Tình hình nghiên cứu của đề tài
2.1 Kh ả o sát l ị ch s ử nghiên c ứ u c ủa đề tài
Hiện nay, lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ chủ yếu tập trung vào nghiên cứu khái quát về bảo hiểm và hoạt động kinh doanh bảo hiểm, như quản trị kinh doanh, hoạt động phân phối, nguyên lý bảo hiểm và các vấn đề pháp lý chung của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ Tuy nhiên, ít chú trọng vào nghiên cứu sâu về đặc điểm của các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ cụ thể và các quy định pháp luật tác động đến chúng, đặc biệt là bảo hiểm liên kết đầu tư Một số giáo trình và sách liên quan đến kinh doanh bảo hiểm đã đề cập đến bảo hiểm liên kết đầu tư, ví dụ như các tài liệu của Trung tâm nghiên cứu và đào tạo bảo hiểm.
Giáo trình đại lý bảo hiểm cơ bản của Nhà xuất bản Tài chính đã giới thiệu tổng quan về những điểm khác biệt chính giữa bảo hiểm liên kết đầu tư và bảo hiểm nhân thọ truyền thống, bao gồm quyền lợi bảo hiểm và hình thức đầu tư Theo Nguyễn Đăng Tuệ và Nguyễn Thị Vũ Khuyên trong Giáo trình bảo hiểm của Nhà xuất bản Bách khoa năm 2019, đặc điểm kinh doanh của sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư cũng được trình bày một cách sơ lược, giúp làm rõ các nét đặc trưng nổi bật của loại hình bảo hiểm này.
Hà Nội hay Phạm Thị Định và Nguyễn Văn Định (2015) trong Giáo trình kinh tế bảo hiểm đã trình bày nguyên tắc bảo hiểm và khả năng cạnh tranh của sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư, đồng thời về quy định pháp luật thì Bùi Thị Hằng Nga (2015) trong Pháp luật kinh doanh bảo hiểm cũng đề cập sơ lược về lĩnh vực này Tuy nhiên, các công trình chủ yếu mới chỉ giới thiệu khái quát về bảo hiểm liên kết đầu tư, do đó, nhu cầu nghiên cứu sâu hơn về quy định pháp luật liên quan đến nghiệp vụ này là rất cấp thiết để làm rõ những quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng trong hoạt động bảo hiểm liên kết đầu tư.
2.2 Nh ữ ng n ộ i dung nghiên c ứu đượ c lu ận văn kế th ừ a, phát tri ể n
Nghiên cứu này nhằm xây dựng cơ sở vững chắc cho quá trình phân tích, luận văn đã tham khảo và kế thừa các nội dung quan trọng từ các công trình nghiên cứu trước đó Việc phát triển các nội dung này giúp mở rộng kiến thức và nâng cao giá trị của nghiên cứu, đồng thời đảm bảo tính logic và thống nhất trong quá trình phân tích vấn đề Các tài liệu đã được xem xét nhằm đảm bảo độ chính xác, tính khách quan và phù hợp với các chuẩn mực nghiên cứu, giúp định hướng cho các phần tiếp theo của luận văn một cách rõ ràng và chuyên nghiệp.
- Một số nội dung, đặc điểm cơ bản của bảo hiểm liên kết đầu tư so với các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ khác
Các quy định pháp luật liên quan đến bảo hiểm liên kết đầu tư đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ Hiện nay, các công ty bảo hiểm đang tích cực triển khai và mở rộng sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng Việc tuân thủ các quy định pháp luật giúp đảm bảo tính minh bạch, an toàn và hiệu quả trong hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm liên kết đầu tư Các chính sách pháp luật mới nhất hỗ trợ thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trường bảo hiểm nhân thọ liên kết đầu tư tại Việt Nam.
2.3 Nh ữ ng n ội dung đượ c lu ận văn tiế p t ụ c nghiên c ứ u
Thông qua việc tiếp thu và kế thừa các nội dung liên quan đến bảo hiểm liên kết đầu tư từ các công trình nghiên cứu trước đó cùng các nghiên cứu liên quan, luận văn đã mở rộng và làm rõ nhiều nội dung còn đang bỏ ngỏ trong các nghiên cứu này Các nghiên cứu này đã giúp xác định các yếu tố quan trọng của bảo hiểm liên kết đầu tư, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của loại hình bảo hiểm này, đồng thời góp phần làm sâu sắc thêm kiến thức về các đặc điểm và xu hướng phát triển của bảo hiểm liên kết đầu tư trong bối cảnh thị trường hiện nay.
Bài viết trình bày chi tiết về lịch sử phát triển của bảo hiểm liên kết đầu tư trên thế giới và tại Việt Nam, dựa trên các nội dung nghiên cứu về các dự án bảo hiểm liên kết đầu tư Ngoài ra, luận văn cũng phân tích đặc điểm, tính chất của loại hình bảo hiểm này và đưa ra định nghĩa rõ ràng về bảo hiểm liên kết đầu tư để làm rõ khái niệm trong lĩnh vực bảo hiểm tài chính.
Thứ hai, quy định pháp luật liên quan đến bảo hiểm liên kết đầu tư đã được trình bày rõ trong luận văn, phân tích thực tiễn pháp luật hiện hành dựa trên các quy định trước đó để làm rõ các nội dung pháp lý của loại hình bảo hiểm này Bài viết cũng đề xuất các nội dung cần hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả và khả năng áp dụng của các quy định pháp luật liên quan đến bảo hiểm liên kết đầu tư.
Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Dựa trên phân tích các quy định pháp luật hiện hành về nghiệp vụ bảo hiểm liên kết đầu tư, bài viết đưa ra những đánh giá về mức độ áp dụng các quy định này trong thực tiễn Các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm liên kết đầu tư phù hợp với xu hướng phát triển mới của ngành bảo hiểm nhân thọ, nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ quyền lợi của khách hàng Việc này giúp doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ thích nghi với những thay đổi của thị trường và thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành.
Từ mục đích nghiên cứu đã được xác định cụ thể, các vấn đề đặt ra đối với nhiệm vụ nghiên cứu đề tài là:
- Hệ thống cơ sở lý luận và quy định pháp luật về bảo hiểm liên kết đầu tư của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
Dưới góc độ thực tiễn, việc áp dụng các quy định pháp luật hiện hành về bảo hiểm liên kết đầu tư cần được đánh giá kỹ lưỡng để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả Việc nhận định chính xác về thực trạng thực thi giúp đưa ra lập luận rõ ràng và mạnh mẽ hơn cho các đề xuất điều chỉnh phù hợp Các quy định pháp luật liên quan cần được cập nhật, sửa đổi nhằm phù hợp với diễn biến của thị trường và nhu cầu của người tiêu dùng, đảm bảo quyền lợi của khách hàng và sự phát triển bền vững của ngành bảo hiểm liên kết đầu tư Đánh giá thực tế giúp xác định những khuyết điểm cần khắc phục, từ đó xây dựng các chính sách điều chỉnh phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng cường sự minh bạch trong lĩnh vực này.
Trong bài viết, chúng tôi đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành nhằm khắc phục những bất cập còn tồn tại, đồng thời bổ sung các nội dung mới phù hợp với thực tiễn và xu hướng phát triển của thị trường bảo hiểm liên kết đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ Việc cập nhật các quy định này giúp thúc đẩy sự minh bạch, nâng cao hiệu quả hoạt động và đảm bảo quyền lợi của khách hàng trong lĩnh vực bảo hiểm liên kết đầu tư Đồng thời, các đề xuất còn hướng đến phù hợp với diễn biến mới của thị trường bảo hiểm, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành bảo hiểm nhân thọ.
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Phân tích cơ sở lý luận của đề tài dựa trên phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của học thuyết Mác – Lênin để đảm bảo tính khoa học và toàn diện trong nghiên cứu Các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về hoàn thiện quy định pháp luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ được tích hợp nhằm đưa ra những đề xuất phù hợp với thực tiễn và yêu cầu phát triển bền vững của ngành Việc nghiên cứu này hướng đến mục tiêu nâng cao hiệu quả pháp lý trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, phù hợp với các chính sách lớn của Đảng và Nhà nước.
5.2 Phương pháp nghiên cứ u Để giải quyết quyết các vấn đề đặt ra, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
Phương pháp phân tích – tổng hợp giúp phân tích các quy định pháp luật chính xác, từ đó xác định những hạn chế, vấn đề tồn tại Phương pháp này còn đề xuất các điểm mới cần điều chỉnh để phù hợp hơn với thực tiễn, góp phần đề xuất các nội dung cần hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả hệ thống pháp luật.
Phương pháp lịch sử tập trung vào việc phân tích các quy định pháp luật của Việt Nam qua các giai đoạn khác nhau, từ trước khi Luật kinh doanh bảo hiểm được ban hành đến hiện tại Phương pháp này giúp nhận diện những chuyển biến về tư duy pháp lý theo từng thời kỳ, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp để thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành bảo hiểm Việt Nam Việc nghiên cứu lịch sử pháp luật là công cụ quan trọng để hiểu rõ hơn về quá trình hình thành và điều chỉnh các quy định pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển thị trường bảo hiểm thời kỳ hội nhập.
Phương pháp thống kê dựa trên việc sử dụng các số liệu công bố từ các cơ quan, tổ chức để xác định rõ các nhiệm vụ nghiên cứu cần thực hiện, qua đó củng cố nội dung đề xuất và định hướng hoàn thiện quy định pháp luật liên quan.
Đóng góp của đề tài
Dựa trên quá trình nghiên cứu và tham khảo các công trình liên quan về bảo hiểm liên kết đầu tư, luận văn đã định nghĩa rõ ràng về loại hình bảo hiểm này, làm nền tảng cho việc phân tích các đặc điểm và tính chất của nó Bài viết mong muốn góp phần vào kho tàng công trình nghiên cứu về pháp luật bảo hiểm liên kết đầu tư, một lĩnh vực còn ít có các công trình chuyên sâu Thông qua đó, luận văn hy vọng trở thành tài liệu tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu pháp luật liên quan đến bảo hiểm liên kết đầu tư và pháp luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ nói chung.
6.2 V ề m ặ t hoàn thi ện quy đị nh pháp lu ậ t
Hệ thống pháp luật liên quan đến bảo hiểm liên kết đầu tư đã được nghiên cứu, phân tích và trình bày các dẫn chứng cụ thể nhằm làm rõ các quy định pháp luật hiện hành Nội dung này có thể trở thành nguồn tài liệu tham khảo quan trọng cho việc nghiên cứu tổng quan về sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư Các phân tích thực tiễn áp dụng quy định pháp luật, cùng với đề xuất các nội dung hoàn thiện pháp luật, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nghiệp vụ bảo hiểm này.
Luận văn không chỉ trình bày nội dung nghiên cứu học thuật mà còn tập trung vào quá trình hình thành, phát triển và đặc điểm của bảo hiểm liên kết đầu tư, giúp các doanh nghiệp bảo hiểm, người mua bảo hiểm và các đối tượng liên quan hiểu rõ hơn về sản phẩm này cùng các quy định pháp luật điều chỉnh Nội dung này nhằm phục vụ nhu cầu và hoạt động của các bên khi triển khai và ký kết hợp đồng bảo hiểm liên kết đầu tư, hướng tới đạt được mục tiêu tối đa của từng bên Đồng thời, đề tài có tính mới, thể hiện sự nghiêm túc trong tiếp thu, kế thừa và phát triển các kết quả nghiên cứu liên quan, trình bày toàn diện và chi tiết về lý luận, thực tiễn và quy định pháp luật về bảo hiểm liên kết đầu tư Ngoài ra, luận văn còn đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, góp phần thúc đẩy sự phát triển của loại hình bảo hiểm này.
Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần như danh mục từ viết tắt, mục lục, phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài luận văn được chia thành hai chương chính, trong đó chương đầu tiên trình bày các nội dung liên quan đến tổng quan đề tài, còn chương thứ hai đi sâu vào phân tích và đánh giá các phương pháp nghiên cứu phù hợp, nhằm mang lại cái nhìn toàn diện và rõ ràng về đề tài luận văn.
Chương 1: Khái quát chung về bảo hiểm liên kết đầu tư của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
Chương 2: Thực tiễn quy định pháp luật về bảo hiểm liên kết đầu tư của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ.
KHÁI QUÁT CHUNG V Ề B Ả O HI Ể M LIÊN K ẾT ĐẦU TƯ CỦ A
Khái quát chung về bảo hiểm liên kết đầu tư
1.1.1 Sơ lượ c quá trình hình thành và phát tri ể n b ả o hi ể m liên k ết đầu tư
Sự ra đời của bảo hiểm nhân thọ (BHNT) bắt nguồn từ nhu cầu của cuộc sống con người để đảm bảo tài chính cho chính họ trong mọi giai đoạn của cuộc đời, kể cả khi về già hoặc qua đời BHNT là cam kết của công ty bảo hiểm cung cấp khoản tiền trong tương lai khi xảy ra các rủi ro hoặc sự kiện được bảo hiểm, và người tham gia phải đóng phí đúng hạn theo thỏa thuận Theo giáo trình của Đặng Văn Dân, bảo hiểm nhân thọ là sự cam kết giữa người bảo hiểm và người tham gia, trong đó người bảo hiểm sẽ trả một số tiền nhất định khi xảy ra các sự kiện đã định trước như người được bảo hiểm chết hoặc sống đến một thời điểm nhất định, còn người tham gia cần đóng phí đầy đủ và đúng hạn Nói cách khác, BHNT là hình thức bảo hiểm các rủi ro liên quan đến sinh mạng, cuộc sống và tuổi thọ của con người.
Bảo hiểm nhân thọ, theo từ điển thuật ngữ bảo hiểm của Harvey W Rubin, là hình thức bảo vệ trong trường hợp tử vong của người được bảo hiểm bằng cách trả tiền cho người thụ hưởng, thường là thành viên gia đình, doanh nghiệp hoặc tổ chức Số tiền bảo hiểm, sau khi trừ đi các khoản vay chưa trả và lãi vay theo hợp đồng, sẽ được thanh toán cho người thụ hưởng dưới dạng khoản tiền lớn hoặc các khoản trợ cấp khác Ngoài ra, bảo hiểm nhân thọ còn cung cấp các khoản trợ cấp khi còn sống dưới hình thức giá trị giải ước hoặc trợ cấp thu nhập Về khía cạnh pháp lý, theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm áp dụng trong trường hợp người được bảo hiểm còn sống hoặc đã qua đời, nhằm đảm bảo quyền lợi tài chính cho người thân hoặc các bên liên quan.
1 Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM (2018), Giáo trình Bảo hiểm, Đặng Văn Dân, NXB Tài chính, trang 70
2 Harvey W Rubin (2000), Dictionary of Insurance Terms, Barron Publishing, page 280
Theo khoản 12 Điều 3 của Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09/12/2000, khái niệm về bảo hiểm nhân thọ (BHNT) có vận dụng nhiều quan điểm định nghĩa khác nhau, tuy nhiên, điểm chung vẫn là nhấn mạnh vào bản chất chính yếu của BHNT liên quan đến sinh mạng và tuổi thọ của con người.
Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đầu tiên trên thế giới được thành lập vào ngày 18/6/1583 tại London, với loại hợp đồng tử kỳ có thời hạn 12 tháng, dành cho ông William Gybbons và có giá trị bảo hiểm 400 bảng Anh Hợp đồng chỉ gồm một trang giấy ghi các thông tin cơ bản về người được bảo hiểm, người thụ hưởng, thời hạn, số tiền bảo hiểm, phí bảo hiểm và ký xác nhận của 16 nhà bảo hiểm cá nhân, cùng một lời cầu nguyện cho sức khỏe và sự sống lâu của ông Gybbons Trải qua thời gian phát triển, ngành bảo hiểm nhân thọ đã đa dạng hóa các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của khách hàng, từ các sản phẩm truyền thống như sinh kỳ, tử kỳ đến các sản phẩm cao cấp hơn như bảo hiểm liên kết đầu tư (BHLKĐT) Những sản phẩm này không chỉ đảm bảo an toàn tài chính cho cá nhân mà còn góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và thị trường chứng khoán, nhờ vào đặc điểm riêng biệt và khả năng tạo lợi ích đa dạng của chúng.
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, mang lại thành tựu kinh tế – xã hội to lớn Bảo hiểm đã khẳng định vai trò tích cực trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và cuộc sống hàng ngày của người dân, đồng thời trở thành ngành nghề tiềm năng thu hút nhiều lao động Pháp lý cho ngành bảo hiểm nhân thọ (BHNT) bắt đầu được xác lập từ Nghị định 100/CP ngày 18/12/1993, và sau đó, Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 281TC/TCNH cho phép Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) thí điểm kinh doanh BHNT trong giai đoạn 1996-2001 Luật kinh doanh bảo hiểm ban hành ngày 09/12/2000 và có hiệu lực từ ngày 01/4/2001 tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho sự phát triển ngành, thúc đẩy cạnh tranh và hợp tác nhằm cung cấp các sản phẩm phù hợp và lợi ích cao nhất cho người tham gia bảo hiểm Đến cuối năm 2006, các sản phẩm bảo hiểm liên quan đến đầu tư (BHLKĐT) bắt đầu được giới thiệu và sau đó, theo Luật sửa đổi bổ sung ngày 24/11/2010, nghiệp vụ này mới chính thức được quy định rõ hơn.
Các sản phẩm BHLKĐT (Bảo hiểm liên kết đầu tư) đã tồn tại trên thế giới hơn 60 năm và được gọi là “Investment-Linked Plan” (ILP) Những sản phẩm này tách biệt hoàn toàn phần phí bảo hiểm thành hai phần: phần bảo hiểm và phần đầu tư Phần đầu tư, chiếm tỷ trọng lớn trong phí, cho phép BMBH linh hoạt lựa chọn các kênh đầu tư như cổ phiếu, trái phiếu và tiền gửi ngân hàng nhằm tăng trưởng tài sản và mang lại lợi nhuận cho khách hàng Các sản phẩm này có thể là bảo hiểm liên kết chung hoặc liên kết đơn vị, trong đó phần đầu tư hưởng lợi từ kết quả đầu tư hoặc chịu rủi ro từ các quỹ liên kết do DNBH quản lý.
Kể từ khi ra đời năm 2006 tại Việt Nam, các sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư (BHLKĐT) đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ, thể hiện qua số hợp đồng bảo hiểm khai thác mới, số tiền đã chi trả bảo hiểm và doanh thu phí bảo hiểm liên tục tăng qua các năm Theo số liệu của Cục Quản lý, Giám sát Bảo hiểm, tính đến ngày 31/12/2019, tổng số tiền đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ vào nền kinh tế ước đạt 329.964 tỷ đồng, trong đó doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ mới đạt 107.793 tỷ đồng, tăng 25% so với cùng kỳ năm 2018 Doanh thu phí từ sản phẩm BHLKĐT chiếm tỷ trọng lớn nhất, đạt 56,54% tổng doanh thu phí bảo hiểm, góp phần bổ sung nguồn vốn đầu tư dài hạn và ổn định cho nền kinh tế Những số liệu này khẳng định vai trò và sức hút đáng kể của các sản phẩm BHLKĐT trên thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam.
1.1.2 Nghiệp vụ bảo hiểm liên kết đầu tư và sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư
Sản phẩm bảo hiểm và nghiệp vụ bảo hiểm thường được hiểu là tương tự nhau, nhưng xét về khía cạnh pháp luật và quản trị kinh doanh, chúng có đặc điểm và bản chất riêng biệt Hiểu rõ sự khác biệt này giúp các doanh nghiệp và khách hàng nắm bắt rõ hơn về lĩnh vực bảo hiểm Việc phân biệt chính xác giữa hai khái niệm này đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng chiến lược phát triển và tuân thủ quy định pháp luật.
1.1.2.1 Nghiệp vụ bảo hiểm liên kết đầu tư
Nghiệp vụ bảo hiểm là những nguyên lý cơ bản và nội dung do pháp luật cho phép để các doanh nghiệp bảo hiểm thiết kế các sản phẩm phù hợp nhằm chào bán cho khách hàng Hiện nay, pháp luật kinh doanh bảo hiểm chưa có định nghĩa chính thức về “nghiệp vụ bảo hiểm”, chỉ xác định các loại nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ (BHNT) được phép thực hiện, gồm bảy loại: bảo hiểm trọn đời, sinh kỳ, tử kỳ, hỗn hợp, trả tiền định kỳ, liên kết đầu tư và hưu trí Trong số các nghiệp vụ này, bảo hiểm liên kết đầu tư (BHLKĐT) chưa được định nghĩa rõ trong các văn bản pháp luật, nhưng dựa trên đặc điểm pháp lý, BHLKĐT có thể được hiểu là nghiệp vụ trong đó bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm thỏa thuận về quyền lợi bảo hiểm rủi ro và quyền lợi đầu tư trong hợp đồng bảo hiểm.
Các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ (BHNT) nói chung và bảo hiểm liên kết đầu tư (BHLKĐT) nói riêng đều cần được Bộ Tài chính phê duyệt và đề cập rõ trong giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm Trong quá trình triển khai các nghiệp vụ đã được chấp thuận, doanh nghiệp bảo hiểm phải trích lập dự phòng riêng cho từng nghiệp vụ nhằm đảm bảo khả năng thanh toán bồi thường trong các năm có khả năng xảy ra tổn thất lớn Đặc biệt, đối với BHLKĐT, doanh nghiệp còn phải trích lập dự phòng toán học và dự phòng đảm bảo lãi suất cam kết, nhằm thích ứng với biến động của thị trường đầu tư hoặc kết quả đầu tư từ nguồn để bảo vệ quyền lợi của khách hàng.
4 Cục quản lý, giám sát bảo hiểm (2020), Bản tin thị trường bảo hiểm toàn cầu, số 11+12+1, trang 8
Điều 7 Khoản 1 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 quy định về việc phí bảo hiểm thấp hơn lãi suất cam kết nhằm đảm bảo quyền lợi của khách hàng trong hợp đồng bảo hiểm liên kết chung Chính sách này giúp duy trì lãi suất cam kết trong hợp đồng bảo hiểm (HĐBH) với BMBH, đảm bảo sự ổn định và an toàn tài chính cho người tham gia bảo hiểm Thông qua việc điều chỉnh phí bảo hiểm phù hợp, khách hàng có thể yên tâm hơn về quyền lợi và lợi ích lâu dài từ hợp đồng bảo hiểm liên kết chung.
1.1.2.2 Sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư
Dựa trên nghiệp vụ BHLKĐT, DNBH nhân thọ thiết kế các sản phẩm cụ thể mang giá trị thương mại để chào bán cho BMBH, và các sản phẩm này phải được Bộ Tài chính phê duyệt trước khi triển khai Trong góc độ hàng hóa dịch vụ, sản phẩm bảo hiểm là cam kết của DNBH đối với BMBH về việc bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm khi xảy ra các sự kiện được bảo hiểm đã thỏa thuận Khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, BMBH nộp phí bảo hiểm và nhận giấy chứng nhận bảo hiểm xác nhận quyền lợi, đồng thời DNBH cam kết bồi thường khi có sự kiện bảo hiểm Trong quản trị kinh doanh bảo hiểm, sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm riêng biệt mà DNBH thiết kế và chào bán để thu lợi nhuận, phù hợp với nhu cầu, chiến lược và thực tế thị trường, chứ không chỉ đơn thuần là nhóm nghiệp vụ bảo hiểm được cơ quan nhà nước phê duyệt Hiện nay, DNBH nhân thọ linh hoạt trong việc thiết kế các sản phẩm BHLKĐT, kết hợp đặc tính của các nghiệp vụ BHNT khác để đáp ứng đa dạng nhu cầu của khách hàng.
Sản phẩm liên kết đầu tư trọn đời là sự kết hợp giữa bảo hiểm trọn đời và đầu tư, mang lại sự bảo vệ cao khi bảo hiểm sẽ chi trả số tiền khi người được bảo hiểm qua đời bất kỳ lúc nào trong suốt đời họ Đây là loại hình bảo hiểm nhân thọ dài hạn nhằm đảm bảo an toàn tài chính cho người thụ hưởng, đồng thời tích lũy giá trị tiền mặt thường sau hai hoặc ba năm đóng phí Việc kết hợp yếu tố đầu tư giúp người tham gia không chỉ được bảo vệ cao mà còn có cơ hội sinh lợi, đảm bảo lợi ích tài chính lâu dài.
Điều 18, Khoản 3.5 của Thông tư 50/2017/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 73/2016/NĐ-CP, về quy định chi tiết thi hành Luật kinh doanh bảo hiểm và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm, đảm bảo các quy trình và điều kiện phù hợp để thực hiện đúng các quy định pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm.
Khoản 3 Điều 39 của Nghị định 73/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 quy định chi tiết về việc thi hành Luật kinh doanh bảo hiểm và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật này Nghị định hướng dẫn các doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện các quy định pháp luật về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong hoạt động Điều này giúp tăng cường quản lý nhà nước và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong lĩnh vực bảo hiểm Các quy định cụ thể của khoản 3 nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành bảo hiểm tại Việt Nam.
8 Khoản 16 Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000
Các nghiệp vụ bảo hiểm liên kết đầu tư
Bảo hiểm liên kết đầu tư (BHLKĐT) là một trong bảy nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ (BHNT) quan trọng trong ngành bảo hiểm Theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, BHLKĐT được phân chia thành hai loại chính: bảo hiểm liên kết đơn vị và bảo hiểm liên kết chung, phù hợp với thông lệ phổ biến trong ngành.
9 Khoản 15 Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000
10 Khoản 17 Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000
11 Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt, Danh mục sản phẩm, https://www.baovietnhantho.com.vn/san-pham#gref, ngày truy cập 31/5/2020
12 Công ty TNHH BHNT Prudential Việt Nam, Danh mục sản phẩm, https://www.prudential.com.vn/vi/our- products/, ngày truy cập 31/5/2020
Manulife Việt Nam cung cấp đa dạng sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị phù hợp với nhiều nhu cầu tài chính của khách hàng Sản phẩm bảo hiểm của công ty tại https://www.manulife.com.vn/vi/san-pham-bao-hiem.html đã được truy cập vào ngày 31/5/2020, thể hiện sự uy tín và đa dạng trong danh mục sản phẩm Tuy nhiên, người tiêu dùng cần phân biệt rõ giữa bảo hiểm liên kết đơn vị và bảo hiểm liên kết chung, vì đây là hai dòng sản phẩm có những điểm khác biệt nhất định nhằm phù hợp từng mục tiêu tài chính riêng biệt.
1.2.1 B ả o hi ể m liên k ế t chung (Universal life insurance)
Bảo hiểm liên kết chung là loại hình bảo hiểm nhân thọ có giá trị tích lũy linh hoạt về phí, số tiền bảo hiểm và quyền lợi tử vong, phù hợp với nhu cầu tài chính của nhiều khách hàng Sản phẩm này kết hợp quyền lợi bảo hiểm rủi ro và quyền lợi đầu tư, trong đó nguồn phí bảo hiểm được thành lập thành quỹ liên kết chung, tách riêng khỏi quỹ chủ sở hữu Quỹ liên kết chung không phân chia mà xác định chung cho tất cả các hợp đồng, giúp khách hàng hưởng lợi từ kết quả đầu tư của quỹ BMBH có quyền giao toàn quyền đầu tư cho DNBH và nhận báo cáo hàng năm về hiệu quả đầu tư, cũng như cam kết trả lãi định kỳ, giúp khách hàng dễ dàng đánh giá và điều chỉnh hợp đồng phù hợp với mục tiêu tài chính Sản phẩm này đặc biệt phù hợp với những người có khoản tiết kiệm vừa và nhỏ, mong muốn tăng lợi nhuận tài chính và đầu tư gián tiếp vào thị trường chứng khoán thông qua DNBH để đảm bảo sự an toàn và sinh lời hiệu quả.
HĐBH liên kết chung lần đầu tiên được giới thiệu tại Hoa Kỳ năm 1979 bởi Công ty Bảo hiểm Nhân thọ California (sau này đổi tên thành Hutton), đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ và phát triển mạnh mẽ trong những năm tiếp theo.
14 Ngô Trung Dũng (2014), Từ điển bảo hiểm, NXB Dân trí, trang 37
Trong những năm sau đó, các sản phẩm bảo hiểm liên kết chung (hay còn gọi là bảo hiểm linh hoạt) được phát triển dựa trên sự kết hợp giữa bảo hiểm tử kỳ và quỹ tích lũy, nhằm cung cấp giải pháp tài chính đa dạng và linh hoạt hơn cho khách hàng tại Việt Nam Trước khi xuất hiện các sản phẩm bảo hiểm liên kết chung, thị trường chủ yếu chỉ có các sản phẩm bảo hiểm tử kỳ, bảo hiểm tai nạn và bảo hiểm hỗn hợp với thời gian bảo hiểm ngắn và yếu tố tiết kiệm cao, dẫn đến mức phí cao Năm 2006, Công ty TNHH BHNT Chubb Việt Nam giới thiệu thị trường Việt Nam với sản phẩm “Kế hoạch tài chính trọn đời” – là những sản phẩm bảo hiểm liên kết chung đầu tiên Tiếp đó, ngày 23/11/2007, Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 96/2007/QĐ-BTC về quy chế triển khai bảo hiểm liên kết chung, chính thức luật hóa loại hình sản phẩm mới này tại Việt Nam Đến ngày 21/03/2016, Thông tư số 52/2016/TT-BTC được Bộ Tài chính ban hành để hướng dẫn triển khai bảo hiểm liên kết chung, thay thế cho quy chế cũ và duy trì hiệu lực cho đến nay.
1.2.2 B ả o hi ể m liên k ết đơn vị (Unit-linked life insurance)
Sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị được giới thiệu như một hình thức thu hút nhà đầu tư, vì liên quan trực tiếp và sâu rộng đến hoạt động đầu tư so với các loại bảo hiểm khác Các hợp đồng này liên kết giá trị của mỗi đơn vị bảo hiểm trong quỹ đầu tư đặc biệt do doanh nghiệp bảo hiểm quản lý hoặc thông qua các quỹ đầu tư tín thác, phù hợp với quy định pháp luật tại Việt Nam yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm ủy thác cho công ty quản lý quỹ có kinh nghiệm Một phần hoặc toàn bộ phí bảo hiểm được sử dụng để mua các đơn vị trong quỹ theo giá chưa tính phí, với giá trị hợp đồng có thể biến động theo giá trị các đơn vị đầu tư Bảo hiểm liên kết đơn vị lần đầu xuất hiện tại Hà Lan vào những năm 1950, tiếp theo là tại Hoa Kỳ (1954), Vương Quốc Anh (1957), và các thị trường châu Á như Singapore, Hồng Kông (1992) Hiện nay, sản phẩm này đã phát triển rất đa dạng và có nhiều tên gọi khác nhau trên thị trường toàn cầu.
16 Khoản 1 Điều 23 Thông tư 135/2012/TT-BTC
17 Thomas Moller and Mogens Steffensen (2007), Market-valuation methods in Life and Pension Insurance, Cambridge University Press, page 149.
BHNT liên kết đơn vị (Unit-linked life insurance) là hình thức bảo hiểm mà số tiền phí đóng bảo hiểm được liên kết trực tiếp với giá trị các đơn vị quỹ đầu tư Thuật ngữ "Unit" ý nghĩa là các đơn vị quỹ hoặc chứng chỉ quỹ, phản ánh các phần đầu tư có giá trị như nhau trong quỹ Phí đóng của người mua bảo hiểm sẽ hình thành các quỹ đầu tư và chia thành nhiều phần, mỗi phần gọi là một đơn vị Mô hình BHNT liên kết đơn vị phổ biến tại châu Âu và các quốc gia trong khu vực châu Á, mang lại khả năng tăng trưởng linh hoạt dựa trên hiệu quả của các quỹ đầu tư.
Bảo hiểm nhân thọ biến đổi (BHNT biến đổi) là hình thức bảo hiểm có tích lũy trong đó phí bảo hiểm đóng cố định nhưng quyền lợi bảo hiểm và quyền lợi bằng tiền có thể thay đổi dựa trên kết quả đầu tư qua tài khoản đầu tư do chủ hợp đồng lựa chọn Tài khoản đầu tư là một danh mục các khoản đầu tư đa dạng mà chủ hợp đồng phân bổ phí bảo hiểm đã đóng và giá trị tích lũy theo đơn bảo hiểm của mình.
“Variable” refers to the investment returns of a fund that fluctuate in line with the value of the underlying assets within the fund's portfolio This concept is similar to a unit-linked insurance policy The term “variable” is widely used in the United States to describe such investment products.
Quyền lợi bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm liên kết đơn vị bao gồm cả quyền lợi bảo hiểm rủi ro và quyền lợi đầu tư, nhằm đảm bảo sự đa dạng và phù hợp với nhu cầu của khách hàng Theo thỏa thuận giữa doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) và bên mua bảo hiểm (BMBH), DNBH có thể thiết kế thêm các quyền lợi bảo hiểm khác để nâng cao giá trị sản phẩm BMBH không được phép chỉ lựa chọn tham gia quyền lợi đầu tư mà không có quyền lợi bảo hiểm rủi ro, nhằm đảm bảo tính toàn diện và an toàn của hợp đồng bảo hiểm liên kết đơn vị.
Quyền lợi bảo hiểm rủi ro được thỏa thuận giữa DNBH và BMBH, nhưng phải đảm bảo quyền lợi tối thiểu cho NĐBH trong trường hợp tử vong theo quy định của pháp luật, nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp và an toàn cho người tham gia bảo hiểm.
BMBH có quyền lựa chọn đầu tư phí bảo hiểm vào các quỹ liên kết đơn vị do DNBH thành lập, giúp tối đa hóa lợi ích từ các khoản đầu tư này Họ sẽ được hưởng toàn bộ kết quả đầu tư từ các quỹ liên kết đơn vị đã chọn, đồng thời chịu mọi rủi ro liên quan đến các khoản đầu tư đó, phù hợp với phần phí bảo hiểm đã bỏ ra Quyền lợi này mang lại sự linh hoạt và tăng cường khả năng sinh lợi cho BMBH trên hoạt động đầu tư của mình.
Vào đầu năm 2007, Công ty TNHH BHNT Prudential Việt Nam đã tiên phong đưa ra dòng sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị tại thị trường Việt Nam, thể hiện cam kết mở rộng các sản phẩm tài chính phù hợp với nhu cầu khách hàng Đến ngày 14/12/2007, Prudential Việt Nam tiếp tục khẳng định vị thế của mình với các giải pháp bảo hiểm đa dạng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng trong nước.
Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 102/2007/QĐ-BTC về việc ban hành Quy chế triển khai sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị tại Việt Nam, tạo khuôn khổ pháp lý rõ ràng cho ngành bảo hiểm liên kết đơn vị Tính đến tháng 6 năm 2020, đã có 5 doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ triển khai dòng sản phẩm này, thể hiện sự mở rộng và phát triển của thị trường bảo hiểm liên kết đơn vị tại Việt Nam.
Sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị bao gồm các công ty như Prudential Việt Nam, Manylife, AIA, Dai-ichi và Generali, giúp người mua hiểu rõ về quỹ đầu tư, mức độ rủi ro, danh mục đầu tư và giá đơn vị của từng quỹ DNBH có nghĩa vụ công bố các thông tin này để khách hàng có thể đưa ra quyết định đầu tư chính xác, dựa trên phân tích và tư vấn chuyên môn nhằm đánh giá rủi ro danh mục Mặc dù loại hình bảo hiểm liên kết đơn vị phổ biến và được ưa chuộng trên thế giới, tại thị trường Việt Nam, do trình độ dân trí và khả năng tài chính chưa cao, các DNBH cần thời gian lâu hơn để giới thiệu, giải thích và cung cấp kiến thức đầu tư cho khách hàng.
Những đặc điểm cơ bản của bảo hiểm liên kết đầu tư
BHNT là lĩnh vực đặc biệt không chỉ nhằm mục đích kinh doanh sinh lợi mà còn đóng góp vào an sinh xã hội, giúp ổn định tài chính cho người tham gia và người thụ hưởng Các hợp đồng BH giữa DNBH và BMBH đảm bảo quyền lợi tài chính lâu dài, mang lại sự yên tâm trong cuộc sống cho người thân của BMBH Các sản phẩm BHNT thường có thời hạn dài, do đó, DNBH thiết kế các sản phẩm an toàn, vượt trội thu hút người dân tham gia Ngoài cam kết về giá trị bảo hiểm theo hợp đồng, DNBH còn cung cấp các sản phẩm bổ trợ như bảo hiểm sức khỏe để tối đa hóa quyền lợi khách hàng Người tham gia bảo hiểm mong muốn tăng số tiền bảo hiểm, đồng thời tìm kiếm lợi nhuận từ phí bảo hiểm đã đóng, dẫn đến việc DNBH phát triển các sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư (BHLKĐT) với lãi suất tối thiểu đảm bảo, giúp khách hàng vừa bảo vệ quyền lợi vừa tích lũy giá trị tài chính lâu dài.
19 Cục quản lý, giám sát bảo hiểm, Công bố sản phẩm bảo hiểm, https://www.mof.gov.vn/webcenter/portal/cqlgsbh/r/m/cbspbh?_afrLoop1631165436576365#!%40%40
Lựa chọn đầu tư phí bảo hiểm vào các quỹ liên kết đơn vị mang lại khả năng chịu rủi ro đầu tư từ chính các quỹ này, đặc biệt với bảo hiểm liên kết đơn vị Tuy có yếu tố đầu tư, sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị vẫn về cơ bản là sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, trong đó yếu tố bảo hiểm là nội dung chính, dù khách hàng có thể thỏa thuận gia tăng khoản phí bảo hiểm cho phần đầu tư BHLKĐT là một dạng nghiệp vụ của bảo hiểm nhân thọ, sở hữu những đặc điểm cơ bản của BHNT đồng thời còn có những điểm đặc trưng riêng biệt, tạo nên lợi thế vượt trội so với các sản phẩm bảo hiểm khác.
1.3.1 Cơ cấ u phí b ả o hi ể m và quy ề n l ợ i b ả o hi ểm đượ c tách b ạ ch gi ữ a ph ầ n b ả o hi ể m r ủ i ro và ph ần đầu tư
Trước năm 2006, thị trường bảo hiểm Việt Nam chủ yếu cung cấp các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ truyền thống, có quyền lợi đơn giản và ít đa dạng, gây khó thu hút người tham gia Các sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp thời đó thường cam kết lãi suất dựa trên kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, trong khi thời gian bảo hiểm ngắn và phí cao khiến nhiều người khó tham gia Năm 2006, Công ty TNHH BHNT Chubb Việt Nam ra mắt sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư (BHLKĐT) với nhiều ưu điểm vượt trội như số tiền bảo hiểm lớn, phí linh hoạt phù hợp khả năng tài chính và tính chất kết hợp giữa bảo hiểm và đầu tư BHLKĐT không chỉ là giải pháp tiết kiệm mà còn là công cụ tài chính bảo vệ người tham gia và gia đình khỏi rủi ro tài chính do sự cố bất ngờ Phần phí bảo hiểm trong sản phẩm này được tách biệt thành hai phần rõ ràng: bảo hiểm rủi ro và đầu tư, giúp người tham gia linh hoạt xác định mức đóng và số tiền bảo hiểm theo thỏa thuận, đồng thời có thể rút tiền nhiều lần và đóng thêm phí để tối đa hóa lợi nhuận đầu tư Tính linh hoạt và tiết kiệm của BHLKĐT đã góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ và tích lũy tài chính cho khách hàng.
DNBH có quyền cho phép BMBH điều chỉnh quyền lợi rủi ro, tỷ lệ phí bảo hiểm phân bổ vào quỹ liên kết, thời gian nộp phí và hoán đổi giá trị các quỹ đầu tư trong suốt hợp đồng theo nhu cầu của khách hàng Các hợp đồng bảo hiểm liên kết đơn vị là cam kết dài hạn, và một số DNBH cho phép BMBH tạm ngưng đóng phí trong vài năm đầu mà không bị phạt, tạo lợi thế so với các sản phẩm bảo hiểm khác Tuy nhiên, nếu tạm ngưng đóng phí kéo dài, giá trị tài khoản có thể không đủ để chi trả chi phí và dẫn đến mất hiệu lực hợp đồng Do đó, DNBH có trách nhiệm tư vấn rõ ràng, giúp BMBH hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ để bảo vệ lợi ích của mình khi lựa chọn sản phẩm này.
1.3.1.2 Tính chất tiết kiệm Đối với HĐBH của những sản phẩm BHNT truyền thống thông thường được thiết kế phí bảo hiểm theo đó BMBH sẽ đóng phí cố định, nếu xảy ra sự kiện bảo hiểm thì DNBH phải chi trả số tiền bảo hiểm như cam kết trong HĐBH Nếu hết hạn HĐBH, người được bảo hiểm không gặp rủi ro, sự cố, sự kiện được bảo hiểm nào thì DNBH sẽ được chi trả quyền lợi bảo hiểm như đã cam kết trong HĐBH với tổng số phí bảo hiểm mà BMBH đã đóng cộng thêm một phần bảo tức (nếu có) Bảo tức là khoản lãi được
Dưới quy định của Điều 18.5.3 Quy tắc và điều khoản sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị Investa của AIA Việt Nam, lợi nhuận của quỹ chủ hợp đồng được xác định hàng năm dựa trên lợi nhuận thực tế và phần đóng góp của hợp đồng vào quỹ, theo phương pháp được Bộ Tài chính phê duyệt Bảo tức của hợp đồng bảo hiểm thường hình thành từ lợi nhuận đầu tư thực tế cao hơn dự tính, tỷ lệ xảy ra rủi ro thấp hơn dự tính và chi phí thực tế thấp hơn dự tính, và được công bố hàng năm sau hai năm hợp đồng có hiệu lực DNBH phải trả bảo tức tối thiểu bằng lãi đã cam kết đối với các hợp đồng chia lãi, đặc biệt là hợp đồng có giá trị lớn và phí định kỳ cao, trong khi số phí bảo hiểm thu được hàng kỳ được đầu tư theo quy định đảm bảo an toàn và sinh lời Trong bảo hiểm liên kết chung, DNBH có trách nhiệm trả lãi suất đầu tư cam kết dù hiệu quả đầu tư thấp hơn, và có thể sử dụng thặng dư quỹ để phân chia cho chủ hợp đồng, đảm bảo tối thiểu 70% thặng dư của tổng lãi thu được hoặc chênh lệch giữa thực tế và giả định về tử vong, lãi suất, chi phí Ngoài ra, pháp luật buộc doanh nghiệp bảo hiểm trích lập dự phòng phù hợp để đảm bảo lãi suất cam kết trong trường hợp thị trường đầu tư biến động hoặc kết quả đầu tư thấp hơn kỳ vọng.
21 Ngô Trung Dũng (2014), Từ điển bảo hiểm, NXB Dân trí, trang 70
Theo khoản 2 Điều 76 Nghị định 73/2016/NĐ-CP, nghiệp vụ bảo hiểm yêu cầu thanh toán theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm BMBH sẽ tích lũy và tiết kiệm nhiều hơn từ phần đầu tư đã đóng cho DNBH, giúp tăng giá trị quỹ của khách hàng Tuy nhiên, nếu BMBH chấm dứt hợp đồng bảo hiểm trước hạn trong vòng hai năm đầu kể từ ngày ký kết, họ sẽ không được hưởng giá trị hoàn lại (bao gồm phí bảo hiểm và lãi suất đầu tư cam kết) Ngoài ra, trong trường hợp số năm đóng phí bảo hiểm ít hơn thời hạn hợp đồng, BMBH chỉ được nhận lại giá trị hoàn lại thấp hơn số phí đã đóng cộng lãi suất đầu tư đã cam kết, ảnh hưởng đến lợi ích của khách hàng.
1.3.2 Bên mua b ả o hi ểm đượ c quy ề n l ự a ch ọn đầu tư phí bả o hi ểm và đượ c hưở ng toàn b ộ k ế t qu ả đầu tư hoặ c ch ị u m ọ i r ủ i ro t ừ đầu tư
Dựa trên thông tin về sản phẩm, tình hình tài chính, lợi nhuận và chiến lược của các quỹ liên kết của DNBH, BMBH có thể lựa chọn các quỹ phù hợp với nhu cầu đầu tư để tham gia ký hợp đồng bảo hiểm và hưởng lợi nhuận từ kết quả đầu tư, đồng thời phải chấp nhận rủi ro tổn thất nếu khoản đầu tư không hiệu quả Việc được quyền lựa chọn đầu tư phí bảo hiểm giúp các sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư đáp ứng đồng thời yêu cầu bảo hiểm và nhu cầu đầu tư của BMBH, tạo lợi thế cạnh tranh so với các sản phẩm bảo hiểm truyền thống và các sản phẩm tài chính khác Đây là khác biệt quan trọng giữa kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ, khi hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ chủ yếu nhằm đáp ứng hoạt động kinh doanh chung chứ không phục vụ các cam kết đầu tư theo từng sản phẩm bảo hiểm cụ thể của BMBH Do đó, phạm vi đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ rộng hơn nhiều để đảm bảo thực hiện đúng các cam kết đầu tư với khách hàng.
Thông thường, DNBH thành lập các quỹ liên kết đầu tư khác nhau với mức độ rủi ro đa dạng, trong đó rủi ro càng cao thì lợi nhuận tiềm năng càng lớn Giá trị mà BMBH nhận được khi hợp đồng đáo hạn phụ thuộc vào giá trị đầu tư theo cam kết hoặc giá trị thực tế tại thời điểm đáo hạn Hiểu biết về các lựa chọn đầu tư sẽ giúp BMBH chọn quỹ phù hợp khi tham gia bảo hiểm liên kết đầu tư, mặc dù không yêu cầu phải là chuyên gia đầu tư.
Dựa trên nguồn phí bảo hiểm đã đóng, các chuyên gia đầu tư của DNBH hoặc công ty quản lý quỹ sẽ chịu trách nhiệm lựa chọn các tài sản đầu tư phù hợp nhằm tối đa hóa lợi nhuận cho người tham gia bảo hiểm, giúp BMBH yên tâm khi ủy thác đầu tư cho các chuyên gia hàng đầu về tài chính Sản phẩm BHLKĐT hiện thu hút cả người dân thường, nhà đầu tư cá nhân và lãnh đạo doanh nghiệp có nguồn tài chính tích lũy lớn, đặc biệt trong bối cảnh lãi suất tiền gửi ngân hàng giảm, do đó họ tìm kiếm các kênh đầu tư sinh lợi hấp dẫn hơn Mặc dù danh mục đầu tư của các quỹ liên kết do DNBH thành lập luôn hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và hạn chế rủi ro, thị trường đầu tư biến động liên tục có thể ảnh hưởng đến kết quả, gây rủi ro cho BMBH Vì vậy, khi tham gia BHLKĐT, BMBH cần lựa chọn hình thức đóng phí phù hợp với khả năng tài chính, đồng thời DNBH có trách nhiệm tư vấn, giải thích rõ đặc điểm sản phẩm để đảm bảo quyền lợi Các hình thức đóng phí có thể là định kỳ hoặc một lần, tùy vào thỏa thuận, nhằm bảo vệ an toàn tài chính cá nhân của BMBH Cuối cùng, các sản phẩm BHLKĐT có sự khác biệt cơ bản về cách thức hưởng lợi nhuận dựa trên kết quả đầu tư, phù hợp với điều kiện và mục tiêu của từng người tham gia.
1.3.2.1 Đối với bảo hiểm liên kết chung
BMBH sẽ nhận kết quả đầu tư từ quỹ liên kết chung của DNBH, đảm bảo không thấp hơn tỷ suất đầu tư tối thiểu đã cam kết trong hợp đồng bảo hiểm DNBH sử dụng một phần phí bảo hiểm BMBH chọn để đóng góp vào quỹ liên kết chung, lợi nhuận từ quỹ này sẽ cộng dồn vào giá trị tài khoản bảo hiểm của BMBH, tạo thành khoản tiết kiệm theo thời gian Khoản tiết kiệm này có thể rút ra hoặc chuyển sang phí bảo hiểm để tăng mức bảo hiểm Trong mỗi năm hợp đồng, tổng số phí bảo hiểm mà BMBH đóng thêm không vượt quá năm lần phí bảo hiểm của năm đầu hoặc không quá 50% phí bảo hiểm lần đầu đối với hợp đồng trả phí một lần DNBH chịu trách nhiệm về rủi ro đầu tư, không phải BMBH, và cần đảm bảo quỹ liên kết hoạt động phù hợp để thanh toán lãi suất đầu tư theo cam kết Theo quy định, DNBH phải duy trì khả năng thanh toán tối thiểu 100 tỷ đồng để đảm bảo quyền lợi của BMBH, với danh mục đầu tư chủ yếu gồm các kênh an toàn như trái phiếu Chính phủ và gửi tiền tại các tổ chức tín dụng, nhằm bảo vệ quyền lợi và đảm bảo an toàn tài chính của khách hàng.
1.3.2.2 Đối với bảo hiểm liên kết đơn vị
BMBH có quyền lựa chọn đầu tư phí bảo hiểm của mình để mua đơn vị của các quỹ liên kết do DNBH thành lập, chịu toàn bộ kết quả đầu tư và rủi ro từ các quỹ này phù hợp với phần phí đã đóng Trong mỗi năm hợp đồng, tổng số phí bảo hiểm đóng thêm không vượt quá 10 lần mức phí bảo hiểm năm đầu đối với hợp đồng đóng phí định kỳ hoặc không quá mức phí bảo hiểm lần đầu đối với hợp đồng đóng phí một lần DNBH phải duy trì khả năng thanh toán vượt mức tối thiểu 200 tỷ đồng để đảm bảo an toàn tài chính Phí bảo hiểm đóng thêm từ BMBH để đầu tư được chủ động quyết định dựa trên thỏa thuận, cho phép gia tăng phần đầu tư và linh hoạt rút tiền từ tài khoản mà không bị hạn chế Do tính phức tạp và rủi ro cao hơn so với các sản phẩm liên kết chung, pháp luật quy định các tiêu chuẩn khắt khe hơn về công bố thông tin DNBH có trách nhiệm công bố chính xác, đầy đủ, kịp thời các thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm phù hợp với nội dung đã được Bộ Tài chính phê duyệt, đồng thời công bố các tài liệu như quy tắc, điều khoản, giới thiệu sản phẩm, minh họa bán hàng, tình hình hoạt động của quỹ liên kết và giá đơn vị quỹ trên trang thông tin của doanh nghiệp.
24 Khoản 3 Điều 7 Thông tư 52/2016/TT-BTC
Theo Điều 8, Khoản 3 của Thông tư 135/2012/TT-BTC, các đơn vị liên kết cần thực hiện kiểm tra định kỳ hàng tuần để đảm bảo hoạt động đúng quy định Dòng sản phẩm này phù hợp với những người tham gia bảo hiểm mong muốn thử thách trong thị trường tài chính với các rủi ro đầu tư lớn, mang lại khả năng sinh lời cao hơn Việc được các chuyên gia đầu tư chuyên nghiệp quản lý bởi DNBH giúp giảm thiểu rủi ro và tối đa hóa lợi nhuận, đồng thời vẫn đảm bảo yếu tố bảo hiểm cho khách hàng.
1.3.3 Doanh nghi ệ p b ả o hi ểm được hưở ng các kho ả n phí do bên mua b ả o hi ể m tr ả theo th ỏ a thu ậ n t ạ i h ợp đồ ng b ả o hi ể m
Trước đây, phí bảo hiểm do BMBH đóng sẽ được DNBH đầu tư vào các kênh an toàn như trái phiếu Chính phủ hoặc gửi tiền tại các tổ chức tín dụng để hưởng mức lãi suất cố định, đảm bảo cam kết thu nhập tối thiểu và khả năng thanh khoản trong trường hợp xảy ra sự kiện bảo hiểm hoặc bồi thường Đối với các sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư, phí bảo hiểm sẽ được đầu tư vào các kênh có lợi nhuận cao hơn nhưng rủi ro cũng lớn hơn (ví dụ như đầu tư vào cổ phiếu), và BMBH sẽ nhận được lợi nhuận dựa trên kết quả hoạt động của quỹ liên kết đầu tư theo tỷ lệ phần trăm dựa trên số tiền đã đóng, theo thỏa thuận với DNBH.
Do tính chất phức tạp về mặt kỹ thuật và các loại phí liên quan như phí bảo hiểm, phí quản lý, phí hủy bỏ hợp đồng như các sản phẩm bảo hiểm truyền thống, doanh nghiệp bảo hiểm khi triển khai các sản phẩm thuộc nghiệp vụ bảo hiểm liên kết đầu tư sẽ thu thêm các khoản phí đầu tư như phí ban đầu, phí quản lý quỹ, phí chuyển đổi quỹ liên kết đơn vị và các loại phí khác (nếu có) được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản Các khoản phí này giúp doanh nghiệp bảo hiểm quản lý hợp đồng bảo hiểm, hoạt động của các quỹ liên kết đầu tư và mang lại nguồn thu để duy trì hoạt động của các sản phẩm BHLKĐT.
1.3.4 M ố i liên h ệ ch ặ t ch ẽ gi ữ a s ả n ph ẩ m b ả o hi ể m liên k ết đầu tư vớ i th ị trườ ng ch ứ ng khoán
Các chủ thể tham gia bảo hiểm liên kết đầu tư
1.4.1 Doanh nghi ệ p b ả o hi ể m nhân th ọ
1.4.1.1 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
DNBH là doanh nghiệp hoạt động theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm nhằm kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm dưới các hình thức như công ty cổ phần bảo hiểm, công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm, hợp tác xã bảo hiểm, và tổ chức bảo hiểm tương hỗ Là doanh nghiệp dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi, DNBH khác biệt ở chỗ chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm và thu phí bảo hiểm để trả tiền hoặc bồi thường khi sự kiện bảo hiểm xảy ra Hoạt động kinh doanh chính của DNBH nhân thọ bao gồm thiết kế và chào bán các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ thông qua ký kết hợp đồng bảo hiểm, với nguồn phí bảo hiểm là khoản thu chính từ khách hàng.
29 Điều 59 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000
Theo Khoản 1 Điều 3 của Luật Kinh doanh Bảo hiểm 2000, hoạt động đầu tư là chức năng cơ bản của DNBH nhằm hỗ trợ và tối đa hóa lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm Các sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư (BHLKĐT) hiện chỉ được bán bởi các doanh nghiệp bảo hiểm là Công ty cổ phần bảo hiểm và Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm Hiện tại, trên thị trường Việt Nam có 17 doanh nghiệp triển khai sản phẩm bảo hiểm liên kết chung và 5 doanh nghiệp triển khai sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị.
1.4.1.2 Đặc điểm hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
DNBH không chỉ kinh doanh các nghiệp vụ và sản phẩm bảo hiểm theo quy định của pháp luật mà còn thực hiện hoạt động đầu tư vốn từ nguồn phí bảo hiểm thu được nhằm gia tăng lợi nhuận và đảm bảo nguồn lực cho hệ thống hoạt động cũng như việc bồi thường cho khách hàng khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra Để đảm bảo khả năng thanh toán, pháp luật các quốc gia quy định chặt chẽ về các yêu cầu và điều kiện hoạt động đầu tư của DNBH, trong đó tại Việt Nam việc đầu tư vốn phải đảm bảo an toàn, hiệu quả và đáp ứng yêu cầu chi trả các cam kết bảo hiểm Nguồn vốn đầu tư của DNBH gồm vốn chủ sở hữu, vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ và các nguồn hợp pháp khác theo quy định pháp luật, trong đó vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ chủ yếu lấy từ phí bảo hiểm thu từ khách hàng Hoạt động đầu tư từ nguồn phí bảo hiểm sau khi trích lập dự phòng là một nghiệp vụ quan trọng, giúp tăng lợi nhuận cho DNBH thay vì chỉ dựa vào quản lý doanh thu phí bảo hiểm và chi trả bảo hiểm; đồng thời, lợi nhuận từ hoạt động đầu tư góp phần đảm bảo sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
31 Cục quản lý, giám sát bảo hiểm, Công bố sản phẩm bảo hiểm, https://www.mof.gov.vn/webcenter/portal/cqlgsbh/r/m/cbspbh?_afrLoop1631165436576365#!%40%40
%3F_afrLoop%3D101631165436576365%26_adf.ctrl-state%3D3ahtmfar4_61, ngày truy cập 25/6/2020
32 Khoản 1 Điều 98 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000
Theo Điều 59 Luật Kinh doanh Bảo hiểm 2000, các công ty bảo hiểm bắt buộc duy trì yếu tố tiết kiệm trong các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ (BHTN), nhằm bảo vệ người tham gia trước rủi ro lạm phát trong nền kinh tế khi tham gia hợp đồng dài hạn Nếu không có hoạt động cung ứng sản phẩm BHTN, ngành bảo hiểm sẽ không có nguồn vốn để đầu tư vào các lĩnh vực như trái phiếu Chính phủ, cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp, bất động sản, góp vốn vào doanh nghiệp khác, hoặc cho vay theo quy định của luật các tổ chức tín dụng, và gửi tiền tại các tổ chức tín dụng Để đảm bảo an toàn tài chính và khả năng chi trả, pháp luật quy định hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm phải tuân thủ các nguyên tắc chặt chẽ, phù hợp với đặc thù ngành nghề.
Tuân thủ quy định pháp luật và tự chịu trách nhiệm về hoạt động đầu tư là trách nhiệm của nhà đầu tư, đảm bảo tính an toàn, hiệu quả và thanh khoản trong các khoản đầu tư của mình Người đầu tư không được vay để thực hiện các khoản đầu tư trực tiếp hoặc ủy thác đầu tư vào chứng khoán, bất động sản hoặc góp vốn vào doanh nghiệp khác nhằm giảm thiểu rủi ro và tuân thủ quy định pháp luật.
Theo quy định của Luật doanh nghiệp, không được đầu tư trở lại dưới mọi hình thức cho các cổ đông hoặc người có liên quan góp vốn, trừ trường hợp tiền gửi tại các cổ đông là tổ chức tín dụng Điều này nhằm đảm bảo tính minh bạch và tránh xung đột lợi ích trong hoạt động doanh nghiệp Việc hạn chế đầu tư này giúp củng cố nguyên tắc tự chủ tài chính và phòng ngừa rủi ro trong quản lý tài chính của công ty.
Bạn không được đầu tư quá 30% nguồn vốn vào các công ty trong cùng một tập đoàn hoặc nhóm công ty có quan hệ sở hữu lẫn nhau Lưu ý rằng quy định này không áp dụng khi gửi tiền vào các tổ chức tín dụng hoặc khi đầu tư ra nước ngoài qua hình thức thành lập doanh nghiệp hoặc chi nhánh tại nước ngoài Điều này nhằm đảm bảo sự đa dạng hóa trong danh mục đầu tư và tránh tập trung quá mức vào một nhóm doanh nghiệp duy nhất.
Trong trường hợp ủy thác đầu tư, tổ chức nhận ủy thác phải được cơ quan có thẩm quyền cấp phép phù hợp với hoạt động nhận ủy thác đầu tư để đảm bảo quy trình hợp pháp và an toàn cho các bên liên quan.
Hoạt động đầu tư của DNBH mang lại hiệu quả cao góp phần đảm bảo lợi ích của BMBH, đặc biệt đối với các sản phẩm thuộc nghiệp vụ BHLKĐT, khi BMBH có quyền lựa chọn đầu tư phí bảo hiểm của mình Hiện nay, hoạt động đầu tư của DNBH trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ nói chung và nghiệp vụ BHLKĐT nói riêng có những đặc điểm nổi bật, phản ánh xu hướng phát triển và những thách thức của ngành bảo hiểm Việc đầu tư hiệu quả giúp tối ưu hóa lợi nhuận cho khách hàng và nâng cao vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp bảo hiểm trên thị trường.
Phạm Thị Hồng Đào nghiên cứu về pháp luật hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm, nhấn mạnh rằng danh mục đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ chủ yếu tập trung vào các tài sản đầu tư dài hạn, đồng thời đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật để nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư (Nguồn: Moj.gov.vn, truy cập ngày 26/6/2020)
Các yêu cầu đặc thù trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ đòi hỏi doanh nghiệp phải đảm bảo năng lực tài chính vững mạnh để thực hiện các cam kết với BMBH Với đặc điểm các hợp đồng bảo hiểm dài hạn, doanh nghiệp có thể sử dụng nguồn phí bảo hiểm để đầu tư vào các tài sản an toàn và có kỳ hạn lâu dài như trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp và tiền gửi ngân hàng, nhằm đảm bảo tính ổn định và hiệu quả tài chính Ngoài ra, doanh nghiệp còn đầu tư vào cổ phiếu, bất động sản – những tài sản có tính đảm bảo cao, trong đó trái phiếu được bảo lãnh khi phát hành và có mức lãi suất rõ ràng, giúp thuận lợi trong thiết kế sản phẩm phù hợp Tuy nhiên, pháp luật hiện hành hạn chế đầu tư trực tiếp của các quỹ liên kết đơn vị vào bất động sản, vàng, bạc, kim loại quý, đá quý theo quy định về quản lý đầu tư liên kết trong bảo hiểm liên kết đơn vị Kế hoạch và mục tiêu đầu tư phải gắn kết chặt chẽ với nghiệp vụ bảo hiểm để đảm bảo nguồn lực tài chính vững mạnh và phù hợp với chiến lược phát triển của doanh nghiệp.
Dựa trên việc thiết kế các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ (BHNT), DNBH sẽ có chiến lược và kế hoạch đầu tư phù hợp với đặc điểm của từng loại sản phẩm và đối tượng khách hàng mục tiêu Quyền lợi đầu tư của bảo hiểm bổ sung (BMBH) sẽ khác nhau tùy theo đặc điểm sản phẩm, dựa trên phân tích nhu cầu và khả năng tham gia bảo hiểm của khách hàng Đối với các sản phẩm bảo hiểm khác, DNBH đảm bảo tính thanh khoản, ổn định và dài hạn nhằm thực hiện nghĩa vụ thanh toán đúng hạn Trong khi đó, đối với các sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư (BHLKĐT), DNBH còn phải đảm bảo BMBH nhận được toàn bộ kết quả đầu tư từ quỹ liên kết không thấp hơn tỷ suất đầu tư tối thiểu đã cam kết trong hợp đồng bảo hiểm Vì vậy, nguyên tắc đảm bảo an toàn cho danh mục đầu tư và tính thanh khoản là yếu tố then chốt trong hoạt động đầu tư của DNBH, đặc biệt đối với các sản phẩm BHLKĐT, đòi hỏi sự tuân thủ nghiêm ngặt nhằm phòng tránh rủi ro gây ảnh hưởng đến khả năng thực hiện cam kết và tình hình tài chính của DNBH.
35 Điểm c Khoản 2 Điều 18 Thông tư 135/2012/TT-BTC
Theo Khoản 2 Điều 2 Thông tư 52/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính ban hành ngày 21/03/2016, hướng dẫn triển khai sản phẩm bảo hiểm liên kết chung, các doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) phải đảm bảo tính thanh khoản của danh mục đầu tư nhằm duy trì khả năng chi trả khi các sự kiện bảo hiểm xảy ra Vì sự kiện bảo hiểm là khách quan và không thể dự đoán trước, DNBH cần có khả năng thanh khoản cao để kịp thời thanh toán quyền lợi cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm Do đó, mục tiêu hoạt động đầu tư của DNBH trong nghiệp vụ bảo hiểm liên kết đa dạng thể hiện qua việc tập trung vào các tài sản có tính thanh khoản cao trên thị trường tài chính Đồng thời, các DNBH có thị phần lớn trong sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư thường hạn chế trực tiếp thực hiện các hoạt động đầu tư mang tính rủi ro cao nhằm tránh ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả và lợi nhuận của các quỹ liên kết.
BMBH (Bảo hiểm dành cho Người mua bảo hiểm) là tổ chức hoặc cá nhân ký hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm và tham gia đóng phí bảo hiểm Trong đó, BMBH có thể đồng thời là người đứng tên hợp đồng hoặc người thụ hưởng, thể hiện vai trò quan trọng trong quá trình bảo hiểm Hiện nay, có khoảng 38 tổ chức tham gia ký kết hợp đồng bảo hiểm nhằm mua bảo hiểm cho người lao động và các người lãnh đạo chủ chốt trong doanh nghiệp, nhằm giữ chân nhân viên và đảm bảo quyền lợi tối đa cho người lao động cùng gia đình của họ Tuy nhiên, tỷ trọng BMBH trong thị trường còn lớn, chủ yếu là các cá nhân tham gia, đặc biệt đối với Bảo hiểm doanh nghiệp lớn tại Việt Nam do đặc điểm phức tạp, tỷ lệ đóng phí cao và rủi ro đầu tư, khiến các tổ chức chưa thu hút được sự tham gia Về mặt pháp lý, BMBH là cá nhân theo quy định của pháp luật, cần đáp ứng các điều kiện nhất định để tham gia hợp pháp.
1.4.2.1 Bên mua bảo hiểm phải có năng lực hành vi dân sựđầy đủ
Hợp đồng bảo hiểm (HĐBH) là thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm (BMBH) và bên doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH), trong đó BMBH cam kết trả phí bảo hiểm và DNBH có trách nhiệm thanh toán tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường thiệt hại khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Theo quy định của pháp luật dân sự hiện hành, hợp đồng bảo hiểm đảm bảo quyền lợi của các bên và thực hiện nghĩa vụ bồi thường theo đúng quy định của pháp luật.