VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC BỔ SUNG VÀ XUẤT BẢN
Vai trò của công tác bổ sung tài liệu
1.1.1 Một số thuật ngữ 1.1.1.1 Tài liệu
Truyền hình là một thiết chế văn hóa quan trọng, có chức năng thu thập, lựa chọn, lưu giữ và phổ biến tri thức, thông tin của nhân loại Nó đóng vai trò như một cơ quan thông tin và giáo dục ngoài trường học, đảm bảo tổ chức sử dụng tài liệu một cách hợp lý và tiết kiệm Truyền hình đáp ứng nhu cầu về thông tin của bạn đọc, góp phần nâng cao nhận thức và kiến thức cộng đồng.
Nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển của truyền hình cho thấy sự xuất hiện của TV là kết quả của các điều kiện xã hội nhất định và các tiền đề quan trọng Một yếu tố then chốt giúp thúc đẩy sự ra đời của truyền hình chính là yêu cầu về tài liệu, tức là việc có sẵn nguồn nội dung và dữ liệu để phát sóng Quá trình này phản ánh mối liên hệ chặt chẽ giữa các điều kiện xã hội, kỹ thuật và văn hóa trong sự phát triển của truyền hình.
Trong quá trình phát triển, loài người luôn nỗ lực giữ gìn và truyền đạt kinh nghiệm, tri thức cho các thế hệ sau thông qua việc sử dụng các vật chất phù hợp để lưu trữ thông tin Các vật liệu lưu trữ thông tin qua các thời kỳ gồm đất sét, đá, đồng, giấy papirut, mai rùa, da, xương thú, vỏ cây, gỗ, tre, lá cọ, lụa, cho đến các thiết bị lưu trữ hiện đại như đĩa từ, đĩa quang học (CD, VCD, DVD) Tất cả các chất lưu giữ thông tin này đều được gọi chung là tài liệu, góp phần bảo tồn và truyền đạt kiến thức qua các thời kỳ lịch sử.
V ậ y tài li ệ u là gì? Có nhiều định nghĩa khác nhau về tài liệu:
Ngay từ những năm 1970, Nguyễn Hùng Cường đã định nghĩa về tài liệu là bất cứ thứ gì dùng để ghi chép, chuyển đạt và lưu lại một kỷ niệm của một đồ vật, nhằm phục vụ cho công tác nghiên cứu về sau Ông mô tả rằng tài liệu bao gồm các loại như sách, tạp chí, nhật báo, thư tín, ấn phẩm đủ dạng, bản đồ, hoành đồ, thống kê, bảng biểu, hình ảnh, tranh vẽ và giản đồ Theo ông, tài liệu được phân thành 3 loại chính: tài liệu thủ bản, ấn loát và tài liệu dạng khác, góp phần làm rõ vai trò quan trọng trong lĩnh vực lưu trữ và nghiên cứu.
Trong Cẩm nang nghề TV, TS Lê Văn Viết định nghĩa tài liệu là vật thể chứa đựng thông tin dưới nhiều dạng như chính văn, âm thanh và hình ảnh, nhằm chuyển đạt kiến thức về sự vật và hiện tượng thiên nhiên trong không gian và thời gian, phục vụ mục đích bảo quản và sử dụng.
Theo luật lưu chiểu và luật Thư viện Australia (1998), tài liệu được định nghĩa là bao gồm sách, báo, tạp chí, tờ rời, bản đồ, bản vẽ, họa đồ, biểu bảng, bản nhạc, bản ghi âm, băng cassette, phim ảnh, băng hình video, đĩa hoặc bất kỳ sản phẩm thông tin nào được tạo ra nhằm mục đích lưu trữ và truy xuất hình ảnh, âm thanh hay thông tin.
Theo Pháp lệnh Thông tin của Malaysia, "Tài liệu" được định nghĩa là bất kỳ hình thức thông tin nào, bao gồm cả dạng in ấn, đồ họa, âm thanh, điện tử hoặc các dạng khác, được viết, ghi lại, thu và lưu trữ, trưng bày hoặc xuất bản Tài liệu được phân thành hai nhóm chính: nhóm thứ nhất là tài liệu in ấn như sách, ấn phẩm định kỳ, bản đồ, đồ thị và tranh ảnh; nhóm thứ hai gồm các loại tài liệu dạng khác như phim ảnh, vi phiếu, vi phim, băng hình, băng tiếng và các tài liệu điện tử khác.
Dựa trên các định nghĩa đã trình bày, có hai hướng tiếp cận chính để nghiên cứu về tài liệu: một là xem tài liệu như là vật mang tin, hai là tập trung vào dạng thức ghi nhận thông tin của tài liệu Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng định nghĩa theo Điều 1 của Pháp lệnh Tài liệu ngày 28/12/2000, theo đó “Tài liệu là dạng vật chất đã ghi nhận những thông tin ở dạng thành văn, âm thanh, hình ảnh, nhằm mục đích bảo quản và sử dụng”.
Từ định nghĩa trên, đã xuất hiện nhiều cách phân chia loại hình tài liệu, trong đó có 5 cách chia đáng chú ý nhất:
Theo hình th ứ c ghi chép thông tin, có các lo ạ i tài li ệ u sau:
- Tài liệu in ấn (sách, ấn phẩm định kỳ )
- Những tài liệu không phải là ấn phẩm: Vi dạng (Microfilm, microfich), Tài liệu nghe – nhìn và Tài liệu điện tử (CD-ROM, trực tuyến)
- Tài liệu không công bố
Theo m ức độ x ử lý thông tin, có các lo ạ i tài li ệ u sau:
- Tài liệu cấp I, phản ánh trực tiếp kết quả hoạt động khoa học, kỹ thuật, kinh tế và hoạt động sáng tạo khác
- Tài liệu cấp II, phản ánh kết quả xử lý phân tích tổng hợp từ tài liệu cấp I, ví dụ, các tài liệu thông tin - thư mục
Tài liệu cấp III phản ánh các tài liệu cấp II như một hệ thống thư mục con, giúp tổ chức và quản lý thông tin hiệu quả hơn Ngoài ra, khái niệm tài liệu gốc còn đề cập đến các tài liệu cấp I và cấp II, là những tài liệu chính, quan trọng nhất trong hệ thống lưu trữ dữ liệu.
Theo d ấ u hi ệ u th ờ i gian xu ấ t hi ệ n và cách th ức lưu trữ thông tin:
Tài liệu truyền thống là những loại tài liệu ghi chép thông tin theo phương pháp phi số, như ấn phẩm, vi phim và vi phiếu, đóng vai trò quan trọng trong lưu trữ và truyền đạt kiến thức.
Tài liệu hiện đại là loại tài liệu mới xuất hiện gần đây, được lưu trữ và truyền tải dưới dạng số hóa, chủ yếu là các dạng tài liệu điện tử như CD-ROM và tài liệu trực tuyến.
Vốn tài liệu TV là một bộ sưu tập có hệ thống các tài liệu phù hợp với chức năng, loại hình, đặc điểm của thư viện, được xử lý theo tiêu chuẩn kỹ thuật nghiệp vụ nhằm phục vụ người đọc và bảo quản lâu dài Theo Pháp lệnh TV của nước ta, vốn tài liệu TV gồm những tài liệu sưu tầm theo nhiều chủ đề, nội dung nhất định, được xử lý theo quy tắc khoa học của nghiệp vụ thư viện để tổ chức phục vụ hiệu quả và duy trì sự bảo quản.
Vốn tài liệu gồm các loại tài liệu đa dạng như sách, tạp chí, báo, bản nhạc, bản đồ, đồ hoạ và các ấn phẩm khác, cùng với tài liệu nghe nhìn và tài liệu điện tử, đóng vai trò quan trọng trong hệ thống thư viện Tuy nhiên, không phải tất cả các ấn phẩm trong thư viện đều được xem là vốn tài liệu, đặc biệt là những tài liệu chưa qua xử lý kỹ thuật, đã bị thanh lý nhưng chưa được loại khỏi hệ thống, hoặc các tài liệu trao đổi và mượn qua hệ thống mượn liên thư viện Việc phân biệt rõ ràng các loại tài liệu này giúp quản lý và khai thác vốn tài liệu hiệu quả hơn trong hoạt động thư viện.
Vốn tài liệu gồm những ấn phẩm phù hợp với nhiệm vụ, chức năng và đối tượng người đọc của TV, tuy nhiên, để phát huy hiệu quả, các ấn phẩm này cần được xử lý và sắp xếp một cách hợp lý, khoa học và theo đúng kỹ thuật nghiệp vụ TV Việc tổ chức và quản lý chặt chẽ giúp đảm bảo tính khoa học và dễ dàng truy cập, sử dụng trong các hoạt động chuyên môn Một yếu tố quan trọng để một bộ sưu tập sách trở thành vốn tài liệu chính là sự thống nhất trong cách xử lý và trình bày, nhằm đáp ứng tốt nhất các yêu cầu nghiệp vụ của thư viện.
TV là bộ sưu tập phải được tổ chức một cách hợp lý để phục vụ người đọc hiệu quả Chỉ khi có đầy đủ các đặc tính cần thiết, vốn tài liệu mới phân biệt rõ ràng với hiệu sách, cơ quan cung cấp sách hoặc hệ thống lưu trữ Điều này giúp nâng cao khả năng tổ chức và truy cập tài liệu một cách thuận tiện và chuyên nghiệp.
Vốn tài liệu TV có những chức năng, đặc điểm, tính chất nhất định
Xuất bản và quan hệ của xuất bản với công tác bổ sung của thư viện
Theo Đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý: Xuất bản là việc chuẩn bị bản thảo rồi in ra thành sách, báo, tranh ảnh và phát hành [33, Tr.1874]
Xuất bản (XB) là hoạt động rộng rãi bao gồm các lĩnh vực như in ấn, xuất bản và phát hành ấn phẩm Đây là quá trình tổ chức nguồn lực xã hội để sáng tạo, in ấn và phổ biến các tác phẩm nhằm tiếp cận rộng rãi người đọc Mục tiêu của hoạt động xuất bản là nâng cao hiệu quả kinh tế, chính trị và xã hội thông qua việc truyền tải kiến thức, thông tin và giá trị văn hóa.
Hoạt động xuất bản (XB) thuộc lĩnh vực văn hóa - tư tưởng, nhằm sản xuất và phổ biến các ấn phẩm đến đông đảo độc giả Mục đích của hoạt động này là góp phần lan tỏa tri thức, nâng cao nhận thức và thúc đẩy phát triển văn hóa và tư tưởng trong cộng đồng Việc xuất bản không chỉ giúp bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống mà còn thúc đẩy sự phát triển của nền giáo dục và xã hội, góp phần xây dựng nền tư tưởng văn hóa tiên tiến.
XB là thể loại phổ biến gồm các tác phẩm về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ, văn học, nghệ thuật, pháp luật nhằm giới thiệu di sản văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa thế giới, nâng cao dân trí và đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân Thông qua XB, chúng ta thúc đẩy giao lưu văn hóa quốc tế, mở rộng hiểu biết và kết nối với các nền văn hóa khác Đồng thời, XBP là công cụ để đấu tranh chống lại các tư tưởng và hành vi gây tổn hại lợi ích quốc gia, phá hoại nhân cách, đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam, góp phần xây dựng cộng đồng văn hóa vững mạnh.
Xuất bản (XB) theo nghĩa hẹp là quá trình tổ chức và tác động vào quá trình sáng tạo của tác giả nhằm tạo ra bản thảo tác phẩm hoàn chỉnh Quá trình này bao gồm xử lý, hoàn thiện bản thảo, thiết kế bản mẫu và in thành các ấn phẩm xuất bản phục vụ đông đảo độc giả.
XBP được hiểu rộng là các sản phẩm được in ra thành nhiều bản để phát hành, bao gồm sách, báo, tranh ảnh, băng nhạc, băng hình, đĩa compact, góp phần phổ biến nội dung đến đông đảo người tiêu dùng.
Xuất bản phẩm (XBP) trong nghĩa hẹp gồm các tác phẩm về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học công nghệ, văn học và nghệ thuật, được in ấn và nhân bản bằng các phương tiện kỹ thuật khác nhau nhằm phổ biến rộng rãi cho nhiều người Đây là khái niệm đặc thù trong ngành xuất bản, được định nghĩa rõ ràng trong Luật Xuất bản năm 2004 để phân biệt với các hình thức in ấn khác.
Hoạt động xuất bản hiện nay đang thay đổi mạnh mẽ nhờ sự phát triển của công nghệ tin học và kỹ thuật hiện đại, giúp rút ngắn thời gian và công đoạn trong quá trình sản xuất Điều này đáp ứng nhanh chóng và đa dạng hơn các nhu cầu về đời sống tinh thần và xã hội của cộng đồng Quá trình biên tập, xuất bản và phát hành tài liệu là một chuỗi liên hoàn, gắn bó hữu cơ không thể tách rời, đảm bảo chất lượng và hiệu quả của sản phẩm xuất bản.
Sự phát triển của CNTT và toàn cầu hóa kinh tế thúc đẩy hoạt động xuất bản ngày càng gắn bó chặt chẽ hơn với nhu cầu thị trường và chú trọng đến hiệu quả kinh tế Hoạt động xuất bản trở nên sôi động hơn trong cạnh tranh thương mại quốc tế, xu hướng quốc tế hóa nhanh chóng, vừa hòa nhập vừa cạnh tranh để chống lại nạn nô dịch văn hóa và lũng đoạn thị trường Đồng thời, việc này góp phần phát triển nền văn hóa tiến bộ, giữ vững và phát huy bản sắc dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa.
1.2.1.2 Vị trí của xuất bản trong đời sống xã hội
Hoạt động xuất bản không chỉ là hoạt động văn hóa - tư tưởng mà còn là hoạt động sản xuất vật chất, tạo ra các sản phẩm tinh thần mang giá trị xã hội Các ấn phẩm sách và các xuất bản phẩm khác phản ánh ý tưởng của các tác giả và nhà xuất bản nhằm truyền bá, bồi dưỡng và nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu tinh thần phong phú của cộng đồng Nội dung trong các tài liệu thể hiện mục tiêu mở rộng giao lưu văn hóa quốc tế và thúc đẩy sự phát triển văn hóa dân tộc Giá trị cốt lõi của sách và các xuất bản phẩm chính là giá trị văn hóa tinh thần do con người sáng tạo ra, góp phần giữ gìn và phát triển nền văn hóa Việt Nam Tại Việt Nam, các nhà xuất bản là phương tiện, công cụ của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội trong hệ thống chính trị để thực hiện hoạt động xuất bản hiệu quả.
Các giá trị tinh thần do lao động tinh thần của con người tạo ra chỉ trở thành sản phẩm thông qua hoạt động sản xuất XBP được coi là sản phẩm tinh thần, trí tuệ, nhưng cũng chính là sản phẩm vật chất do quá trình lao động vật chất tạo ra Do đó, các loại XBP trở thành hàng hóa hoàn chỉnh, lưu thông trên thị trường, vừa mang giá trị vật chất vừa chứa đựng giá trị tinh thần, phản ánh sự kết hợp giữa lao động tinh thần và vật chất trong quá trình sản xuất hàng hóa.
Hoạt động xuất bản là hoạt động văn hóa, tinh thần có ảnh hưởng lớn đến việc giáo dục tư tưởng, tình cảm và nâng cao dân trí Vì thuộc thượng tầng kiến trúc, hoạt động này chịu sự chi phối của các quy luật phát triển văn hóa, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội.
Hoạt động XB đóng vai trò quan trọng trong việc sản xuất vật chất để truyền tải và nhân bản các giá trị tinh thần, trí tuệ, cũng như ý đồ của tác giả và nhà XB thành sản phẩm xuất bản (XBP) Vì vậy, hoạt động này không chỉ phản ánh yếu tố sáng tạo mà còn chịu sự tác động của hệ thống quy luật kinh tế thuộc hạ tầng cơ sở, ảnh hưởng đến quá trình sản xuất và phân phối các tác phẩm.
1.2.2 Vai trò của xuất bản trong đời sống xã hội
- Thứ nhất, XB là “bà đỡ” của các tác phẩm văn học, nghệ thuật, các công trình khoa học được công bố dưới hình thức XBP
Các sáng tác là sản phẩm của tác giả, được nhà xuất bản góp phần hoàn thiện, nâng cao giá trị và chuyển tải đến người dùng Để phát triển và phục vụ xã hội tốt hơn, nhà xuất bản chủ động tạo nguồn bản thảo qua các cuộc thi và trại sáng tác Điều này giúp hình thành thị trường, tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, sáng tạo của con người và khơi dậy tiềm năng sáng tác trong cộng đồng.
Bản quyền dưới dạng XBP, XB là phương tiện phản ánh đời sống tinh thần của nhân loại và mỗi quốc gia, đồng thời bảo tồn và lưu truyền các sản phẩm văn hóa Đây là bộ phận thiết yếu của hoạt động văn hóa, giúp thể hiện bản sắc riêng của quốc gia, trình độ phát triển và mức độ hội nhập quốc tế Việc phát hiện, lựa chọn, sưu tầm và đúc kết các sản phẩm văn hóa để công bố góp phần nâng cao giá trị văn hóa và đẩy lùi các tiêu cực, tệ nạn xã hội Nationwide, hoạt động này thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền văn hóa và nâng cao vị thế của quốc gia trên trường quốc tế.
- Thứ ba, XB là công cụ quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài
Sự phát triển của kinh tế thế giới hiện nay dựa trên nền tảng khoa học và công nghệ hiện đại Trong đó, khoa học ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, đóng vai trò quyết định trong quá trình phát triển kinh tế Trí tuệ con người là nguồn lực vô tận, góp phần quan trọng thúc đẩy sự tiến bộ và đột phá trong kinh tế toàn cầu.
Mối quan hệ giữa thư viện với các nhà xuất bản trong công tác bổ sung vốn tài liệu
Mối quan hệ giữa nhà xuất bản (NXB) và truyền hình (TV) là mối quan hệ vốn có từ khi các cơ quan này xuất hiện, thể hiện qua việc cùng làm việc với các loại tài liệu và đối tượng là bạn đọc và khán giả Họ chia sẻ mục đích chung là cung cấp tài liệu chất lượng và đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng tăng của xã hội.
Các nhà xuất bản và trung tâm truyền thông sử dụng các hình thức thông báo, tuyên truyền như thư mục thư mục và mục lục các loại nhằm nâng cao khả năng tiếp cận tài liệu đến người dùng Đồng thời, họ có trách nhiệm hiểu rõ nhu cầu của người dùng, phát hiện những người dùng tiềm năng và lựa chọn các kênh phân phối phù hợp để tiêu thụ tài liệu một cách hiệu quả, đáp ứng đúng đối tượng sử dụng.
Mối quan hệ giữa NXB và TV được thể hiện cụ thể trên các mặt sau:
Trong mối quan hệ kinh tế, TV là khách hàng truyền thống và chủ yếu của ngành xuất bản, đóng vai trò phản ánh nhu cầu thị trường qua thị hiếu của người đọc Thông qua đó, nhà xuất bản có thể lên kế hoạch sản xuất các loại tài liệu phù hợp với nhu cầu và sở thích của người tiêu dùng, giúp tránh tình trạng xuất bản tài liệu nhưng không có người đọc quan tâm, đồng thời cung cấp đúng những tài liệu phù hợp cho độc giả.
Các truyền hình (TV) và nhà Xuất bản (NXB) đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực văn hóa - tư tưởng, là công cụ đắc lực của Đảng và Nhà nước để truyền tải nội dung chính trị và phát triển văn hóa Hoạt động của hai ngành nhằm bổ sung tri thức, nâng cao trình độ văn hóa của cộng đồng và đáp ứng nhu cầu thông tin của người tiêu dùng Mối quan hệ dựa trên chức năng, nhiệm vụ, vị trí và vai trò giúp các ngành này phối hợp hiệu quả trong việc thúc đẩy sự phát triển văn hóa và đảm bảo các mục tiêu chính trị-xã hội.
- Mối quan hệ về luật pháp: Thể hiện trong vấn đề nộp lưu chiểu XBP tại
TV, vấn đề bản quyền trong XB và khai thác sử dụng ở TV
Mối quan hệ giữa công nghệ và ngành xuất bản ngày càng trở nên chặt chẽ nhờ vào sự tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ Các hoạt động sản xuất và kinh doanh sách hiện đại hóa rõ rệt, đặc biệt với sự phổ biến của các nhà xuất bản điện tử Việc phát hành sách điện tử giúp mở rộng khả năng tiếp cận độc giả, nâng cao hiệu quả quảng bá và tiêu thụ sách Công nghệ đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành xuất bản, tạo ra nhiều cơ hội mới cho doanh nghiệp và người đọc.
XBP đã trở nên phổ biến trên các mạng truyền hình và tại các thành phố lớn, thu hút sự quan tâm của cộng đồng Đồng thời, khái niệm sách điện tử, XB sách điện tử và TV điện tử đã trở nên quen thuộc và không còn xa lạ với người dùng hiện nay.
Sự tác động của thị trường xuất bản đến công tác bổ sung tại các thư viện trường đại học thuộc chuyên ngành khoa học xã hội
Thị trường xuất bản sôi động đã tác động mạnh mẽ đến công tác bổ sung trong các tv và các trường đại học chuyên ngành KHXH, tạo ra những thay đổi đáng kể trong hoạt động giáo dục Sự ảnh hưởng này thể hiện rõ qua việc các chương trình học và nội dung giảng dạy được điều chỉnh phù hợp với xu hướng tiêu thụ nội dung mới, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo Ngoài ra, sự cạnh tranh trong ngành xuất bản thúc đẩy các trường đẩy mạnh cập nhật tài liệu và phương pháp giảng dạy tiên tiến, mang lại lợi ích lớn cho sinh viên ngành khoa học xã hội.
Số lượng tên XBP ngày càng tăng giúp các TV dễ dàng chọn lựa tài liệu phù hợp nhất, từ nhiều loại hình và nguồn tài liệu khác nhau Việc truy cập đa dạng nguồn tài liệu thúc đẩy phương thức bổ sung của TV, nâng cao hiệu quả phục vụ Tuy nhiên, nếu TV tập trung vào phát hành khối lượng lớn mà bỏ qua chất lượng, sẽ làm giảm giá trị vốn tài liệu, ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hỗ trợ người dùng.
Chất lượng của các tài liệu xuất bản ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của vốn tài liệu truyền thụ Để đảm bảo hiệu quả trong hoạt động giảng dạy, giảng viên cần lựa chọn những tài liệu có chất lượng cao nhất để bổ sung vào kho tài liệu của mình Việc này giúp nâng cao giá trị và độ tin cậy của nguồn tài liệu, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
Giá tài liệu ngày càng tăng gây ảnh hưởng lớn đến công tác bổ sung của thư viện, trong khi nguồn kinh phí bổ sung thường không theo kịp tốc độ tăng của giá cả thị trường XBP Kinh phí hoạt động của các thư viện chủ yếu dựa vào ngân sách cố định của nhà trường, gây khó khăn trong việc cân đối ngân sách bổ sung tài liệu Thiếu kinh phí hạn chế các thư viện trong việc lựa chọn tài liệu cần thiết, dẫn đến thiếu hụt tài liệu và ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng phục vụ bạn đọc.
Trong hoạt động của TV, nguồn nhân lực đóng vai trò quyết định chính đến thành công, chiếm đến 60% các khó khăn mà doanh nghiệp đối mặt, bên cạnh những thách thức về tài chính Nhân viên bổ sung không chỉ cần có kiến thức chuyên môn vững vàng mà còn phải năng động, linh hoạt trước những biến đổi của thị trường xuất bản Họ luôn tìm tòi, nghiên cứu và tiếp cận đa dạng các nguồn bổ sung để làm giàu vốn tài liệu, đồng thời tối ưu hóa chi phí để nâng cao hiệu quả hoạt động của TV.
Ngoài ra, những yếu tố khác như thủ tục thanh toán, công nghệ, tiếp thị của NXB cũng ảnh hưởng tới công tác bổ sung của các TV
CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC BỔ SUNG TÀI LIỆU CỦA CÁC THƯ VIỆN ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH KHXH TRONG MÔI TRƯỜNG XUẤT BẢN HIỆN NAY
Các trường đại học thuộc diện nghiên cứu của đề tài, bao gồm ĐH Văn hóa, ĐH Sư phạm, ĐH Luật, ĐH KHXH&NV, và ĐH Kinh tế tại TP.HCM, đều tập trung bổ sung các tài liệu thuộc chuyên ngành khoa học xã hội (CTXH) Việc cập nhật tài liệu CTXH tại các trường này phụ thuộc rất lớn vào sự phát triển và sự nghiệp phát hành các loại tài liệu khoa học xã hội của đất nước.
Thị trường xuất bản sách chính trị xã hội ở nước ta hiện nay
Ngày 10/10/1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập Nhà in Quốc gia, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong ngành xuất bản Việt Nam Từ đó, ngày 10/10 trở thành ngày truyền thống của ngành Xuất bản, thể hiện sự kiện lịch sử quan trọng về sự kiện thành lập cơ quan quản lý nhà nước đầu tiên về xuất bản, in ấn và phát hành sách tại Việt Nam.
Hơn nửa thế kỷ qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là Bộ Văn hóa – Thông tin, ngành xuất bản đã phát triển mạnh mẽ và vững chắc Sự nghiệp xuất bản sách đóng vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền, giáo dục đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Công tác xuất bản góp phần nâng cao dân trí, giữ gìn và phát triển nền văn hóa Việt Nam, vừa tiến bộ vừa đậm đà bản sắc dân tộc.
Trong những năm gần đây, hoạt động xuất bản đã có bước phát triển nhanh, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của độc giả, góp phần tích cực vào việc tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, nâng cao dân trí và thúc đẩy phát triển kinh tế - văn hóa Các bộ sách giá trị về lĩnh vực xã hội, khoa học, kỹ thuật, công nghệ, và sách dành cho thanh thiếu niên ngày càng phong phú, đa dạng về nội dung và hình thức Chất lượng sách giáo khoa được cải thiện rõ rệt về nội dung và hình thức, cùng với công tác chỉ đạo, quản lý xuất bản chú trọng đảm bảo định hướng chính trị - tư tưởng, nâng cao hiệu quả kinh tế của hoạt động xuất bản và khắc phục những lệch lạc, sai phạm.
Trong thời kỳ đổi mới của đất nước, ngành XB, in và phát hành sách có mức tăng trường đều đặn hàng năm từ 10 - 15% Nếu như năm 1991 toàn ngành
XB được 3.122 cuốn với 62.943 triệu bản thì đến năm 2004 là 19.695 cuối với 242.7 triệu bản (bao gồm cả văn hóa phẩm)
XBP ngày càng phát triển với nội dung phong phú và hữu ích, nổi bật với những tác phẩm gây chú ý lớn trong xã hội như Nhật ký Đặng Thùy Trâm và Mãi mãi tuổi 20, đạt hàng trăm nghìn bản in Đến năm 2007, ngành xuất bản Việt Nam đã có 55 nhà xuất bản hoạt động tích cực, góp phần thúc đẩy sự lan tỏa của sách đến đông đảo độc giả.
Với hơn 1.000 cơ sở in ấn và trên 160 công ty phát hành sách, ngành sách Việt Nam có khả năng đáp ứng nhu cầu đọc của cộng đồng một cách hiệu quả Hệ thống này bao gồm gần 60.000 cán bộ công nhân viên thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau, đảm bảo chất lượng và đa dạng trong việc phân phối sách đến người dùng Nhờ đó, nền văn hóa đọc ngày càng phát triển mạnh mẽ, góp phần nâng cao nhận thức và tri thức của xã hội [45, Tr.2-3].
Ngành xuất bản đang bắt đầu có những bước chuẩn bị vững vàng để hội nhập quốc tế, với quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng mở rộng Việt Nam đã chủ động tham gia vào các tổ chức xuất bản toàn cầu và khu vực như Hiệp hội Xuất bản Châu Á - Thái Bình Dương và Hiệp hội Xuất bản ASEAN, góp phần nâng cao vị thế của ngành trên trường quốc tế Ngoài ra, ngành còn tích cực tham gia các hội chợ sách quốc tế lớn và triển lãm công nghệ, kỹ thuật in đặc biệt, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và mở rộng thị trường xuất bản trong và ngoài nước.
Trong những năm qua, công tác quản lý nhà nước đối với ngành xuất bản đã được chú trọng và nâng cao nhằm xây dựng hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động xuất bản, in ấn và phát hành sách Năm 1993, Quốc hội chính thức ban hành Luật Xuất bản, tạo nền tảng pháp lý cho ngành Đến năm 2004, Luật Xuất bản được sửa đổi, thể hiện tinh thần cải cách mạnh mẽ, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển hoạt động xuất bản, in ấn và phát hành sách Ngoài ra, các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo khác cũng đã được ban hành nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị trong ngành, đảm bảo hoạt động đúng định hướng và phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của đất nước (phụ lục 1).
Trong những năm qua, ngành xuất bản sách khoa học xã hội (KHXH), đặc biệt là sách lý luận chính trị, đã đạt nhiều thành tựu đáng kể nhờ những nỗ lực phát triển Tài liệu KHXH đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp tri thức và luận cứ khoa học cho công tác hoạch định đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước Các ấn phẩm này góp phần giữ vững định hướng chính trị, nâng cao ý thức chính trị và trình độ lý luận của cán bộ, đảng viên; đồng thời thúc đẩy phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, qua đó củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước.
Ngoài hiệu quả chính trị, hiệu quả kinh tế của tài liệu KHXH cũng đã được thảo luận từ nhiều góc độ khác nhau, dù số lượng người mua và đọc sách KHXH còn hạn chế chủ yếu là các TV, nhà quản lý và nhà nghiên cứu Theo PGS, TS Đường Vinh Sường, hiệu quả kinh tế trong lĩnh vực xuất bản tài liệu KHXH không chỉ đo bằng lợi nhuận thuần túy mà còn bao gồm các chỉ tiêu kinh tế xã hội, đặc biệt là đánh giá ở tầm vĩ mô, so sánh giữa lợi ích xã hội đạt được và các chi phí xã hội phải hy sinh để thúc đẩy hoạt động này.
Việc bỏ qua cơ hội xuất bản sách lý luận chính trị có thể dẫn đến lãng phí ngân sách lớn hơn nhiều so với lợi ích thu nhận được Trong khi đó, giá trị xã hội của việc lựa chọn không xuất bản lại thấp hơn rất nhiều so với giá trị xã hội mà việc xuất bản cuốn sách đó mang lại, thể hiện rõ qua các phân tích trong tài liệu tham khảo [16, Tr6-8].
Mỗi năm, lĩnh vực sách khoa học xã hội vẫn duy trì sự phát triển ổn định mặc dù tỷ lệ sách KHXH trên tổng số ấn phẩm xuất bản còn chiếm tỷ lệ khá khiêm tốn so với mặt bằng chung về xuất bản Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê, tình hình xuất bản sách tại Việt Nam từ năm 2000 đến 2007 cho thấy sự cân đối và biến động của thị trường sách trong giai đoạn này.
SÁCH 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Đầu sách 9487 11445 13515 14059 14648 17800 20149 26609 Triệu bản 177.6 166.5 217.5 222.8 206.6 252.4 229.9 276.4
Triệu bản 164.3 151.1 198.3 206.4 193.9 235.5 213.9 255.7 Đị a phương - Đầu sách 3092 3081 3955 4304 4526 4450 4322 5321
Sách qu ốc văn - Đầu sách 9403 11350 13405 13934 14519 13405 14521 19691
Sách giáo khoa - Đầu sách 3614 4116 5214 4872 4922 5214 5634 7679
Sách văn học - Đầu sách 1697 2014 2394 2359 2328 2394 2412 3348
Sách ngo ại văn - Đầu sách 84 95 110 125 129 4395 5628 6918
Dựa trên Bảng 2.1 về tình hình xuất bản tài liệu từ năm 2000 đến 2007, có thể thấy rằng tốc độ xuất bản của Việt Nam trước và sau năm 2004 diễn biến khá đều đặn Đồng thời, sự phát triển của số lượng đầu sách cũng tỷ lệ thuận với số bản sách, phản ánh xu hướng tăng trưởng ổn định trong ngành xuất bản trong giai đoạn này.
(Bảng 2.2 biểu đồ chỉ số phát triển xuất bản)
Tuy nhiên, nếu đem so sánh giữa tài liệu KHXH với tổng số tài liệu đã
Tỷ lệ xuất bản (XB) qua các năm, kể cả tài liệu ngoại văn, cho thấy mức tăng trung bình từ 8-9% sau năm 2004, giảm 2% so với tỷ lệ từ trước đó (11-13%) Trong khi đó, số lượng tài liệu ngoại văn so với năm 2000 (84 đầu sách) đã có sự bứt phá, tăng lên đến 3.407% sau năm 2004 Từ đó đến nay, mỗi năm đều ghi nhận mức tăng trên 120%, góp phần thúc đẩy thị trường xuất bản Việt Nam ngày càng sôi động hơn.
Việc ứng dụng công nghệ hiện đại trong công tác xuất bản đã giúp đa dạng hóa các loại tài liệu xã hội học và đổi mới phương thức truyền tải nội dung Hiện nay, các nhà xuất bản đang tập trung vào việc xuất bản các dạng tài liệu điện tử, tài liệu số nhằm giúp độc giả dễ dàng tiếp cận qua Internet.
Mặc dù tỷ lệ phát hành của các nhà xuất bản trung ương và địa phương rất lớn, tất cả 55 NXB đều tham gia vào hoạt động xuất bản tài liệu KHXH, trong đó có các nhà xuất bản chuyên về lĩnh vực xã hội như NXB Chính trị quốc gia – sự thật, NXB thuộc bộ, ngành và các trường đại học, mỗi NXB đều có đặc trưng riêng và đóng góp đáng kể trong hoạt động xuất bản sách KHXH Để có cái nhìn tổng quan về các nhà xuất bản Việt Nam, bài viết sẽ giới thiệu hoạt động của một số NXB tiêu biểu trong lĩnh vực xuất bản sách KHXH những năm gần đây, giúp độc giả hiểu rõ hơn về phong cách và đóng góp của từng NXB trong việc phát triển nguồn tài liệu KHXH đa dạng và phong phú.
* NXB Chính trị quốc gia – Sự thật (1992)
Hiện trạng công tác bổ sung của thư viện các trường đại học chuyên ngành khoa học xã hội trên địa bàn TP.HCM
ngành khoa học xã hội trên địa bàn TP.HCM
2.2.1 Giới thiệu về các Thư viện đại học chuyên ngành khoa học xã hội trên địa bàn TP.HCM
2.2.1.1 Thư viện Đại học Sư phạm
TV được thành lập năm 1976 trên cơ sở tiếp quản TV Trường ĐH Vạn
Hạnh và TV Trường ĐH Sư phạm TP.HCM hiện có hai cơ sở chính tại thành phố Hồ Chí Minh, nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của sinh viên Cơ sở I tọa lạc tại số 280 An Dương Vương, Phường 4, Quận 5, trong khi Cơ sở II nằm tại 222 Lê Văn Sỹ, Quận 3 Các cơ sở này giúp mở rộng khả năng giáo dục và nâng cao trải nghiệm học tập cho sinh viên của trường.
Trong quá trình hình thành và phát triển, Thư viện đã từng bước trưởng thành cùng với sự phát triển của Trường ĐH Sư phạm TP.HCM, khẳng định vị thế của mình trong công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học Năm 2001, dự án “Giáo dục đại học” đã giúp Thư viện trở thành Trung tâm Thông tin Tư liệu của Trường, ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý tài liệu và bạn đọc qua hệ thống mã vạch Thư viện also đã phát hành bản tin điện tử hàng tháng, mở rộng dịch vụ cung cấp thông tin theo chuyên đề, xây dựng website và các bộ sưu tập số để phục vụ cộng đồng học tập và nghiên cứu.
Thư viện có chức năng tư vấn và hỗ trợ Hiệu trưởng trong việc quản lý, phát triển và khai thác nguồn tài liệu văn hóa, khoa học và công nghệ nhằm phục vụ công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học của trường Hiện nay, thư viện sở hữu hơn 153.781 tài liệu gồm 63.965 tên và 2.506 luận văn, luận án, đảm bảo đáp ứng nhu cầu học tập và nghiên cứu của cộng đồng trường Thư viện cũng đã tích lũy kết quả nghiên cứu và các tài liệu quý giá nhằm nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận nguồn kiến thức cho sinh viên và giảng viên.
302 đề tài nghiên cứu của các nhà khoa học, giảng viên của Trường Ngoài ra,
TV đã mở rộng danh mục bằng cách bổ sung 37 tên báo và 182 tên tạp chí trong và ngoài nước Trong số các tài liệu điện tử, nổi bật là 50 sách điện tử và 1.640 đĩa CD-ROM, cùng với CSDL thư mục do TV xây dựng, chứa 63.965 biểu ghi Ngoài ra, TV còn mua 10 CSDL toàn văn từ các nhà sản xuất trong và ngoài nước, gồm 1.307 tạp chí toàn văn về các lĩnh vực khoa học được giảng dạy tại trường, nhằm nâng cao nguồn tài nguyên số phục vụ đào tạo và nghiên cứu.
2.2.1.2 Thư viện trường Đại học Văn hóa TP.HCM
Trường ĐH Văn hóa TP.HCM thành lập từ năm 1976, bắt đầu với vốn tài liệu ban đầu khoảng 6.000 bản sách, trong đó có tới 40% là sách tiếng Nga Năm 2002, Ban Giám hiệu đã có quyết định chính thức nâng cấp thư viện thành Trung tâm, đánh dấu bước phát triển mới của nhà trường.
Năm 2003, Trung tâm đã nâng cấp hệ thống TV điện tử theo Dự án của Bộ VHTT, ứng dụng phần mềm quản lý Libol 5.0 để hiện đại hóa công tác quản lý trung tâm Để đáp ứng yêu cầu công nghệ, trung tâm đã trang bị máy tính, máy in, máy scan và máy đọc mã vạch (barcode) Năm 2008, Trung tâm tiếp tục triển khai Dự án TV điện tử giai đoạn 2, qua đó đã hoàn thiện và nâng cấp trung tâm trở thành một hệ thống TV điện tử hiện đại, phục vụ tốt hơn nhu cầu quản lý và phục vụ độc giả.
Trung tâm đã xây dựng một nguồn lực Tổng thể Thư viện số (NLTT) với hơn 16.939 bản sách, hơn 500 luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và khóa luận Ngoài ra, trung tâm còn có khoảng 150 tên báo – tạp chí và nhiều băng đĩa về âm nhạc, ngoại ngữ, du lịch, tin học, đáp ứng nhu cầu nghiên cứu và học tập đa dạng Hệ thống cũng bao gồm 05 cơ sở dữ liệu (CSDL) với hơn 13.567 biểu ghi sách, 1.700 biểu ghi bài trích báo tạp chí, 2.000 biểu ghi văn bản pháp quy, 700 biểu ghi luận văn và các công trình nghiên cứu khoa học, cùng 120 biểu ghi tài liệu đa phương tiện, góp phần nâng cao khả năng truy cập và khai thác thông tin số.
Trung tâm cung cấp bộ máy tra cứu linh hoạt giúp người dùng dễ dàng tiếp cận nguồn lực thông tin (NLTT) một cách nhanh chóng và chính xác Nhờ đó, trung tâm ngày càng thu hút đông đảo cán bộ, giảng viên, học sinh, sinh viên cùng các cán bộ nghiên cứu của các cơ quan khác đến tra cứu và sử dụng tài liệu Hệ thống truy cập hiệu quả đã nâng cao khả năng tiếp cận thông tin của cộng đồng người dùng, góp phần thúc đẩy nghiên cứu và học tập hiệu quả.
2.2.1.3 Thư viện Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Trường ĐH Văn khoa của Viện ĐH Sài Gòn, thành lập năm 1955, là tiền thân của Trường ĐH KHXH&NV Năm 1977, trường hợp nhất với Trường ĐH Khoa học thành Trường ĐH Tổng hợp TP.HCM để đào tạo và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và KHXH Ngày 30/3/1996, theo quyết định 1233/GD-ĐT của Bộ Giáo dục - Đào tạo, Trường ĐH KHXH&NV chính thức thành lập, đánh dấu bước chuyển lớn từ phương thức phục vụ đóng sang mở Trong giai đoạn này, Trường đẩy mạnh công tác tin học hóa để tạo điều kiện thuận lợi cho giảng viên, cán bộ nghiên cứu, học viên sau ĐH và sinh viên tiếp cận thuận lợi nguồn tài liệu và nguồn lực kỹ thuật số.
Thư viện ĐH KHXH&NV là trung tâm lưu trữ, cung cấp tài liệu và tư liệu về các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trong và ngoài nước, phục vụ công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học của trường Vốn tài liệu - nguồn tài nguyên thư viện của Trường được bổ sung và cập nhật thường xuyên, đảm bảo đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của sinh viên và giảng viên Thư viện đóng vai trò quan trọng trong nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt trong giai đoạn Trường chuyển đổi sang phương thức đào tạo theo tín chỉ Ngoài ra, thư viện còn là trung tâm văn hóa, nghiên cứu thúc đẩy hoạt động học tập và sáng tạo của cộng đồng trường ĐH KHXH&NV.
Đến đầu tháng 7 năm 2008, hệ thống thư viện tại hai cơ sở đã sở hữu hơn 137.667 bản tài liệu in các loại, bao gồm sách, báo, tạp chí và tập san, phản ánh các ngành khoa học xã hội và nhân văn Cụ thể, cơ sở Đinh Tiên Hoàng có 77.558 bản sách, trong khi cơ sở Thủ Đức có 46.385 bản, cùng với 72 tên báo và phụ san, 512 tạp chí và tập san Ngoài ra, thư viện còn duy trì kho tài liệu điện tử gồm 1.274 đĩa CD, VCD, DVD, cùng 14 băng cassette và 11 băng video Thư viện đã xây dựng hệ thống thư mục điện tử với khoảng 48.681 biểu ghi, phản ánh tổng cộng 122.130 tài liệu, trong đó có hơn 46.610 biểu ghi sách tương ứng với hơn 105.258 bản sách, 1.513 biểu ghi luận văn và luận án với hơn 2.239 bản, cùng 558 biểu ghi giáo trình và hơn 14.663 bản, 1.274 biểu ghi tài liệu điện tử, 584 biểu ghi báo – tạp chí và 12.635 bài trích, trong đó có 9.203 bài đã được tóm tắt để phục vụ công tác tra cứu và nghiên cứu.
2.2.1.4 Thư viện Đại học Luật TP.HCM
Trước năm 1996, TV chỉ là một bộ phận trực thuộc phòng đào tạo của trường Khởi đầu TV là một phòng đọc sách nhỏ với 100 chỗ ngồi và khoảng
Từ năm 1996, khi Trường Đại học Luật TP.HCM trở thành trường độc lập, Thư viện (TV) đã mở rộng hoạt động và trở thành một bộ phận độc lập trực thuộc Ban Giám hiệu Trước đó, hơn 4000 cuốn sách của thư viện được quản lý theo kiểu truyền thống, lưu trữ trong kho và tra cứu qua phiếu mục lục Để hiện đại hóa công tác quản lý, TV đã tiến hành số hóa toàn bộ các hoạt động nghiệp vụ và ứng dụng công nghệ mã vạch để quản lý tài liệu cũng như phục vụ bạn đọc một cách tốt hơn.
TV ĐH Luật TP.HCM có hai cơ sở tại số 2 Nguyễn Tất Thành và 123 Quốc lộ 13, Bình Triệu, Thủ Đức, với kho tài liệu phong phú gồm hơn 75.000 bản sách, 5.800 luận văn, luận án, và 890 đề tài nghiên cứu của giảng viên Thư viện còn sở hữu 79 tạp chí trong và ngoài nước, 47 tạp chí, cùng 1.090 sách điện tử, 160 đĩa CD-ROM và 25 video phục vụ cho nghiên cứu và học tập Hệ thống CSDL của thư viện đa dạng, gồm CSDL sách, luận văn, luận án, bài trích tạp chí, giáo trình và sách tham khảo, với tổng số ghi chép hiện tại là 71.823 Mỗi năm, thư viện cập nhật và bổ sung từ 2.000 đến 2.500 biểu ghi mới Ngoài ra, thư viện còn mua quyền truy cập các CSDL như "Lectures Note in Computer Sciences," chứa các chương trình và bài giảng toàn văn về khoa học máy tính, với khoảng 1.000 tài liệu trong các lĩnh vực kỹ thuật quản lý và hệ thống.
IEEE ASPP là CSDL gồm 113 tạp chí uy tín thuộc các lĩnh vực kỹ thuật điện, khoa học máy tính, kỹ thuật TT và vật lý ứng dụng, là nguồn tài liệu chất lượng cao cho nghiên cứu khoa học Ebrary cung cấp hơn 13.000 nhan đề toàn văn trong các lĩnh vực như kinh doanh, kinh tế, ngôn ngữ, văn học, lịch sử, triết học, giáo dục học và khoa học chính trị, hỗ trợ đa dạng nhu cầu nghiên cứu và học tập.
2.2.1.5 Thư viện Đại học Kinh tế
Trường ĐH Kinh tế TP.HCM được thành lập theo Quyết định số 426/TTg ngày 27/10/1976 của Thủ tướng Chính phủ, đánh dấu sự ra đời của trường cùng với việc xây dựng nền móng phát triển nền giáo dục kinh tế tại Việt Nam.