ lệ cổ phần mà CĐTS sở hữu thông thường sẽ càng nhỏ

Hơn nữa, như đã phân tích ở trên, việc chuyển nhượng cổ phần tại các CTNY được thực hiện trên TTCK và đa phần các nhà đầu tư trên thị trường này là các nhà đầu tư cá nhân nên khả năng tài chính của họ có xu hướng thấp hơn so với các nhà đầu tư tổ chức Nguồn vốn đầu tư của họ chủ yếu là tiền tiết kiệm và mục đích đầu

tư của họ là nhằm hưởng lợi tức Vì vậy, khi tiến hành các giao dịch mua cổ phiếu trên thị trường, phần lớn các nhà đầu tư cá nhân dạng này này chỉ sở hữu một số lượng rất ít cổ phần Đây cũng là một trong những lý do dẫn đến tỷ lệ sở hữu cổ phần của các CĐTS trong CTNY thường nhỏ hơn so với các CTCP khác

Bên cạnh đó, đặc điểm này còn được hình thành từ chính quy định về điều kiện niêm yết của các tổ chức phát hành trên các Sở giao dịch chứng khoán Theo

đó, những CTNY trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội phải có tối thiểu 100 cổ

38 Theo “Biên bản Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2018 của Ngân hàng TMCP Công thương Việt

http://investor.vietinbank.vn/Sites/QuoteVN/SiteRoot/Copy%20of%20Bien%20ban%20DHDCD%20TN%2 02018.pdf , truy cập ngày 25/5/2018

39 Theo “Biên bản Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2018 của CTCP đầu tư Thế giới di động” được công bố trên website: https://mwg.vn/wp-content/uploads/delightful-downloads/2018/03/MWG_Bien-ban- hop-DHDCD-2018.pdf , truy cập ngày 25/5/2018

Trang 23

đông và những cổ đông này chỉ được nắm giữ ít hơn 5% cổ phần có quyền biểu quyết của công ty Sở giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh cũng có quy định tương tự khi buộc CTNY phải có ít nhất 300 cổ đông nắm giữ ít nhất 20% cổ phiếu

có quyền biểu quyết của công ty và mỗi cổ đông cũng không được nắm giữ quá 5%

cổ phần có quyền biểu quyết Như vậy, quy định về điều kiện niêm yết của các Sở giao dịch chứng khoán cho thấy sự phân tán cổ phần là yếu tố bắt buộc đối với các CTNY chứ không chỉ đơn thuần mang tính ngẫu nhiên và tùy nghi như các CTCP đại chúng khác Sự phân tán cổ phần mạnh mẽ này là một trong những nguyên nhân hình thành nhóm CĐTS trong công ty

Bốn là, cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết thường thiếu sự liên kết

Trong CTNY, cổ phần của các cổ đông được chuyển nhượng dưới hình thức chuyển nhượng chứng khoán tại các Sở giao dịch chứng khoán thông qua việc khớp lệnh mua - bán Các giao dịch này được thực hiện trực tuyến thông qua tài khoản được cổ đông, nhà đầu tư đăng ký tại công ty chứng khoán nên các chủ thể mua bán trên các Sở giao dịch chứng khoán không cần gặp nhau để kí kết hợp đồng chuyển nhượng mà chỉ cần đặt các lệnh mua bán theo quy trình mua bán chứng khoán Kết thúc phiên giao dịch, sự thay đổi về số lượng chứng khoán của các chủ thể sẽ được công ty chứng khoán ghi nhận Chính vì thế, các cổ đông trong công ty thường không biết nhau, thậm chí chủ thể thực hiện hoạt động mua bán chứng khoán của nhau nhiều khả năng cũng không biết đến nhau Vì không biết nhau nên các cổ đông trong công ty thường thiếu sự liên kết Đây chính là một trong những nét đặc thù của CĐTS trong các CTNY

Hơn nữa, xuất thân của các cổ đông trong CTNY cũng rất đa dạng, họ có thể

là các nhà đầu tư chuyên nghiệp, công nhân, sinh viên, trí thức hay thậm chí là các

bà nội trợ Do có sự khác biệt này nên trình độ, nhận thức và mục đích đầu tư của

họ đối với cổ phần mà mình sở hữu sẽ không giống nhau Khác với công ty TNHH, nhiều cổ đông trong CTCP chủ yếu quan tâm đến cổ phần và cổ tức, giá trị gia tăng của cổ phần nên không biết nhau và họ cũng không cần quan tâm đến nhau.40

Thông qua diễn biến giá cổ phiếu, trái phiếu của doanh nghiệp trên thị trường, nhà đầu tư biết được khả năng kinh doanh của doanh nghiệp Giá chứng khoán tăng biểu hiện doanh nghiệp phát hành làm ăn hiệu quả, ngược lại, giá chứng khoán

40 Bùi Xuân Hải (2010), tlđd (6), tr 62

Trang 24

giảm chứng tỏ việc kinh doanh của doanh nghiệp không tốt.41 Một số CĐTS theo kiểu như vậy, họ không quá quan tâm đến những người cùng góp vốn với họ, thậm chí là người quản lý hay chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Họ quan tâm nhiều hơn đến giá trị cổ phiếu hằng ngày có tăng hay không để họ kiếm lời mà không hiểu rằng, việc tăng giảm giá trị cổ phiếu của doanh nghiệp phụ thuộc khá nhiều vào năng lực điều hành cũng như sự cẩn trọng, mẫn cán của những người quản lý công ty Đây là đặc điểm rất đặc trưng của các CĐTS trong các công ty mang tính chất đối vốn và có sự phân tán nguồn vốn mạnh mẽ như CTNY

Sự thiếu liên kết của các CĐTS trong CTNY được xem là một trong những đặc điểm mang đến bất lợi của họ Bởi lẽ, bản chất của CTNY là công ty đối vốn nên quyền quyết định các vấn đề đều được thể hiện trên lá phiếu đại diện cho tỷ lệ

sở hữu cổ phần có quyền biểu quyết, trong đó có một số quyền không dành cho những cổ đông quá nhỏ, chẳng hạn như: Quyền khởi kiện42, quyền được tiếp cận một số thông tin quan trọng43, quyền yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của ĐHĐCĐ44, đề

cử người vào HĐQT hay BKS… Phân tích trên cho thấy, bên cạnh việc được pháp luật bảo vệ một cách bị động thì CĐTS cần phải khắc phục được nhược điểm này

và có sự liên kết với nhau để có thể chủ động tự bảo vệ quyền lợi cho chính mình Như vậy, các phân tích trên cho thấy CĐTS có số lượng rất đông và cũng là các nhà đầu tư chính vào CTNY Tuy nhiên, chủ thể này lại chủ yếu là các nhà đầu

tư cá nhân, chỉ sở hữu một tỷ lệ cổ phần rất nhỏ và thiếu sự liên kết nên thường là chủ thể có phần yếu thế hơn so với các cổ đông khác Do đó, các vấn đề liên quan đến quản trị công ty hay cơ chế bảo vệ CĐTS trong các CTNY cũng có sự khác biệt nhất định so với các CTCP khác

1.2 Sự cần thiết bảo vệ “cổ đông thiểu số” trong công ty niêm yết

1.2.1 Cổ đông thiểu số thường có vị thế bất lợi trong mối quan hệ với các

cổ đông lớn và người quản lý công ty

Về nguyên tắc, cổ đông của công ty bình đẳng về quyền và lợi ích với tư cách

là chủ sở hữu công ty Tuy nhiên, mối quan hệ giữa cổ đông lớn và cổ đông nhỏ

41 Lê Thị Thu Thủy (2008), “Quá trình xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về chứng khoán và thị

trường chứng khoán ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế -Luật, tr 20

42 Điều 161 Luật Doanh nghiệp (Luật số 68/2014/QH13) ngày 24/11/2014

43 Điều 141 Luật Doanh nghiệp (Luật số 68/2014/QH13) ngày 24/11/2014

44 Điều 147 Luật Doanh nghiệp (Luật số 68/2014/QH13) ngày 24/11/2014

Trang 25

luôn là vấn đề gai góc với luật công ty45 Bởi lẽ, trong mối quan hệ với cổ đông lớn, CĐTS thường là chủ thể yếu thế hơn do quy tắc đa số46 cho phép cổ đông lớn trong CTNY có nhiều khả năng chèn ép CĐTS thông qua việc bỏ phiếu quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động của công ty có lợi hơn cho mình Vụ việc tại CTCP Công nghệ phẩm Hải Phòng mà Báo Đầu tư chứng khoán từng phản ánh là một ví

dụ điển hình, cụ thể: một nhóm cổ đông lớn tại công ty này sau khi tập hợp được số

cổ đông chiếm 66% sở hữu, đã tiến hành họp ĐHĐCĐ bất thường để thông qua các nghị quyết có lợi cho mình Trong khi đó, nhiều cổ đông nhỏ cho biết, họ không nhận được giấy mời, thậm chí bị ngăn cản tham gia đại hội.47 Ở một khía cạnh khác, các cổ đông lớn trong CTNY có nhiều khả năng chèn ép CĐTS thông qua việc bỏ phiếu thông qua người của mình vào trong HĐQT - là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ Trong tình thế đó, các CĐTS thường

bị rơi vào tình trạng buộc phải chấp nhận mọi quyết định của những người điều hành công ty mà không được nói tiếng nói của mình.48 Cổ đông tại CTCP C cũng có

số phận tương tự nhưng được “diễn bởi một kịch bản khác” Theo trình bày của nguyên đơn và Luật sư của nguyên đơn được ghi nhận tại Bản án số phúc thẩm số 21/2018/QĐKDTM-PT ngày 26/4/2018 về việc yêu cầu hủy bỏ Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông49 gần đây thì CTCP C đã xâm phạm quyền lợi của cổ đông công

ty Cụ thể, tại Điều lệ Công ty, Quy chế tổ chức của Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2017 ngày 10/6/2017 của HĐQT quy định “cổ đông hoặc đại diện của cổ đông có số cổ phiếu có giá trị từ 1% vốn điều lệ trở lên là đại biểu dự ĐHĐCĐ” Quy định này đã tước quyền tham dự và phát biểu của 43 cổ đông còn lại có tổng số

cổ phần là 2.251 cổ phần Quy định vô lý này đã xâm phạm đến quyền cơ bản nhất dành cho các CĐTS trong công ty

Hàng loạt các vụ việc tương tự cũng diễn ra, chẳng hạn: Phương án phát hành của CTCP Vận tải xăng dầu (Vipco) cũng có vấn đề khi cho Tổng Công ty Xăng

45 Weiguo He (2004), Improving the Protection of Minority Shareholeders in Chinese Company Law, Luận

văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Tsinghua, tr 43 Trích dẫn từ Nguyễn Hoàng Thùy Trang (2009), tlđd (8)

46 Nguyễn Hoàng Thùy Trang, tlđd (8) , tr 11

47 Lê Minh Toàn, “Rủi ro với Đại hội cổ đông bất thường”, thuong/c/13598549.epi , truy cập ngày 15/8/2017

https://www.baomoi.com/rui-ro-voi-dhcd-bat-48 “Bảo vệ CĐTS theo quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng”, co-ong-thieu-so-trong-quy-inh.html , truy cập ngày 15/9/2017

http://www.dhluathn.com/2014/08/bao-ve-49 Bản án số phúc thẩm số 21/2018/QĐKDTM-PT ngày 26/4/2018 về việc yêu cầu hủy bỏ Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông được công bố trên trang http://congbobanan.toaan.gov.vn/0tat1cvn/ban-an-quyet-dinh của Tòa án nhân dân tối cao

Trang 26

dầu Việt Nam được mua hơn 9,1 triệu cổ phần với mức giá 15.000đ/cổ phần, các cổ đông hiện hữu khác được mua hơn 8,7 triệu cổ phần còn lại với mức giá 40.000đ/cổ phần Hay CTCP Giao nhận vận tải và Thương mại (Vinalink) khi tăng vốn từ 36 tỷ đồng lên 90 tỷ đồng đã đề ra phương án bán 162.000 cổ phiếu cho Công ty Giao nhận kho vận ngoại thương TP.HCM (Vinatrans) với giá bằng mệnh giá 100.000 đồng, trong khi đó, giá thị trường của Vinalink lên đến 1,5 triệu đồng/cổ phiếu 50

Điểm đáng nói là, những phương án bất hợp lý trên vẫn được ĐHĐCĐ thông qua, thậm chí với tỷ lệ biểu quyết rất cao, có trường hợp lên tới gần 100% Rõ ràng, phần lớn những cổ đông bị gạt ngoài lề lợi nhuận không nắm được luật để phản đối; hoặc tiếng nói của họ quá yếu ớt trong doanh nghiệp Chỉ đến khi, những sai phạm này được một số cơ quan báo chí thông tin, phản ánh, vụ việc mới được biết đến.51

Bên cạnh sử dụng lợi thế về quyền biểu quyết, cổ đông lớn trong CTNY còn

có thể sử dụng lợi thế trong việc tiếp cận các thông tin nội bộ của công ty để trục lợi cho mình Theo quy định của pháp luật chứng khoán, cổ đông lớn được xem là người biết các thông tin nội bộ52 của công ty CTNY Lợi thế khi tiếp cận được các thông tin nội bộ là điều kiện để các chủ thể này có thể thực hiện các giao dịch mang tính tư lợi gây tổn hại cho công ty, các cổ đông khác và nhà đầu tư Những tổn thất này sẽ càng lớn cho CĐTS khi mà các cổ đông lớn thực hiện mức độ kiểm soát không tương ứng với mức độ rủi ro mà họ phải chịu với tư cách là chủ sở hữu bằng cách lợi dụng các công cụ pháp lý để tách quyền sở hữu khỏi quyền kiểm soát như

cơ chế kim tự tháp và quyền đa biểu quyết Việc lợi dụng này có thể được thực hiện bằng nhiều cách, bao gồm việc “bòn rút” lợi nhuận cá nhân trực tiếp thông qua trả lương thưởng cao cho các thành viên gia đình và cộng sự, giao dịch với các bên liên quan không được kiểm soát, thiên kiến có hệ thống trong việc đưa ra các quyết định kinh doanh, và thay đổi cơ cấu vốn thông qua việc phát hành ưu đãi các cổ phiếu làm lợi cho cổ đông nắm quyền kiểm soát.53 Ở Châu Âu, người ta cũng thừa nhận rằng những cổ đông nào kiểm soát tỷ lệ quyền biểu quyết lớn hơn quyền sở hữu của

http://vietbao.vn/Kinh-te/Theo-sat-dien-bien-nong-tren-thi-truong-52 Khoản 33 Điều 6 Luật Chứng khoán (Luật số 70/2006/QH11) ngày 29/6/2006

53 Ví dụ: CTCP Dịch vụ Sài Gòn – Savico từng gây xôn xao dư luận khi cho cán bộ lãnh đạo mua cổ phiếu

ưu đãi với giá 30.000 đồng/cổ phiếu, trong khi giá thị trường là 118.000 đồng/cổ phiếu

Trang 27

họ có động cơ để bòn rút giá trị của công ty bằng mồ hôi nước mắt của các cổ đông không nắm quyền quản lý (non – cotrolling shareholders).54

Bên cạnh cổ đông lớn, CĐTS còn có thể bị người quản lý công ty “phớt lờ” quyền lợi do sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền quản lý trong công ty hiện đại làm cho khoảng cách giữa cổ đông và hoạt động của công ty ngày càng xa.55

Một mặt, sự tách bạch này là cần thiết đối với các công ty, đặc biệt là các công ty có quy mô lớn như CTNY bởi sự phức tạp trong việc quản trị điều hành đòi hỏi yêu cầu ngày càng cao về kỹ năng quản lý trong công ty Mặt khác, sự tách bạch này là nguyên nhân dẫn đến sự xung đột về lợi ích giữa các bên56 và đặt ra nhu cầu nhà nước phải bảo vệ CĐTS trước sự tham lam của người quản lý công ty57 Bởi lẽ, CĐTS được cho là không có đủ quyền lực và sự khích lệ để ngăn chặn sự lạm dụng quyền lực trong công ty và thường có xu hướng chịu đựng sự lạm dụng đó Giống như cổ đông lớn, một số người quản lý công ty cũng được xem là người biết thông tin nội bộ của công ty.58 Sự bất đối xứng thông tin giữa các nhà quản lý và cổ đông không nắm quyền kiểm soát, trong đó có những người quản lý công ty có lợi thế về thông tin hơn, làm cho các cổ đông khó có thể đánh giá sự đúng đắn của các quyết định được thực hiện bởi các nhà quản lý Các nhà quản lý lợi dụng sự thiếu khả năng quan sát của chủ sở hữu để tham gia vào các hoạt động tối đa hóa lợi ích cá nhân của mình.59 Tại các CTNY, chuyện người quản lý công ty sử dụng các thông tin nội bộ, thao túng giá cổ phiếu đã không còn xa lạ, đơn cử như trường hợp của ông Lê Phước Vũ, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Hoa Sen chỉ trong 5 ngày đã hoàn tất bán ra gần 9,6 triệu cổ phiếu của tập đoàn theo phương thức thỏa thuận với giá bình quân 32.000 đồng/cổ phiếu, thu về khoảng 300 tỷ đồng Đây cũng là mức đỉnh về giá của cổ phiếu Tập đoàn này từ trước đến nay tính theo giá điều chỉnh Ngay sau khi ông Vũ bán ra, cổ phiếu của Tập đoàn Hoa Sen đã liên tục giảm, có lúc xuống dưới 27.000 đồng/cổ phiếu và giữ nguyên vùng giá dưới 30.000 đồng/cổ phiếu Tận dụng thời cơ này, công ty riêng của ông Lê Phước Vũ là Công ty TNHH Tập đoàn Hoa Sen đã lập tức đăng ký mua vào 2 triệu cổ phiếu của Tập đoàn Hoa Sen Như

54 Nguyễn Hoàng Thùy Trang, tlđd (7), tr 13

55 Nguyễn Hoàng Thùy Trang, tlđd (7), tr 11-12

56 Phạm Hoài Thương – Trần Thùy Uyên, “Ảnh hưởng của đặc điểm quản trị công ty đến mức độ công bố

thông tin tự nguyện tại các công ty niêm yết tại Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 249, t3/2018, tr

31

57 Bùi Xuân Hải (2010), tlđd (6), tr 127

58 Khoản 34 Điều 6 Luật Chứng khoán (Luật số 70/2006/QH11) ngày 29/6/2006

59 Phạm Hoài Thương – Trần Thùy Uyên, tlđd (56), tr 31

Trang 28

vậy, chỉ tạm tính chênh lệch thị giá thời điểm ông Vũ bán ra và thời điểm công ty này mua vào đã thấy ông Lê Phước Vũ lãi một khoản lớn.60

Thực trạng trên cho thấy, quyền lợi của CĐTS trong CTNY đang bị các cổ đông lớn xâm hại với nhiều cách thức khác nhau, trong đó có những cách thức rất tinh vi mà nếu không có sự am hiểu kiến thức về quản trị, CĐTS khó có thể nhận ra được Điều này sẽ càng khó khăn khi CĐTS trong các CTNY tại Việt Nam đa phần không phải là các nhà đầu tư chuyên nghiệp Chính vì vậy, đây có thể xem là lý do cấp thiết nhất cần pháp luật phải ban hành các quy định nhằm kiểm soát các hành vi

mà cổ đông lớn, người quản lý công ty có thể thực hiện để chèn ép CĐTS

1.2.2 Bảo vệ cổ đông thiểu số là một yếu tố quan trọng để các công ty niêm yết tại Việt Nam phát triển mạnh mẽ

Cổ đông nói chung và CĐTS nói riêng luôn được xem là trung tâm của CTNY bởi cổ đông chính là chủ sở hữu của công ty Chính vì vậy, với mong muốn nhận được sự tham gia của cổ đông nhỏ vào công ty, các doanh nghiệp cần phải đảm bảo rằng một CĐTS phải được bảo vệ một cách công bằng với cổ đông nắm quyền kiểm soát để khuyến khích họ đầu tư vào công ty mà không cần phải lo lắng tài sản của mình sẽ bị tước đoạt.61 Điều này càng quan trọng đối với các CTNY bởi lẽ, cổ đông trong CTNY đa phần là những cổ đông nhỏ Thông qua hoạt động mua bán chứng khoán trên các Sở giao dịch chứng khoán, họ trở thành mục tiêu mà các CTNY hướng đến do đa phần trong số họ là những chủ thể góp vốn nhưng sẵn sàng từ bỏ việc kiểm soát đối với số vốn đó.62

Bên cạnh đó, mức độ bảo vệ CĐTS cũng phản ánh mức độ quản trị công ty của các CTNY Quản trị công ty tốt sẽ củng cố quyền sở hữu, giảm chi phí giao dịch và chi phí vốn, tạo điều kiện cho TTCK phát triển Đồng thời, quản trị công ty tốt sẽ làm gia tăng mức độ tin tưởng của các cổ đông, các nhà đầu tư chứng khoán,

là tiền đề để TTCK phát triển một cách mạnh mẽ Đặc điểm này xuất phát từ việc CTNY vốn là một chủ thể trong TTCK nên rất nhạy cảm với các biến động của kinh

tế - xã hội Hơn nữa, với quy mô vốn lớn và lực lượng cổ đông đồ sộ, các CTNY đòi hỏi người quản lý công ty phải theo đuổi các mục tiêu vì lợi ích của công ty và

60 Dân Việt (2017), “Khi lãnh đạo doanh nghiệp chớp thời cơ lướt sóng cổ phiếu”, http://www.vanhoathongtin.com/kinh-te/khi-lanh-dao-doanh-nghiep-chop-thoi-co-%E2%80%9Cluot-

song%E2%80%9D-co-phieu-id593n.html , truy cập ngày 11/6/2018

61 Nguyễn Hoàng Thùy Trang, tlđd (7), tr 16

62 Nguyễn Hoàng Thùy Trang, tlđd (7), tr 16

Trang 29

của các cổ đông, cũng như phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát hoạt động của công ty một cách hiệu quả, từ đó khuyến khích công ty sử dụng các nguồn lực một cách tốt hơn chứ không phải đơn thuần chỉ cần người quản lý như các công ty khác Cuộc khủng hoảng tài chính tại Châu Á năm 1997 và sự sụp đổ của hàng loạt các CTNY tại các nước phát triển như Enron, Tyco, Adelphia và WorldCom (Mỹ); HIH và One Tel (Úc) là bài học đắt giá cho sự coi thường việc quản trị công ty của nhiều nước trên thế giới Đơn cử như trường hợp Công ty Enron, là doanh nghiệp được thành lập vào năm 1985, với doanh thu đến 101 tỷ USD trong năm

2000 Họ từng là tập đoàn năng lượng hùng mạnh nhất Hoa Kỳ, hoạt động ở trên 40 nước Thế nhưng, qua nhiều vụ làm ăn man trá, hối lộ, những ông chủ Công ty Enron đã gây ra vụ phá sản lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ tính tới tháng 12/2001 Nhà đầu tư mất trắng hàng tỷ USD 20.000 nhân viên mất việc làm và thậm chí mất

cả khoản tiền dành dụm cả đời.63 Vì vậy, quản trị công ty tốt, bao gồm các thiết chế giúp CĐTS giám sát hoạt động của công ty sẽ giúp các CTNY giảm thiểu khả năng tổn thương trước các biến động không mong muốn

Có quan điểm đã từng ví von rằng, hình ảnh những CĐTS được so sánh giống như những người hiến máu liên tục và quan trọng cho nền kinh tế của mỗi quốc gia Với vai trò là một chủ thể tham gia vào TTCK, nhiệm vụ trọng tâm của CTNY là huy động vốn của thị trường thông qua việc mua bán cổ phiếu của các nhà đầu tư và

cổ đông của công ty Tuy nhiên, để các nhà đầu tư – những cổ đông tương lai của công ty có thể tin tưởng và an tâm lựa chọn thì chúng ta cần phải đặt ra các cơ chế pháp lý để bảo vệ họ, đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng mà họ thu được từ hoạt động đầu tư của mình Bởi lẽ, khi quyền lợi của các nhà đầu tư, các cổ đông không được đảm bảo thì việc mua bán cổ phiếu không phải là lựa chọn hấp dẫn họ nữa, thay vào đó, họ sẽ lựa chọn các lĩnh vực đầu tư khác an toàn và hiệu quả hơn như gửi tiết kiệm ở ngân hàng hoặc các lĩnh vực khác có cơ chế bảo vệ nhà đầu tư tốt hơn Những phân tích trên cho thấy, sự góp mặt của các CĐTS nhân tố quan trọng đối với CTNY Do đó, việc đề ra các quy định bảo vệ CĐTS đồng thời sẽ giúp các CTNY duy trì hoạt động và phát triển trên TTCK

1.2.3 Bảo vệ cổ đông thiểu số là một yếu tố quan trọng cho sự phát triển của thị trường chứng khoán

63 “Những vụ án kinh tế chấn động (kỳ 2): Enron - “Kẻ dối trá vĩ đại””, vu-an-kinh-te-chan-dong-ky-2-enron-ke-doi-tra-vi-dai-772-234994.htm , truy cập ngày 12/7/2018

Trang 30

Trong những năm vừa qua, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập WTO, TTCK đã có những bước phát triển nhất định và trở thành kênh đầu tư hấp dẫn cho các nhà đầu tư chứng khoán Tuy nhiên, sự phát triển ấy không phải diễn ra một cách tự nhiên mà là thành quả trong suốt quá trình nỗ lực của các nhân tố trong TTCK, trong đó có các CTNY, các cổ đông – các nhà đầu tư trên TTCK

Có thể nói, sự phát triển của các CTNY là một nhân tố vô cùng quan trọng thúc đẩy sự phát triển của TTCK Bởi lẽ, với vai trò là một chủ thể tham gia vào TTCK, các công ty niêm yết cổ phiếu trên các Sở giao dịch chứng khoán sẽ tạo môi trường cho các nhà đầu tư chứng khoán và các cổ đông của công ty dễ dàng thực hiện các giao dịch mua bán Cụ thể, tại thị trường này, các chứng khoán được niêm yết có thể được dễ dàng mua bán với số lượng khác nhau, do đó các nhà đầu tư có vốn nhỏ vẫn có thể dễ dàng trở thành cổ đông của công ty và thông qua kênh này các cổ đông của công ty cũng rất dễ dàng chuyển nhượng cổ phần mà mình đang sở hữu Điều này vừa giúp các chứng khoán gia tăng khả năng thanh khoản và vừa hấp dẫn các nhà đầu tư đối với sân chơi tài chính này Trong những năm qua, các CTNY tại Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể, cụ thể: hoạt động sản xuất kinh doanh của các CTNY đều có kết quả khả quan, một số chỉ tiêu về doanh thu, hàng tồn kho và chi phí tài chính…đã được cải thiện hơn.64

Sự phát triển này của TTCK có một phần không nhỏ vai trò của các CĐTS Bởi lẽ, họ là nhà đầu tư chính vào các CTNY, hay nói cách khác, họ là chủ thể gián tiếp tạo nên sự phát triển mạnh mẽ của TTCK Nếu không có những chủ thể này thì

sẽ vắng bóng các giao dịch cổ phiếu trên thị trường giao dịch tập trung và đó cũng

có thể là nguyên nhân chính dẫn đến sự sụp đổ của cả TTCK Có thể thấy, bảo vệ CĐTS cũng chính là gián tiếp bảo vệ sự phát triển của TTCK Hơn nữa, góp vốn vào CTNY cũng là một hình thức đầu tư của cổ đông, nếu như pháp luật có các cơ chế bảo vệ cho họ thì tin chắc rằng kênh đầu tư chứng khoán sẽ trở thành một kênh đầu tư rất hấp dẫn đối với những chủ thể đang có nguồn tiền nhàn rỗi

Tóm lại, những lý do vừa trình bày ở trên cho thấy vấn đề bảo vệ CĐTS thực

sự là một bộ phận trọng tâm của quản trị công ty Giải quyết tốt vấn đề bảo vệ

64 Ngô Lê Vân Anh, “Thị trường chứng khoán Việt Nam và triển vọng phát triển mới”, http://tapchitaichinh.vn/thi-truong-tai-chinh/chung-khoan/thi-truong-chung-khoan-viet-nam-va-trien-vong- phat-trien-moi-114241.html truy cập ngày 27/5/2018

Trang 31

CĐTS không chỉ là cơ sở để các CTNY Việt Nam phát triển mạnh mẽ mà nó còn là một nhân tố quan trọng giúp TTCK Việt Nam phát triển mạnh mẽ

1.3 Nguyên tắc bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết

Thiên chức của pháp luật là tạo ra những chuẩn mực ứng xử đáng tin cậy giữa

vô vàn phần tử trong xã hội biến đổi Công lý nếu được xác lập, từng con người nhỏ

bé sẽ bớt lo sợ trước sức mạnh của tiền bạc, cường quyền, bạo lực65 Xét trong mối quan hệ với cổ đông lớn và người quản lý công ty, CĐTS cũng là những “người nhỏ bé” cần sự bảo vệ của công lý Tuy nhiên, việc bảo vệ một chủ thể là đảm bảo rằng quyền lợi chính đáng của họ không bị xâm phạm chứ không được phép xâm phạm quyền lợi của chủ thể khác để đạt được mục đích của mình Trên tinh thần đó, việc bảo vệ CĐTS cần phải tuân thủ 02 nguyên tắc cơ bản sau:

1.3.1 Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết phải tuân thủ quy tắc

đa số

Với bản chất là công ty đối vốn nên các quyết định của CTNY cũng giống như những CTCP khác đều dựa trên lá phiếu biểu quyết của các cổ đông trong công ty Theo đó, các cổ đông có thể tự do thể hiện ý chí của mình thông qua số phiếu biểu quyết mà mình có và quyết định cuối cùng của ĐHĐCĐ là quyết định thuộc về số đông Điều này dẫn đến hệ quả, các chủ thể sở hữu nhiều cổ phần có quyền biểu quyết trong công ty có khả năng kiểm soát việc biểu quyết và biến ý chí của họ thành quyết định của công ty Rõ ràng, điều này hoàn toàn công bằng và phù hợp với các nguyên tắc về quản trị công ty do OECD khuyến nghị và đây cũng là quyền dành cho tất cả các cổ đông được Nghị định số 71/2017/NĐ-CP của Việt Nam ghi nhận

Tuy nhiên, quy tắc đa số dẫn đến hệ quả là với vị trí thống trị trong công ty, có nhiều trường hợp cổ đông lớn không làm điều gì bất hợp pháp nhưng bằng quyền biểu quyết của mình, họ lại hành động theo một cách thức “chèn ép” cổ đông nhỏ.66Trong trường hợp này, với số phiếu ít ỏi trong tay, những ý kiến của CĐTS hầu như không được ghi nhận Chính vì vậy, để bảo vệ quyền lợi của CĐTS, pháp luật đã tạo cho họ các công cụ cần thiết để đảm bảo rằng “tiếng nói” của CĐTS vẫn được tôn trọng và lắng nghe thông qua việc ghi nhận các quyền và các quy định về

65 Phạm Duy Nghĩa (2011), Giáo trình pháp luật đại cương, Nxb Công an nhân dân, tr 5

66 Nguyễn Hoàng Thùy Trang, tlđd (7), tr 18

Trang 32

quản trị nội bộ liên quan đến việc bảo vệ CĐTS Đồng thời, đảm bảo cho CĐTS có các quyền của mình còn có thể hạn chế và ngăn chặn cổ đông lớn, người quản lý lạm dụng các lợi thế có được gây thiệt hại cho CĐTS và cho chính CTNY

Điều này cho thấy, quy tắc đa số trong CTNY không nên áp dụng một cách máy móc mà cần phải có sự kiềm chế nhất định để đảm bảo quyền lợi của tất cả các chủ thể trong công ty Bảo vệ cổ đông là đảm bảo sự cân bằng giữa tạo điều kiện cho cổ đông bảo vệ lợi ích của mình và tránh sự lạm dụng chính quy định này bởi

cổ đông “phá rối”, gây cản trở hoạt động bình thường của công ty Bảo vệ cổ đông nhỏ không phải là trao cho cổ đông nhỏ quyền và lợi nhiều hơn so với tỷ lệ sở hữu

cổ phần của họ trong công ty Tóm lại, pháp luật công ty không thể quá thiên vị, bảo

vệ một nhóm CĐTS hay cổ đông lớn một cách thái quá, vượt quá mức độ cần thiết67

1.3.2 Bảo vệ cổ đông thiểu số phải đặt trong mối tương quan với lợi ích của công ty

CĐTS tuy nhỏ bé nhưng luôn được xem là trung tâm và là đối tượng mà các nhà làm luật quan tâm hướng đến khi thiết lập các quy định về quản trị công ty, đặc biệt là các CTNY Chủ thể chịu sự kiểm soát của TTCK Những yếu kém trong việc công khai những hành động bất công của cổ đông lớn đối với cổ đông nhỏ có thể ảnh hướng đến lợi nhuận và giá trị cổ phiếu của công ty.68

Thứ nhất, về phương diện kinh tế, có quan điểm cho rằng nếu như bảo vệ

CĐTS một cách quá mức, lợi ích của công ty có thể bị xâm hại bởi các thế lực khác

là đối thủ của công ty Đối thủ của doanh nghiệp rất có thể sẽ lợi dụng các quy định

về bảo vệ CĐTS như: quyền tiếp cận thông tin, quyền khởi kiện,…để làm rối loạn nội bộ và suy yếu công ty cạnh tranh với mình

Thứ hai, về phương diện quản trị công ty, đối với sự phát triển của TTCK, cơ

chế bảo vệ cổ đông – những nhà đầu tư trên TTCK đủ mạnh sẽ giúp TTCK thực hiện được sứ mệnh là kênh huy động vốn lớn nhất trên thị trường tài chính Ngân hàng thương mại không còn là điểm đến duy nhất của những nhân viên văn phòng, công chức, sinh viên, thậm chí những bà nội trợ,…khi muốn đầu tư sinh lợi bằng

67 Bùi Xuân Hải, tlđd (6), tr 186

68 Nguyễn Hoàng Thùy Trang, tlđd (7), tr 17

Trang 33

những đồng vốn ít ỏi của mình Do đó, việc bảo vệ CĐTS tuy cần thiết nhưng cũng phải đặt trong mối quan hệ lợi ích với sự phát triển của TTCK

Tóm lại, các nguyên tắc bảo vệ CĐTS là vấn đề cơ bản và là một bộ phận quan trọng trong quản trị công ty Với bản chất của CTNY cũng như nét đặc thù của CĐTS trong các công ty này mà việc bảo vệ CĐTS đòi hỏi phải tuân thủ các nguyên tắc nhất định Các quy định về bảo vệ CĐTS phải vừa tuân thủ được quy tắc đa số nhưng cũng phải đặt trong sự tương quan lợi ích của công ty Đây cũng là lý do tại sao “bảo vệ CĐTS, rõ ràng và hoàn toàn làm cho luật công ty sinh động hơn”69

1.4 Cách thức bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết

CĐTS là chủ thể tham gia vào các mối quan hệ xã hội liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp Chính vì thế, quyền và lợi ích của họ chịu sự điều chỉnh của pháp luật và các thiết chế khác có liên quan Bên cạnh đó, như đã phân tích, CĐTS dễ bị các chủ thể khác như cổ đông lớn, người quản lý công ty qua mắt để xâm phạm lợi ích Do vậy, bảo vệ CĐTS phải được thực hiện thông qua nhiều cách thức, cụ thể:

1.4.1 Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết bằng công cụ pháp luật

Công cụ pháp luật được xem là cách thức đầu tiên trong việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông, đặc biệt là các CĐTS Bởi lẽ, thiên chức của pháp luật là điều hòa các mối quan hệ trong xã hội, chính vì vậy, trong các doanh nghiệp – nơi có nhiều mối quan hệ phức tạp, các nhóm lợi ích luôn có xu hướng tranh giành quyền lợi cho mình thì thiên chức này của pháp luật lại phải thể hiện thật rõ ràng

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa rằng chỉ có pháp luật mới có thể điều hòa các xung đột về lợi ích và bảo vệ các chủ thể yếu thế Trong bối cảnh tự do kinh doanh, pháp luật đã trao cho các doanh nghiệp quyền tự do, chủ động trong hoạt động kinh doanh của họ Bởi lẽ, tiền là của họ, vốn góp của họ nên bản thân những người đầu tư vốn dĩ họ đã phải có trách nhiệm với đồng vốn của mình Chính vì thế, Điều lệ doanh nghiệp như một bản hợp đồng ghi nhận quyền hạn, nghĩa vụ và các nguyên tắc nhằm điều hòa các xung đột về lợi ích giữa các bên Thậm chí, có quan điểm cho rằng Điều lệ là văn bản quan trọng nhất và có hiệu lực pháp lý cao nhất đối với một công ty, giống như Hiến pháp của một quốc gia.70Tuy nhiên, vấn đề còn

69 Chander Anupam (2003), “Minorities, Shareholder and Otherwise”, 113 Yale Journal, tr 128

70 Trương Thanh Đức (2017), “Luận giải về Luật doanh nghiệp năm 2014 (36 Kế sách pháp lý của doanh

nghiệp – Tái bản có chỉnh sửa)”, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, tr 160

Trang 34

tồn tại hiện nay là dường như các doanh nghiệp không nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng cũng như vị trí, vai trò của nó trong việc giải quyết các xung đột về lợi ích Họ coi Điều lệ như là một thủ tục để đăng ký thành lập doanh nghiệp nhiều hơn

là một bản hợp đồng ghi nhận sự thỏa thuận giữa các bên Chính vì thế, trong bối cảnh hiện nay, pháp luật vẫn luôn là công cụ đầu tiên và là công cụ quan trọng nhất

để bảo vệ CĐTS trong CTNY

Pháp luật có thể bảo vệ CĐTS thông qua các quy định sau: (i) Quy định về quyền của cổ đông và cơ chế đảm bảo cho cổ đông thực hiện quyền của mình; (ii) Các quy định quản trị nội bộ liên quan đến vấn đề bảo vệ CĐTS Như vậy, có thể thấy thông qua các quy định này, pháp luật bảo vệ CĐTS thông qua hai phương diện: Một là, pháp luật trao cho CĐTS một số quyền năng, CĐTS có thể sử dụng các quyền này theo “cơ chế chủ động” để tự bảo vệ cho mình, chẳng hạn như: quyền khởi kiện, quyền được cung cấp một số thông tin,…Hai là, bên cạnh trao quyền cho CĐTS thì pháp luật khi thiết lập các quy định về quản trị nội bộ đều quan tâm đến vấn đề bảo vệ CĐTS, chẳng hạn như: quy định về người quản lý, về Hội đồng quản trị,…

Như vậy, với thiên chức của mình, pháp luật là công cụ có thể bảo vệ CĐTS một cách dễ dàng và công bằng nhất Các quy định pháp luật là cơ sở để các thiết chế khác như Bộ nguyên tắc của Hiệp hội hay Điều lệ công ty được xây dựng và thực hiện Do đó, trong khuôn khổ luận văn của mình, tác giả chỉ đề cập đến vấn đề bảo vệ CĐTS thông qua công cụ pháp luật

1.4.2 Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết bằng việc tổ chức thực thi pháp luật nghiêm minh

Bên cạnh ban hành các quy định pháp luật trao cho CĐTS các quyền năng cơ bản cũng như các thiết lập các nguyên tắc trong quản trị nội bộ doanh nghiệp thì việc tổ chức thực thi pháp luật cũng là cách thức vô cùng quan trọng có thể bảo vệ được các CĐTS Pháp luật chỉ tồn tại trên giấy và coi như không tồn tại nếu nó không được thực hiện trên thực tiễn.71

Hiện nay, pháp luật cũng rất chú trọng đến khía cạnh đảm bảo thực thi các quy định về bảo vệ quyền lợi của CĐTS Đảm bảo thực thi các quy định về bảo vệ CĐTS trong CTNY có thể được thực hiện như sau:

71 Bùi Xuân Hải (2010), tlđd (6), tr 175

Trang 35

(i) Một là, khi có các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể trong CTNY hoặc một số người có nhiệm vụ quản lý của công ty vi phạm nghĩa vụ của mình thì cổ đông có quyền khởi kiện khi đáp ứng các điều kiện nhất định Lúc này, các quy định về tố tụng dân sự phải có sự hòa hợp với các quy định của LDN để các quy định về bảo vệ CĐTS có thể thực thi tối ưu nhất trên thực tế

(ii) Hai là, các quy định về xử phạt hình sự hoặc hành chính khi các chủ thể vi phạm pháp luật liên quan đến các quy định về bảo vệ CĐTS Chẳng hạn như, trường hợp CTNY vi phạm quy định về nghĩa vụ công bố thông tin, ảnh hưởng đến quyền lợi của các cổ đông nhỏ thì sẽ bị xử phạt theo quy định của pháp luật chứng khoán

Có thể thấy, đây cũng là một trong những cách thức bảo vệ CĐTS mà trong thời gian vừa qua chúng ta đã rất nỗ lực để thực hiện đồng thời với việc ban hành các quy định trực tiếp bảo vệ CĐTS trong doanh nghiệp

1.4.3 Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết thông qua cơ chế tự điều chỉnh: Điều lệ công ty

Điều lệ là khung pháp lý ghi nhận các nội dung cơ bản nhất, cần thiết nhất về

cơ cấu tổ chức, quản trị, kiểm soát, điều hành cho đến việc cải tổ và chấm dứt hoạt động của công ty.72 Nhiều thẩm phán cũng nhấn mạnh vai trò của Điều lệ công ty trong hoạt động xét xử, nhằm giải quyết tranh chấp nội bộ của công ty và bảo vệ quyền lợi của các CĐTS.73 Như vậy, về nguyên tắc, Điều lệ là văn bản vô cũng quan trọng đối với một doanh nghiệp nói chung và đối với các cổ đông, đặc biệt là CĐTS nói riêng Đối với doanh nghiệp, nó như một bản ghi nhận những nét đặc thù của doanh nghiệp đó, về tổ chức, về quản lý điều hành,…đây là những đặc điểm quan trọng hình thành nên văn hóa doanh nghiệp và thể hiện tầm vóc của doanh nghiệp Đối với các cổ đông, Điều lệ nó như một sự thỏa thuận của các cổ đông về các vấn đề chung của doanh nghiệp Nếu như pháp luật xây dựng chuẩn chung cho tất cả các doanh nghiệp thì Điều lệ chính là luật của công ty

Hiện nay, với tinh thần cho các doanh nghiệp tự do kinh doanh, LDN năm

2014 đã trao cho doanh nghiệp hay cụ thể hơn là Điều lệ doanh nghiệp có quyền

72 Trương Thanh Đức (2017), Luận giải về Luật Doanh nghiệp năm 2014 (36 Kế sách pháp lý của doanh

nghiệp – Tái bản có chỉnh sửa), Nxb Chính trị quốc gia sự thật, tr 160

73 Nguyễn Thị Kim Vinh (2010), “Thực trạng tranh chấp nội bộ công ty và giải pháp”, Kỷ yếu Hội thảo

Trường Đại học Luật Tp HCM, tr 73

Trang 36

quy định nhiều vấn đề hơn trước đây Chẳng hạn như: Vấn đề bầu thành viên HĐQT hay thành viên BKS, trước đây LDN buộc các CTNY phải thực hiện bầu dồn phiếu đối với những chủ thể này Thế nhưng, hiện nay, doanh nghiệp có quyền thay đổi nếu Điều lệ của doanh nghiệp có quy định khác Nếu như các doanh nghiệp

có thể tận dụng hết lợi thế này, tận dụng các quyền năng của mình trong việc xây dựng một doanh nghiệp với các tiêu chuẩn của riêng họ thì tin chắc rằng sức cạnh tranh của họ trên thị trường rất lớn Đồng thời, thông qua việc biểu quyết các vấn đề của doanh nghiệp được ghi nhận trong Điều lệ công ty, CĐTS có thể thể hiện tiếng nói thông qua lá phiếu của mình

Tuy nhiên, vấn đề đáng quan tâm hiện nay là Điều lệ trong mắt các doanh nghiệp, các cổ đông vẫn chưa ở vị trí vốn có của nó Như đã đề cập, các doanh nghiệp hiện nay vẫn coi Điều lệ như một thứ giấy tờ buộc phải có khi thành lập doanh nghiệp Họ qua loa cho xong chuyện, làm giống như Điều lệ mẫu mà ít khi quan tâm đến những vấn đề có thể phát sinh Đây là một trong những điểm tồn tại lớn nhất của các doanh nghiệp ngay từ những ngày đầu thành lập Chỉ khi Điều lệ được quan tâm đúng mức thì đây mới có thể trở thành cách thức bảo vệ CĐTS một cách hiệu quả

1.4.4 Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết thông qua các cách thức khác

Biện pháp đầu tiên có thể kể đến là các quy tắc mềm Luật mềm thường được hiểu bao gồm các quy tắc về quản trị công ty, các quy tắc về đạo đức kinh doanh các quy tắc về đạo đức nghề nghiệp mà các kiểm toán viên, kế toán viên cần phải tuân theo.74 Bản chất của văn bản này đúng theo nghĩa luật mềm của nó, tức là nó không phải là văn bản quy phạm bắt buộc áp dụng mà chỉ dừng lại ở sự hướng dẫn

và khuyến cáo Hiện nay, Bộ quy tắc được xem là luật mềm được sử dụng phổ biến

ở nhiều quốc gia trên thế giới có thể kể đến là Bộ nguyên tắc về quản trị công ty của

Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) ban hành Việt Nam hiện nay vẫn chưa xây dựng những Bộ quy tắc mang tính luật mềm đúng nghĩa về quản trị công

ty để bảo vệ CĐTS Chúng ta chỉ ban hành văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn

về quản trị công ty đối với các công ty đại chúng Đây là văn bản mang tính chuyên ngành và về bản chất khác hoàn toàn với Bộ quy tắc mà tác giả phân tích ở trên

74 Bùi Xuân Hải (2010), tlđd (6), tr 179

Trang 37

Cơ chế tự bảo vệ cũng là một trong những cách thức mà CĐTS có thể thực hiện để tự bảo vệ mình Theo quan điểm của tác giả, đây là cơ chế đặc biệt quan trọng và phù hợp nhất với nhóm cổ đông mang tính chủ động như tác giả đã phân tích ở trên Nhóm CĐTS quan tâm đến vấn đề quản trị công ty là nhóm có hiểu biết

về quản trị công ty, có quan tâm đến quản trị công ty và họ là chủ thể có thể sử dụng hiệu quả nhất cơ chế này để tự bảo vệ quyền lợi cho mình và bảo vệ lợi ích của công ty

Trang 38

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu về khái niệm cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần, Chương 1 đã nhận diện cổ đông được gọi là cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết Theo đó, cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết được hiểu là những cổ đông sở hữu ít vốn trong mối tương quan với các cổ đông khác và vì ít vốn nên họ không có khả năng chi phối đến các quyết định của công ty

Các phân tích về đặc điểm của cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết là những đóng góp mới về mặt lý luận khi nghiên cứu về cổ đông thiểu số Các phân tích này cũng cho thấy cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết có số lượng rất lớn, chủ yếu là nhà đầu tư cá nhân, sở hữu một tỷ lệ nhỏ cổ phần và thiếu sự liên kết Trong đó, việc chỉ sở hữu một lượng nhỏ cổ phần trong công ty và thiếu sự liên kết với nhau là những đặc điểm mang đến các bất lợi cho cổ đông loại này về vị thế trước cổ đông lớn, người quản lý công ty và quyền quyết định các vấn đề của công

và đặt trong mối tương quan với lợi ích của công ty Trên tinh thần đó, các nguyên tắc và cách thức để bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết cũng được thiết lập trong Chương 1 tạo cơ sở cho các phân tích ở Chương 2

Những phân tích về pháp luật bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết

là cơ sở lý luận quan trọng để trong Chương 2 tác giả tiếp tục trình bày, phân tích thực trạng pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết Đồng thời, so sánh với các quy định của pháp luật nước ngoài, từ

đó đưa ra các kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn đề này

Trang 39

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ TRONG CÔNG TY NIÊM YẾT VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

2.1 Thực trạng quy định pháp luật về quyền của cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết và kiến nghị hoàn thiện

Quyền của cổ đông là phương tiện để cổ đông có thể sử dụng để bảo vệ mình trong các trường hợp cần thiết Thậm chí, có quan điểm còn cho rằng, quyền của cổ đông là điều kiện tiên quyết và quan trọng nhất để bảo vệ cổ đông, là phương tiện

để cổ đông có thể sử dụng để bảo vệ mình Những yếu tố khác như cơ chế kiểm soát bên trong thông qua cấu trúc quản trị nội bộ hay cơ chế kiểm soát bên ngoài và thiết chế đảm bảo thực thi pháp luật là những yếu tố bổ trợ, là điều kiện cho các quyền của cổ đông được thực thi nhằm bảo vệ cổ đông75 Với các đặc điểm đặc thù như: sở hữu lượng cổ phần rất nhỏ, thành phần đa dạng và thiếu sự liên kết,… nên bên cạnh các quyền cơ bản, cổ đông nói chung và CĐTS trong CTNY nói riêng còn được pháp luật trao thêm một số quyền riêng biệt để có thể tự bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình Do đó, trong phần này, tác giả sẽ phân tích các quyền theo từng cấp độ mà CĐTS trong CTNY có thể sử dụng để bảo vệ mình, gồm: (i) Quyền chung dành cho tất cả các cổ đông; (ii) Quyền dành cho cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu từ 1% và từ 10% cổ phần phổ thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 6

tháng; (iii) Quyền riêng của cổ đông trong CTNY

2.1.1 Quy định pháp luật về quyền chung của cổ đông

Quyền chung của cổ đông là quyền tối thiểu dành cho tất cả các cổ đông trong CTNY, không phân biệt số lượng hay tỷ lệ sở hữu cổ phần của họ trong công ty Những quyền được gọi là quyền chung, quyền cơ bản của cổ đông sẽ có những khác biệt nhất định tùy thuộc vào phương diện tiếp cận của các chủ thể Chẳng hạn, Bộ nguyên tắc về Quản trị công ty của OECD 2015 cho rằng, quyền cơ bản nhất của cổ đông bao gồm: (i) Đảm bảo các phương thức đăng ký quyền sở hữu; (ii) Chuyển nhượng cổ phần; (iii) Tiếp cận các thông tin liên quan và quan trọng về công ty một cách kịp thời và thường xuyên; (iv) Tham gia và biểu quyết tại ĐHĐCĐ; (v) Bầu và bãi miễn các thành viên HĐQT; (vi) Hưởng lợi nhuận của công ty Trong giới học thuật, các nhà nghiên cứu chia quyền của cổ đông, trong đó có CĐTS thành 4

75Quách Thúy Quỳnh (2010), “Quyền của cổ đông thiểu số theo pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Luật học,

tháng 4/2010, tr 19.

Trang 40

nhóm: i) Nhóm quyền về tài sản; ii) Nhóm quyền về quản trị hay quản lý công ty; iii) Nhóm quyền về thông tin; iv) Nhóm quyền về phục hồi quyền lợi hay nhóm quyền mang tính khắc phục.76 Tại Việt Nam, LDN 2014 không chia quyền của cổ đông thành các nhóm quyền mà liệt kê các quyền theo thứ tự tại các Điều 114, 116,

117, 118, 122, 123, 124, 129 Trong khuôn khổ luận văn này, với mục đích phân tích và chỉ ra các quy định pháp luật mà CĐTS có thể sử dụng các quyền cơ bản để

tự bảo vệ mình, tác giả không liệt kê theo từng quyền riêng lẻ mà trình bày theo từng nhóm quyền của cổ đông

(i) Quyền quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động của công ty thông qua việc tham dự và biểu quyết tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông

Cổ đông với tư cách là chủ sở hữu của CTNY nên họ có quyền được biết và được tham gia quyết định vận mệnh số vốn mình đã đầu tư vào công ty Trên tinh thần đó, pháp luật hiện hành đã ghi nhận quyền tham dự và phát biểu trong cuộc họp ĐHĐCĐ và thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện theo

ủy quyền hoặc theo hình thức khác do pháp luật, Điều lệ công ty quy định Mỗi cổ phần phổ thông có một phiếu biểu quyết.77 Đối với các CTNY, do sự đặc thù về số lượng cổ công lớn nên pháp luật doanh nghiệp hiện nay yêu cầu các CTNY phải quy định trong Quy chế nội bộ về quản trị công ty về việc áp dụng các công nghệ thông tin hiện đại để cổ đông có thể tham dự và phát biểu ý kiến tại cuộc họp ĐHĐCĐ tốt nhất, bao gồm hướng dẫn cổ đông biểu quyết thông qua họp ĐHĐCĐ trực tuyến, bỏ phiếu điện tử hoặc hình thức điện tử khác theo quy định.78 Chưa bàn

về tính khả thi khi thực hiện trên thực tế thì quy định về các hình thức dự họp ĐHĐCĐ trong LDN 2014 và Nghị định số 71/2017/NĐ-CP như hiện nay được xem

là một trong những quy định tiến bộ hơn so với LDN 2005 và Thông tư số 121/2012/TT-BTC quy định về quản trị công ty áp dụng cho công ty đại chúng trước đây Quy định này cũng đã tạo điều kiện cho các cổ đông, đặc biệt là các CĐTS có thể thuận lợi hơn khi thực hiện quyền dự họp của mình

Bên cạnh quy định về các hình thức tham dự và biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ, pháp luật hiện hành còn quy định cách thức ủy quyền của cổ đông cho người đại diện dự họp Theo đó, việc ủy quyền cho người đại diện dự họp ĐHĐCĐ

Ngày đăng: 22/08/2023, 07:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
18. Chinese Standing Committee of the National People’s Congress (2005), The Companny Law, 3 rd revision, NPC,China.http://www.fdi.gov.cn/1800000121_39_4814_0_7.html#_Toc381707448.19. United Kingdom Companies Act 2006,https://www.legislation.gov.uk/ukpga/2006/46/part/11 B. Tài liệu tham khảoB1. Tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Companny Law, 3 rd revision
Tác giả: Chinese Standing Committee of the National People’s Congress
Nhà XB: NPC, China
Năm: 2005
20. Nguyễn Thị Vân Anh (2013), “Nhận diện người có liên quan và giao dịch giữa công ty và người có liên quan”, Tạp chí Luật học, số 12/2013, tr. 03- 07 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện người có liên quan và giao dịch giữa công ty và người có liên quan”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Nguyễn Thị Vân Anh
Năm: 2013
21. Nguyễn Ngọc Bích (2004), Luật Doanh nghiệp – Vốn và quản lý trong công ty cổ phần, Nxb trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Doanh nghiệp – Vốn và quản lý trong công ty cổ phần
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bích
Nhà XB: Nxb trẻ
Năm: 2004
22. Hà Thị Thanh Bình (2015), “Sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quản lý điều hành trong quản trị công ty”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 10 (330) tr. 45-49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quản lý điều hành trong quản trị công ty”, "Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Hà Thị Thanh Bình
Năm: 2015
23. Lê Nhật Bảo, Tăng Thị Bích Diễm (2018), “Giao dịch giữa công ty và người quản lý công ty: Bình luận từ khía cạnh trách nhiệm trung thành của người quản lý”, Kỷ yếu Hội thảo Giao dịch giữa công ty với chủ sở hữu và người có liên quan, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, tr.12-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao dịch giữa công ty và người quản lý công ty: Bình luận từ khía cạnh trách nhiệm trung thành của người quản lý”, "Kỷ yếu Hội thảo Giao dịch giữa công ty với chủ sở hữu và người có liên quan, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh
Tác giả: Lê Nhật Bảo, Tăng Thị Bích Diễm
Năm: 2018
24. Tô Hồng Dung, Danh Phạm Mỹ Duyên (2018), “Kiểm soát giao dịch giữa công ty và người quản lý trong công ty đại chúng theo quy định pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Toà án nhân dân, số 11/2018, tr. 14-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm soát giao dịch giữa công ty và người quản lý trong công ty đại chúng theo quy định pháp luật Việt Nam
Tác giả: Tô Hồng Dung, Danh Phạm Mỹ Duyên
Nhà XB: Tạp chí Toà án nhân dân
Năm: 2018
25. Nguyễn Hoàng Duy (2015), “Kiểm soát giao dịch tư lợi – Nhìn từ giác độ của Luật Doanh nghiệp 2014”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, tr. 31-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm soát giao dịch tư lợi – Nhìn từ giác độ của Luật Doanh nghiệp 2014”, "Tạp chí Dân chủ và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Hoàng Duy
Năm: 2015
26. Trương Thanh Đức (2017), “Luận giải về Luật Doanh nghiệp năm 2014 (36 Kế sách pháp lý của doanh nghiệp – Tái bản có chỉnh sửa)”, Nxb Chính trị quốc gia sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận giải về Luật Doanh nghiệp năm 2014 (36 Kế sách pháp lý của doanh nghiệp – Tái bản có chỉnh sửa)
Tác giả: Trương Thanh Đức
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia sự thật
Năm: 2017
28. Bùi Xuân Hải (2007), “Học thuyết về đại diện và mấy vấn đề của pháp luật công ty Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 4 (41), tr. 21 – 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học thuyết về đại diện và mấy vấn đề của pháp luật công ty Việt Nam”, "Tạp chí Khoa học pháp lý
Tác giả: Bùi Xuân Hải
Năm: 2007
29. Bùi Xuân Hải (2010), Luật Doanh nghiệp: Bảo vệ cổ đông – Pháp luật và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Doanh nghiệp: Bảo vệ cổ đông – Pháp luật và thực tiễn
Tác giả: Bùi Xuân Hải
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
30. Bùi Xuân Hải (2010), “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ cổ đông thiểu số”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 3(58), tr. 24-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ cổ đông thiểu số”, "Tạp chí Khoa học pháp lý
Tác giả: Bùi Xuân Hải
Năm: 2010
31. Bùi Xuân Hải (2010), “Bảo vệ cổ đông thiểu số - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Kỷ yếu hội thảo Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, tr.08- 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ cổ đông thiểu số - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, "Kỷ yếu hội thảo Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh
Tác giả: Bùi Xuân Hải
Năm: 2010
32. Nguyễn Thị Lan Hương (2011), “Về hoạt động giám sát của ban Kiểm soát trong công ty cổ phần”, Tạp chí Luật học, tr. 24-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về hoạt động giám sát của ban Kiểm soát trong công ty cổ phần”," Tạp chí Luật học
Tác giả: Nguyễn Thị Lan Hương
Năm: 2011
33. Nguyễn Thị Thu Hương (2014), “Nhu cầu bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần ở Việt Nam”, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, số 271, tr.33-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần ở Việt Nam”, "Tạp chí Dân chủ & Pháp luật
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hương
Năm: 2014
34. Huỳnh Thị Trúc Linh (2016), “Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2014”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 06(310), tr. 43-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2014
Tác giả: Huỳnh Thị Trúc Linh
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Năm: 2016
35. Trần Đức Mẫn, Phạm Quốc Việt (2016), “Ảnh hưởng của sở hữu gia đình đến hiệu quả hoạt động của công ty niêm yết”, Tạp chí Tài Chính, số 10 (642), tr. 88-90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của sở hữu gia đình đến hiệu quả hoạt động của công ty niêm yết”, "Tạp chí Tài Chính
Tác giả: Trần Đức Mẫn, Phạm Quốc Việt
Năm: 2016
36. Lê Vũ Nam (2017), Pháp luật về quản trị công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về quản trị công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Tác giả: Lê Vũ Nam
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia TP.HCM
Năm: 2017
37. Lê Vũ Nam (2017), “Một số bất cập trong các quy định pháp luật về công bố thông tin của công ty niêm yết và kiến nghị hoàn thiện”, Tạp chí Công thương, số 7 – tháng 6/2017, tr. 21-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bất cập trong các quy định pháp luật về công bố thông tin của công ty niêm yết và kiến nghị hoàn thiện”, "Tạp chí Công thương
Tác giả: Lê Vũ Nam
Năm: 2017
40. Quách Thúy Quỳnh (2010), “Quyền của cổ đông thiểu số theo pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Luật học, tháng 4/2010, tr. 18-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền của cổ đông thiểu số theo pháp luật Việt Nam”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Quách Thúy Quỳnh
Năm: 2010
61. Bản án phúc thẩm số 01/2018/QĐKDTM-PT của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị ngày 30 tháng 1 năm 2018 về việc yêu cầu hủy bỏ Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông theo quy định của pháp Luật doanh nghiệp được công bố trên trang http://congbobanan.toaan.gov.vn/0tat1cvn/ban-an-quyet-dinh Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w