NHẬN THỨC CHUNG PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM CỦA
Đặc điểm kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Bến Tre liên quan đến phòng ngừa tội phạm
Vị trí địa lý của tỉnh Bến Tre nằm ở miền đồng bằng châu thổ phía Tây Nam Bộ, giáp biển phía Đông và các tỉnh lân cận như Vĩnh Long phía Tây, Trà Vinh phía Nam, và Tiền Giang phía Bắc Trước đây, địa hình bị chia cắt bởi sông ngòi khiến giao thông đi lại gặp nhiều khó khăn, nhưng sau khi các cầu Hàm Luông và Rạch Miễu được xây dựng, việc lưu thông nội tỉnh và liên tỉnh đã được cải thiện rõ rệt Tỉnh có diện tích tự nhiên khoảng 2.357,7 km², chiếm khoảng 5,84% tổng diện tích vùng đồng bằng sông Cửu Long, cùng với đó là chiều dài bờ biển trên.
Bến Tre cách Thành phố Hồ Chí Minh 86 km và cách Thành phố Cần Thơ 120 km, nằm trong khu vực có các tuyến quốc lộ quan trọng như quốc lộ số 57 và quốc lộ 60 Tỉnh có 9 đơn vị hành chính gồm Thành phố Bến Tre và 8 huyện: Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc, Chợ Lách, Thạnh Phú, Châu Thành, Giồng Trôm, Bình Đại, Ba Tri, với tổng cộng 164 xã phường, thị trấn Dân số toàn tỉnh khoảng 1.257.782 người, chủ yếu là người Kinh Mật độ dân cư trung bình là 533 người trên 1 km², trong đó khoảng 90% dân số sinh sống ở nông thôn, phần còn lại tập trung chủ yếu tại các trung tâm huyện lỵ và thành phố, nổi bật nhất là thành phố Bến Tre, thị trấn Ba Tri và Mỏ Cày Nam.
Năm 2012, nền kinh tế Bến Tre tiếp tục phát triển với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 6,61%, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Kim ngạch xuất khẩu đạt 430 triệu USD, trong đó các vùng kinh tế trọng điểm đã được quy hoạch và đầu tư phát triển bài bản Các thành phần kinh tế đa dạng đã và đang đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của địa phương Tuy nhiên, Bến Tre vẫn còn xuất phát điểm thấp, chịu ảnh hưởng chung của nền kinh tế toàn cầu và tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra chậm, ảnh hưởng đến quy mô và tốc độ tăng trưởng.
Ngày 02/9/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 34 về việc thành lập Thành phố Bến Tre trực thuộc tỉnh Bến Tre nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của tỉnh vẫn còn hạn chế do một số mặt hàng chủ đạo còn thấp và thu nhập bình quân đầu người năm 2012 của toàn tỉnh chỉ đạt 800 USD, thấp hơn so với mức trung bình cả nước.
Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội vẫn chưa đồng bộ, nhưng văn hóa - xã hội đã có sự cải thiện rõ rệt Công tác xóa đói giảm nghèo đạt kết quả tích cực, giảm tỷ lệ hộ nghèo còn 11,13% Ngành y tế và giáo dục tiếp tục nâng cao chất lượng, tỷ lệ bác sĩ trên vạn dân đạt 5,69 Ngoài ra, ngày càng nhiều cơ quan, đơn vị, xã phường được công nhận là đơn vị văn hóa, góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn diện của địa phương.
Bến Tre nổi bật với nhiều lễ hội truyền thống thể hiện đậm nét phong tục, tập quán địa phương như lễ hộ Nghinh ông, lễ hội cúng đình, lễ hội văn hóa Nguyễn Đình Chiểu, và lễ hội kỷ niệm cuộc đấu tranh cách mạng Bến Tre Đồng Khởi Những sự kiện này góp phần giữ gìn nét đẹp văn hóa đặc trưng của vùng đất này và thu hút du khách tham gia trải nghiệm.
Khái niệm, đặc điểm và nội dung, nguyên tắc của phòng ngừa tội phạm
Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường đã tác động sâu sắc đến đời sống văn hóa xã hội, trong đó đặc biệt là tình hình tội phạm ngày càng gia tăng Công dân, nhất là giới trẻ, dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tiêu cực như nhà hàng, vũ trường, quán bar, internet, thuốc lắc và văn hóa phẩm đồi trụy Khi ý thức pháp luật và trình độ văn hóa còn hạn chế, nhiều người dễ rơi vào con đường vi phạm pháp luật.
Với tình hình địa lý, dân cư, kinh tế và văn hóa – xã hội phát triển, Bến Tre có nhiều điều kiện thuận lợi để thúc đẩy sự phát triển trong tương lai Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế này, tình hình tội phạm gia tăng đang đặt ra thách thức lớn, đòi hỏi địa phương cần thiết lập các biện pháp phòng ngừa hiệu quả để đảm bảo an ninh, trật tự và sự phát triển bền vững của tỉnh.
1.2 Khái niệm, đặc điểm và nội dung, nguyên tắc của phòng ngừa tội phạm
Khái niệm phòng ngừa tội phạm
Những tư tưởng về quyền con người và dân chủ (PNTP) hình thành từ thời cổ đại Hy Lạp với các triết gia như Arixtôt và Platon đã đặt nền móng cho các quan điểm về tự do, công bằng và quyền của cá nhân Những ý tưởng này được các triết gia châu Âu thế kỷ XIII như Montesquieu, Beccaria, Rousseau kế thừa và phát triển, góp phần định hình hệ tư tưởng về quyền con người Ngoài ra, các nhà cách mạng dân chủ Nga như Radich Sep và Gic-xen cũng đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự hình thành các tư tưởng tiến bộ về quyền con người trong lịch sử.
C.Mác và Ph.Ănghen đã đề cập đến những phương hướng cơ bản trong đấu tranh phòng chống tội phạm thông qua hoạt động phòng ngừa tội phạm (PNTP) C.Mác nhấn mạnh rằng “Nhà làm luật thông thái luôn ưu tiên phòng ngừa tội phạm hơn là chỉ trừng trị hậu quả,” cho thấy vai trò quan trọng của các chính sách pháp luật nhằm ngăn chặn tội phạm ngay từ trước khi chúng xảy ra.
Tại Việt Nam, tư tưởng của C.Mác và Ph Ănghen đã được Hồ Chí Minh cùng Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị tiếp tục phát triển trong các văn kiện đại hội đảng, cương lĩnh xây dựng đất nước và pháp luật của nhà nước về phòng, chống tội phạm (PNTP) Các chính sách này nhấn mạnh việc chủ động phòng ngừa và đấu tranh hiệu quả chống các thế lực thù địch và tội phạm, đảm bảo an ninh quốc gia và trật tự xã hội Hiến pháp năm 1992 cũng xác định rõ tư tưởng phòng, chống tội phạm như một nhiệm vụ trọng yếu của hệ thống pháp luật Việt Nam.
Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân đều có trách nhiệm nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật Đồng thời, cần tích cực đấu tranh phòng, chống các tội phạm và vi phạm Hiến pháp, pháp luật để bảo vệ trật tự, công bằng xã hội.
Bộ Luật Hình sự 1999 xác định pháp luật hình sự là công cụ sắc bén để phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, góp phần bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam Nó thể hiện tinh thần chủ động trong công tác phòng ngừa và kiên quyết truy quét tội phạm thông qua các hình phạt nhằm răn đe, giáo dục, cảm hóa, cải tạo người phạm tội trở thành công dân lương thiện Ngoài ra, luật còn giúp nâng cao ý thức về pháp luật của người dân, thúc đẩy họ tích cực tham gia phòng ngừa và chống tội phạm, qua đó củng cố trật tự, an toàn xã hội và sự phát triển bền vững của đất nước.
3 C.Mác và Ph.Ănghen tuyển tập (1970),Nxb Sự thật, Hà Nội, tr.31
4 Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ hóa độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự Thật, Hà Nội, tr 17
6 Lời nói đầu, Bộ luật Hình sự năm 1999
Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định tại Điều 1 đã xác định rõ vai trò của luật trong việc bảo vệ đất nước và xã hội Cụ thể, luật này góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức Ngoài ra, nó còn đảm bảo trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa và góp phần giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật, nâng cao hiệu quả phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
Quan điểm chung của Đảng và Nhà nước ta là đấu tranh chống tội phạm thông qua nguyên tắc nhanh chóng phát hiện, trừng trị, và cải tạo người phạm tội để hình thành phản ứng tích cực của xã hội Hoạt động phòng ngừa tội phạm là nội dung quan trọng, chiếm vị trí đặc biệt trong lý luận và thực tiễn của các cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị xã hội Để đạt hiệu quả trong công tác phòng chống tội phạm, cần hiểu rõ bản chất của tội phạm và thống nhất trong nhận thức về “phòng ngừa tội phạm”.
Trước khi định nghĩa "phòng ngừa tội phạm" theo góc độ tội phạm học, cần làm rõ hai khái niệm quan trọng là "tội phạm" như là đối tượng cần được phòng ngừa và "tội phạm học" như hệ thống nghiên cứu bao gồm nhiều bộ phận khác nhau Lý luận về phòng ngừa tội phạm chính là một bộ phận cấu thành quan trọng trong hệ thống này, góp phần xây dựng các chiến lược phòng chống tội phạm hiệu quả.
Khái niệm “phòng ngừa” theo từ điển Tiếng Việt nghĩa là “phòng trước không cho cái xấu, cái không hay nào đó xảy ra” Theo Bộ luật Hình sự năm 1999, tội phạm được định nghĩa là hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự cố ý hoặc vô ý thực hiện, xâm phạm độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, cũng như các lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.
7 Điều 1, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003
8 Viện ngôn ngữ học (1995), Từ điển Tiếng Việt phổ thông, Nxb TP.HCM, tr 714
9 Điều 8, Bộ luật Hình sự năm 1999
Trên cơ sở định nghĩa về khái niệm “phòng ngừa” và “tội phạm” trong
Từ điển Tiếng Việt cũng như Bộ luật hình sự năm 1999, các nhà khoa học đã đưa ra một số khái niệm về “phòng ngừa tội phạm” như sau:
- Nhóm quan điểm cho rằng PNTP là hoạt động nhằm ngăn chặn không để tội phạm xảy ra
Theo Từ điển Luật học, Phòng Ngừa Tội phạm (PNTP) được hiểu là biện pháp ngăn chặn tội phạm và loại trừ nguyên nhân phát sinh tội phạm bằng các biện pháp phối hợp do cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội thực hiện PNTP đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì trật tự xã hội và đảm bảo an ninh, trật tự công cộng Các hoạt động này nhằm giảm thiểu nguy cơ phạm tội thông qua việc kiểm soát các yếu tố thúc đẩy tội phạm hình thành và phát triển.
Phòng chống tội phạm (PNTP) được giải thích là quá trình sử dụng các phương pháp, chiến thuật, biện pháp và phương tiện cần thiết, cùng sự tham gia của các lực lượng nhằm khắc phục mọi nguyên nhân, điều kiện tạo điều kiện phát sinh và phát triển tội phạm Theo các chuyên gia như PGS TS Nguyễn Chí Dũng, phòng ngừa chung gồm các biện pháp kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội và pháp luật nhằm loại bỏ các yếu tố hình thành nguyên nhân của tội phạm, trong khi phòng ngừa riêng là hoạt động nghiệp vụ của các cơ quan chuyên môn như công an, kiểm sát, tòa án nhằm vào các đối tượng cụ thể TS Trịnh Tiến Việt nhấn mạnh, PNTP là hoạt động của tất cả các cơ quan pháp luật, nhà nước, tổ chức xã hội và công dân, nhằm áp dụng đồng bộ các biện pháp nhằm loại bỏ nguyên nhân và điều kiện phạm tội, giảm thiểu các yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến phẩm chất cá nhân, tiến tới loại trừ tội phạm khỏi đời sống xã hội Trong khi đó, GS TS Nguyễn Ngọc Hòa cho rằng, PNTP là hoạt động của các cơ quan, tổ chức và công dân để thực hiện các biện pháp tác động trực tiếp vào các nhóm nguyên nhân của tội phạm nhằm kiểm soát, hạn chế và dần loại trừ các nguyên nhân này.
10 Từ điển Luật học (1999), Nxb Bách Khoa Hà Nội, Hà Nội,
Theo Nguyễn Chí Dũng (2004), tội phạm đang trở thành vấn đề nổi bật và cần thiết trong công cuộc phòng chống, đấu tranh tại Việt Nam hiện nay Công tác phòng chống tội phạm đòi hỏi các biện pháp hiệu quả và sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng chức năng nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến xã hội Tác giả nhấn mạnh rằng việc hiểu rõ các vấn đề về tội phạm sẽ góp phần xây dựng chiến lược phòng chống phù hợp và nâng cao hiệu quả của công tác này trong bối cảnh đất nước phát triển.
Theo Nguyễn Chí Dũng (2004), hiện nay tình hình tội phạm ở Việt Nam đang diễn biến phức tạp, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng để đấu tranh phòng chống hiệu quả Các vấn đề về tội phạm ngày càng đa dạng, gây khó khăn cho công tác phòng chống và đòi hỏi các biện pháp chiến lược phù hợp Công tác phòng chống tội phạm cần dựa trên nền tảng pháp luật vững chắc và sự tham gia của cộng đồng để nâng cao hiệu quả Việc tăng cường các biện pháp tuyên truyền, giáo dục về pháp luật sẽ góp phần hạn chế các hành vi phạm pháp và tạo môi trường an ninh, trật tự tốt hơn cho xã hội.
13 Trịnh Tiến Việt (2008), Khái niệm phòng ngừa tội phạm dưới góc độ tội phạm học, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội (24), tr.197
14 Nguyễn Ngọc Hòa (2007), Phòng ngừa tội phạm trong tội phạm học, Tạp chí luật học, (6), tr.31
Phòng ngừa tội phạm (PNTP) là hoạt động sử dụng các biện pháp nhất định để phòng tránh tội phạm xảy ra, nhằm giảm thiểu hoặc loại bỏ tội phạm khỏi đời sống xã hội PNTP còn nhằm xác định nguyên nhân của tội phạm để đề ra các biện pháp phòng ngừa phù hợp Theo phạm vi rộng, PNTP bao gồm các hoạt động tác động vào nguyên nhân và điều kiện phạm tội, cùng với hoạt động phát hiện, xử lý tội phạm Các biện pháp phòng ngừa được thực hiện thông qua hệ thống các phương pháp đa dạng, mỗi phương pháp phù hợp với chức năng và vai trò của tổ chức nhà nước và xã hội trong công tác phòng chống tội phạm.
Có ý kiến cho rằng việc áp dụng Phòng Ngừa Tội Phạm (PNTP) chỉ ngăn chặn tội phạm xảy ra là chưa đủ, vì nó mới chỉ bao gồm các hành động lý thuyết và chưa đề cập đến quá trình phát hiện, điều tra, xử lý các trường hợp vi phạm cụ thể PNTP không thể coi là giải pháp toàn diện nếu không tích hợp các hoạt động thực tiễn này, bởi chúng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của công tác phòng ngừa tội phạm.
- Nhóm các quan điểm cho rằng PNTP là việc đưa ra các giải pháp ngăn chặn, phòng ngừa và xử lý vi phạm và tội phạm
Đặc trưng phòng ngừa tội phạm của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước
1.3.1 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước
Năm 2006, Quốc hội Việt Nam ban hành Luật Trợ giúp pháp lý (ngày 29/6/2006), có hiệu lực từ ngày 1/1/2007, xác định chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Trợ giúp pháp lý của nhà nước trên phạm vi toàn quốc Chính phủ đã cụ thể hóa luật này bằng Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007, hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý Theo quy định tại Điều 7 của Nghị định, Trung tâm là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Tư pháp, chịu sự quản lý nhà nước của Sở Tư pháp và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cùng với sự quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Tư pháp.
Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được quy định tại Điều 8 của Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007, hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý.
Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật chuyên nghiệp, thực hiện cử người tham gia tố tụng và đại diện ngoài tố tụng để bảo vệ quyền lợi của khách hàng Ngoài ra, chúng tôi còn thực hiện các hình thức trợ giúp pháp lý khác phù hợp với từng lĩnh vực cụ thể của trợ giúp pháp lý (TGPL) Dịch vụ của chúng tôi nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý theo các lĩnh vực pháp luật đa dạng và phong phú.
Thực hiện hoạt động tuyên truyền pháp luật (TGPL) lưu động cùng các hoạt động TGPL khác nhằm nâng cao nhận thức pháp luật trong cộng đồng Người phụ trách chịu trách nhiệm phối hợp với các cơ quan, tổ chức và cá nhân để tổ chức và triển khai hiệu quả công tác truyền thông về pháp luật cho nhân dân Việc này giúp đảm bảo người dân nhận thức rõ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật và thúc đẩy an ninh trật tự xã hội.
Quản lý và hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng trợ giúp pháp lý (TGPL) cho chi nhánh đảm bảo sự cung cấp dịch vụ chất lượng Đồng thời, hướng dẫn hoạt động cho Câu lạc bộ TGPL và các hoạt động nghiệp vụ TGPL khác nhằm nâng cao hiệu quả và nâng cao nhận thức về quyền lợi pháp lý của cộng đồng.
- Quản lý, theo dõi, kiểm tra hoạt động TGPL của TGVPL, cộng tác viên và các cán bộ khác của Trung tâm và Chi nhánh theo thẩm quyền
Đề nghị các cơ quan, tổ chức hữu quan phối hợp cung cấp thông tin và tài liệu liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý để đảm bảo quá trình xác minh chính xác Đồng thời, cần thực hiện chế độ bồi dưỡng đối với cộng tác viên tham gia trợ giúp pháp lý, nâng cao năng lực và chất lượng dịch vụ Ngoài ra, việc phối hợp với các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý khác giúp xác minh vụ việc một cách toàn diện, đảm bảo quyền lợi của người dân được bảo vệ và hỗ trợ hiệu quả.
Giải quyết khiếu nại theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý và các pháp luật liên quan về khiếu nại, tố cáo là quá trình xác định và xử lý các yêu cầu phản hồi từ người dân hoặc tổ chức nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của họ Ngoài ra, việc giải quyết tranh chấp về trợ giúp pháp lý cũng được thực hiện theo thẩm quyền đã được quy định, nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan một cách công bằng và minh bạch.
Kiến nghị gửi cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến thi hành pháp luật, theo quy định tại Điều 41 Nghị định số 07/2007/NĐ-CP Việc này đảm bảo thực hiện đúng chính sách pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật Thông qua các kiến nghị này, các cơ quan chức năng có thể xem xét, điều chỉnh hoặc bổ sung các biện pháp phù hợp để thúc đẩy công tác thi hành pháp luật đạt hiệu quả cao hơn.
Chức năng cơ bản của Trung tâm TGPL nhà nước là thực hiện công tác TGPL cho các đối tượng, cụ thể là:
- Người thuộc chuẩn nghèo theo quy định của pháp luật
- Người hoạt động cách mạng trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng 8 năm 1945;
Các đối tượng được công nhận và hưởng chính sách bao gồm Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động, Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, Bệnh binh, Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học, Người hoạt động cách mạng và kháng chiến bị địch bắt tù đày, Người tham gia kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế, Người có công giúp đỡ cách mạng, cùng các thân nhân như cha mẹ, vợ chồng của liệt sĩ, con của liệt sĩ chưa đủ 18 tuổi và người nuôi dưỡng liệt sĩ, nhằm ghi nhận và tri ân những đóng góp và hy sinh của họ cho đất nước.
- Người từ đủ 60 tuổi trở lên sống độc thân hoặc không có nơi nương tựa
Người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng có thể gặp phải các dạng tật khác nhau, gây suy giảm khả năng hoạt động và gây khó khăn trong lao động, sinh hoạt, học tập Ngoài ra, còn có những trường hợp bị nhiễm chất độc hoá học, nhiễm HIV hoặc mắc các bệnh khác, khiến mất năng lực hành vi dân sự mà không có nơi nương tựa.
Trẻ em dưới 16 tuổi không nơi nương tựa và người dân tộc thiểu số thường xuyên sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật Ngoài ra, các đối tượng khác cũng được hỗ trợ pháp lý theo quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Trung tâm TGPL nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và giáo dục ý thức pháp luật cho công dân Các hoạt động của trung tâm giúp người dân và cán bộ công chức trung thành với tổ quốc, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân, nâng cao hiểu biết pháp luật và ý thức tôn trọng luật pháp Nhờ đó, trung tâm góp phần phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, đảm bảo công bằng xã hội, phòng ngừa tranh chấp và hạn chế vi phạm pháp luật.
1.3.2 Cơ sở pháp lý về trách nhiệm phòng ngừa tội phạm của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước Điều 12 Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và pháp luật Mọi hành động xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật” 17
Dựa trên Hiến pháp và Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009), các cơ quan như Công an, Kiểm sát, Tòa án, Thanh tra và các cơ quan hữu quan có trách nhiệm thi hành đầy đủ chức năng, nhiệm vụ trong đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, đồng thời hướng dẫn, giúp đỡ các tổ chức và công dân trong việc giám sát, giáo dục người phạm tội tại cộng đồng Các cơ quan, tổ chức cũng có nhiệm vụ giáo dục người thuộc quyền quản lý tăng cường ý thức pháp luật, tôn trọng quy tắc xã hội chủ nghĩa, và có biện pháp loại trừ kịp thời nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm trong nội bộ để đảm bảo an ninh trật tự.
Ngay trong các đạo luật cao nhất của nhà nước, như Hiến pháp và Bộ luật Hình sự năm 1999, đều xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân, gia đình và toàn xã hội trong việc đấu tranh chống tội phạm Đây là nhiệm vụ chung, không chỉ của riêng ai, nhằm xây dựng một môi trường an toàn, pháp luật được thực thi công bằng.