CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Các khái niệm của đề tài
Có nhiều định nghĩa về giáo dục của nhiều tác giả ở những tài liệu khác nhau trong và ngoài nước, tiêu biểu là những định nghĩa sau đây:
Theo từ điển Giáo dục học Việt Nam, giáo dục mang ba ý nghĩa chính: Thứ nhất, giáo dục là hoạt động hướng tới con người thông qua hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền đạt tri thức, kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng, lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục tiêu chuẩn bị cho lao động và đời sống xã hội Thứ hai, giáo dục là hệ thống các biện pháp và cơ quan thực thi nhiệm vụ giáo dục của một quốc gia Thứ ba, giáo dục là hoạt động dạy-học nhằm đạt được các mức độ cần thiết theo yêu cầu cụ thể của từng mặt giáo dục đối tượng.
Theo Hà Thị Mai (2013), giáo dục được hiểu theo bản chất là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ; theo hoạt động, là quá trình tác động để hình thành phẩm chất và năng lực cần thiết cho học viên; và theo phạm vi, gồm nhiều cấp độ như xã hội hoá con người, hoạt động có mục đích của xã hội nhằm hình thành nhân cách, quá trình sư phạm trong nhà trường giúp phát triển trí tuệ và hình thành nhân cách, cùng với quá trình hình thành phẩm chất đạo đức thông qua tổ chức hoạt động trong nhà trường, gia đình và cộng đồng.
Giáo dục được hiểu theo nghĩa rộng là quá trình trao đổi và chuyển giao tri thức cùng kinh nghiệm của con người qua nhiều thế hệ, dựa trên các quy trình đã được xác định bởi các lực lượng giáo dục trong xã hội Trong khi đó, hiểu theo nghĩa hẹp, giáo dục là quá trình hình thành nhân cách và năng lực của con người thông qua hoạt động dạy và học có mục đích, có hệ thống của các nhà sư phạm.
Giáo dục theo nghĩa hẹp chủ yếu diễn ra trong hệ thống trường học của một quốc gia dưới sự quản lý của các cơ quan chủ quản và lực lượng xã hội Đây là hệ thống các biện pháp mà các tổ chức, cơ quan thực hiện nhằm thực thi nhiệm vụ giáo dục trong phạm vi trường học Hoạt động giáo dục cần có kế hoạch, nội dung và phương pháp rõ ràng để giúp người học phát triển trí tuệ, năng lực và hình thành phẩm chất nhân cách.
1.1.1.2 Khái niệm chiến lược và chiến lược phát triển giáo dục
Chiến lược được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào lĩnh vực, từ quân sự, kinh tế, chính trị, xã hội đến giáo dục Trong mỗi lĩnh vực, chiến lược đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng mục tiêu và các hoạt động phù hợp để đạt được thành công Hiểu rõ các định nghĩa về chiến lược giúp các nhà quản lý và nhà lãnh đạo xây dựng kế hoạch phù hợp, tối ưu hóa nguồn lực và tạo lợi thế cạnh tranh Do đó, việc ứng dụng chiến lược đúng đắn là yếu tố then chốt để thúc đẩy phát triển bền vững trong mọi lĩnh vực.
Theo Bùi Việt Phú (2014), chiến lược xuất phát từ cuộc chiến tranh Hi Lạp, mang ý nghĩa “tài chỉ huy, tài quản lý” Trong lĩnh vực quân sự, chiến lược thường được hiểu là cách sắp xếp các phân đội vào các vị trí trước khi bước vào trận đấu thực sự Sau đó, khái niệm này được áp dụng linh hoạt trong lĩnh vực kinh doanh, với các phương pháp xoay xở và lập kế hoạch để đạt được mục tiêu Dần dần, chiến lược trở thành một khái niệm rộng rãi, được thích nghi và sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, giúp doanh nghiệp và tổ chức xác định hướng đi phù hợp để thành công.
George Steiner đã giới thiệu khái niệm chiến lược như một phần quan trọng trong quản lý doanh nghiệp, nhấn mạnh rằng chiến lược không phản đối các định nghĩa trước đó mà bổ sung vào quá trình quản lý nhằm đưa ra các quyết định có tính toán dựa trên thực tế cạnh tranh và dự báo thay đổi nhu cầu Theo ông, chiến lược là hình thức quản lý tối cao tập trung vào các quyết định định hướng, xác định mục tiêu và nhiệm vụ của tổ chức Nó bao gồm những hành động trọng yếu nhằm trả lời câu hỏi: cuối cùng chúng ta tìm kiếm điều gì và làm thế nào để đạt được mục tiêu đó trong môi trường cạnh tranh ngày càng khắt khe.
Theo Phạm Lan Anh (2000), chiến lược là tập hợp các quyết định và hành động nhằm hướng mục tiêu, giúp năng lực và nguồn lực của tổ chức đáp ứng hiệu quả các cơ hội và thách thức từ môi trường bên ngoài.
Chiến lược không chỉ xác định đích đến và hướng đi của tổ chức mà còn chỉ ra cách thức thực hiện, bao gồm việc quyết định các mục tiêu dài hạn và cơ bản Nó giúp lựa chọn phương hướng hoạt động, chính sách điều hành phù hợp để tối ưu việc sử dụng và sắp xếp nguồn lực, nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức hoặc mục tiêu quốc gia.
Chiến lược giáo dục là bản thiết kế phát triển dài hạn của hệ thống, giúp thúc đẩy sự thay đổi trong bối cảnh có nhiều biến động và vấn đề bức xúc Theo Bùi Việt Phú (2014), việc xây dựng và thực thi chiến lược sẽ hướng hệ thống giáo dục đến các mục tiêu dài hạn dựa trên phân tích vấn đề, các yếu tố môi trường trong và ngoài, cũng như dự báo về tương lai Chiến lược không chỉ là kế hoạch mà còn là công cụ để định hướng phát triển bền vững, đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của thực tiễn giáo dục hiện đại.
Chiến lược phát triển giáo dục theo Đặng Bá Lãm và Nguyễn Danh Bình (1997) là bản thiết kế tổng thể cho sự phát triển của hệ thống giáo dục, đặt trong bối cảnh môi trường xã hội rộng lớn và toàn diện Đây là kế hoạch dài hạn hướng tới nâng cao chất lượng và sự tiến bộ của nền giáo dục trong mối liên hệ chặt chẽ với sự phát triển của toàn bộ xã hội.
Chiến lược phát triển giáo dục được hiểu là quá trình xác định mục tiêu, giải pháp và các bước đi nhằm xây dựng một nền giáo dục thực tiễn và hiệu quả Mục tiêu của chiến lược là thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của nền giáo dục, nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và bồi dưỡng nhân tài Đây là hướng đi chiến lược nhằm tạo bước tiến mạnh mẽ, góp phần nâng cao trình độ học vấn và phát triển bền vững cho xã hội.
1.1.2 Vai trò, phân loại và cấu trúc của văn bản chiến lược giáo dục 1.1.2.1 Vai trò việc lập kế hoạch chiến lược giáo dục Ở Việt Nam, kể từ khi thực hiện công cuộc đổi mới năm 1986, đã có một số văn kiện mang tính chiến lược về giáo dục Tuy nhiên, khi bước vào thế kỷ 21, nhà nước mới bắt đầu chú ý nhiều đến một cách thức mới trong công tác lập kế hoạch với tên gọi là lập Kế hoạch Chiến lược Lập kế hoạch chiến lược có vai trò rất quan trọng cho sự phát triển giáo dục bền vững, nên các dự án do quốc tế tài trợ cho giáo dục Việt Nam như Dự án Giáo dục đại học của Ngân hàng thế giới, Dự án Giáo viên THCS của Ngân hàng phát triển châu Á, Dự án Tăng cường năng lực Bộ GD&ĐT của Cộng đồng châu Âu đều có các nội dung về lập kế hoạch chiến lược cho các cơ quan quản lý và cơ sở giáo dục tham gia Đặc biệt, trong quá trình soạn thảo Chiến lược Phát triển Giáo dục 2001-2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê quyệt, các chuyên gia biên soạn thống nhất cách hiểu khái niệm và quy trình lập kế hoạch chiến lược như là một trong những điều kiện thiết yếu để tiến hành công việc có kết quả Qua quá trình này, nhiều cán bộ nghiên cứu, cán bộ quản lý và giảng viên bắt đầu quan tâm và tham gia lập kế hoạch chiến lược Một số trường và cơ quan quản lý giáo dục bắt đầu xây dựng kế hoạch chiến lược (Bùi Việt Phú, 2014, tr.13)
Các đơn vị chức năng có thể dựa trên các kế hoạch chiến lược dài hạn để xây dựng các kế hoạch ngắn hạn hàng năm và hàng quý, nhằm đạt được mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn Việc này giúp tạo ra lộ trình rõ ràng, đảm bảo tiến độ và hiệu quả trong quá trình thực hiện, từ đó hướng tới đạt được mục tiêu tổng thể một cách hệ thống và bền vững.
1.1.2.2 Phân loại Chiến lược giáo dục
Chiến lược giáo dục được chia thành hai loại chính: chiến lược giáo dục tổng thể và chiến lược giáo dục bộ phận Chiến lược giáo dục tổng thể hướng tới phát triển toàn ngành giáo dục và liên quan chặt chẽ đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội, nhằm đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với các yêu cầu thời kỳ phát triển khác nhau Trong khi đó, chiến lược giáo dục bộ phận tập trung vào phát triển các lĩnh vực cụ thể như giáo viên, giáo dục mầm non, đại học hoặc giáo dục thường xuyên, nhằm giải quyết các vấn đề đặc thù trong từng lĩnh vực giáo dục Hai loại chiến lược này có mối quan hệ biện chứng, trong đó chiến lược tổng thể tạo khung chung cho các chiến lược bộ phận, còn các chiến lược bộ phận góp phần thúc đẩy sự thay đổi trong từng lĩnh vực nhằm thực hiện mục tiêu chung của toàn ngành giáo dục.
Mỗi kiểu chiến lược giáo dục trên lại có thể được chia thành 3 cấp như sau:
Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 Tổng quan về đất nước Việt Nam
Việt Nam, chính thức là Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nằm trong khu vực Đông Nam Á với hình chữ S, có diện tích 331.114 km² và chiều dài từ Bắc tới Nam khoảng 1.650 km Quốc gia này giáp Trung Quốc ở phía Bắc, Lào ở phía Tây, và Campuchia ở phía Tây Nam Việt Nam bao gồm 63 tỉnh thành, với thủ đô Hà Nội nằm ở phía Bắc và TP Hồ Chí Minh ở miền Nam, là một trong những trung tâm đô thị lớn nhất cả nước Dân số Việt Nam gồm 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số với hơn 80% dân số.
Lịch sử Việt Nam bắt đầu từ khoảng 3000-4000 năm trước, ghi dấu những cuộc đấu tranh chống ngoại xâm bảo vệ độc lập dân tộc Việt Nam nằm ở vị trí chiến lược trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, văn hóa và kinh tế, khiến các thế lực xâm lược luôn hướng tới việc chiếm đoạt đất nước để thực hiện mục đích của mình Trong quá trình lịch sử, Việt Nam đã trải qua hơn 1,000 năm dưới ách Bắc thuộc, khoảng 80 năm thuộc địa Pháp và gần 20 năm chiến tranh chống Mỹ, thể hiện ý chí kiên cường bảo vệ quốc gia khỏi các thế lực xâm lược.
Việt Nam hiện là một quốc gia theo chế độ xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đảng chính trị duy nhất Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam là người đứng đầu đảng, trong khi Nhà nước do Quốc hội bầu ra trong nhiệm kỳ 5 năm, là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân và có quyền lực cao nhất của nhà nước Việt Nam Chủ tịch Quốc hội, do các đại biểu Quốc hội bầu, là người đứng đầu cơ quan lập pháp Chính phủ Việt Nam là cơ quan chấp hành của Quốc hội, trực thuộc Chủ tịch nước, và do Thủ tướng Chính phủ do Chủ tịch nước chỉ định trong số các đại biểu Quốc hội đảm nhiệm vai trò người đứng đầu chính phủ.
Kể từ năm 1986, dưới chính sách Đổi Mới, kinh tế Việt Nam đã trải qua bước ngoặt lớn, chuyển từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Sau cải cách, GDP tăng trung bình gần 7% mỗi năm, đến năm 2016 quy mô nền kinh tế đạt khoảng 217 tỷ USD và trở thành nền kinh tế lớn thứ 6 tại Đông Nam Á Việt Nam đã tích cực tham gia hợp tác đa phương và khu vực qua việc gia nhập ASEAN, AFTA và APEC trong những năm 1990, đồng thời chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007, mở ra nhiều cơ hội phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế.
1.2.2 Tổng quan về giáo dục Việt Nam hiện nay 1.2.2.1 Hệ thống giáo dục
Theo luật Giáo dục Việt Nam (2005), chương trình giáo dục phổ thông kéo dài trong 12 năm, bao gồm các cấp học từ tiểu học, trung học cơ sở (THCS) đến trung học phổ thông (THPT) Đây là thời gian học tập bắt buộc nhằm trang bị kiến thức cơ bản, kỹ năng cần thiết và hình thành nhân cách cho học sinh Hệ thống giáo dục này nhằm đảm bảo sự phát triển toàn diện của học sinh, chuẩn bị họ tốt cho các bước tiếp theo của quá trình học tập và cuộc sống.
Giáo dục tiểu học, còn gọi là cấp 1, kéo dài trong 5 năm từ lớp một đến lớp năm, bắt đầu từ khi học sinh khoảng 6 tuổi Đây là giai đoạn quan trọng trong phát triển giáo dục ban đầu, giúp hình thành nền tảng kiến thức và kỹ năng cần thiết cho các cấp học tiếp theo.
Giáo dục tiểu học bắt buộc đối với mọi công dân Việt Nam và các trường công lập không thu học phí Giáo dục trung học cơ sở (THCS), hay còn gọi là cấp 2, kéo dài trong vòng 4 năm từ lớp 6 đến lớp 9, yêu cầu học sinh hoàn thành chương trình tiểu học và có độ tuổi khoảng 11 tuổi khi vào lớp 6 Tuy nhiên, cấp học này chưa bắt buộc và chưa áp dụng miễn học phí Giáo dục trung học phổ thông (THPT), hay còn gọi là cấp 3, được thực hiện sau cấp 2 nhằm nâng cao trình độ và chuẩn bị cho các cơ hội học tập tiếp theo.
Trong vòng 3 năm học từ lớp 10 đến lớp 12, học sinh Việt Nam phải có bằng tốt nghiệp THCS trước khi bước vào lớp 10 Khi học sinh đủ 15 tuổi, họ bắt đầu vào học lớp 10 và phải hoàn thành chương trình cấp trung học phổ thông để đủ điều kiện tốt nghiệp Để tốt nghiệp cấp 3, học sinh cần tham gia kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông do Bộ GD&ĐT Việt Nam tổ chức, là bước quan trọng để xác nhận hoàn thành chương trình học phổ thông.
Hệ thống giáo dục Việt Nam bao gồm các bậc từ tiểu học, trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT), đào tạo từ trung cấp dạy nghề hoặc trung học chuyên nghiệp kéo dài khoảng 2 năm, đến bậc cao đẳng kéo dài 3 năm Sau đó là trình độ đại học trung bình 4 năm để hoàn thành bằng cử nhân hoặc kỹ sư Hệ thống giáo dục còn bao gồm các bậc sau đại học như thạc sĩ và tiến sĩ, tạo thành một hệ thống toàn diện thể hiện rõ trong sơ đồ của Hình 1.1.
Hình 1.1: Hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam 2
2 Nguồn: Lê Thị Thu Hà (2009), Hệ thống thông tin quản lý giáo dục bậc tiểu học, NXB Đại học Quố gia
Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) là cơ quan của chính phủ chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục toàn diện, từ giáo dục mầm non, phổ thông đến giáo dục trung học chuyên nghiệp, đại học, sau đại học và giáo dục không chính quy UBND cấp tỉnh/thành phố đảm nhận phát triển sự nghiệp giáo dục địa phương và quản lý các trường trung học phổ thông, trung cấp, dạy nghề, cao đẳng theo quy định của chính phủ Ở cấp quận/huyện, việc quản lý các trường mầm non, tiểu học, THCS được thực hiện bởi Phòng Giáo dục, là cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND huyện, trong khi Sở Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) là cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh/thành phố Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội quản lý hệ thống giáo dục dạy nghề, còn một số trường đại học thuộc quyền quản lý của hai bộ chủ quản Hệ thống quản lý giáo dục Việt Nam được mô tả rõ ràng qua sơ đồ tổng thể trong tài liệu.
Hình 1.2: Sơ đồ hệ thống hành chính giáo dục Việt Nam 3
1.2.2.2 Các luật định về giáo dục
Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều luật về giáo dục như Luật Giáo dục, Luật Giáo dục Đại học và Luật Dạy nghề nhằm thúc đẩy sự phát triển教育 toàn diện Theo Hiến pháp năm 1992, vai trò của giáo dục được xác định là quốc sách hàng đầu để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, góp phần phát triển đất nước Nhà nước quản lý hệ thống giáo dục quốc dân từ mục tiêu, chương trình đến tiêu chuẩn giáo viên, đồng thời phát triển cân đối các lĩnh vực như mầm non, phổ thông, nghề nghiệp, đại học và sau đại học Chính sách ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số và khu vực khó khăn thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước trong việc đảm bảo quyền tiếp cận giáo dục bình đẳng Các tổ chức xã hội, gia đình và nhà trường cùng nhau có trách nhiệm trong việc giáo dục thế hệ trẻ, góp phần xây dựng một nền giáo dục phát triển bền vững và đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới.
Hiến pháp bổ sung sửa đổi năm 2013, Điều 61 Chương 3 nhấn mạnh vai trò trọng yếu của giáo dục trong sự nghiệp phát triển quốc gia, với nội dung khẳng định rằng "Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài." Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn lực khác để thúc đẩy giáo dục, đặc biệt chú trọng chăm sóc giáo dục mầm non và đảm bảo giáo dục tiểu học là bắt buộc, không thu học phí nhằm tạo điều kiện học tập công bằng cho mọi người dân.
Theo Lê Thị Thu Hà (2009), hệ thống thông tin quản lý giáo dục tiểu học đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển giáo dục toàn diện Chính phủ đã đặt mục tiêu mở rộng phổ cập giáo dục trung học, nâng cao chất lượng giáo dục đại học và đào tạo nghề nghiệp phù hợp Các chính sách hỗ trợ như học bổng, học phí hợp lý được triển khai nhằm đảm bảo mọi người dân đều có cơ hội tiếp cận giáo dục Đặc biệt, nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, từ đó tạo điều kiện để phát triển nhân tài và hỗ trợ người khuyết tật, người nghèo được tiếp cận kiến thức và đào tạo nghề.
Chính sách phát triển giáo dục đã được thể chế hóa trong Luật Giáo dục mới
Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài Nội dung này nhấn mạnh rằng việc phát triển giáo dục phải gắn liền với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học và công nghệ, cùng với việc củng cố quốc phòng và an ninh Các mục tiêu chính bao gồm thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa và xã hội hóa giáo dục, đồng thời bảo đảm cân đối về cơ cấu trình độ, ngành nghề và vùng miền Phương hướng phát triển tập trung vào mở rộng quy mô giáo dục một cách bền vững, đảm bảo chất lượng và hiệu quả, kết hợp giữa đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực hiệu quả.
Mục tiêu giáo dục Việt Nam là đào tạo con người phát triển toàn diện về đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Nền giáo dục này nhằm hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất, năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc Giáo dục Việt Nam dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, mang tính nhân dân, dân tộc, khoa học và hiện đại Hoạt động giáo dục phải thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, kết hợp giáo dục với lao động sản xuất, lý luận gắn với thực tiễn, đồng thời phối hợp giữa giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội để đạt hiệu quả cao nhất.
Quá trình phát triển giáo dục Việt Nam
Việt Nam có lịch sử và văn hóa lâu đời, từ đời vua Hùng đầu tiên khoảng
Việt Nam đã trải qua gần 3000 năm lịch sử kể từ 800 năm trước Công nguyên, trong đó đất nước phải vượt qua nhiều cuộc chiến tranh và chiến thắng nhiều kẻ thù ngoại xâm để giành độc lập Giáo dục Việt Nam cũng đã trải qua những biến đổi quan trọng theo các giai đoạn lịch sử, góp phần phát triển nền giáo dục quốc gia ngày càng vững mạnh.
Lịch sử giáo dục Việt Nam được tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu uy tín, như “Sơ lược lịch sử giáo dục Việt Nam và một số nước trên thế giới” của Nguyễn Thị Thãi và “Education in Vietnam: Development History, Challenges and Solutions” của tác giả Nguyen Quá trình phát triển giáo dục Việt Nam trải qua nhiều giai đoạn quan trọng, từ thời kỳ phong kiến, thuộc địa đến nền giáo dục hiện đại, chịu ảnh hưởng của các biến cố lịch sử và những thay đổi trong chính sách giáo dục Các chặng đường phát triển đã tạo nền tảng vững chắc cho hệ thống giáo dục ngày nay, đồng thời đối mặt với nhiều thách thức cần giải quyết để nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy Những nỗ lực đổi mới giáo dục và cải thiện hệ thống đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước, đồng thời giữ vững truyền thống giáo dục lâu đời của Việt Nam.
Quang Kinh và Nguyen Quoc Chi (2008, NXB Word Bank)
2.1.1 Sơ lược lịch sử giáo dục Việt Nam thời phong kiến và thời thuộc địa 2.1.1.1 Thời phong kiến
Trong lịch sử Việt Nam từ thời các vua Hùng dựng nước đến khi Ngô Quyền xưng vương, đánh tan quân Nam Hán và chấm dứt hơn nghìn năm Bắc thuộc, ít có tài liệu ghi chép về hoạt động giáo dục, đặc biệt là việc dạy và học chữ Tuy nhiên, dựa trên sử sách ca ngợi công lao của Thái thú Sỹ Nhiếp trong việc mở mang giáo dục tại Giao Chỉ cùng những đoạn viết về các người Việt đỗ đạt và làm quan ở phương Bắc, có thể nhận thấy trong thời kỳ Bắc thuộc đã xuất hiện một tầng lớp người Việt biết chữ Thêm vào đó, việc du nhập đạo Phật đã giúp các chùa chiền trở thành nơi dạy chữ và đào tạo các nhà sư, góp phần phát triển giáo dục trong cộng đồng.
Từ thiên niên kỷ thứ hai, tổ tiên người Việt đã chú trọng xây dựng và bảo vệ đất nước đồng thời phát triển nền giáo dục dân tộc Đặc biệt, vua Lý Thánh Tông đã thành lập Văn Miếu tại thủ đô Thăng Long vào năm 1070, thể hiện sự coi trọng vai trò của giáo dục và truyền thống văn hóa trong lịch sử Việt Nam.
Năm 1070 đánh dấu sự kiện quan trọng trong lịch sử giáo dục Việt Nam, và năm 1075 tổ chức kỳ thi đầu tiên nhằm kiểm tra năng lực học sinh Đến thời vua Lý Nhân Tông, Quốc Tử Giám – trường đại học quốc gia đầu tiên của Nhà nước phong kiến Việt Nam – được thành lập vào năm 1076 Ban đầu, Quốc Tử Giám chỉ dạy con cái vua quan, nhưng sau đó mở rộng đối tượng tuyển sinh cho các thanh thiếu niên có tư chất và đủ trình độ trong dân gian, góp phần nâng cao nền giáo dục quốc gia.
Hệ thống giáo dục thời đó gồm các trường tư thục, còn gọi là trường làng, dành cho đại chúng do các cụ đồ Nho mở lớp dạy học Các trường cấp cao hơn gồm trường quan học dành cho con em của các quan huyện và phủ, thể hiện sự phân chia rõ rệt trong hệ thống giáo dục cổ đại Trường Quốc là cấp cao nhất trong hệ thống, đào tạo các nhân tài quốc gia để phục vụ quốc gia và dân tộc.
Tử Giám dành cho con cái triều đình được xem là trường đại học đầu tiên của Việt Nam, thể hiện nền giáo dục phát triển từ thế kỷ XV–XVI Các phủ, lộ đều có trường công để nâng cao chất lượng giáo dục quốc gia Nhà nước phong kiến chú trọng tổ chức các kỳ thi nhằm chọn người tài cho bộ máy điều hành, trong đó chế độ thi cử gồm ba cấp là Thi Hương, Thi Hội và Thi Đình Thi Hương được tổ chức tại địa phương mỗi 3 năm, còn Thi Hội và Thi Đình đều diễn ra mỗi 3 năm một lần sau kỳ thi Hương Thi Đình được tổ chức trong sân điện của nhà vua dành cho các thí sinh đỗ thi Hội, với đề thi do nhà vua ra, điểm đậu tối đa là 10 điểm và người đạt điểm này gọi là Trạng Nguyên.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân thời phong kiến, bên cạnh một số ít trường công, nhiều làng xã đã tổ chức dạy học tại nhà, nơi chủ gia đình mời thầy về truyền đạt kiến thức cho con em và thanh thiếu niên địa phương Nhà chủ chịu trách nhiệm chu cấp sinh hoạt và phụ cấp cho thầy Theo Nho giáo, vị trí của thầy giáo đứng thứ dưới vua và trên cha mẹ, thể hiện tầm quan trọng của giáo dục trong xã hội Việt Nam cổ đại Nhiều người dân coi việc cho con học chữ là cách để trở thành người đứng đắn, dù nghèo cũng cố gắng học để làm người có ích Để trở thành người lãnh đạo hoặc chức quan, sĩ tử cần thi đỗ các kỳ thi quan trọng như thi văn hoặc thi võ, xem đó là con đường duy nhất để thăng tiến trong xã hội phong kiến Nhà nước phong kiến còn tổ chức các kỳ thi lại viên để tuyển chọn người biết chữ, tính toán làm thuộc lại, giúp việc cho các quan đầu triều, góp phần xây dựng hệ thống quan lại hiệu quả.
Trong suốt hàng nghìn năm, người Việt Nam sử dụng chữ Hán như văn tự chính thức để ghi chép và học tập Mặc dù vậy, nhờ vào nền giáo dục phát triển, ý thức về độc lập dân tộc và giữ gìn bản sắc văn hóa, người Việt không bị Hán hóa Bên cạnh chữ Hán, người Việt còn sáng tạo chữ Nôm dựa trên chữ Hán để ghi chép và thể hiện tiếng Việt một cách linh hoạt.
Từ cuối thế kỷ XIX đến gần nửa thế kỷ XX, Việt Nam chịu hơn 80 năm thực dân Pháp xâm lược và đô hộ Dưới chế độ thuộc địa, nhu cầu của Pháp là xóa bỏ nền Nho học truyền thống và xây dựng hệ thống giáo dục phục vụ mục đích cai trị Hệ thống giáo dục Việt Nam đã chuyển từ mô hình Trung Quốc sang mô hình Pháp, trong đó tiếng Hán nhường chỗ cho tiếng Quốc ngữ và tiếng Pháp Chính quyền Pháp đã điều chỉnh và tùy biến hệ thống giáo dục để phù hợp với mục tiêu thực dân, tạo ra hệ thống giáo dục Pháp - Việt dành cho người bản xứ, còn gọi là Giáo Dục Pháp - Việt.
Nửa cuối thế kỷ XIX đánh dấu sự xuất hiện của những ngôi trường Pháp - Việt đầu tiên ở Nam Kỳ, khi chính quyền thuộc địa ban hành các văn bản về giáo dục Quyết định ngày 17/11/1874 của Chuẩn đô đốc – quyền Thống đốc Nam Kỳ quy định hệ thống giáo dục theo mô hình Pháp gồm hai bậc: tiểu học và trung học, tổng thời gian học là 6 năm; trong đó, tiểu học học chữ quốc ngữ, chữ Nho và tiếng Pháp, còn trung học tập trung vào tiếng và văn học Pháp Nghị định số 55 ngày 17/03/1879 của Thống đốc Nam Kỳ tổ chức Sở Học chính, chia chương trình học thành ba cấp với tổng thời gian 10 năm, gồm cấp một 3 năm, cấp hai 3 năm, và cấp ba 4 năm.
Các văn bản này quy định rằng tại các trường thuộc địa, chương trình giáo dục công miễn phí và dựa trên tinh thần tự nguyện Trường tư chỉ được phép mở khi có sự chấp thuận của chính quyền và người xin phép phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện về đạo đức, năng lực theo quy định Ngoài ra, các trường tư còn phải chịu sự giám sát chặt chẽ từ phía chính quyền nhằm đảm bảo tuân thủ các quy định giáo dục.
Năm 1906, sau khi chiếm đóng Bắc Kỳ và Trung Kỳ, Pháp tiến hành cuộc cải cách giáo dục theo mô hình Pháp, thiết lập hệ thống giáo dục chính quy tại địa phương Chính quyền Pháp xây dựng hệ thống trường tiểu học và trung học công lập, gọi là đệ nhị cấp và đệ tam cấp, nhằm mục tiêu tiêu chuẩn hóa giáo dục tại các huyện, phủ của mỗi tỉnh Chương trình giáo dục tiểu học và trung học do nhà nước quản lý bắt buộc, góp phần mở rộng và củng cố hệ thống giáo dục tại các vùng chiếm đóng.
Vào đầu thế kỷ 20, Pháp bắt đầu cải tổ hệ thống giáo dục tại Kỳ và Trung Kỳ theo quy chế bảo hộ, trong đó lần đầu tiên thay đổi kỳ thi Hương Chính quyền Pháp đã thành lập Trường Quốc học Huế và Trường Bảo hộ ở Hà Nội để đào tạo trung học, thúc đẩy quá trình hiện đại hóa giáo dục tại miền Trung và miền Bắc Việt Nam Chế độ giáo dục và khoa cử Nho học dần bị xóa bỏ hoàn toàn khi tổ chức cuộc thi Hội tại Huế năm 1919, đánh dấu sự kết thúc của thời kỳ khoa cử truyền thống.
Trong cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất, ngành giáo dục tiểu học đã chuyển từ việc giao phó cho thôn xã hoặc tư nhân sang sự quản lý của nhà nước với chương trình mới, tích hợp nội dung khoa học phương Tây và kiến thức thực hành phổ biến Việc giảng dạy hoàn toàn bằng chữ Hán bị loại bỏ, thay vào đó là phương pháp giảng dạy hiện đại hơn, giúp học sinh tiếp cận nhiều loại chữ viết và ngôn ngữ hơn: từ học cả chữ Hán và chữ Quốc ngữ ở cấp một, đến chỉ còn lại chữ Hán, chữ Quốc ngữ và một phần tiếng Pháp ở cấp hai, rồi tất cả đều trở thành bắt buộc ở cấp ba Tuy nhiên, cuộc cải cách này chủ yếu được áp dụng tại các khu vực bảo hộ như Bắc Kỳ và Trung Kỳ.
Chiến lƣợc phát triển giáo dục Việt Nam hiện nay
Trước năm 2000, Việt Nam chưa chính thức xây dựng chiến lược giáo dục với tên gọi cụ thể, nhưng đã thực hiện ba đợt cải cách giáo dục quan trọng vào các năm 1950, 1956 và 1979 Các đợt cải cách này đã góp phần định hình lại hệ thống giáo dục và thúc đẩy sự phát triển của nền giáo dục quốc gia Đến năm 2000, Việt Nam mới bắt đầu triển khai chiến lược giáo dục chính thức nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của thị trường lao động.
Lê Thạc Cán, sinh năm 1997, là một nhà nghiên cứu nổi bật trong lĩnh vực phát triển giáo dục tại Việt Nam Kể từ khi đất nước bắt đầu chuẩn bị cho cuộc đổi mới vào năm 1986, các văn kiện chiến lược về phát triển giáo dục của Việt Nam bắt đầu xuất hiện và đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự tiến bộ của ngành giáo dục Những tài liệu này đã xác định những mục tiêu dài hạn và các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. -Nâng cao chất lượng giáo dục Việt Nam với giải pháp AI thông minh từ [Talkpal](https://pollinations.ai/redirect/2699274).
Trong những năm qua, các văn bản chiến lược quan trọng như "Phương hướng chiến lược dài hạn của các ngành giáo dục (1986)" đã định hình hướng đi phát triển của ngành giáo dục Việt Nam Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng về tiếp tục đổi mới Giáo dục-Đào tạo (1993) thể hiện nỗ lực cải thiện chất lượng giáo dục và đổi mới phương pháp giảng dạy để phù hợp với yêu cầu thời đại Những nghị quyết này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiện đại hóa hệ thống giáo dục, nâng cao năng lực đào tạo nhân lực chất lượng cao để phát triển kinh tế và xã hội bền vững.
W về định hướng phát triển Giáo dục-Đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
Trong đó, “Bản phương hướng chiến lược dài hạn và kế hoạch 5 năm 1986-
Trong báo cáo "1990 của các ngành giáo dục" do nhóm nghiên cứu dự báo và chiến lược Giáo dục-Đào tạo đề ra, nội dung chính gồm tổng kết tình hình giáo dục từ 1976-1985, phân tích những nhận xét lớn về quá trình giáo dục, đồng thời đề xuất các phương hướng chiến lược dài hạn cho ngành giáo dục từ 1985 đến 2010 về quan điểm, mục tiêu và biện pháp chiến lược Ngoài ra, văn bản còn xác định các phương hướng và mục tiêu cho kế hoạch 5 năm 1986-1990 Nhiều nội dung của tài liệu này đã được tích hợp vào chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, và đã được thông qua tại Đại hội lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Vào năm 1993, Hội nghị lần thứ 4 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII ban hành Nghị quyết về tiếp tục đổi mới sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo nhằm thực hiện chủ trương của Đại hội VII của Đảng, xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu cùng với khoa học và công nghệ Nghị quyết nhằm khắc phục tình trạng giáo dục còn thấp xa so với yêu cầu của đất nước và những biểu hiện xuống cấp giáo dục đáng báo động Mặc dù không gọi tên là chiến lược, nhưng nội dung và yêu cầu của nghị quyết mang tính phương hướng chiến lược rõ ràng, thúc đẩy sự đổi mới toàn diện nền giáo dục Việt Nam.
Sau khi Nghị quyết 4 ban hành, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thành lập Tổ nghiên cứu chiến lược phát triển giáo dục để cụ thể hóa các phương hướng của Nghị quyết 4 thành các kế hoạch hành động thực tiễn Ban đầu, chiến lược phát triển giáo dục được xác định từ năm 1996 đến 2010 theo quy định chung của Nhà nước, sau đó đã được điều chỉnh kéo dài đến năm 2020 theo ý kiến chỉ đạo của các cơ quan của Đảng.
Tổ nghiên cứu đã đưa ra dự thảo: “Định hướng phát triển GD&ĐT tới năm 2020”
Dự thảo đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) chấp nhận để lấy ý kiến của cán bộ khoa học và quản lý, trình lên Thủ tướng Chính phủ cùng Ban Khoa giáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng vào đầu năm 1996 Trong giai đoạn này, Đảng đang chuẩn bị Hội nghị lần thứ 2 của Ban Chấp hành Trung ương Khóa VIII, và Bộ GD&ĐT đã chuyển nhiệm vụ nghiên cứu chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) cho Ban chỉ đạo xây dựng chiến lược phát triển GD&ĐT, dựa trên Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục làm cơ sở thường trực Đồng thời, Bộ đã bổ sung, hoàn chỉnh dự thảo định hướng chiến lược nhằm góp phần vào việc ban hành Nghị quyết 2 về định hướng phát triển GD&ĐT trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000.
Trong quá trình xây dựng các văn kiện về chiến lược phát triển giáo dục của Việt Nam cuối thế kỷ 20, đã đặt nền tảng cho các chính sách giáo dục quốc gia Tuy nhiên, luận văn này tập trung phân tích chiến lược giáo dục hiện nay, đặc biệt là các chính sách sau năm 2000 nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế Phiên bản chiến lược mới không chỉ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững và hiện đại hóa hệ thống giáo dục Việt Nam.
2.2.2 Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2001-2010
Ngày 28 tháng 12 năm 2001, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 201/2001/QĐ về việc phê duyệt “Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010” Cấu trúc của Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 gồm 6 điểm lớn: Tình hình giáo dục Việt Nam hiện nay; Bối cảnh và thời cơ, thách thức đối với giáo dục nước ta trong vài thập kỷ tới; Các quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục; Mục tiêu phát triển giáo dục đến năm 2010; Các giải pháp phát triển giáo dục; Tổ chức thực hiện chiến lược
2.2.2.1 Tình hình và bối cảnh giáo dục Việt Nam
Chiến lược phát triển giáo dục của Việt Nam bắt đầu bằng việc phân tích tình hình giáo dục quốc gia cùng với bối cảnh thời cơ và thách thức ảnh hưởng đến ngành giáo dục trong thập niên tới Việt Nam đã áp dụng công cụ phân tích SWOT (Điểm mạnh, Điểm yếu, Cơ hội, Thách thức) để xây dựng chiến lược phát triển giáo dục dựa trên nền tảng khoa học vững chắc.
Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong lĩnh vực giáo dục, như hệ thống giáo dục quốc dân hoàn chỉnh, đa dạng và thống nhất từ mầm non đến sau đại học, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng của xã hội Quy mô giáo dục phát triển nhanh, với lực lượng lao động qua đào tạo chiếm 20% tổng số lao động cả nước, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Công bằng xã hội trong giáo dục cơ sở được đảm bảo, đặc biệt là ở các vùng dân tộc thiểu số, đã hoàn thành công tác xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và đang tiến tới phổ cập THCS, đồng thời đạt được bình đẳng giới trong giáo dục Công tác xã hội hóa giáo dục bước đầu mang lại kết quả tích cực, và chất lượng giáo dục cũng có những chuyển biến rõ rệt, giúp chỉ số phát triển con người (HDI) tăng 19 bậc so với chỉ số phát triển kinh tế (GDP/người), phản ánh sự tiến bộ toàn diện của ngành.
Việt Nam vẫn còn nhiều điểm yếu trong lĩnh vực giáo dục, trong đó chất lượng giáo dục chung còn thấp và chưa đạt trình độ quốc tế cũng như phù hợp với nhu cầu ngành nghề của xã hội Hiệu quả hoạt động giáo dục chưa cao, tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp, và nhiều học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp vẫn gặp khó khăn trong tìm kiếm việc làm Cơ cấu về trình độ, ngành nghề và vùng miền vẫn còn mất cân đối, trong khi đội ngũ nhà giáo thiếu về số lượng và chất lượng còn hạn chế Cơ sở vật chất của các trường học vẫn thiếu thốn, đặc biệt là chưa hoàn thành việc thanh toán các lớp học 3 ca, gây ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy Chương trình, giáo trình và phương pháp giáo dục chậm đổi mới, hiện đại hóa và công tác quản lý giáo dục còn chưa đạt hiệu quả mong đợi.
Trong bối cảnh quốc tế và trong nước, giáo dục Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để tiếp cận các xu hướng và tri thức mới nhờ sự đổi mới toàn cầu, đồng thời cũng phải vượt qua nhiều thách thức về mặt nội bộ Các cơ hội này tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam áp dụng phương pháp giảng dạy hiện đại, học hỏi kinh nghiệm quốc tế và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong giáo dục Tuy nhiên, nước ta cần khắc phục những bất cập hiện tại để thu hẹp khoảng cách với các nền giáo dục tiên tiến đang đổi mới không ngừng, đồng thời phải đối mặt với sự mất cân đối giữa yêu cầu mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục Do đó, việc vừa thúc đẩy sự chuyển biến toàn diện, vừa giữ vững ổn định hệ thống giáo dục là vấn đề cần ưu tiên hàng đầu để đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành giáo dục Việt Nam.
2.2.2.2 Quan điểm chỉ đạo và mục tiêu phát triển giáo dục đến năm 2010
Việt Nam xác định rõ quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục gồm các nội dung chính: giáo dục là quốc sách hàng đầu, xây dựng nền giáo dục mang tính nhân dân, dân tộc, khoa học và hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa, lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng; phát triển giáo dục phải gắn liền với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và tiến bộ của khoa học - công nghệ; và đây là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước cũng như toàn thể nhân dân.
Trong giai đoạn này, chiến lược phát triển tập trung vào giáo dục toàn diện về đức, trí, thể chất và mỹ thuật, nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đạt 40% vào năm 2010, trong đó người trở thành cao đẳng trở lên đạt 6%, trung học chuyên nghiệp 8%, và công nhân kỹ thuật 26% Đồng thời, chiến lược cũng hướng tới phổ cập giáo dục trung học cơ sở (THCS) trên toàn quốc, nhằm nâng cao dân trí và thúc đẩy phát triển bền vững của đất nước.
Tỷ lệ trẻ em/học sinh trong độ tuổi đến trường
Dạy nghề Tỷ lệ học sinh sau THCS vào học trường dạy nghề 10% 15%
Tỷ lệ học sinh sau THPT, THCN vào học chương trình này
Giáo dục cao đẳng, đại học, sau đại học
Nâng tỷ lệ sinh viên trên một vạn dân từ 118 năm học 2000-
2001 lên 200 vào năm 2010 Tăng quy mô đào tạo thạc sỹ từ 11.727 học viên năm 2000 lên 38.000, nghiên cứu sinh từ 3.870 năm 2000 lên 15.000 vào năm 2010
Giáo dục không chính quy
Nâng tỷ lệ sinh viên trên một vạn dân từ 118 năm học 2000-
2001 lên 200 vào năm 2010 Tăng quy mô đào tạo thạc sỹ từ 11.727 học viên năm 2000 lên 38.000, nghiên cứu sinh từ 3.870 năm 2000 lên 15.000 vào năm 2010
Giáo dục trẻ khuyết tật
Đánh giá kết quả đạt đƣợc của chiến lƣợc phát triển giáo dục Việt Nam 72 1 Những thành tựu
2.3.1 Những thành tựu 2.3.1.1 Phổ cập giáo dục tiểu học và THCS
Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phổ cập giáo dục, đặc biệt là phổ cập giáo dục tiểu học và THCS Nhà nước ban hành Luật phổ cập giáo dục tiểu học năm 1991 và Nghị định về thực hiện phổ cập giáo dục THCS năm 2001, giúp đoạt được thành tựu lớn này Năm 2000, Việt Nam hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học, và đến năm 2010, đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS, với tỷ lệ học sinh đi học đúng độ tuổi duy trì ổn định Việc hoàn thành phổ cập giáo dục trên toàn quốc mất khoảng 10 năm Theo luật giáo dục, học sinh tiểu học được miễn học phí, trong khi học sinh THCS phải đóng học phí, nhưng từ tháng 8 năm 2018, chính phủ đã chính thức thống nhất phương án miễn học phí cho học sinh THCS hệ công lập, góp phần tăng cường công bằng và nâng cao chất lượng giáo dục.
2.3.1.2 Đạt thành tích cao trong các cuộc thi quốc tế
Năm 2012, Việt Nam lần đầu tham gia Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA) do OECD tổ chức, đạt thứ 17 về môn Toán, thứ 8 về Khoa học, thứ 19 về Đọc hiểu trong số 65 quốc gia và vùng lãnh thổ Theo OECD, hai chỉ số ảnh hưởng đến kết quả PISA là GDP và HDI (Chỉ số Phát triển Con người) Mặc dù chỉ số GDP của Việt Nam chỉ đạt 1.000 USD/người đứng thứ 69/70 quốc gia và HDI xếp thứ 70/70, nhưng thành tích của Việt Nam lại vượt xa các quốc gia có chỉ số GDP và HDI cao hơn Trong năm 2015, thành tích của Việt Nam tiếp tục duy trì vị trí cao, xếp thứ 8 về Khoa học, thứ 22 về Toán và thứ 32 về Đọc hiểu trên tổng số 72 quốc gia tham gia đánh giá.
Kết quả PISA không phản ánh toàn bộ khả năng học tập của học sinh cũng như môi trường và chất lượng giáo dục tại Việt Nam, nhưng cho thấy học sinh Việt Nam có thể đáp ứng yêu cầu trong các lĩnh vực Khoa học, Toán học và Đọc hiểu của OECD Đây là dấu hiệu cho thấy tiềm năng phát triển giáo dục của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
2.3.2 Những hạn chế còn tồn tại 2.3.2.1 Hệ thống giáo dục nặng về thi cử và bệnh thành tích
Trong xã hội truyền thống Việt Nam, sự chậm phát triển và ít biến đổi của khoa học công nghệ đã khiến giáo dục chủ yếu tập trung vào việc truyền đạt kiến thức lý thuyết, bỏ qua việc phát triển năng lực vận dụng của người học Nhà giáo thường chú trọng vào giảng dạy kiến thức theo phương pháp nhồi nhét, trong khi phụ huynh và học sinh đặt nặng vấn đề bằng cấp và kết quả thi cử hơn là phẩm chất và năng lực thực tế của người học Đặc biệt, chương trình giáo dục phổ thông quá nặng nề, mang tính lý thuyết cao, không phù hợp với tâm sinh lý và khả năng tiếp thu của học sinh, gây ra áp lực lớn đối với giáo viên và học sinh do chế độ thi cử nặng nề và quản lý theo kiểu truyền thống.
Chế độ làm việc của giáo viên hiện nay quá căng thẳng, khiến việc dạy và học tại trường không đủ và buộc phải mở rộng dạy thêm, học thêm một cách tràn lan Học sinh ngày càng ít có thời gian để tự tư duy và khám phá kiến thức, thay vào đó chủ yếu học thuộc lòng để chuẩn bị cho các kỳ thi Áp lực lớn từ khối lượng kiến thức khiến học sinh chỉ còn cách học vẹt, hình thành thói quen không tốt trong quá trình học tập Tình trạng này không chỉ phổ biến ở bậc phổ thông mà còn lan rộng đến các trường đại học và các trung tâm đào tạo nghề, gây ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng giáo dục.
2.3.2.2 Trình độ học vấn không đồng đều và bất công bằng
Trong những năm gần đây, cuộc sống vật chất và tinh thần của người Việt Nam đã có nhiều thay đổi tích cực, với trình độ dân trí và học vấn của nhân dân ngày càng nâng cao Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách nhằm thúc đẩy công bằng xã hội trong giáo dục, hỗ trợ con em các dân tộc thiểu số, các gia đình vùng sâu, vùng xa, hộ nghèo, phụ nữ và các đối tượng thiệt thòi Tuy nhiên, bất chấp những nỗ lực này, giáo dục Việt Nam vẫn đối mặt với các vấn đề về công bằng, tồn tại những bất công trong tiếp cận và chất lượng giáo dục.
Trình độ dân trí và phát triển giáo dục giữa các vùng miền còn rất chênh lệch lớn, ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng nguồn nhân lực của cả nước Theo kết quả điều tra dân số và nhà ở năm 2016, tỷ lệ người dân chưa từng đi học toàn quốc là 3,9%, trong đó vùng trung du và miền núi phía Bắc đạt 7,9%, cao hơn nhiều so với Đồng bằng sông Hồng chỉ 1,2% Các vùng như Tây nguyên, Tây Bắc, Tây Nam bộ có tỷ lệ bỏ học tiểu học và THCS cao do một bộ phận trẻ em phải đi lao động sớm Trình độ học vấn của cư dân giữa thành thị và nông thôn cũng có sự chênh lệch lớn, đặc biệt ở Tây nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long – hai vùng có trình độ thấp nhất cả nước.
Bảng 10 thể hiện tỷ trọng dân số chưa đi học từ 5 tuổi trở lên và tỷ lệ đi học đúng tuổi được phân theo các cấp học và vùng kinh tế-xã hội năm 2016 Những số liệu này cho thấy mức độ tiếp cận giáo dục của các nhóm dân cư khác nhau, phản ánh mức độ phát triển của từng vùng Phân tích cho thấy, các vùng kinh tế-xã hội có mức độ đi học đúng tuổi cao hơn, trong khi tỷ lệ dân số chưa đi học còn cao tại các khu vực khó khăn Thống kê này giúp đánh giá hiện trạng và đề xuất chính sách nâng cao tỷ lệ đi học đúng tuổi, góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn diện của giáo dục trong giai đoạn tới.
(Đơn vị tính : Phần trăm) Chưa đi học (từ 5 tuổi trở lên)
Tỷ lệ đi học đúng tuổi trường tiểu học trường THCS trường THPT
Trung du và miền núi phía Bắc
Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung
Tây Nguyên 7,4 96,5 84,4 55,7 6,3 Đông Nam Bộ 1,9 98,3 92,8 70,9 34,7 Đồng bằng sông cửu Long 5,6 96,9 84,5 54,2 16,9
(Nguồn :Tổng cục thống kê-Kết quả chủ yếu điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình thời điểm 1/4/2016)
Sự bất công giữa trường công và trường tư vẫn còn tồn tại rõ rệt tại Việt Nam, khi nhà nước hỗ trợ tài chính và chính sách cho các trường công lập nhưng lại ít hoặc không có hỗ trợ tương ứng cho các trường tư thục Trong khi học sinh trường công được miễn học phí từ cấp tiểu học đến trung học cơ sở, thì học sinh trường tư vẫn phải đóng học phí, với mức cao gấp 5-7 lần so với trường công Đặc biệt, với số lượng học sinh vượt quá khả năng tiếp nhận của các trường công, nhiều học sinh thi trượt lớp 10 công lập buộc phải theo học tại các trường tư Chính sách ưu tiên xây dựng cho trường công đã khiến học sinh và giáo viên mong muốn hưởng chính sách nhà nước phải lựa chọn vào hệ thống công, tạo nên sự chênh lệch rõ rệt trong tiếp cận giáo dục giữa các loại trường.
2.3.2.3 Công tác quản lý giáo dục còn chậm đổi mới, chậm tiến hành tự chủ
Công tác quản lý nhà nước về giáo dục đã có những tiến bộ rõ rệt nhờ việc Bộ GD&ĐT ban hành nhiều văn bản chỉ đạo mới Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những quy định cứng nhắc, mang tính đồng loạt, thiếu linh hoạt trong quản lý nhà nước, quản trị đại học và các trường phổ thông Các quy định này thường mang tính cầm tay chỉ việc, hạn chế tính sáng tạo và chủ động của cán bộ, giáo viên, học sinh, đồng thời không phù hợp với thực tế đổi mới của ngành giáo dục hiện nay.
Phỏng vấn của chúng tôi cho thấy nhiều hạn chế trong quản lý nhà nước về giáo dục, điển hình qua chia sẻ của thầy NHC tại trường THCS Phú Thành ngày 18/12/2018 Thầy nhấn mạnh rằng nhà trường chưa được tự chủ về nhân sự, việc tuyển dụng và bổ sung biên chế gặp nhiều khó khăn, cùng với quy trình kiểm điểm, kỷ luật và sa thải giáo viên yếu kém còn phức tạp Các trường phổ thông chưa đẩy mạnh công tác tự chủ, số lượng nhân viên phục vụ hạn chế và lương thấp, trong khi thủ tục đầu tư, thanh quyết toán hồ sơ mua sắm và sửa chữa tốn nhiều chi phí do quy trình phức tạp Vì vậy, cần có sự thay đổi kịp thời trong lãnh đạo nhà trường để đáp ứng nhu cầu phát triển giáo dục, đồng thời các địa phương cần mạnh dạn trao quyền tự chủ hơn cho các trường phổ thông.
14 http://giaoduc.net.vn “Giáo dục-Có hay không sự bất công đến từ chính sách” (16/08/2018)
15 http://toquoc.vn “Phó Thủ tướng nêu 5 bất cập của ngành giáo dục” (22/08/2017)
CHƯƠNG 3 : CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC CỦA HÀN QUỐC GIAI ĐOẠN 1960-ĐẦU THẾ KỶ 21 VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Quá trình phát triển giáo dục Hàn Quốc
3.1.1 Quá trình phát triển giáo dục giai đoạn 1960-đầu thế kỷ 21
Bài viết này cung cấp cái nhìn tổng quan về lịch sử giáo dục Hàn Quốc dựa trên tài liệu "Giáo dục Hàn Quốc 60 năm" của tác giả Lee Jong Jae Quá trình phát triển giáo dục Hàn Quốc đã trải qua nhiều giai đoạn quan trọng, từ những ngày đầu xây dựng hệ thống giáo dục cho đến sự mở rộng và nâng cao chất lượng giáo dục hiện nay Lịch sử giáo dục Hàn Quốc phản ánh những thay đổi chính trị, xã hội và kinh tế của đất nước, góp phần hình thành nền giáo dục hiện đại, toàn diện và cạnh tranh trên thế giới.
(2009, NXB KICE) 16 và báo cáo “Giáo dục Đại Hàn Dân Quốc 70 năm” của Viện bảo tàng Lịch sử Hàn Quốc (2014) 17
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Hàn Quốc thoát khỏi sự cai trị của Nhật Bản, tuy nhiên tỷ lệ mù chữ ở miền Nam vẫn rất cao, chiếm tới 78%, và chỉ có 45,2% học sinh đúng tuổi đến trường tiểu học, phản ánh nhiều thách thức về giáo dục Hơn nữa, sau chiến tranh Triều Tiên năm 1950, phần lớn cơ sở vật chất của các trường học bị phá hủy nghiêm trọng, gây khó khăn cho chính phủ Hàn Quốc trong việc xây dựng và thực hiện chính sách giáo dục hiệu quả.
Chính sách quan trọng nhất trong giai đoạn này là phục hồi hạ tầng giáo dục đã bị phá hủy và hoàn thành chương trình giáo dục bắt buộc cấp tiểu học Kể từ năm 1945, chính phủ Hàn Quốc đã triển khai "Kế hoạch 6 năm hoàn thành giáo dục bắt buộc", giúp tỷ lệ học sinh đúng tuổi đến trường cấp tiểu học đạt trên 90% Tuy nhiên, sau Chiến tranh Triều Tiên, ngân sách dành cho giáo dục thiếu hụt, gây khó khăn trong việc xây dựng đủ trường học cho tất cả học sinh Điều này dẫn đến hiện tượng bình quân mỗi lớp học có hơn 100 học sinh hoặc tổ chức lớp học theo ca sáng chiều để đáp ứng nhu cầu.
16 이종재 (2009), 한국교육 60 년, 한국교육과정평가원 Lee Jong Jae, Giáo dục Hàn Quốc 60 năm
17 대한민국 교육 70 년 (2014), 대한민국역사박물관 Giáo dục Hàn Quốc 70 năm
18 대한민국 교육 70 년 (2014), 대한민국 역사박물관 : Giáo dục Hàn Quốc 70 năm (2014), NXB Viên bảo tàng lịch sử Hàn Quốc
Mặc dù gặp phải những khó khăn trong giai đoạn này, Hàn Quốc vẫn nỗ lực tạo cơ hội tiếp cận giáo dục tiểu học cho học sinh, góp phần nâng cao tỷ lệ đi học của trẻ em Điều này đã thúc đẩy nhu cầu về giáo dục Trung học cơ sở (THCS) ngày càng tăng của người dân, mở ra những cơ hội phát triển bền vững cho thế hệ trẻ.
3.1.1.2 Giai đoạn 1961-1980 Đây là giai đoạn mà kinh tế Hàn Quốc phát triển nhanh chóng thông qua sự thiết lập và xúc tiến “Kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm” từ lần thứ 1 đến lần thứ 4 Trong giai đoạn này có một số đặc trưng như tỷ lệ tăng dân số cao, hiện tượng di dân đến thành phố lớn, sự tăng lên yêu cầu về giáo dục của xã hội Môi trường giáo dục trở nên khắc nghiệt do mở rộng quy mô giáo dục đột ngột nên trong giai đoạn này chính phủ Hàn Quốc tập trung vào cải thiện môi trường giáo dục
Trong những năm 1950, tỷ lệ đi học tiểu học tăng cao đã dẫn đến nhu cầu học tập tại trường THCS ngày càng tăng Tuy nhiên, do số lượng trường THCS và THPT không đủ để đáp ứng nhu cầu, nhiều nơi phải tuyển sinh thông qua kỳ thi tuyển vào trường Điều này khiến các trường tiểu học và THCS chú trọng vào việc luyện thi để chuẩn bị cho kỳ thi tuyển sinh, tạo áp lực lớn đối với học sinh và phụ huynh Phụ huynh đầu tư rất nhiều tiền vào học thêm nhằm giúp con cạnh tranh tốt hơn và có khả năng đậu vào các trường chuyên, ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục toàn diện.
Chính phủ Hàn Quốc đã đưa ra các chính sách nhằm ngăn chặn giáo dục chỉ tập trung vào kỳ thi và giảm bớt việc học ngoài giờ, nhằm ứng phó với các vấn đề xã hội phát sinh do hệ thống giáo dục hiện tại.
“Chế độ miễn thi đầu vào của cấp trung học cơ sở” vào năm 1969 và “Chính sách chuẩn hóa trường trung học phổ thông” vào năm 1974
Bảng 11: Sự thay đổi số học sinh bình quân trên một giáo viên và số học sinh bình quân trên một lớp học trong giai đoạn 1962 -1979
(Đơn vị tính : Người) Năm
Trường tiểu học Trường THCS Trường THPT
Giáo dục Hàn Quốc phát triển song hành cùng sự tăng trưởng kinh tế của đất nước, với chính phủ thành lập các trường trung học phổ thông dạy nghề mới và tổ chức cải tổ quá trình giáo dục để cung cấp nguồn nhân lực phù hợp cho sự phát triển kinh tế cao Mở rộng cơ hội giáo dục từ tiểu học đến đại học đã giúp đáp ứng nhu cầu nhân lực của các ngành công nghiệp, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nền giáo dục Hàn Quốc đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo nhân lực cần thiết cho sự phát triển công nghiệp, đồng thời, sự phát triển kinh tế cũng tạo điều kiện tài chính để mở rộng và cải thiện hệ thống giáo dục Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển giáo dục tại Hàn Quốc rất chặt chẽ, thúc đẩy sự tiến bộ toàn diện của quốc gia.
Chính phủ Hàn Quốc đã ban hành quy định mới sử dụng 12,98% thuế nội địa dành cho tài chính giáo dục địa phương để hỗ trợ giáo dục phổ thông, đảm bảo nguồn tài chính ổn định cho ngành giáo dục Với sự tăng trưởng kinh tế, nguồn thu từ thuế tăng lên, giúp tăng ngân sách dành cho giáo dục Nhờ đó, việc đầu tư vào giáo dục phổ thông ngày càng được thúc đẩy, góp phần vào sự phát triển bền vững của hệ thống giáo dục Hàn Quốc.
Trong giai đoạn này, nền kinh tế Hàn Quốc đã được cơ cấu lại, đạt sự phát triển ổn định Chính trị cũng trở nên dân chủ hơn nhờ vào chính quyền quân sự vào đầu những năm 1980, từ đó thúc đẩy nhu cầu dân chủ hóa trong quản lý trường học và giáo dục tự quản tại địa phương Điều này dẫn đến việc thành lập công đoàn giáo viên vào cuối những năm đó, góp phần tăng cường quyền lợi và vai trò của giáo viên trong hệ thống giáo dục.
1980 và bắt dầu thi hành chế độ giáo dục tự quản tại địa phương ở những thành phố lớn
Trong giai đoạn này, giáo dục đại học được phổ biến rộng rãi, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng do sự phát triển của giáo dục phổ thông Tuy nhiên, số lượng học sinh đủ điều kiện nhập học còn hạn chế, khiến các trường phải tuyển sinh qua kỳ thi tuyển của trường hoặc của quốc gia Điều này khiến cho các trường trung học phổ thông tập trung chủ yếu vào kỳ thi tuyển sinh, trong khi phụ huynh ngày càng phải chi trả nhiều tiền cho việc học thêm, phát sinh nhiều vấn đề xã hội Để giải quyết các vướng mắc này, chính phủ đã thực hiện “Cải cách giáo dục 30.07” vào năm 1980, với nội dung chính là cấm học thêm, điều chỉnh quy chế tuyển sinh và tăng chỉ tiêu tuyển sinh mà không làm tăng số lượng sinh viên tốt nghiệp Nhờ đó, cơ hội vào đại học của Hàn Quốc trở nên rộng mở hơn, đồng thời đảm bảo chất lượng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao.
Giáo dục phổ thông đã được phổ cập rộng rãi, đồng thời cơ hội học đại học cũng ngày càng mở rộng Tuy nhiên, chất lượng giáo dục vẫn chưa theo kịp quy mô mở rộng này Chính phủ nhận thức rõ cần thúc đẩy đổi mới toàn diện hệ thống giáo dục để nâng cao hiệu quả và chất lượng đào tạo Năm 1994, chính phủ thành lập “Ủy ban Cải cách Giáo dục” để tham vấn chính sách và đưa ra các đề xuất cải cách đa dạng nhằm khắc phục những tồn tại hiện tại của nền giáo dục Vào ngày 31/05/1995, ủy ban chính thức ban hành những ý kiến đầu tiên về các phương án cải cách hệ thống giáo dục của quốc gia.
Kế hoạch Cải cách Giáo dục nhằm Thiết lập Hệ thống Giáo dục mới, còn gọi là kế hoạch cải cách giáo dục 31.05, đã đề ra hơn 120 phương án cụ thể để hiện thực hóa mục tiêu đổi mới toàn diện Nhờ sự hỗ trợ tích cực từ chính phủ, kế hoạch này đã được triển khai nhanh chóng và mang tính khả thi cao Điều này thể hiện nỗ lực của ngành giáo dục trong việc nâng cao chất lượng đào tạo và đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội.
Trong giai đoạn mới, Hàn Quốc đối mặt với thách thức chuyển đổi từ phát triển dựa trên số lượng sang nâng cao chất lượng sản phẩm Quốc gia này hướng tới tăng cường năng suất và phát triển các tính năng ưu việt thay vì chỉ tập trung vào quy mô sản xuất Đồng thời, Hàn Quốc cũng thúc đẩy sự tự chủ trong quản lý và đổi mới sáng tạo, thay thế mô hình kiểm soát hành chính truyền thống để thúc đẩy sự phát triển bền vững và cạnh tranh ngày càng cao trên thị trường toàn cầu.
3.1.1.4 Giai đoạn từ 2001 đến nay Để theo kịp thời đại thông tin hóa, quốc tế hóa, Hàn Quốc dựa trên khung cơ bản về sửa đổi chương trình giáo dục đã tiến hành sửa đổi chương trình giáo dục thành một phương án cải cách giáo dục nhằm xây dựng một thể chế giáo dục mới vào năm 1997 và áp dụng từ năm 2000 Chương trình giáo dục đó hướng tới một chương trình giáo dục lấy học sinh làm trọng tâm trên cơ sở tự chủ và sáng tạo đã tích hợp chương trình giáo dục của 2 bậc Tiểu học, THCS và THPT thành một chương trình giáo dục đơn nhất và xây dựng thành chương trình giáo dục cơ bản chung quốc dân và chương trình giáo dục tập trung vào tự chọn Thời gian 10 năm học từ tiểu học đến lớp 10 THPT được lựa chọn là thời gian giáo dục cơ bản chung quốc dân và chương trình giáo dục đã xây dựng để học sinh có thể học được 10 môn học chung bắt buộc Chương trình theo từng cấp học được đưa vào áp dụng thực hiện và dựa trên đặc thù của từng cấp giảng dạy cũng như đặc thù của chương trình giáo dục nói chung mà phân loại và triển khai thực hiện theo hướng bổ sung, trọng tâm và phân cấp Chương trình đã xúc tiến triển khai hoạt động mang tính chủ đạo từ chính bản thân học sinh
Chiến lƣợc phát triển giáo dục giai đoạn 1960-đầu thế kỷ 21
3.2.1 Giới thiệu chiến lược phát triển giáo dục của Hàn Quốc
Hàn Quốc chủ yếu sử dụng thuật ngữ “Kế hoạch” để đặt tên cho các mục trong văn bản, khác với Việt Nam Tuy nhiên, kế hoạch giáo dục dài hạn của Hàn Quốc bao gồm việc đánh giá thực trạng, xác định mục tiêu và đề ra chiến lược phát triển chi tiết, có cấu trúc rõ ràng và nội dung tương tự như chiến lược phát triển giáo dục của Việt Nam được trình bày trong Chương 1 Do đó, chúng tôi có thể dựa vào đó để so sánh với Việt Nam.
Sau khi chính phủ Hàn Quốc được thành lập, kế hoạch giáo dục cấp quốc gia đầu tiên là "Kế hoạch hoàn thành giáo dục bắt buộc 6 năm vào năm 1954", nhằm nâng cao chất lượng giáo dục cho toàn dân Để thực hiện mục tiêu này một cách toàn diện, chính phủ Hàn Quốc đã thành lập các chính sách và chương trình giáo dục mang tính hệ thống và tổng hợp, góp phần xây dựng một hệ thống giáo dục vững mạnh, phù hợp với sự phát triển của đất nước.
Hội đồng Thẩm định Kế hoạch Giáo dục Tổng hợp Lâu dài được thành lập vào năm 1968, với việc bổ nhiệm thủ tướng làm chủ tịch ủy ban Từ năm 1972 đến 1986, hội đồng thiết lập "Kế hoạch giáo dục tổng hợp lâu dài 15 năm" nhằm xác định phương hướng phát triển giáo dục toàn diện của Hàn Quốc Kế hoạch tập trung vào hai nội dung chính: thứ nhất là chức năng giáo dục gồm 6 lĩnh vực như học sinh, giáo viên, phương pháp giảng dạy, thiết bị giáo dục, hành chính và tài chính giáo dục; thứ hai là cấp học bao gồm 10 lĩnh vực, từ giáo dục tiểu học, phổ thông, đại học, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục giáo viên, mầm non, ngoài trường, đặc biệt, nước ngoài đến giáo dục chuẩn bị thống nhất.
Trong quá trình chuyển giao quyền lực từ chính quyền cũ sang chính quyền mới, các hội đồng giáo dục được thành lập lại với tên gọi phù hợp như “Hội đồng Thẩm định Đổi mới Giáo dục (1985-1987)”, “Hội đồng Đổi mới Giáo dục (1994-1998)”, “Hội đồng Cộng đồng Giáo dục mới (1998)”, và “Hội đồng Cải cách Giáo dục (2002)”, nhằm công bố các kế hoạch giáo dục mới phù hợp với từng giai đoạn Đến năm 1995, chính phủ Hàn Quốc đã ban hành một kế hoạch cải cách giáo dục quan trọng mang tên gọi tắt là .
Cải cách giáo dục ngày 31.05 đã đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của hệ thống giáo dục Hàn Quốc, góp phần vào thành công chung của ngành giáo dục quốc gia Các nội dung chiến lược quan trọng trong kế hoạch này đã tạo nền tảng cho sự tiến bộ và đổi mới trong giáo dục Gần đây nhất, Bộ Giáo dục Hàn Quốc đã ban hành “Chiến lược và Phương hướng của Chính sách Giáo dục Lâu dài trong Xã hội Thông tin Tri thức”, nhằm hướng đến phát triển giáo dục bền vững trong thời kỳ xã hội số hóa và tri thức toàn cầu.
Năm 2016, Bộ Giáo dục công bố một văn bản quan trọng phân tích xu hướng và triển vọng của ngành giáo dục trong xã hội tri thức thông tin Văn bản này đánh giá thực trạng giáo dục tại Hàn Quốc, đề xuất các chiến lược phát triển phù hợp để thúc đẩy sự tiến bộ ngành giáo dục Các chiến lược này nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy, mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục và phù hợp với xu hướng chuyển đổi số toàn cầu Nhờ đó, ngành giáo dục Hàn Quốc hướng tới phát triển bền vững và đáp ứng tốt các yêu cầu của xã hội hiện đại.
Nền giáo dục Hàn Quốc đã phát triển ấn tượng nhờ các chính sách mới và cải cách mang tính đột phá do nhà nước chủ đạo thực hiện Tuy nhiên, phương thức xây dựng kế hoạch và chiến lược dài hạn của chính phủ thay đổi theo từng chính quyền tổng thống, không theo chu kỳ cố định 5 hoặc 10 năm Có những giai đoạn chính phủ xây dựng các kế hoạch dài hạn, nhưng cũng có thời điểm không có bất kỳ chiến lược nào trong nhiều năm Do đó, bài viết tập trung phân tích những chính sách và kế hoạch cải cách quan trọng nhất trong lĩnh vực giáo dục Hàn Quốc từ những năm 1960 đến đầu thế kỷ 21, nhằm làm rõ các chủ đề chính ảnh hưởng lâu dài đến ngành giáo dục quốc gia.
3.2.2 Các nội dung chính của chiến lược phát triển giáo dục Hàn Quốc 3.2.2.1 Về sự phát triển quy mô giáo dục Để phát triển quy mô giáo dục, chính phủ Hàn Quốc đã ban hành hàng loạt các quy định về chế độ giáo dục bắt buộc và giáo dục bình đẳng, đồng thời xây dựng các kế hoạch nhằm triển khai thực hiện chế độ giáo dục bắt buộc và bình đẳng này a Chế độ giáo dục bắt buộc Chiến lược phát triển giáo dục của Hàn Quốc từ những năm 1960 được xây dựng trên nền tảng các văn bản pháp quy quan trọng từ trước đó Vào năm 1948, sau khi chính phủ Đại Hàn Dân Quốc được thành lập thì một trong những vấn đề cấp bách là ban hành luật cơ bản về giáo dục để xác lập phương hướng cơ bản hệ thống và chính sách giáo dục Hiến pháp được công bố vào năm 1948 đưa ra nguyên tắc giáo dục bắt buộc miễn phí ở cấp tiểu học Sau đó, luật giáo dục được quy định vào năm 1949 rằng sẽ thi hành giáo dục bắt buộc từ ngày 1 tháng 6 năm
Sau Chiến tranh Triều Tiên năm 1950, việc thực hiện “Kế hoạch hoàn thành giáo dục bắt buộc 6 năm” bị trì hoãn do chiến tranh, và kế hoạch này mới được cụ thể hóa sau đình chiến năm 1953 Mục tiêu của kế hoạch là nâng tỷ lệ học sinh đi học đúng tuổi lên 96%, bằng cách triển khai các kế hoạch liên quan như kế hoạch giáo viên, trang thiết bị và tài chính, với gần 80% ngân sách dành cho chi phí giáo dục bắt buộc Nhờ đó, đến năm 1959, tỷ lệ học sinh đi học đúng tuổi tại cấp tiểu học đạt 96,4%, vượt mục tiêu đề ra và được xem là một trong những thành công lớn của hệ thống giáo dục Hàn Quốc.
Do hạn chế về nguồn tài chính, nhiều lớp học phải chịu tình trạng quá tải hoặc tổ chức theo ca để đảm bảo việc giảng dạy Để nâng cao chất lượng môi trường giáo dục, chính phủ đã triển khai "Kế hoạch mở rộng bổ sung thiết bị giáo dục bắt buộc trong 5 năm" qua ba giai đoạn bắt đầu từ năm 1962, nhằm cải thiện cơ sở vật chất và nâng cao hiệu quả giảng dạy.
Năm 1971, chính sách giáo dục bắt buộc cấp tiểu học đã đi vào giai đoạn cuối cùng, đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc mở rộng quyền tiếp cận giáo dục của trẻ em Điều 4 của Luật giáo dục năm 1984 quy định rằng mọi công dân đều có quyền bình đẳng trong việc nhận nền giáo dục tiểu học 6 năm và giáo dục trung học cơ sở 3 năm, góp phần xây dựng cơ sở pháp lý cho giáo dục bắt buộc ở cấp THCS Ngân sách nhà nước chi trả học phí và tiền nhập học để đảm bảo thực hiện chính sách này, do đó, chính phủ đã ưu tiên triển khai giáo dục bắt buộc miễn phí từ các khu vực xa xôi đến các huyện vào năm 1994, mở rộng đến các thành phố từ năm 2001 và cuối cùng thiết lập chế độ giáo dục bắt buộc 9 năm trên toàn quốc vào năm 2004 Ngoài ra, Hàn Quốc còn thực hiện chế độ miễn thi đầu vào ở cấp THCS, tạo điều kiện cho học sinh tiếp tục học cấp cao hơn mà không phải qua các kỳ thi cạnh tranh, nhằm thúc đẩy tỷ lệ học sinh đúng tuổi đến trường và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
Dù tỷ lệ học sinh đi học đúng tuổi ở cấp THCS đạt khoảng 50%, nhưng đầu tư vào giáo dục THCS còn hạn chế, dẫn đến số trường THCS thiếu so với số lượng học sinh và sự chênh lệch lớn giữa các trường danh tiếng và không nổi tiếng, gây ra cạnh tranh quyết liệt trong kỳ thi tuyển sinh Nhiều học sinh tiểu học phải học thêm ngoại khóa đến khuya, gây ảnh hưởng tiêu cực đến thể chất và tâm hồn, trong khi xã hội đối mặt với các vấn đề như gánh nặng chi phí giáo dục tư nhân và tỷ lệ thi lại tăng cao Trước thực trạng này, năm 1968 Bộ Giáo dục công bố “Chế độ Miễn thi đầu vào của cấp THCS”, bắt đầu từ Seoul năm 1969 và toàn quốc năm 1971, đã bãi bỏ kỳ thi tuyển sinh của tất cả các trường THCS, bao gồm cả trường dân lập Việc thực thi chế độ miễn thi đã thúc đẩy số học sinh mong muốn tiếp tục học lên THCS tăng vọt, chính phủ đã thành lập 386 trường THCS mới và xây dựng thêm 5.230 phòng học trong vòng 3 năm để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng.
3.2.2.2 Về cải thiện chất lượng giáo dục
Chính phủ Hàn Quốc đã chú trọng chuẩn hóa chất lượng trường THPT để nâng cao đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất một cách đồng bộ Đồng thời, các chính sách nhằm xóa bỏ chênh lệch đẳng cấp giữa các trường, phân bổ công bằng các giáo viên ưu tú cho các trường công lập và dân lập, cùng thực thi chế độ luân chuyển giáo viên và hỗ trợ trang thiết bị giáo dục còn hạn chế đã đem lại những kết quả tích cực Nhờ các biện pháp này, tỷ lệ học sinh tham gia học cấp THCS tăng rõ rệt từ 59% năm 1968 lên 70% năm 1971, đồng thời chất lượng giáo dục cũng được cải thiện đáng kể.
Sự gia tăng số lượng học sinh trung học cơ sở (THCS) do chính sách miễn thi đầu vào cấp THCS đã tạo ra nhu cầu học lên cấp trung học phổ thông (THPT) cao hơn Điều này dẫn đến cuộc cạnh tranh vào các trường THPT ngày càng khốc liệt hơn Chính phủ đã ban bố các biện pháp nhằm điều chỉnh và kiểm soát tình hình tuyển sinh, đảm bảo công bằng và nâng cao chất lượng giáo dục Cuộc cải cách này góp phần thay đổi cục diện giáo dục phổ thông, mở ra cơ hội cho nhiều học sinh tiếp cận trình độ cao hơn.
Vào năm 1973, Chính sách chuẩn hóa trường trung học phổ thông được khởi xướng nhằm thiết lập hệ thống các trường THPT phân theo khu vực và phân công học sinh qua hình thức bốc thăm Chính sách này bắt đầu được áp dụng tại Seoul và Busan từ năm 1974, sau đó lan rộng ra toàn quốc trên 21 tỉnh vào đầu những năm 1980 Đến cuối những năm 1980, nhận thức về quyền tự do lựa chọn trường của học sinh và tự do tuyển sinh của trường phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy chính phủ cho phép các địa phương có quyền quyết định duy trì hoặc hủy bỏ chính sách chuẩn hóa Các Giám đốc Sở Giáo dục phối hợp với cộng đồng địa phương để báo cáo ý kiến và lập kế hoạch tuyển sinh phù hợp với chính sách, sau đó Bộ Giáo dục điều chỉnh phạm vi thực hiện dựa trên đề xuất Chính sách chuẩn hóa chủ yếu áp dụng cho các trường THPT khối nhân văn, trong khi các trường nghề, trường chuyên biệt và trường ngoại ngữ không nằm trong diện chuẩn hóa Từ năm 1996, chính phủ cho phép học sinh đăng ký trước, quyền lựa chọn trường của học sinh được đảm bảo song song với hệ thống phân bổ theo tuyến, nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc chọn trường phù hợp.
Đánh giá kết quả của chiến lƣợc phát triển giáo dục Hàn Quốc
Sau thời gian thực hiện các kế hoạch cải cách và chiến lược phát triển giáo dục, Hàn Quốc đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể về quy mô và chất lượng giáo dục Những đổi mới trong quản lý giáo dục đã góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực hệ thống giáo dục của đất nước Tuy nhiên, chính phủ Hàn Quốc vẫn đang nỗ lực khắc phục những hạn chế còn tồn tại để thúc đẩy sự phát triển toàn diện của ngành giáo dục.
3.3.1 Những thành tựu về phát triển giáo dục Hàn Quốc 3.3.1.1 Phát triển quy mô và hoàn thành phổ cập giáo dục phổ thông
Dưới ách thống trị của thực dân Nhật, người Hàn bị hạn chế về cơ hội giáo dục, khiến tỷ lệ học sinh đi học đúng tuổi chỉ đạt 50,9% ở tiểu học, 3,2% ở trung học cơ sở và 0,18% ở trung học phổ thông Tuy nhiên, bất chấp khó khăn, Hàn Quốc đã nhanh chóng mở rộng cơ hội giáo dục và nâng cao số lượng học sinh, đạt thành tích chưa từng có trên thế giới Nếu quy chuẩn đạt chuẩn phổ cập giáo dục là tỷ lệ học sinh đúng tuổi tiểu học và học lớp phù hợp trung học cơ sở, trung học phổ thông trên 90%, thì Hàn Quốc đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 1957, trung học cơ sở vào năm 1979 và trung học phổ thông vào năm 1985 Đến năm 1995, tỷ lệ học sinh lên lớp ở trình độ đại học của Hàn Quốc đã đạt 50%.
Bảng 12: Năm đạt chuẩn phổ cập giáo dục
Năm tỷ lệ học sinh lên lớp đạt 90% Năm ty lệ học sinh đi học đúng tuổi đạt
Trường THCS Năm 1979 Trường tiểu học Năm 1957
Trường THPT Năm 1985 Trường THCS Năm 1990
*Trường THPT -> Đại học đạt 50% Năm 1995 Trường THPT Năm 1999
(Nguồn : 이종재 (2009), 한국교육 60 년 tr.557-559)
So sánh với các quốc gia khác trong nhóm OECD, tình hình đi học của Hàn Quốc khá khả quan Theo bảng 13, tỷ lệ học sinh đi học đúng độ tuổi năm năm gần đây duy trì ổn định và cao hơn nhiều quốc gia khác trong khu vực, thể hiện sự chú trọng của Hàn Quốc đến giáo dục từ độ tuổi nhỏ Điều này cho thấy hệ thống giáo dục của Hàn Quốc đạt tiêu chuẩn cao và đáp ứng tốt các mục tiêu quốc gia về nâng cao chất lượng học tập cho trẻ em.
Năm 2015, tỷ lệ dân số có trình độ đại học của Hàn Quốc cao hơn mức trung bình của OECD, trong đó tỷ lệ học sinh đúng độ tuổi tại các nhóm tuổi 5-14, 15-19 và 20-24 lần lượt là 98%, 86% và 51%, so với mức bình quân của OECD là 97%, 85% và 42% Năm 2016, tỷ lệ dân số từ 25 tuổi trở lên có trình độ đại học ở Hàn Quốc đạt 47%, vượt xa mức trung bình của OECD là 37% Đặc biệt, tỷ lệ thanh niên trong độ tuổi 25-34 có trình độ đại học đạt 70%, là mức cao nhất trong OECD kể từ năm 2008, thể hiện rõ sự chú trọng của Hàn Quốc vào giáo dục đại học và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Bảng 13: Tỷ lệ học sinh đi học đúng độ tuổi và tỷ lệ dân số có trình độ học vấn trình độ đại học
(Đơn vị tính : Phần trăm)
Tỷ lệ học sinh đi học đúng độ tuổi Tỷ lệ dân số từ 25 tuổi trở lên có trình độ học vấn trình độ đại học
Tỷ lệ dân số 25-34 tuổi có trình độ học vấn trình độ đại học
(Nguồn : Chỉ số giáo dục OECD 2017)
*Tỷ lệ học sinh đi học đúng độ tuổi-năm 2015
Trong năm 2016, tỷ lệ dân số có trình độ đại học ở Hàn Quốc phản ánh thành tựu của quá trình phát triển giáo dục theo từng bước từ tiểu học đến đại học Nguyên nhân của thành tựu này bắt nguồn từ việc Hàn Quốc đã thành công trong việc phổ cập giáo dục bắt buộc ở cấp tiểu học vào năm 1950, nhờ vào kế hoạch hoàn thành chương trình 6 năm Vào những năm 1970, nhờ chế độ miễn thi vào cấp THCS và chính sách chuẩn hóa trường THPT, quốc gia này đã phổ cập giáo dục trung học Sau đó, số lượng học sinh tốt nghiệp THPT tăng cao đã thúc đẩy chính phủ mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục đại học bằng cách cho phép các trường đại học tuyển sinh nhiều hơn 30% so với số sinh viên tốt nghiệp, dù dẫn đến khó khăn trong việc tốt nghiệp cho một số sinh viên Nhờ các chế độ này, Hàn Quốc đã thành công trong việc mở rộng quy mô giáo dục theo từng giai đoạn, góp phần nâng cao trình độ giáo dục của toàn dân.
3.3.1.2 Cải thiện chất lượng giáo dục
Nhờ cải thiện chất lượng giáo dục, học sinh Hàn Quốc đã đạt thành tích xuất sắc trong các kỳ thi quốc tế Kết quả kỳ thi PISA của OECD cho thấy hệ thống giáo dục Hàn Quốc có nhiều ưu điểm, khi học sinh 15 tuổi thường nằm trong nhóm 3 hoặc 6 quốc gia có điểm cao nhất trong các lĩnh vực Toán, Khoa học và Đọc hiểu từ năm 2000 đến 2015 Đặc biệt, trong môn Toán, Hàn Quốc liên tục duy trì vị trí hàng đầu trong nhóm OECD, thậm chí nhiều năm đứng ở vị trí số 1, chứng tỏ nền giáo dục nước này rất thành công trong việc nâng cao chất lượng đào tạo. -Nâng tầm giáo dục như Hàn Quốc với giải pháp học thông minh AI từ Talkpal, [tìm hiểu ngay](https://pollinations.ai/redirect/2699274).
Bảng 14: Bảng xếp hàng kết quả PISA của Hàn Quốc trong nhóm OECD
Năm Toán Khoa học Độc hiểu
(Nguồn : http://www.oecd.org/pisa/)
Kết quả khảo sát PISA và TIMSS cho thấy học sinh Hàn Quốc đạt thành tích xuất sắc và xếp hạng cao trong các lĩnh vực như toán, khoa học và đọc hiểu Sự chênh lệch trình độ giữa học sinh giỏi và học sinh trung bình ở Hàn Quốc không quá lớn so với các quốc gia khác, thể hiện hệ thống giáo dục Hàn Quốc đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao trình độ trung bình của học sinh.
Hàn Quốc đạt thành tựu về chất lượng giáo dục nhờ hệ thống truyền đạt kiến thức phổ thông chuẩn, đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa và phương pháp giảng dạy Các trường học dạy nội dung xây dựng theo phương pháp đào tạo thống nhất, giúp tất cả mọi người học các môn cơ bản như quốc ngữ, toán học, xã hội, khoa học, tiếng Anh ở trình độ nhất định, từ đó nâng cao trình độ dân trí Chính phủ hỗ trợ các trường học và phân bổ giáo viên một cách công bằng để duy trì chất lượng giáo dục Đặc biệt, chế độ sách giáo khoa (SGK) là yếu tố quan trọng giúp nền giáo dục Hàn Quốc duy trì chất lượng trong thời kỳ phát triển nhanh về số lượng sau chiến tranh.
SGK là tài liệu học tập chính tại Hàn Quốc, đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ thực hiện chương trình giáo dục cơ bản của các trường học Sau chiến tranh, Hàn Quốc bắt đầu biên soạn và duy trì việc cung cấp SGK ổn định dựa trên chế độ này, đặc biệt trong giai đoạn giáo dục bắt buộc, chính phủ cung cấp sách miễn phí để đảm bảo học sinh có tài liệu học tập cần thiết Chế độ cung cấp SGK này đã giúp duy trì chất lượng giáo dục cơ bản của Hàn Quốc và đảm bảo truyền đạt hiệu quả nội dung chương trình đào tạo quốc gia.
Nguyên nhân quan trọng giúp nâng cao chất lượng giáo dục của Hàn Quốc chính là sự phát triển giáo dục gắn liền với quá trình công nghiệp hóa Chính sách công nghiệp hóa của Hàn Quốc thay đổi theo từng giai đoạn, phản ánh nhu cầu nhân lực phù hợp với từng thời kỳ Trong những năm 1960, đất nước tập trung vào phát triển kinh tế và công nghiệp nhẹ hướng ngoại, dẫn đến nhu cầu nhân công giản đơn trong các ngành như dệt may và điện tử tăng đột biến Vào thập kỷ 1970, chiến lược phát triển chuyển sang tập trung vào công nghiệp nặng như ô tô và đóng tàu, kéo theo sự gia tăng nhu cầu nhân lực có kỹ năng trong các lĩnh vực này Đến thập kỷ 1980, mô hình công nghiệp của Hàn Quốc chuyển sang công nghiệp công nghệ cao, thúc đẩy xã hội kinh tế tri thức và yêu cầu nguồn nhân lực trình độ cao Sự phát triển mở rộng quy mô giáo dục từ tiểu học tới đại học đã đáp ứng kịp thời nhu cầu nhân lực ngành công nghiệp, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng giáo dục thông qua nguồn tài chính ổn định dành cho ngành giáo dục.
Chiến lược phát triển giáo dục của Hàn Quốc không chỉ mở rộng quy mô từ giáo dục tiểu học đến đại học mà còn tập trung nâng cao chất lượng giáo dục thông qua đổi mới công cụ và phương thức giảng dạy hiệu quả Chính phủ Hàn Quốc ưu tiên đầu tư vào cải tiến phương pháp truyền đạt kiến thức, đồng thời kết hợp chặt chẽ với quá trình công nghiệp hóa đất nước để thúc đẩy sự phát triển toàn diện của hệ thống giáo dục.
3.3.2 Những tồn tại và hạn chế về phát triển giáo dục Hàn Quốc 3.3.2.1 Cuộc cạnh tranh khốc liệt vào các trường đại học danh tiếng Ở Hàn Quốc, việc đậu đại học, đặc biệt các trường danh tiếng, được coi là cánh cửa dẫn tới một sự nghiệp ổn định và thành công Các trường danh tiếng không chỉ nổi tiếng về chất lượng đào tạo mà cử nhân tốt nghiệp thì dễ tìm việc làm(được tuyển dụng) ở các tập đoàn danh tiếng hàng đầu của Hàn Quốc Người Hàn Quốc luôn mặc định rằng, khi bước chân vào ngôi trường này cũng đồng nghĩa với việc họ sẽ có một cuộc sống dễ dàng sau khi tốt nghiệp Tuy nhiên, số lượng tuyển sinh các trường đại học danh tiếng, mà cụ thể là một số đại học nằm ở thủ đô Seoul như Đại học Quốc gia Seoul, Đại học Goryeo và Đại học Yonsei có hạn nên cuộc chạy đua để có một vị trí trong giảng đường của những trường đại học hàng đầu này là vô cùng khốc liệt Đó là lý do tại sao cuộc thi tuyển sinh đại học trở thành một cuộc chiến với áp lực và căng thẳng đè nặng lên vai của không chỉ các em học sinh mà cả với các phụ huynh, họ sẵn sàng chi một số tiền không nhỏ để con em mình tham gia vào những khóa học thêm hoặc luyện thi đại học
Theo thống kê OECD năm 2017, 23,2% học sinh Hàn Quốc dành đến hơn
Học sinh Hàn Quốc dành trung bình 60 giờ mỗi tuần cho việc học, gấp đôi so với các quốc gia thuộc OECD, khiến thời gian ngủ bị hạn chế đáng kể, chỉ trung bình 7,52 giờ/ngày Khoảng một nửa học sinh cấp 3 ngủ ít hơn 6 giờ mỗi ngày, gây ra tình trạng mệt mỏi, suy giảm sức khỏe và học sinh thường ngủ gật trong giờ học Chính vì áp lực học tập quá nặng, Hàn Quốc đang đứng đầu danh sách quốc gia có tỷ lệ tự tử thanh thiếu niên cao nhất trong các thành viên của OECD, khiến giới trẻ Hàn Quốc trở thành nhóm thanh thiếu niên kém hạnh phúc nhất thế giới.
3.3.2.2 Vấn nạn dạy thêm, học thêm
Hàn Quốc là một trong những quốc gia chi tiêu cho việc học thêm nhiều nhất trong các nước thuộc OECD, với trung bình mỗi học sinh chi khoảng 250 USD hàng tháng cho học thêm Có đến 67.8% học sinh từ tiểu học đến THPT tham gia học thêm, và cả hai chỉ tiêu này đều có xu hướng tăng liên tục theo thời gian Các hình thức học thêm tại Hàn Quốc bao gồm dạy kèm tại nhà, học tại trung tâm giáo dục tư nhân, học trực tuyến, và bắt đầu từ bậc tiểu học với đủ các môn học, kể cả môn âm nhạc.
(Nguồn :교육통계서비스 Korean Education Statistics Service)
Nguồn kinh phí học thêm tăng có thể nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhưng mặt tiêu cực lại lớn hơn khi chi phí học thêm quá đắt đỏ, gây gánh nặng cho các gia đình trung bình Phụ huynh thường đầu tư nhiều tiền cho con học thêm để tăng cơ hội thi đỗ đại học danh tiếng, do tâm lý lo sợ kiến thức trong SGK không đủ Tuy nhiên, việc học thêm dẫn đến gia tăng bất bình đẳng giáo dục và phân hóa giàu nghèo, ảnh hưởng đến cơ hội và thu nhập tương lai của học sinh Chính phủ Hàn Quốc đã triển khai hoạt động ngoại khóa đa dạng và xây dựng kênh truyền hình giáo dục EBS nhằm giảm tải chi phí học thêm và xóa bỏ chênh lệch về cơ hội giáo dục, nhưng thực trạng học thêm vẫn tiếp tục tăng và tác động tiêu cực đến hệ thống giáo dục quốc gia.
Những điểm tương đồng và khác biệt giữa giáo dục Việt Nam và giáo dục Hàn Quốc
3.4.1 Phương thức xây dựng và cấu trúc văn bản chiến lược giáo dục
Việt Nam xây dựng chiến lược giáo dục theo định kỳ, thường là mỗi 10 năm một lần Năm 2000, Việt Nam công bố Quyết định phê duyệt chiến lược giáo dục giai đoạn 2001-2010, là lần đầu tiên đưa ra một kế hoạch dài hạn cho ngành giáo dục Đến năm 2005, Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ra đời nhằm cụ thể hóa các quyết định trong chiến lược này, đảm bảo tính khả thi và định hướng rõ ràng cho quá trình phát triển giáo dục của đất nước.
Và 10 năm sau đến năm 2010 thì Việt Nam lại tiếp tục xây dựng và ban hành chiến lược phát triển giáo dục cho giai đoạn 2011-2020 và cũng trong giai đoạn này chính phủ Việt Nam cũng ban hành Nghị quyết 29/TW nhằm hiện thực hóa chiến lược này với chủ trương đổi mới căn bản toàn diện giáo dục Việt Nam
Trong hệ thống chính sách giáo dục của Hàn Quốc, mỗi khi có chính phủ mới, Tổng thống thành lập hội đồng tư vấn giáo dục nhằm xây dựng và đánh giá các chính sách giáo dục quốc gia Tuy nhiên, việc thường xóa bỏ hội đồng cũ và thành lập hội đồng mới với thành viên mới khiến cho việc xây dựng kế hoạch dài hạn trở nên khó khăn Dù có cố gắng xây dựng chiến lược giáo dục dài hạn, việc thực hiện liên tục trong nhiệm kỳ của chính phủ mới gặp nhiều thử thách Do đó, Hàn Quốc ưu tiên lập kế hoạch ngắn hạn và thực hiện các cải cách giáo dục nhằm giải quyết các vấn đề cấp bách trong ngành.
Sự khác biệt chính trong phương thức xây dựng chiến lược giáo dục giữa Việt Nam và Hàn Quốc bắt nguồn từ thể chế chính trị của hai quốc gia Việt Nam có hệ thống chính trị một đảng duy nhất do Đảng cộng sản Việt Nam cầm quyền, với chủ tịch nước và thủ tướng hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng Điều này cho phép Việt Nam xây dựng và thực hiện các kế hoạch giáo dục dài hạn mà ít bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi của người đứng đầu nhà nước, khác biệt rõ rệt so với Hàn Quốc.
Hàn Quốc là quốc gia có hệ thống chính trị đa đảng, trong đó Tổng thống được bầu bằng đầu phiếu phổ thông cho nhiệm kỳ 5 năm duy nhất Mỗi đảng chính trị có quan điểm và tư tưởng riêng, dẫn đến các chính sách về kinh tế, xã hội, chính trị và giáo dục thay đổi tùy thuộc vào đảng cầm quyền Đảng cầm quyền thường tập trung vào thể hiện thành tựu trong nhiệm kỳ của mình và ưu tiên các kế hoạch ngắn hạn, do không chắc chắn về khả năng thực thi các kế hoạch dài hạn cho các chính phủ tiếp theo.
Trong quá trình thực hiện, Việt Nam dự kiến hoàn thành Nghị quyết trong khoảng 10 năm, trong khi Hàn Quốc đặt ra kế hoạch cải cách chỉ trong vòng 3 năm, ngắn hơn nhiều Sau khi ủy ban công bố kế hoạch cải cách giáo dục lần đầu vào ngày 31/05/1995, kế hoạch đã được sửa đổi, bổ sung và công bố lại ba lần trong vòng 3 năm nhằm nâng cao tính khả thi và phù hợp với thực tế (lần thứ hai ngày 09/02/1996, lần thứ ba ngày 20/08/1996, lần thứ tư ngày 02/06/1997) Mặc dù chịu áp lực lớn từ phía ủy ban và Bộ Giáo dục để triển khai một kế hoạch cải cách lớn trong thời gian ngắn, nhưng cuối cùng, họ đã thực hiện thành công 87 trong tổng số 120 giải pháp đề ra.
Một cô giáo trong ban giám hiệu trường THPT ở tỉnh Bến Tre chia sẻ rằng, nhiều giáo viên cho rằng các giải pháp chiến lược chủ yếu liên quan đến các bộ, ngành và thời gian dài, khiến họ nghĩ nhiệm vụ này chỉ dành cho những người có vị trí quan trọng trong giáo dục, không phải trách nhiệm của mình Bên cạnh đó, có quan niệm của giáo viên lớn tuổi cho rằng họ còn vài năm nữa sẽ nghỉ dạy, nên không quan tâm đến chiến lược dài hạn này (Phỏng vấn cô NTTH, trường THPT Võ Trường Toản, 9 giờ ngày 26/12/2018).
Cấu trúc của các văn bản chiến lược giáo dục của Việt Nam, như chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001-2010 và 2011-2020, đều bao gồm các phần hệ thống như đánh giá tình hình, phân tích bối cảnh, mục tiêu, giải pháp và tổ chức thực hiện, phù hợp với khái niệm “Chiến lược” trình bày ở Chương 1 Trong khi đó, các tài liệu chiến lược của Hàn Quốc, như Kế hoạch Cải cách Giáo dục 1996 và Chiến lược Phát triển Giáo dục dài hạn năm 2016, cũng có cấu trúc gồm phân tích bối cảnh, đánh giá tình hình, mục tiêu, giải pháp và tổ chức thực hiện, cho thấy sự tương đồng về mặt cấu trúc giữa hai quốc gia Tuy nhiên, chiến lược giáo dục của Việt Nam thường nhấn mạnh phần quan điểm chỉ đạo và có độ dài khoảng 10-20 trang, còn chiến lược Hàn Quốc không có phần quan điểm chỉ đạo, thay vào đó bao gồm phân tích triển vọng và dự đoán kết quả, với phạm vi nội dung lớn hơn, từ 30-60 trang, giúp các nhà thực thi hình dung rõ ràng hơn về kết quả dự kiến của chiến lược.
Các cơ quan xây dựng chiến lược phát triển giáo dục của Việt Nam và Hàn Quốc có nhiều điểm khác biệt rõ rệt Tại Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương Đảng là cơ quan ban hành các nghị quyết về phát triển giáo dục, như Nghị quyết số 29-NQ/TW Trong khi đó, Hàn Quốc thành lập Ủy ban Cải cách Giáo dục – cơ quan chuyên trách gồm các chuyên gia, giáo viên và giáo sư để xây dựng và triển khai các kế hoạch cải cách giáo dục, như Kế hoạch cải cách 31.05 Quá trình thực thi các chiến lược này diễn ra trong bối cảnh hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan như Nhà Xanh, Ủy ban Cải cách Giáo dục và Bộ Giáo dục, trong đó Nhà Xanh đóng vai trò hòa giải giữa lý tưởng của Ủy ban và thực tế hiện hành.
19 Nhà Xanh là dinh tổng thống của Hàn Quốc, thường được dùng để chỉ chính quyền của tổng thống Hàn Quốc đương nhiệm
Bảng 16: So sánh thông tin cơ bản về Nghị quyết số 29-NQ/TW và Kế hoạch cải cách giáo dục 31.05
Nghị quyết số 29-NQ/TW Kế hoạch cải cách giáo dục 31.05 Năm ban hành 2013 1995
Cơ quan phụ trách Ban Chấp hành Trung ương Đảng Ủy ban Cải cách Giáo dục
1) Tình hình và Nguyên nhân
2) Tình hình (Thành tựu và hạn chế)
3) Mục tiêu và Định hướng
6) Tổ chức thực hiện Thời gian dự kiến thực hiện
3.4.2 Nội dung chiến lược phát triển giáo dục 3.4.2.1 Nội dung về phát triển quy mô giáo dục và kết quả triển khai Điểm tương đồng về nội dung chiến lược phát triển giáo dục của hai quốc gia được thể hiện trong các văn bản nêu trên cũng như trong hiến pháp của hai nước là đều thể hiện nội dung về phát triển quy mô giáo dục, tức là theo xu hướng đại chúng hóa và dân chủ hóa trong giáo dục Tuy nhiên, để mở rộng quy mô giáo dục, Việt Nam và Hàn Quốc có mức độ và tốc độ sử dụng chiến lược khác nhau, Việt Nam chỉ mới phổ cập đến bậc THCS và bắt buộc ở bậc tiểu học Trong khi đó Hàn Quốc phổ biến chế độ giáo dục bắt buộc và phổ cập đến hết bậc THPT
Giáo dục bắt buộc và giáo dục phổ cập là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau Giáo dục bắt buộc mang tính cưỡng chế dựa trên pháp luật, quy định mọi người trong độ tuổi bắt buộc có quyền và nghĩa vụ đi học, và vi phạm sẽ bị xử phạt hành chính hoặc hình sự Trong khi đó, giáo dục phổ cập mang tính vận động, không sử dụng biện pháp cưỡng chế, chỉ vận động học sinh trở lại trường mà không bị xử phạt nếu họ không đi học Ở Việt Nam, theo Hiến pháp, giáo dục tiểu học là bắt buộc, còn giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi và giáo dục trung học cơ sở được xem là đối tượng giáo dục phổ cập, với quy định rõ ràng tại Điều 61 của Hiến pháp về việc thực hiện các chính sách này.
1 Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
2 Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục; chăm lo giáo dục mầm non; bảo đảm giáo dục tiểu học là bắt buộc, Nhà nước không thu học phí; từng bước phổ cập giáo dục trung học; phát triển giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; thực hiện chính sách học bổng, học phí hợp lý
3 Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài; tạo điều kiện để người khuyết tật và người nghèo được học văn hoá và học nghề”
Trong Luật Phổ cập giáo dục tiểu học, thuật ngữ “bắt buộc” được đề cập rõ ràng nhằm thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách phổ cập giáo dục tiểu học bắt buộc từ lớp 1 Điều 1 của luật quy định rõ ràng rằng chính sách này nhằm đảm bảo tất cả trẻ em đều được tiếp cận giáo dục tiểu học một cách đầy đủ và hiệu quả Việc quy định bắt buộc trong luật nhằm thúc đẩy sự phát triển bình đẳng trong giáo dục, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của đất nước.
Trong Việt Nam, tất cả trẻ em trong độ tuổi từ 6 đến 14 đều được hưởng quyền học miễn phí từ lớp 1 đến lớp 5 theo quy định tại Điều 13 Học sinh học tại các trường tiểu học quốc lập không phải trả học phí, giúp đảm bảo quyền tiếp cận giáo dục cơ bản cho mọi trẻ em Đồng thời, theo Điều 26, những hành vi gây khó khăn hoặc cản trở việc phổ cập giáo dục tiểu học sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính, nhằm thúc đẩy việc duy trì và nâng cao chất lượng giáo dục phổ cập.