1- Hiện trạng nhân lực tham gia nghiên cứu của trường Đại học 2- Tình hình đăng ký, thực hiện và nghiệm thu công trình nghiên Cứu tại Trường Đại học KHXH & NV TP.HCM Trang 28 2.1- Việc
Trang 1ĐỖ VĂN THẮNG
BIỆN PHÁP ĐẢM BẢO THỰC HIỆN CHỨC NĂNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐẠI HỌC QUỐC
GIA TP HỒ CHÍ MINH
MÃ SỐ : 60.34.72
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS Vũ Cao Đàm
HÀ NỘI -2006
Trang 2Chúng tôi chân thành cám ơn:
- PGS,TS VŨ CAO ĐÀM đã tận tình hướng dẫn khoa học trong suốt quá trình chúng tôi thực hiện luận văn
- uý thầy cô Bộ môn Khoa học quản lý, Trường Đại học khoa học
xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy
và cung cấp những kiến thức sâu sắc
- Phòng Sau đại học Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội và Phòng Sau đại học Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn
Trang 3NCKH Nghiên cứu khoa học
Trang 4BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN Trang 5
5- Khái niệm về nhân lực nghiên cứu khoa học & công nghệ Trang 11
6- Khái niệm về tổ chức nghiên cứu khoa học & công nghệ Trang 12
II- VAI TRÒ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRONG CÁC
2- Vai trò nghiên cứu khoa học đối với người thầy trong các
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
I- SƠ LƯỢC VỀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHXH & NV TP.HCM Trang 21
2- Cơ cấu tổ chức của Trường Đại học KHXH & NV TP.HCM Trang 25
II- HIỆN TRẠNG VỀ THỰC HIỆN CÁC BIỆN PHÁP ĐẢM
Trang 51- Hiện trạng nhân lực tham gia nghiên cứu của trường Đại học
2- Tình hình đăng ký, thực hiện và nghiệm thu công trình nghiên
Cứu tại Trường Đại học KHXH & NV TP.HCM Trang 28
2.1- Việc đăng ký thực hiện công trình nghiên cứu các cấp,
2.2- Việc đăng ký tham gia viết các bài, báo cáo khoa học Trang 30
2.3- Việc đăng ký các công trình do các Trung tâm nghiên
3- Kết quả thực hiện công tác nghiên cứu khoa học của Trường
4- Những biện pháp đảm bảo chức năng nghiên cứu khoa học
I- NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC THỰC HIỆN
CÁC BIỆN PHÁP ĐẢM BẢO CHỨC NĂNG NGHIÊN CỨU
3- Những quan điểm trong việc đề ra các biện pháp đảm bảo
chức năng nghiên cứu khoa học của Trường Đại học
II- MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẢM BẢO CHỨC NĂNG
Trang 6NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC
2.2- Điều chỉnh mức chi và nội dung chi kinh phí cho các loại
3.1 Những biện pháp nhằm công nhận và bảo vệ quyền tác giả Trang 69
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1- Tên Luận văn nghiên cứu:
Biện pháp đảm bảo thực hiện chức năng nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố
Hồ Chí Minh
2- Lý do nghiên cứu:
2.1- Trường Đại học nói chung ( cán bộ giảng dạy nói riêng ) có hai chức năng chính là giảng dạy và nghiên cứu khoa học, hai chức này luôn hỗ trợ nhau để nâng cao chất lượng người thầy; nhưng hầu hết cán bộ giảng dạy của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh còn nghiêng về thực hiện chức năng giảng dạy và chưa thực hiện tốt chức năng nghiên cứu
2.2- Hiện nay Số lượng cán bộ giảng dạy của Trường Đại học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh tham gia nghiên cứu (có công trình khoa học, báo cáo khoa học từ cấp Trường trở lên chỉ chiếm dưới 45% )
2.3- Số cán bộ có công trình nghiên cứu thì thời gian tập trung cho nghiên cứu hầu hết ở mức dưới 30%
2.4 Các Trường Đại học nói chung và Trường Đại học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng có nguồn nhân lực khoa học & công nghệ lớn với chất lượng cao, nếu không đảm bảo thực hiện tốt chức năng nghiên cứu khoa học thì sẽ gây lãng phí rất lớn trong việc
sử dụng nguồn nhân lực khoa học & công nghệ
Chính vì những lý do trên, Chúng tôi đi vào nghiên cứu những biện pháp để đảm bảo chức năng nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
Trang 83- Lịch sử nghiên nghiên cứu:
Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập vào tháng 03 năm 1996 trên cơ sở tách ra từ Trường đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, thời gian hoạt động của Trường mới được
10 năm
Từ trước đến nay chưa có đề tài nghiên cứu khoa học nào của Trường, hoặc của các tổ chức, cá nhân bên ngoài tiến hành nghiên cứu về các biện pháp đảm bảo chức năng nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh
Chỉ có một số báo cáo tổng kết năm học hàng năm của Trường, một vài bài viết trên tập san khoa học của Trường xuất bản có đề cập đến một số biện pháp đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học của Trường, nhưng chưa đưa
ra được những luận cứ, luận chứng và các giải pháp cụ thể
4- Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu của Luận văn nhằm đưa ra những biện pháp đảm bảo thực hiện chức năng nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
5- Khách thể nghiên cứu:
Hoạt động nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
6- Phạm vi nghiên cứu:
6.1 Phạm vi nội dung nghiên cứu:
Các biện pháp đảm bảo thực hiện chức năng nghiên cứu khoa học của cán bộ giảng dạy trong Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
6.2 Phạm vi thời gian:
Trang 9Thời gian nghiên cứu từ tháng 01 năm 2001 đến tháng 12 năm 2005; vì Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.Hồ Chí Minh được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ từ tháng 03 năm 1996 và chính thức đi vào hoạt động từ tháng 07 năm 1996 Từ năm 2001 trở các hoạt động mới đi vào ổn định và số liệu cũng được lưu trữ đầy đủ
Sau thời gian hoạt động với mô hình 10 trường thành viên của Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh chưa đạt hiệu quả, tháng 02 năm 2001 Chính phủ
đã ban hành “ Quy chế tổ chức và hoạt động của Đại học Quốc gia” với mô
hình Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh chỉ còn 03 trường đại học thành viên
Với đặc điểm thành lập và thời gian hoạt động nói trên, chúng tôi cho rằng thời gian nghiên cứu của đề tài từ năm 2001 đến năm 2005 là thích hợp
và đủ để chứng minh giải thuyết đặt ra
6.3 Mẫu khảo sát:
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
7- Vấn đề nghiên cứu:
Vấn đề nghiên cứu của luận văn là: Cần sử dụng những biện pháp nào
để đảm bảo thực hiện chức năng nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh ?
8- Giả thuyết nghiên cứu:
Để đảm bảo chức năng nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh cần thực hiện một hệ thống
biện pháp đồng bộ; trong đó chú trọng đặc biệt tới các biện pháp về kinh tế
và động viên tinh thần
9- Phương pháp chứng minh giả thuyết:
Trang 10Đề tài dùng 2 phương pháp chứng minh giả thuyết là:
9.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Tổng hợp, phân tích số liệu thống kê về các công trình nghiên cứu, số lượng cán bộ tham gia nghiên cứu, kinh phí đầu tư cho nghiên cứu… ( số liệu được lấy từ Phòng Quản lý khoa học & Quan hệ quốc tế, Phòng Tổ Chức hành - Chính và Phòng Kế hoạch - Tài chính )
9.2 phương pháp điều tra phỏng vấn bằng bảng câu hỏi:
- Chúng tôi tiến hành điều tra phỏng vấn các cán bộ giảng dạy của
Trường Đại học KHXH & NV TP HCM thực hiện hai chức năng giảng dạy
và nghiên cứu1
1 Có bảng câu hỏi đính kèm ở phần Phụ lục
Trang 11- Giả thuyết nghiên cứu,
- Phương pháp nghiên cứu
2 Phần trình bày nội dung của luận văn gồm 3 chương:
2.1- Chương I: Những cơ sở lý luận của luận văn:
- Những khái niệm được sử dụng trong luận văn,
- Vai trò nghiên cứu khoa học trong các trường đại học
2.2- Chương II: Những luận cứ thực tế (Đánh giá, phân tích về thực trạng nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh )
2.3- Chương III: Các giải pháp
3 Phần kết luận và khuyến nghị
Trang 12CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN
I- CÁC KHÁI NIỆM ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN:
1- Khái niệm về nghiên cứu khoa học:
Hiện nay, ở nước ta còn tồn tại khá nhiều khái niệm khác nhau về nghiên cứu khoa học, những khái niệm này cũng chưa thống nhất, một số khái niệm không thể hiện được ý nghĩa của nghiên cứu khoa học là: những khám phá tìm tòi các lý thuyết khoa học mới, các nguyên lý công nghệ mới
Với Luận văn “ Biện Pháp đảm bảo chức năng nghiên cứu khoa học
của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh
“, Chúng tôi sử dụng khái niệm nghiên cứu khoa học sau:
“ Nghiên cứu khoa học là một hoạt động xã hội, với chức năng tìm
kiếm những điều mà khoa học chưa biết; hoặc là chưa phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để cải tạo thế giới”2
2 Khái niệm về Đề tài nghiên cứu là:
Đề tài nghiên cứu là: “ Vấn đề mà nhà khoa học nhằm nghiên cứu giải
quyết hay thể hiện … “, trong góc độ thống kê khoa học thì đề tài nghiên cứu
ở mức độ nào đó được sử dụng đồng nghĩa với công trình nghiên cứu
Ví dụ trong Thông tư 45/2001/TTLT BTC-BKHCNMT, ngày 18/06/2001, của Liên Bộ Tài chính và Bộ Khoa học Công nghệ và Môi
trường qui địmh mức chi và nội dung chi cho “ Đề tài nghiên cứu khoa học“
3- Khái niệm về kết quả nghiên cứu khoa học:
2 Vũ Cao Đàm, đánh giá NCKH, NXB khoa học kỹ thuật, 2005, tr 15
Trang 13Kết quả nghiên cứu khoa học là những tri thức khoa học, tuy nhiên những tri thức khoa học đó không thể tự thể hiện được, mà nó phải thể hiện qua các vật mang tri thức Vật mang đó có thể là: vật mang vật lý, vật mang công nghệ và vật mang xã hội:
a- Vật mang vật lý:
Đó là:
- Các loại bài báo, báo cáo khoa học,
- Mẫu vật thu được trong các công cuộc tìm kiếm, điều tra,
- Mẫu vật thu được từ các di chỉ khảo cổ,
- Các loại thiết bị lưu trữ dữ liệu như: băng ghi âm, băng hình, các thiết
bị lưu thông tin trong máy vi tính … Đối với Trường Đại học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, thì các bài báo, báo cáo khoa học có qui trình đăng ký, nghiệm thu dễ dàng và kinh phí thực hiện ít hơn rất nhiều lần so với công trình nghiên cứu các cấp3 Qua thực tế xem xét các báo cáo khoa học được đăng trên tập san khoa học, hoặc được báo cáo tại các Hội nghị khoa học của Trường phần nhiều các báo cáo này chỉ đưa ra luận điểm khoa học chứ chưa chứng minh luận điểm; Vì vậy trong luận văn này chúng tôi cho rằng các bài báo, báo cáo khoa học là các công trình nghiên cứu chưa được thể hiện đầy
đủ, khi thống kê số liệu chúng tôi sẽ ghi rõ số công trình nghiên cứu có tính, hay không tính cả các bài, báo cáo khoa học
Trang 14- Mẫu công cụ, máy móc, phương tiện mới,
- Mẫu của một nguyên lý công nghệ mới
c- Vật mang xã hội:
Vật mang xã hội có thể là cá nhân một chuyên gia, một người thợ được huấn luyện tay nghề, một nhóm thợ chuyên môn, hoặc một nhóm chuyên gia…
Dù vật mang dưới dạng hình thức nào, thì khi thực hiện thống kê nghiên cứu khoa học chúng ta cũng coi những vật mang đó là những kết quả nghiên cứu đã thực hiện được
Trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn thì vật mang chủ yếu được được thể hiện dưới dạng các loại bài báo, báo cáo khoa học, ấn bản sách, hoặc vật mang xã hội
4- Những đặc điểm của nghiên cứu khoa học:
Đặc điểm chung nhất của nghiên cứu khoa học là sự tìm tòi những tri thức mà khoa học chưa hề biết đến Đặc điểm này dẫn đến hàng loạt các đặc điểm khác của nghiên cứu khoa học mà nhà nghiên cứu, cũng như người và
cơ quan quản lý nghiên cứu cần phải quan tâm xử lý những vấn đề về mặt phương pháp luận, và việc tổ chức nghiên cứu Những đặc điểm của nghiên cứu khoa học đó là:
4.1 Tính mới:
Tính mới là thuộc tính quan trọng nhất của nghiên cứu khoa học và
được thể hiện rõ ngay trong khái niệm về nghiên cứu khoa học “ là tìm kiếm
những điều mà khoa học chưa biết … “ Khác với lao động trong các lĩnh
vực sản xuất ra của cải vật chất người lao động dựa vào quy trình thiết kế sẵn để thực hiện, thì hoạt động nghiên cứu khoa học là một loại lao động đặc biệt, là lao động sản sinh ra tri thức mới; đây là loại lao động sáng tạo, mặc
Trang 15dù nó cũng có những nguyên tắc, nguyên lý và phương pháp riêng; nhưng nó đòi hỏi người nghiên cứu phải có hệ thống tri thức khoa học và sự sáng tạo trong nghiên cứu mà không phải ai cũng có, và không phải xuất hiện bất kỳ lúc nào
Chính vì thế, việc quản lý nghiên cứu khoa học mà chỉ dùng những biện pháp hành chính là không đủ và không hiệu quả, cần phải có những cơ chế, chính sách tạo điều kiện và về vật chất, động viên tinh thần, tạo ra môi trường hoạt động thuận lợi, thoải mái để khuyến khích tạo động lực, sự hứng khởi và niềm say mê cho nhà nghiên cứu phát huy sánbg tạo
4.2 Tính tin cậy:
Một kết quả nghiên cứu khoa học đạt được nhờ phương pháp nào đó phải có khả năng kiểm chứng lại nhiều lần trong điều kiện quan sát hoặc thí nghiệm quy về những điều kiện hoàn toàn giống nhau và với những kết quả thu được hoàn toàn giống nhau
4.3 Tính thông tin:
Sản phẩm của nghiên cứu khoa học được thể hiện dưới nhiều dạng thông qua các vật mang Tuy nhiên, dù là thể hiện dưới dạng vật mang nào thì sản phẩm của nghiên cứu khoa học luôn mang đặc trưng thông tin Đó là những thông tin về quy luật vận động của sự vật, thông tin về quy trình công nghệ và các tham số đi kèm quy trình đó…
Trang 16Quá trình khám phá bản chất sự vật và sáng tạo sự vật mới hoàn toàn có thể gặp phải thất bại, trong nghiên cứu khoa học người ta gọi là rủi ro Sự thất bại trong nghiên cứu khoa học có thể do nhiều nguyên nhân, như: thiếu thông tin cần thiết và đủ tin cậy, trình độ kỹ thuật của thiết bị thí nghiệm, quan sát, năng lực xử lý thông tin của người quan sát còn hạn chế, giả thuyết khoa học đặt sai, những tác nhân bất khả kháng khác … Ngay cả khi kết quả nghiên cứu đã được thử nghiệm thành công cũng vẫn chịu những rủi ro trong
áp dụng Người ta đã thống kê mức độ rủi ro cho từng loại nghiên cứu sau:
(Bảng 1 ) 4 , Thống kê tỷ lệ rủi ro trong nghiên cứu:
Các loại hình nghiên cứu Mức độ thành công
Nghiên cứu cơ bản Dưới 5 %
4.6 Tính kế thừa:
Nghiên cứu khoa học là tìm tòi phát hiện ra những tri thức mới, muốn tìm tòi phát hiện được tri thức mới thì bao giờ người nghiên cứu cũng phải dựa trên những tri thức khoa học đã có Mỗi nghiên cứu phải kế thừa những kết quả nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học khác xa nhau
4.7 Tính cá nhân:
4 Vũ Cao Đàm, đánh giá NCKH, NXB Khoa học kỹ thuật, 2005, tr.18
Trang 17Nghiên cứu khoa học là một hoạt động sáng tạo sản sinh ra tri thức mới, nên dù một công trình nghiên cứu khoa học do tập thể thực hiện thì vai trò cá nhân trong sáng tạo cũng mang tính quyết định Tính cá nhân được thể hiện trong tư duy và chủ kiến riêng của cá nhân, tức là luận điểm khoa học của cá nhân
Trong nghiên cứu khoa học, đối với với các công trình nghiên cứu do tập thể tham gia người ta phân ra là: chủ đề tài và người tham gia nghiên cứu Chủ đề tài là người đưa ra luận điểm khoa học, người tham gia nghiên cứu thực hiện từng lĩnh vực theo sự phân công Hiện nay nhiều trường hợp những điều tra viên đi phỏng vấn, điều tra thu thập các bảng câu hỏi, số liệu người ta cũng tính là tham gia nghiên cứu đề tài khoa học chúng tôi cho rằng như vậy chưa thực sự đúng với khái niệm về nghiên cứu khoa học
4.8 Tính trễ trong áp dụng:
Lịch sử nghiên cứu khoa học cho thấy, một kết quả nghiên cứu không bao giờ có thể áp dụng ngay sau khi nghiên cứu thành công, mà luôn có một
khoảng cách thời gian, khoảng cách đó được gọi là “ độ trễ “
5- Khái niệm về nhân lực nghiên cứu khoa học & công nghệ:
- Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của là:
“ Nguồn nhân lực KH&CN là toàn bộ những người có bằng cấp chuyên
môn nào đó hoạt động trong một lĩnh vực khoa học và công nghệ và những người có trình độ kỹ năng thực tế tương đương mà không có bằng cấp và tham gia một cách thường xuyên ( hệ thống ) vào hoạt động KH&CN “ 5
Hoạt động khoa học và công nghệ là hoạt động có hệ thống có liên quan chặt chẽ đến việc tạo ra kiến thức khoa học, nâng cao, truyền bá và ứng dụng các kiến thức khoa học và công nghệ vào đời sống và xã hội
5 Đề cương bài giảng môn Phát triển ngôn nhân lực KH& CN của TS Nguyễn Thị Anh Thu
Trang 18Như vậy hoạt động công nghệ gồm 3 lĩnh vực là:
- Hệ thống hóa, đào tạo, truyền bá ( Lĩnh vực này phần lớn do các trường đại học, cao đẳng đảm nhận )
- Nghiên cứu và triển khai ( Lĩnh vực này do các viện nghiên cứu, trường đại học … đảm nhận )
- Dịch vụ khoa học & công nghệ ( gồm tính toán, đo lường )
Như vậy cán bộ giảng dạy trong các Trường Đại học được tính vào nhân lực khoa học & công nghệ Việc quản lý, sử dụng và chính sách đãi ngộ đối với cán bộ giảng dạy các trường đại học phải được tính là cán bộ nghiên cứu khoa học & công nghệ
6- Khái niệm về tổ chức nghiên cứu khoa học & công nghệ:
Để khuyến khích việc nghiên cứu khoa học thì ngoài việc khuyến khích, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các cá nhân tham gia nghiên cứu khoa học, Nhà nước cần phải thiết kế các tổ chức nghiên cứu khoa học & công nghệ để đầu tư các nguồn lực, tập hợp các nhà nghiên cứu và có cơ chế chính sách khuyến khích các nhà nghiên cứu, các tổ chức nghiên cứu hoạt động nghiên cứu khoa học có hiệu quả
Theo Luật Khoa học và Công nghệ thì tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ gồm:
“ a) Tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và
Trang 197- Khái niệm về cán bộ giảng dạy:
Theo Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi và bổ sung năm 2003 thì những người làm việc trong các trường đại học công lập được gọi là viên chức sự nghiệp
Cán bộ, viên chức trong trường đại học khi phân theo chức năng nhiệm
vụ thì người ta chia làm bốn loại là:
- Cán bộ quản lý ( là các cán bộ, viên chức có hưởng phụ cấp chức vụ),
- Cán bộ nghiên cứu khoa học ( chủ yếu làm nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, là cán bộ nghiên cứu của các Trung tâm nghiên cứu, trạm, trại, phòng thí nghiệm trong các trường đại học ),
- Cán bộ phục vụ giảng dạy ( gồm các bộ phận phòng, ban, thư viện…) Cán bộ giảng dạy: Là những người trực tiếp tham gia giảng dạy có mã ngạch lương là 15… , căn cứ vào tiêu chuẩn, trình độ chuyên môn, hiểu biết, thâm niên… các cán bộ giảng dạy được chia thành nhiều ngạch khác nhau, gồm:
+ Giáo sư và giảng viên cao cấp có mã ngạch lương là 15.109 + Phó giáo sư và giảng viên chính có mã ngạch lương là 15.110 + Giảng viên có mã ngạch lương là 15.111
+ Trợ giảng ( là các viên chức tập sự ở ngạch giảng viên ) hưởng 85% lương khởi điểm của ngạch giảng viên
Như vậy khái niệm cán bộ giảng dạy: Là những cán bộ, viên chức
trực tiếp tham gia giảng dạy, căn cứ vào tiêu chuẩn, trình độ, thâm niên … được bố trí vào các ngạch viên chức giảng dạy khác nhau và có hai chức năng chính là giảng dạy và nghiên cứu khoa học
Trang 20II- VAI TRÒ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1- Vai trò của nghiên cứu khoa học trong các trường đại học:
Các tổ chức nghiên cứu khoa học & công nghệ hiện nay, gồm chủ yếu năm loại là:
* Viện Hàn lâm khoa học,
* Các viện, Trung tâm nghiên cứu quốc gia,
* Trường đại học và cao đẳng,
* Khu công nghệ cao ( có thể các cơ sở sản xuất – kinh doanh),
* Các tổ chức, cá nhân nghiên cứu độc lập
Đối với các trường đại học và cao đẳng của Việt Nam thì có hai chức năng mà Luật Giáo dục đã qui định là:
“ Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục
tiêu chương trình giáo dục …“,
“ Thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng dụng và phát
triển công nghệ…và thực hiện các dịch vụ khoa học, chuyển giao công nghệ, sản xuất kinh doanh phù hợp với ngành nghề đào tạo theo qui định của Pháp luật“7
- Trên thực tế ở Việt Nam ta các trường đại học và cao đẳng là nơi có nguồn lực cán bộ khoa học đông nhất, chiếm hơn 2/3 tổng nguồn lực cán bộ khoa học của cả nước với nhiều cán bộ có trình độ, học hàm, học vị cao, Trường đại học cũng là nơi tập trung nhiều điều kiện về: nhân lực, vật lực, tài lực và tin lực phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học
- Trường đại học còn có một số lượng đông đảo các nhà khoa học, các nhà giáo trong và ngoài nước có trình độ cao tham gia thỉnh giảng và hợp tác
7 Điều: 53, 54 Luật Giáo dục năm 1998
Trang 21nghiên cứu; và một số lượng đông đảo sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh là những người đang tập sự bước vào nghiên cứu cần được phát huy tạo điều kiện tham gia nghiên cứu khoa học
- Chỉ có nghiên cứu khoa học mới tận dụng tốt về trang thiết bị trong trường đại học, vì thiết bị trường đại học vừa là thiết bị giảng dạy vừa là thiết
bị nghiên cứu khoa học Trường đại học cũng là nơi được nhà nước quan tâm đầu tư tạo mọi điều kiện về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, kinh phí, hệ thống thông tin…, môi trường thuận lợi cho công tác nghiên cứu khoa học phát triển, là nơi tin tưởng để các tổ chức nghiên cứu, các tổ chức xã hội … trong
và ngoài nước hợp tác đào tạo và nghiên cứu khoa học
- Chính vì thế việc phát triển, đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học trong trường đại học không chỉ là thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo qui định mà nó có là quyền lợi và là thế mạnh để các trường đại học phát huy tiềm lực và khẳng định vị thế của mình trong lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu khoa học, đặc biệt là hiện nay thế giới và Việt Nam ta đang hướng tiến đến nền kinh tế tri thức
- Chỉ có thực hiện tốt chức năng nghiên cứu khoa học thì nhà trường mới làm tốt chức năng đào tạo bởi hai chức năng này luôn phối hợp để thúc đẩy lẫn nhau, công tác đào tạo đòi hỏi cần được cập nhật tri thức khoa học cho người thầy, khi tham gia nghiên cứu người thầy buột phải tìm hiểu, tham khảo, hệ thống hóa những tri thức khoa học liên quan đến vấn đề mình nghiên cứu và qua đó chất lượng giảng dạy của người thầy được nâng cao;
mà chất lượng của đào tạo chủ yếu phụ thuộc vào chất lượng của người thầy
- Chỉ có nghiên cứu khoa học mới đảm thực hiện được phương châm
giáo dục là “ Học đi đôi với hành” , gắn liền nhà trường với các cơ sở sản
xuất và đời sống xã hội
- Chỉ có thực hiện tốt chức năng nghiên cứu, mới tạo được không khí học thuật trong trường đại học: sinh viên, học viên phải tìm tòi, nghiên cứu,
Trang 22tránh tình trạng mà xã hội vẫn đang lên án gọi sinh viên đại học là “ học sinh
cấp 4 “
- Chỉ có nghiên cứu khoa học mới đổi mới được chương trình đào tạo, giáo trình giảng dạy, ở ta do công tác nghiên cứu khoa học trong các trường đại học chưa phát triển mạnh, lên nhiều giáo trình giảng dạy có từ 20, 30 năm nay vẫn chưa được cập nhật đổi mới, sinh viên ra trường khi vào thực tế phải đào tạo lại
- Không nghiên cứu khoa học trong trường đại học là một thiệt thòi lớn cho xã hội và nhà trường, vì nơi đây tập trung một lực lượng lớn cán bộ khoa học có chất lượng cao
- Hiện nay Nhà nước ta đang thể chế hóa chủ trương xã hội hóa giáo dục, trong hệ thống các trường đại học và cao đẳng, các trường bán công, dân lập, tư thục mở ra ngày càng nhiều Các trường công lập nói chung và Trường Đại học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng phải trở thành các trường lòng cốt trong hệ thống giáo dục đại học của Việt Nam, muốn thực hiện được điều đó Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh phải thể hiện thế mạnh và khẳng định mình trên lĩnh vực nghiên cứu khoa học
2- Vai trò nghiên cứu khoa học đối với người thầy trong các trường đại học:
Trường đại học có hai chức năng chính là đào tạo và nghiên cứu khoa học Hai chức năng này được thể hiện thông qua chức năng của người thầy Điều đó được qui định thành nhiệm vụ của cán bộ giảng dạy là:
“ 1- Giảng các môn học, chỉ đạo nghiên cứu, thực nghiệm khoa học,
rèn luyện phương pháp khoa học và kỹ năng, nghề nghiệp … cho sinh viên
Trang 232- Nghiên cứu khoa học, tham gia triển khai kết quả nghiên cứu vào sản xuất Biên soạn giáo trình, tài liệu giảng dạy, học tập; tổng kết kinh nghiệm giảng dạy, nghiên cứu …“8
Thực tế các ở nước ta thì cán bộ, viên chức trong các trường đại học chủ yếu là cán bộ giảng dạy chiếm khoảng 70% trong cơ cấu cán bộ, còn lại hầu hết là cán bộ phục vụ giảng dạy chiếm khoảng 20%, cán bộ chuyên nghiên cứu khoa học thường chiếm dưới 10%
Đối với cán bộ giảng dạy trong các trường đại học không chỉ đông về
số lượng mà còn là lực lượng cán bộ có trình độ chuyên môn cao, có đủ những điều kiện về chuyên môn, thời gian, các nguồn lực khác đáp ứng nhu cầu của nghiên cứu khoa học
Vì vậy việc thực hiện chức năng nghiên cứu khoa học ở các trường đại học chính là việc có phát huy tốt hay không chức năng nghiên cứu khoa học của cán bộ giảng dạy
Mặt khác chỉ có thực hiện tốt chức năng nghiên cứu khoa học thì mới thực hiện được tốt chức năng giảng dạy và nâng cao chất lượng của người thầy, vì:
- Khi tham gia nghiên cứu khoa học buộc người thầy phải đọc nhiều tài liệu về các vấn đề thuộc lĩnh vực mình tham gia nghiên cứu và những lĩnh vực có liên quan, qua đó làm phong phú và giàu thêm kiến thức của người thầy, người thầy cũng cập nhật những kiến thức làm cho chất lượng giảng dạy của người thầy sẽ được nâng lên
- Khi tham gia nghiên cứu khoa học người thầy phải cập nhật nhiều kiến thức mới về lĩnh vực nghiên cứu và các lĩnh vực liên quan và những kiến thức mới do mình nghiên cứu đạt được, từ đó người thầy thấy rõ chương trình đào tạo, giáo trình giảng dạy ở mức nào so với tình trạng khoa
8 Điều 16, Quyết định số 35-QĐ-BĐH, ngày 17/07/1994
Trang 24học hiện tại và xem xét đề xuất việc thay đổi chương trình đào tạo và giáo trình giảng dạy
- Chỉ có tham gia nghiên cứu khoa học người thầy mới nâng cao năng lực, hoàn thiện phương pháp nghiên cứu, từ đó mới thực hiện tốt nhiệm vụ hướng dẫn sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học
- Tham gia nghiên cứu khoa học sẽ tạo niềm say mê của người thầy,
thay đổi tình trạng “ thầy là máy dạy, trò là máy học “ mà xã hội đang lên án,
tránh được những Stress do bệnh nghề giáo gây ra
3- Thời gian nghiên cứu:
Bất cứ một công việc nào cũng phải tiến hành trong một thời gian xác định, người ta gọi là thời gian làm việc
Đối với các đơn vị hành chính - sự nghiệp của ta hiện nay thời gian làm việc được thực hiện theo Quyết định số 188/1999/QĐ-TTg, ngày 17/09/1999
của Thủ tướng Chính phủ “ về việc thực hiện chế độ tuần làm việc 40 giờ
trong 5 ngày “, Như vậy nếu tính một năm là 365 ngày, trừ 07 ngày nghỉ lễ
và khoảng 20 ngày nghỉ phép ( tính bình quân cho các trường hợp ), thì số ngày làm việc trong năm còn khoảng 338 ngày tương đơng với 48 tuần và số giờ làm việc của người lao động hành chính - sự nghiệp là khoảng 1930 giờ (nếu qui ra giờ học là 45 phút thì tương đương khoảng 2500 giờ )
Do đặc thù của hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học trong các trường đại học, nên Nhà nước có qui định cụ thể về thời gian làm việc đối với từng loại cán bộ giảng dạy trong các trường đại học, gồm: thời gian giảng dạy, thời gian nghiên cứu khoa học, thời gian dành cho học tập, bỗi dưỡng chính trị, nghiệp vụ chuyên môn, thời gian tập luyện nghĩa vụ quân sự
Trang 25…, được qui định theo Quyết định số 1712/QĐ-BĐH, ngày 18/12/1978 của
Bộ Trưởng đại học và Trung học chuyên nghiêp, cụ thể như sau9:
Bảng 2: Quy định về thời gian giảng dạy
Loại cán bộ giảng dạy Số gờ dạy năm
Phó giáo sư /giảng viên chính 270 – 290 giờ chuẩn
Bảng 3: Quy định về thời gian nghiên cứu khoa học:
9 Thời gian trong các bảng trên được tính theo chế độ tuần làm việc 46 giờ, nhưng đến nay vẫn chưa có qui định mới về thời gian giảng dạy và nghiên cứu khoa học của CBGD trường đại học
Trang 26Bảng 4: So sánh thời qui định dành cho nghiên cứu và thời gian giảng dạy:
Loại cán bộ giảng dạy Giờ nghiên
cứu
Giờ dạy 10 Tỷ lệ so sánh
giờ NC/giờ dạy
Phó giáo sư /giảng viên chính
Như vậy thời gian qui định cho nghiên cứu của cán bộ giảng dạy trong các trường dại học cao gấp khoảng 1,5 lần thời gian dành cho giảng dạy (riêng đối với trợ giảng thời gian nghiên cứu bằng hoặc bằng 0,91 lần thời gian giảng dạy )
10 Lấy mức giờ dạy cao nhất
Trang 27“ Là trung tâm đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu khoa học đa
ngành, đa lĩnh vực chất lượng cao”11
Mà Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, là trường thành viên thuộc Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh chịu trách nhiệm về đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu khoa học của Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh về các ngành khoa học xã hội & nhân văn và các ngành ngoại ngữ Các chức năng nhiệm vụ chung đó được thể hiện qua các nhiệm vụ cụ thể chủ yếu trên các lĩnh vực sau:
1.1 Nhiệm vụ đào tạo sau đại học:
11 Điều II, Nghị định số 07/2001/NĐ-CP về sắp xếp lại Đại học Quốc gia
Trang 28* Về đào tạo Tiến sỹ: Trường được giao nhiệm vụ đào tạo 09 chuyên
ngành Tiến sỹ, với hơn 160 nghiên cứu sinh gồm:
- Lý luận ngôn ngữ,
- Ngôn ngữ so sánh và đối chiếu,
- Ngôn ngữ Nga – Slave,
- Lý luận văn học,
- Văn học Việt Nam,
- Lịch sử thế giới cận đại và hiện đại,
- Lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại,
- Lịch sử Việt Nam cổ đại và trung đại,
- Dân tộc học,
- Lịch sử triết học,
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử,
- Sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trường
* Về đào tạo Thạc sỹ: Trường được giao nhiệm vụ đào tạo 18 chuyên
ngành Thạc sỹ, với hơn 960 học viên gồm:
- Lý luận và phương pháp giảng dạy tiếng Anh,
- Ngôn ngữ học,
- Ngôn ngữ Nga – Slave,
- Văn học nước ngoài,
- Văn học Việt Nam,
- Lịch sử thế giói,
- Lịch sử Việt Nam,
Trang 29- Sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trường
1.2 Nhiệm vụ đào tạo đại học:
* Về đào tạo đại học hệ chính qui: Trường được giao nhiệm vụ đào
tạo 28 chuyên ngành đại học hệ chính qui, với khoảng 9.000 sinh viên gồm:
Trang 30- Ngữ văn trung Quốc
* Về đào tạo đại học hệ cử nhân 2: Trường được giao nhiệm vụ đào
tạo 24 chuyên ngành đại học hệ cử nhân 2, với khoảng 3.000 sinh viên gồm các ngành học như hệ tạo đại học chính qui nêu trên (trừ 04 ngành là: ngôn ngữ, Lịch sử thế giới, Ngữ văn Nga và Ngữ văn Đức )
* Về đào tạo hệ hoàn chỉnh đại học: Trường mới chỉ đang đào tạo
khoảng 150 sinh viên của ngành Ngữ văn Anh
Về đào tạo đại học hệ tại chức: Trường được giao nhiệm vụ đào tạo
14 chuyên ngành đại học hệ tại chức, với khoảng 15.000 sinh viên gồm:
- Ngữ văn,
Trang 31- Ngữ văn Trung Quốc
1.3 Nhiệm vụ nghiên cứu khoa học:
Do những đặc điểm riêng về hoạt động nghiên cứu khoa học nên những nhiệm vụ cụ thể về công tác nghiên cứu khoa học Trường không được giao chỉ tiêu cụ thể như trong lĩnh vực đào tạo; mà Trường căn cứ vào chiến lược dài hạn, trung hạn và những nhiệm vụ kế hoạch hàng năm của Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh và của Trường, Nhà trường sẽ có thông báo định hướng
về những vấn đề khoa học cần tập trung nghiên cứu đến toàn thể cán bộ, viên chức của Trường, sau đó các cá nhân, tập thể nộp bản đăng ký đề tài kèm theo đề cương nghiên cứu về phòng Quản lý khoa học Trường để làm thủ tục đăng ký đề tài nghiên cứu Nhà nước chỉ giao một chỉ tiêu về kinh phí dành cho nghiên cứu khoa học của Trường mỗi năm khoảng 2 tỷ đồng
2- Cơ cấu tổ chức của trường Đại học KHXH & NV TP HCM:
Để thực hiện chức năng nhiệm vụ trên Trường có cơ cấu tổ chức gồm:
Trang 32* Đứng dầu là Hiệu trưởng và các Phó hiệu trưởng (Ban giám hiệu):
* Các phòng chức năng tham mưu, giúp việc cho Ban giám hiệu:
* Các Bộ phận phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học như: Thư viện, phòng tư liệu, phòng thí nghiệm, phòng thực tập …
* Các khoa, bộ môn trực thuộc Trường chịu trách nhiệm đào tạo và nghiên cứu theo từng chuyên ngành và nhóm chuyên ngành, gồm 20 đơn vị là:
- Khoa Triết học,
- Khoa Ngữ văn – Báo chí,
- Khoa Lịch sử,
- Khoa Địa lý,
- Khoa Đông phương,
- Khoa Thư viện – Thông tin,
- Khoa Xã hội học,
- Khoa Giáo dục học,
- Khoa Việt Nam học,
- Khoa Ngữ văn Anh,
Trang 33- Bộ môn Quan hệ quốc tế,
- Bộ môn Công tác xã hội,
- Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam – Đông nam Á,
- Trung tâm Nghiên cứu nhân học ứng dụng,
- Trung tâm Môi trường sinh thái,
- Trung tâm Nghiên cứu, tư vấn và phát triển xã hội,
- Trung tâm Nghiên cứu phát triển đô thị và cộng đồng
II- HIỆN TRẠNG VỀ THỰC HIỆN CÁC BIỆN PHÁP ĐẢM BẢO CHỨC NĂNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN TP.HCM:
1- Hiện trạng nhân lực tham gia nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh:
Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học nêu trên, hiện nay Trường Đại học KHXH & NV TP HCM có lực lượng cán bộ viên chức gồm: 532 người, trong đó:
- Cán bộ Lãnh đạo và phục vụ giảng dạy: 125 người, chiếm 23,50%,
Trang 34- Cán bộ chuyên trách tại các Trung tâm nghiên cứu của Trường: 15 người, chiếm 2,82 %
Về trình độ chuyên môn, học hàm, học vị đội ngũ cán bộ viên chức trường, gồm:12
- Giáo sư và Phó giáo sư: 22 chiếm tỷ lệ 5,61%
- Tiến sỹ khoa học và Tiến sỹ: 79 chiếm tỷ lệ 20,15%
Như vậy số cán bộ, viên chức chuyên làm nhiệm vụ nghiên cứu khoa học tại Trường đại học KHXH & NV chiếm tỷ lệ chỉ có 3.36 %, và chủ yếu làm nhiệm vụ hành chính và dịch vụ khoa học tại các Trung tâm nghiên cứu của Trường Còn lực lượng cán bộ, viên chức của Trường chủ yếu là đội ngũ cán bộ giảng dạy với hai chức năng chính là giảng dạy và nghiên cứu khoa học
Riêng về nhiệm vụ giảng dạy thì theo thống kê toàn trường số lượng sinh viên ( không tính khoảng 15.000 sinh viên tại chức ), học viên cao học
và nghiên cứu sinh có mặt bình quân hàng năm khoảng 13.120 sinh viên, học viên tính ra một cán bộ giảng dạy hiện nay phải đảm nhận giảng dạy cho 33 sinh viên, học viên, trong khi đó Trường và đại học Quốc gia TP HCM đang xây dựng và phấn đấu đạt tiêu chuẩn một cán bộ giảng dạy đảm nhiệm từ 20 đến 25 học viên, sinh viên
2- Tình hình đăng ký, thực hiện và nghiệm thu công trình nghiên cứu khoa học của Trường Đại học KHXH & NV TP.HCM:
Trang 35Công trình nghiên cứu khoa học ở Trường Đại học KHXH & NV chủ yếu dưới ba dạng là:
Đề tài nghiên cứu khoa học, Giáo trình, sách tham khảo Các báo cáo khoa học
Việc đăng ký thực hiện và nghiệm thu các công trình nghiên cứu khoa học nói trên được tiến hành theo từng loại gồm:
2.1 Việc đăng ký thực hiện công trình nghiên cứu các cấp, giáo trình, sách tham khảo:
Đối với công trình nghiên cứu và viết giáo trình, sách tham khảo thì việc đăng ký, thực hiện, nghiệm thu là được tiến hành theo qui trình sau: Hàng năm vào khoảng tháng 09 Phòng Quản lý khoa học Trường thông báo về kế hoạch, những định hướng các vấn đề cần nghiên cứu của Trường, của Đại học Quốc gia TP Hồ Chí minh đến toàn thể cán bộ, viên chức trong Trường để các cá nhân, tập thể tiến hành đăng ký công trình nghiên cứu, viết giáo trình và sách tham khảo
Khi đăng ký công trình tác giả nộp theo đề cương: công trình, sách, giáo trình và xác định các thông tin kèm theo như:
- Chủ công trình, chủ biên sách, giáo trình
- Các thành viên tham gia,
- Thời gian hoàn thành công trình,
- Cấp công trình cần nghiên cứu
Sau khi hết thời hạn nộp đăng ký, Phòng Quản lý khoa học sẽ tiến hành tổng hợp, phân loại các công trình theo cấp và theo lĩnh vực nghiên cứu để
Trang 36trình Hội đồng khoa học Trường cho tiến hành bảo vệ đề cương của công trình nghiên cứu
Những công trình nghiên cứu đã bảo vệ thành công đề cương thì Hội đồng sẽ trình Hiệu trưởng ra quyết định giao công trình cho tác giả đã đăng
ký và ứng kinh phí cho tác giả để tiến hành nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu sẽ xảy ra hai tình huống:
- Công trình, sách, giáo trình được hoàn thành trước hoặc đúng thời hạn qui định ( thời gian hoàn thành đối với: đề tài cấp trường là 01 năm, cấp Đại học quốc gia, cấp bộ là 02 năm và cấp Nhà nước là 03 năm) thì nộp bản báo cáo kết quả nghiên cứu cho Phòng Quản lý khoa học Trường, Phòng Quản lý khoa học tiến hành gửi phản biện và sau khi có ý kiến phản biện Nhà trường thành lập Hội đồng nghiệm thu
- Công trình không hoàn thành đúng thời gian qui định thì:
Nếu người nghiên cứu cần phải kéo dài thời gian nghiên cứu thì tiến hành làm thủ tục gia hạn thời gian nghiên cứu, Nhà trường xét thấy điều kiện gia hạn là hợp lý thì tiến hành làm thủ tục cho gia hạn thời gian nghiên cứu (thời gian gia hạn thường khoảng 01 năm)
Nếu vì một lý do nào đó người nghiên cứu không thể tiếp tục thực hiện nghiên cứu thì làm thủ tục xin hủy công trình đã đăng ký nghiên cứu, khi đó người nghiên cứu sẽ phải hoàn lại kinh phí nghiên cứu mà tác giả đã tạm ứng
2.2 Việc đăng ký tham gia viết bài, báo cáo khoa học:
- Hàng năm Trường thông báo kế hoạch về thời gian, nội dung các cuộc hội thảo khoa học trong nước và quốc tế mà Trường tổ chức, hoặc có tham gia, và kế hoạch in ấn các tập san khoa học của Trường đến toàn thể cán bộ, viên chức của Trường
Trang 37- Các cán bộ, viên chức của Trường có bài viết, báo cáo khoa học muốn tham gia hội thảo khoa học, hoặc in trong tập san của Trường thì nộp về phòng Quản lý khoa học Trường
- Phòng Quản lý khoa học Trường gửi bài đến các nhà khoa học trong
và ngoài Trường theo đúng chuyên ngành mà báo cáo khoa học trình bày để phản biện; sau khi có kết quả phản biện thì:
Nếu báo cáo khoa học được người phản biện chấp thuận Trường thông báo cho tác giả biết sẽ đăng trong tập san khoa học của Trường dự kiến vào
số nào, hoặc tác giả sẽ trình bày tại cuộc hội thảo khoa học nào
Nếu báo cáo không được người phản biện chấp thuận thì thông báo cho tác giả biết báo cáo khoa học đó không được người phản biện chấp nhận kèm theo ý kiến phản biện
2.3 Việc đăng ký các công trình do các Trung tâm nghiên cứu của Trường đảm nhận:
Các trung tâm nghiên cứu của Trường nếu liên hệ nhận được các đề tài nghiên cứu, hoặc tổ chức các hội thảo khoa học thì sẽ tiến hành gửi thư mời các cán bộ, viên chức của trường có chuyên môn phù hợp tham gia ( Trung tâm đứng vai trò chủ đề tài và làm các thủ tục đăng ký, tiến hành thực hiện
và nghiệm thu với đơn vị giao đề tài nghiên cứu )
3- Kết quả thực hiện công tác nghiên cứu khoa học của Trường Đại học KHXH & NV TP.HCM:
Việc đăng ký, thực hiện và nghiệm thu các đề tài nghiên cứu khoa học, sách, giáo trình của Trường chủ yếu thông qua phòng Quản lý khoa học và các Trung tâm nghiên cứu khoa học của Trường Kết quả thống kê về công tác nghiên cứu khoa học của Trường từ năm 2001 đến năm 2005 mà chúng tôi thu thập được qua số liệu thống kê tại phòng Quản lý khoa học & Quan
hệ Quốc tế của Trương, cụ thể như sau:
Trang 38Bảng 5: Kết quả thực hiện công tác nghiên cứu khoa học qua số liệu thống kê tại Phòng nghiên cứu khoa học Trường:
Loại công trình Năm
7- Số công trình không thực hiện phải hoàn kinh phí
Bảng 6: Kết quả hoạt động nghiên cứu khoa học qua số liệu thống
kê tại các Trung tâm nghiên cứu của Trường:
Trang 39Số công trình NC thực hiện
1 TT Nghiên cứu ĐNÁ
Qua các bảng thống kê kết quả nghiên cứu khoa học của Trường chúng
ta thấy tình hình nghiên cứu khoa học của Trường trong những năm qua như sau:
* Kết quả thực hiện nghiên cứu khoa học của Trường chủ yếu là do cán
bộ giảng dạy Trường đăng ký thực hiện tại Phòng Quản lý khoa học, các Trung tâm nghiên cứu của Trường chủ yếu thực hiện các dịch vụ khoa học, việc tổ chức nghiên cứu còn rất hạn chế Cho nên muốn đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học của Trường thì phải tập trung khuyến khích, thúc đẩy cán bộ giảng dạy của Trường thực hiện tốt chức năng nghiên cứu khoa học
* Các công trình nghiên cứu khoa học được hiện trong 05 năm qua của Trường thực hiện được tuy có tăng lên, nhưng chủ yếu tăng về các bài, báo cáo khoa học tham gia các cuộc hội thảo khoa học của Trường, hoặc đăng
Trang 40trên các tập san, còn việc thực hiện các công trình nghiên cứu theo các cấp thì tương đối ổn định, bình quân mỗi năm khoảng 40 công trình
* Nếu tính cả các bài, báo cáo khoa học thì số người tham gia nghiên cứu hằng năm mặc dù có tăng lên rất nhiều bình quân mỗi năm tăng khoảng 20%, nhưng vẫn còn ở mức thấp mà thể hiện qua các bảng thống kê trên thì năm có số người tham gia nghiên cứu cao nhất là năm 2005, cũng mới chỉ có
250 người và chiếm 63% lực lượng cán bộ giảng dạy của Trường Còn một lực lượng tương đối đông chiếm tới hơn 30% cán bộ giảng dạy chưa tham gia nghiên cứu
Các bài, báo cáo khoa học tăng lên nhiều kể cả về số lượng bài, cũng
như về số người tham gia Điều đó được thể hiện rõ qua các bảng: 7, 8 và 9
dưới đây về kết quả điều tra 115 cán bộ giảng dạy của Trường Đại học
Tỷ lệ % tương đối
Tỷ lệ % tính trên số trả lời
Tỷ lệ % tích lũy