1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những thứ họ mang theo và vấn đề chiến tranh việt nam

146 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những thứ họ mang theo và vấn đề chiến tranh Việt Nam
Tác giả Ngô Thị Thùy Nga
Người hướng dẫn PGS.TS. Đào Ngọc Chương
Trường học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn học nước ngoài
Thể loại Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Năm xuất bản 2011
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. Lí do chọn đề tài (0)
  • II. Xác định đề tài và phạm vi nghiên cứu (0)
  • III. Lịch sử nghiên cứu vấn đề (8)
  • IV. Phương pháp nghiên cứu (17)
  • V. Kết cấu của luận văn (19)
  • CHƯƠNG 1: NGƯỜI MỸ VỚI CUỘC CHIẾN TRANH VIỆT NAM (20)
    • 1.1 Nhìn lại cuộc chiến tranh Việt Nam đã qua (19)
    • 1.2 Hội chứng Việt Nam - một hệ lụy tinh thần của lính Mỹ (27)
    • 1.3 Sự xuất hiện của các nhà văn cựu chiến binh Mỹ (19)
  • CHƯƠNG 2: CHIẾN TRANH VIỆT NAM VÀ CẤU TRÚC TÁC PHẨM (44)
    • 2.1 Nghệ thuật xây dựng kết cấu của tác phẩm (19)
    • 2.2 Tính lắp ghép trong việc xây dựng cấu trúc tác phẩm (19)
    • 2.3 Thời gian nghệ thuật trong tác phẩm (19)
  • CHƯƠNG 3: CHIẾN TRANH VIỆT NAM VÀ NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM 92 (93)
    • 3.1 Nhân vật với những trải nghiệm trong chiến tranh (19)
    • 3.2 Nhân vật đi tìm câu trả lời cho sự ám ảnh của ký ức (108)
    • 3.3 Nghệ thuật xây dựng điểm nhìn của nhân vật người kể chuyện (19)
  • KẾT LUẬN (133)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (137)

Nội dung

Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu về tác phẩm của Tim O’Brien còn hạn chế tại Việt Nam, khiến việc thu thập tài liệu gặp nhiều khó khăn Điều này đặt ra thách thức lớn cho các nghiên cứu và phân tích về ông, đồng thời cần mở rộng hoạt động tìm kiếm nguồn tư liệu để hiểu rõ hơn về cuộc đời và tác phẩm của nhà văn Mỹ này.

Chúng tôi đã tham khảo 25 cuốn sách nghiên cứu chung về văn học phương Tây hiện đại và các tài liệu bằng tiếng Việt liên quan đến lĩnh vực này Những nguồn này cung cấp kiến thức sâu rộng giúp hiểu rõ hơn về đặc điểm, xu hướng và ảnh hưởng của văn học phương Tây trong bối cảnh toàn cầu hóa Việc nghiên cứu các tư liệu này góp phần nâng cao nhận thức và phân tích chính xác về các tác phẩm văn học hiện đại, đồng thời tối ưu hóa nội dung theo các tiêu chí SEO nhằm tiếp cận độc giả hiệu quả hơn.

Mỹ đặc biệt quan tâm đến các nguồn tư liệu như ba cuốn từ điển và từ điển thuật ngữ văn học để hiểu rõ hơn về các định nghĩa và vấn đề liên quan đến luận văn Ngoài ra, các bài báo văn học về chiến tranh Việt Nam do các cựu chiến binh Mỹ từng tham gia chiến đấu viết cũng là nguồn tư liệu quý giá để nghiên cứu Đặc biệt, bài viết của Hoàng Ngọc Tuấn tập trung phân tích sáng tác và góc nhìn về cuộc chiến, cung cấp cái nhìn sâu sắc về chiến tranh Việt Nam từ góc độ văn học.

Trong bài viết này, chúng tôi tập trung phân tích quan điểm thẩm mỹ trong các sáng tác của Tim O’Brien, đặc biệt là trong cuốn “Những thứ nhớ mang theo”, qua đó làm rõ các yếu tố nghệ thuật và cảm xúc trong tác phẩm Ngoài các bài viết khác, chúng tôi đặc biệt chú ý đến bài viết của PGS.TS Đào Ngọc Chương trong cuốn “Truyền ngắn dưới ánh sáng so sánh”, nơi tác giả đã đề cập sâu sắc về Tim O’Brien cũng như tác phẩm “Những thứ nhớ mang theo” Những thông tin từ bài viết của PGS.TS Đào Ngọc Chương đã hỗ trợ rất lớn trong quá trình nghiên cứu và làm rõ đề tài của chúng tôi.

Chúng tôi đã thu thập nhiều tài liệu bằng tiếng nước ngoài qua thư viện thế giới và các bài viết trên Internet, bao gồm cả bài báo và chuyên luận nghiên cứu Ngoài ra, chúng tôi còn tập hợp các cuốn sách là tuyển tập văn học phương Tây và các chuyên luận về văn học Mỹ, giúp tăng cường nguồn tư liệu quý giá cho nghiên cứu của mình Mảng tư liệu tiếng Anh này vô cùng cần thiết, đặc biệt khi các nghiên cứu trong nước còn hạn chế.

Chúng tôi trình bày sơ lược nội dung các tài liệu đã đề cập, phân loại theo mức độ nghiên cứu để thuận tiện theo dõi Các công trình được xếp theo thứ tự dựa trên phạm vi liên quan đến Tim O’Brien, từ những tác phẩm không đề cập đến ông, có nhắc đến ông một chút, đến các nghiên cứu trực tiếp về Tim O’Brien Việc phân loại không dựa trên ngôn ngữ tiếng Anh hay tiếng Việt hay thể loại như bài báo, chuyên luận, từ điển hay hợp tuyển.

Trong khi các tác phẩm văn học chiến tranh về Việt Nam của các nhà văn cựu chiến binh Mỹ nhận được nhiều giải thưởng cao quý của nền văn học Mỹ và được giảng dạy rộng rãi cho học sinh, sinh viên Mỹ, thì ở Việt Nam lại thiếu các công trình nghiên cứu và giáo trình đề cập đến lĩnh vực này Điều này khiến cho cộng đồng học thuật và giới trẻ Việt Nam khó có cơ hội hiểu sâu hơn về cuộc chiến bằng góc nhìn của các nhà văn Mỹ, qua đó tự hào về nền văn hóa và truyền thống đấu tranh của dân tộc Trong bộ sách “Lịch sử văn học phương Tây” do Nhà xuất bản Giáo dục xuất bản năm 1963, mặc dù đề cập nhiều về văn học Pháp và các nền văn học quốc tế khác, nhưng lại thiếu phần nói về văn học chiến tranh Việt Nam do các nhà văn Mỹ sáng tác Tương tự, cuốn “Phê bình – lý luận văn học Anh Mỹ” của Lê Huy Bắc chủ yếu tập trung vào các nhà văn gạo cội của nền văn học phương Tây mà ít đề cập đến các tác phẩm về chiến tranh Việt Nam của các tác giả Mỹ, phản ánh sự thiếu đa dạng trong các tài liệu nghiên cứu về lĩnh vực này tại Việt Nam.

Anh - Mỹ như Mark Twain, Gertrude Stein, William Faulkner, Ernest Hemingway…

Trong luận văn này, chúng tôi đặc biệt nhấn mạnh đến một bút pháp mới trong tiểu thuyết chiến tranh của Tim O’Brien, lấy cảm hứng từ hướng đi của tiểu thuyết phương Tây thế kỷ XX Để hiểu rõ hơn về sự đổi mới trong tiểu thuyết phương Tây hiện đại, chúng tôi sẽ sơ lược các nét đặc trưng nổi bật của nó nhằm giúp độc giả tiếp cận và nhận thức sâu sắc hơn về tác phẩm của O’Brien.

V Dnieprov trong “Những mưu toan đổi mới modules của nền tiểu thuyết hiện đại” của Nxb Văn học (1961) đã phân tích những đổi mới trong thể loại này, tập trung vào các nhà Tiểu thuyết Mới như Robbe Grillet Tác phẩm này nhấn mạnh vai trò của các nhà sáng tạo trong cuộc cách mạng của tiểu thuyết hiện đại, đồng thời phản ánh xu hướng đổi mới đặc trưng của thời kỳ này Trong cùng khuynh hướng, cuốn “Phê phán văn học chiến tranh chủ nghĩa” cũng đề cập đến những đổi mới về nội dung và hình thức trong tiểu thuyết, góp phần làm rõ sự phát triển của thể loại này trong bối cảnh lịch sử và văn hóa.

Tiểu thuyết mới của Proust, Joyce và Kafka mang tính chất phản ánh chế độ qua các sáng tác của họ, đặc biệt là Kafka, nhưng vẫn được xem là thể hiện sự phản kháng tiêu cực, mơ hồ, bất lực và tuyệt vọng Người đọc hiện nay phải làm quen với cách viết mới mẻ, không theo lối mòn truyền thống của thế kỷ XIX, gây ra thách thức lớn cho cả người đọc lẫn người sáng tác Thời gian đã chứng minh rằng Franz Kafka, Marcel Proust và William Faulkner là những người tiên phong trong việc cách tân kỹ thuật tiểu thuyết hiện đại Các nhà nghiên cứu như Đỗ Đức Dục trong “Chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học phương Tây” đã nhấn mạnh các khám phá về việc thể hiện tiềm thức, vô thức, trực giác và bản năng của con người trong tiểu thuyết hiện đại Đồng thời, Đặng Thị Hạnh trong “Một vài gương mặt văn xuôi Pháp thế kỷ XX” cũng nhận định về sự đổi mới trong hình thức và nội dung của văn xuôi Pháp thế kỷ XX.

2000, có sơ qua vài nét về hướng tìm tòi của tiểu thuyết phương Tây giữa hai cuộc chiến với sự đóng góp đáng kể của Proust, Woolf và Joyce

Các nhà nghiên cứu hàng đầu về Văn học phương Tây tại Việt Nam như Đặng Anh Đào trong "Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây đương đại" và Phùng Văn Tửu trong "Tiểu thuyết Pháp hiện đại - những tìm tòi đổi mới" đều nhấn mạnh đến sự đổi mới trong phong cách viết và hướng tiếp cận mới mẻ của các tác phẩm văn học phương Tây Ngoài ra, Đỗ Lai Thuý trong "Nghệ thuật như là thủ pháp – lý thuyết chủ nghĩa hình thức Nga" cũng đề cập đến những đổi thay của nền văn học Nga, giúp mở rộng góc nhìn cho nghiên cứu của chúng tôi Dù không trực tiếp nghiên cứu về hướng này, các công trình này đã cung cấp những kiến thức quý giá, giúp chúng tôi hiểu sâu hơn về cuốn tiểu thuyết đang phân tích.

Do ở Việt Nam vẫn chưa có các nghiên cứu toàn diện về tác phẩm của nhà văn Tim O’Brien, nên các nhà nghiên cứu văn học Mỹ thường chỉ nhấn mạnh ông như một biểu tượng tiêu biểu của các tác phẩm văn học về chiến tranh của các nhà văn cựu chiến binh Mỹ và văn học hiện đại Mỹ nói chung.

Trong bài viết “Truyền ngắn Mỹ đương đại” của Lê Huy Bắc, xuất hiện trên Tạp chí Văn học số 1, năm 1997, tác giả nhận định về vai trò của văn học Mỹ đối với nền văn học thế giới Ông nhấn mạnh rằng, văn học Mỹ đã góp phần tạo ra một chủng loại mới gọi là hư cấu (fiction), trở thành một phần không thể thiếu trong sự phát triển của văn học hiện đại Lê Huy Bắc cũng đề cập đến những đóng góp của tác giả như Tim, người đã định hình và mở rộng thể loại này, góp phần nâng cao giá trị nghệ thuật và ý nghĩa xã hội của văn học Mỹ.

Trong chương cuối cùng “Những cuộc đời sau khi chết” của tiểu thuyết “Những thứ họ mang theo”, O’Brien thể hiện nỗi ám ảnh sâu sắc trong tâm trí nhân vật Đối với các nhà văn cựu chiến binh Mỹ, chiến tranh Việt Nam vẫn để lại những ký ức kinh hoàng trong thế giới tinh thần của họ Tim O’Brien được xem là một đại diện tiêu biểu của những người đó, phản ánh chân thực những nỗi đau và hậu quả của chiến tranh qua các tác phẩm văn học của mình.

PGS.TS Phan Thu Hiền trong tạp chí Văn học nước ngoài cùng số 1, 1997, trong bài dịch chương cuối “Những cuộc đời sau khi chết” của cuốn tiểu thuyết

“ Nh ữ ng th ứ h ọ mang theo ” cũng có đôi lời về tiểu sử của nhà văn Tim O’Brien

Trong bài viết "Những gì tôi đã mang theo" đăng trên tạp chí Văn nghệ Quân đội tháng 12 năm 1994, tác giả Trần Đăng Khoa giới thiệu về tác giả Tim O’Brien và quan điểm của ông về tác phẩm của mình, mô tả đó như một tập ký ức hoặc nỗi ám ảnh của những người lính Mỹ về cuộc chiến tranh ở Việt Nam Ông chia tác phẩm thành ba phần: phần một phản ánh quãng thời gian ở Việt Nam, phần hai là thời gian hiện tại, và phần ba là tuổi thơ đan xen, đồng thời nhấn mạnh rằng tác phẩm được viết phóng khoáng, mỗi phần là một câu chuyện độc lập hoặc một sự kiện riêng biệt, nhưng tổng thể vẫn tạo thành một dạng tiểu thuyết Chính vì vậy, ông không chắc chắn gọi nó là thể loại gì rõ ràng.

Truyện ngắn à? Không phải! Tiểu thuyết à? Cũng không phải Thôi, ta cứ gọi nó là cuốn sách.”

Phương pháp nghiên cứu

17 Để thực hiện đề tài này, chúng tôi thực hiện những phương pháp nghiên cứu sau:

1 Phương pháp khảo sát phân tích:

Chúng tôi đã khảo sát tác phẩm "Những thứ họ mang theo" qua văn bản tiếng Anh "The Things They Carried" một cách cẩn thận Việc này giúp chúng tôi hiểu rõ hơn về cấu trúc, chi tiết và nhân vật trong tác phẩm, qua đó làm nổi bật sự sáng tạo của nhà văn Tác giả thể hiện một góc nhìn tinh tế về người lính trong chiến tranh, dù ở bên này hay bên kia chiến tuyến Điều này tạo nên một bức tranh chân thực và sâu sắc về trải nghiệm của người chiến sĩ trong chiến tranh, phù hợp với các tiêu chuẩn SEO về phân tích tác phẩm văn học.

Chúng tôi đã tham khảo nhiều bài viết, chuyên luận và sách nghiên cứu văn học để đánh giá toàn diện về sáng tác của Tim O’Brien, đặc biệt là tác phẩm “Những thứ mang theo” Các nhận xét của các tác giả trong và ngoài nước giúp chúng tôi chọn lọc những thông tin quan trọng nhất cho đề tài nghiên cứu, qua đó hiểu rõ hơn về giá trị văn học và ý nghĩa nhân văn của tác phẩm này.

Chúng tôi thực hiện phương pháp liên kết các mặt và các bộ phận thông tin từ nhiều nguồn đã thu thập để xây dựng một hệ thống thông tin mới, đầy đủ và sâu sắc về chủ đề nghiên cứu Việc này giúp nâng cao tính chính xác và toàn diện của dữ liệu, đồng thời tối ưu hóa nội dung để phù hợp với các tiêu chuẩn SEO Nhờ quá trình tích hợp này, chúng tôi tạo ra một hệ thống thông tin đáng tin cậy, hỗ trợ phân tích và thu thập kiến thức một cách hiệu quả hơn.

Chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích tài liệu sẵn có để xác định các xu hướng và trường phái nghiên cứu trong lĩnh vực Phương pháp này giúp xây dựng tổng quan về vấn đề nghiên cứu, còn gọi là lịch sử vấn đề, làm nền tảng để nhận diện thành tựu đã đạt được Tổng quan nghiên cứu là cơ sở để kế thừa, bổ sung và phát triển các kết quả nghiên cứu trước đó, góp phần nâng cao chất lượng và tính hệ thống của đề tài.

Bên cạnh các phương pháp đã đề cập, chúng tôi còn áp dụng các phương pháp hệ thống hóa, phân loại và so sánh nhằm nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện luận văn Những phương pháp này giúp tổ chức nội dung rõ ràng hơn, phân tích các yếu tố chính xác hơn và đưa ra những kết luận chính xác, góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu Việc sử dụng đa dạng các phương pháp nghiên cứu còn giúp đảm bảo tính khách quan và toàn diện cho luận văn.

Kết cấu của luận văn

Trong khuôn khổ đề tài, luận văn sẽ được chia thành ba chương chính, nhằm tập trung làm rõ các vấn đề đã trình bày trước đó Các chương này sẽ phân tích sâu về các nội dung liên quan, đảm bảo tính logic và mạch lạc trong toàn bộ bài viết Ngoài ra, bài viết không đề cập đến phần mở đầu và kết luận nhằm giữ trọng tâm vào các nội dung trung tâm của đề tài.

Chương 1 Người Mỹ với cuộc chiến tranh Việt Nam

1.1 Nhìn lại cuộc chiến tranh Việt Nam đã qua

1.2 Hội chứng Việt Nam – một hệ lụy tinh thần của người lính Mỹ

1.3 Sự xuất hiện của các nhà văn cựu chiến binh Mỹ

Chương 2 Chiến tranh Việt Nam v à c ấu trúc tác phẩm

2.1 Nghệ thuật xây dựng kết cấu tác phẩm

2.2 Tính lắp ghép trong việc xây dựng cấu trúc tác phẩm

2.3 Thời gian nghệ thuật trong tác phẩm

Chương 3 Chiến tranh Việt Nam v à nhân v ật trong tác phẩm

3.1 Nhân vật với những trải nghiệm trong chiến tranh

3.2 Nhân vật đi tìm câu trả lời cho nỗi ám ảnh

3.3 Nghệ thuật xây dựng điểm nhìn của nhân vật- người kể chuyện

NGƯỜI MỸ VỚI CUỘC CHIẾN TRANH VIỆT NAM

Nhìn lại cuộc chiến tranh Việt Nam đã qua

1.2 Hội chứng Việt Nam – một hệ lụy tinh thần của người lính Mỹ

1.3 Sự xuất hiện của các nhà văn cựu chiến binh Mỹ

Chương 2 Chiến tranh Việt Nam v à c ấu trúc tác phẩm

2.1 Nghệ thuật xây dựng kết cấu tác phẩm

2.2 Tính lắp ghép trong việc xây dựng cấu trúc tác phẩm

2.3 Thời gian nghệ thuật trong tác phẩm

Chương 3 Chiến tranh Việt Nam v à nhân v ật trong tác phẩm

3.1 Nhân vật với những trải nghiệm trong chiến tranh

3.2 Nhân vật đi tìm câu trả lời cho nỗi ám ảnh

3.3 Nghệ thuật xây dựng điểm nhìn của nhân vật- người kể chuyện

CHƯƠNG 1 : NGƯỜI MỸ VỚI CUỘC CHIẾN TRANH

Chiến tranh luôn để lại những ký ức sâu sắc trong tâm hồn và kho tư liệu của mỗi dân tộc, trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho các nhà văn trong việc tái hiện cuộc sống và con người trong chiến tranh qua góc nhìn chân thực và nhân bản Văn học về chiến tranh không chỉ phản ánh những câu chuyện khi chiến tranh kết thúc mà còn khám phá các khía cạnh còn bỏ ngỏ của thời kỳ chiến tranh, giúp hiểu rõ hơn về những mặt ít được thể hiện trong thời kỳ binh lửa Trong bối cảnh nền văn học Mỹ, chủ đề chiến tranh Việt Nam – một cuộc chiến phi nghĩa và thất bại nặng nề của nước Mỹ – đã ảnh hưởng sâu sắc đến các tác phẩm văn học, góp phần phản ánh nỗi đau và những câu hỏi về lý tưởng, ý chí của quốc gia này trước những thất bại cay đắng Những tác phẩm văn học này cùng nhau góp phần giữ gìn ký ức lịch sử, đồng thời thúc đẩy suy nghĩ về ý nghĩa của chiến tranh và hậu quả của nó đối với các thế hệ sau.

Chương này cung cấp cái nhìn tổng quan về cuộc chiến tranh Việt Nam, giúp hiểu rõ hơn về các nhân vật và hoàn cảnh phía hai bên chiến tuyến Nội dung còn nhấn mạnh sự xuất hiện của các nhà văn cựu chiến binh Mỹ và vai trò của nền văn học về chiến tranh Việt Nam tại Mỹ Những tác phẩm này phản ánh đa dạng góc nhìn, góp phần làm rõ những ảnh hưởng và cảm xúc của chiến tranh qua lăng kính của các tác giả.

1.1 Nhìn lại cuộc chiến tranh Việt Nam đã qua:

Cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) là một trong những cuộc chiến lâu dài nhất trong lịch sử nước Mỹ, đồng thời là cuộc chiến huy động nhiều sức người, sức của và trí tuệ cao nhất của quốc gia này Từ thời tổng thống D.D Eisenhower, John K Kennedy, Lyndon B Johnson, Richard M Nixon đến Gerald R Ford, Mỹ đã điều hành bốn chiến lược chiến tranh thực dân mới tại Việt Nam, với sự hỗ trợ của các “bộ óc nước Mỹ” như Henry Kissinger và Zbigniew Brzezinski Mỹ đã tận dụng tối đa tiềm lực kinh tế và quốc phòng hùng hậu để thực hiện các chiến lược quân sự và chính trị nhằm bảo vệ lợi ích của mình tại khu vực Đông Nam Á.

Mỹ đã sử dụng các phương tiện hiện đại nhất và tư duy chỉ huy quân sự dựa trên niềm tin vào sức mạnh của kỹ thuật và vũ khí hỏa lực để chiến thắng Tuy nhiên, chiến tranh nhân dân Việt Nam đã chứng minh sự thất bại thảm hại của chiến lược này trước sức mạnh tổng hợp của phong trào đấu tranh nhân dân.

Trong cuốn sách “ H ồi tưở ng: Bi k ị ch và nh ữ ng bài h ọ c chi ế n tranh ” (“In Retrospect – The Tragedy and Lessons of Viet Nam”) của mình, Bộ trưởng

Bộ Quốc phòng Mỹ dưới thời McNamarra đã thừa nhận có mười một nguyên nhân chính gây thất bại ở chiến trường Việt Nam, trong đó có việc đánh giá sai khả năng của Bắc Việt Nam và xem thường chủ nghĩa dân tộc của họ Ngoài ra, Mỹ đã không nhận thức được những hạn chế của trang thiết bị kỹ thuật cao và thiếu sự dự báo chính xác về chiến tranh Trung tâm của vấn đề là Mỹ đã không coi trọng việc hợp tác bình đẳng với quốc hội và công chúng, đồng thời năng lực tổ chức kém đã trở thành yếu tố cản trở chiến thắng cuối cùng.

Việt Nam đã vượt qua cả thời kỳ bị thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm chiếm, từ một dân tộc bị nô lệ, để giành lại quyền độc lập dân tộc sau gần một thế kỷ mất nước Quá trình đấu tranh kiên cường giúp đất nước trở thành một quốc gia độc lập, thống nhất và có đầy đủ chủ quyền, được cộng đồng quốc tế công nhận Những lời khẳng định của Bác Hồ trong di chúc vẫn luôn đúng, khi nhấn mạnh rằng “Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta” và khẳng định quyết tâm giữ vững độc lập, tự do của Tổ quốc.

Nước ta tự hào là một quốc gia nhỏ bé nhưng đã anh dũng chiến thắng hai đế quốc lớn là Pháp và Mỹ, góp phần vào phong trào giải phóng dân tộc Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong cuốn sách "Chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ tổ quốc" đã nhấn mạnh về ý nghĩa của những chiến thắng này đối với lịch sử dân tộc và phong trào cách mạng Việt Nam.

Thắng lợi của chiến tranh Việt Nam trước các vũ khí, kỹ thuật hiện đại nhất của Mỹ minh chứng rõ ràng rằng, dù một đội quân xâm lược được trang bị rất hiện đại, vẫn có thể bị đánh bại nhờ sức mạnh chiến đấu của một dân tộc nhỏ Thành công này cho thấy rằng ý chí quyết tâm chiến đấu và phương pháp chiến tranh tinh vi của nhân dân Việt Nam đã làm nên điều kỳ diệu trong lịch sử kháng chiến.

Ngay khi tham chiến tại Việt Nam, nước Mỹ đã xảy ra một cuộc nội chiến nội bộ, phản ánh quan điểm của những người có lương tri về một cuộc chiến tranh phi nghĩa, vi phạm nhân quyền và gây thiệt hại lớn về nhân lực và vật lực của đất nước Phong trào phản chiến của nhân dân Mỹ đã nổi lên như một phản ứng mạnh mẽ chống lại các hành động tàn bạo của quân đội Mỹ ở Việt Nam, góp phần thúc đẩy tinh thần đoàn kết toàn dân và cổ vũ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam Lịch sử ghi nhận phong trào phản chiến này là một trong những yếu tố quan trọng giúp Việt Nam chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Cuộc chiến tranh Việt Nam khác biệt với chiến tranh Triều Tiên và thế chiến thứ hai ở chỗ truyền hình Mỹ mang đến hình ảnh chân thực về mức độ tàn phá và nỗi đau của dân thường Việt Nam cho khán giả mọi nhà mỗi tối Người xem có thể chứng kiến cảnh lính thủy lục quân đốt nhà tranh bằng Zippo, hình ảnh bé Kim Phúc loang lổ vết bỏng Napalm hay vụ tấn công đại sứ Mỹ giữa trung tâm Sài Gòn Nhờ đó, nhiều người Mỹ đã trở nên đồng cảm hơn và lựa chọn phản đối chiến tranh.

Nhân dân Việt Nam và cả thế giới luôn ghi nhớ công lao của những chiến sĩ hòa bình Mỹ, đặc biệt là Morrison đã dũng cảm hy sinh vì chính nghĩa và sự nghiệp giải phóng Việt Nam Vào ngày 2 tháng 11 năm 1965, những hành động anh dũng của Morrison đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm và tình đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu tranh chống lại chiến tranh phi nghĩa Những đóng góp này luôn được trân trọng như những nghĩa cử cao đẹp của những người có lương tri trên toàn cầu.

Norman Morrison tự thiêu trước Lầu Năm Góc ở thủ đô Washington, Mỹ, để phản đối chiến tranh, thể hiện lòng bất khuất vì hoà bình Cảm kích trước tấm lòng của anh dành cho nhân dân Việt Nam, nhà thơ Tố Hữu, người lãnh đạo của cách mạng Việt Nam, đã sáng tác bài thơ "Emlili, con ơi " nhằm tưởng nhớ người chiến sĩ vì hoà bình và phản chiến Hình ảnh của Norman Morrison trở thành biểu tượng của lòng yêu nước, lòng dũng cảm và khát vọng hòa bình trong lòng công chúng Việt Nam.

Nhìn ta phút này! Ôi không chỉ là ta với con gái nhỏ trong tay

Và con ta, Ê-mi-li ơi, con là mãi mãi!

Ta đứng đây, Với trái tim vĩ đại Của trăm triệu con người

(“E-mi-li, con ơi…” - Tố Hữu)

Cái chết của Norman Morrison mang ý nghĩa lớn đối với người Mỹ và dân tộc Việt Nam Trước khi qua đời, vợ ông, Ann Morrison, chia sẻ rằng: “Norman Morrison đã hy sinh để thể hiện nỗi lo ngại về thiệt hại lớn về sinh mạng trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam.” Ông đã phản đối sự gia tăng can thiệp quân sự của chính phủ Mỹ vào cuộc xung đột này, gửi đi thông điệp rõ ràng về phản đối chiến tranh một cách dũng cảm.

Dưới ảnh hưởng của tinh thần phản đối chiến tranh, nước Mỹ đã chứng kiến nhiều vụ tự thiêu đầy cảm xúc như anh Rogiơ Lapotơ (22 tuổi), chị Xilin Giancaoxki, mẹ của hai con nhỏ, và cụ bà Helga Alithơt (79 tuổi) Những hành động này được báo chí nhiều nước gọi là “những bó đuốc tiếp sức phản kháng cuộc chiến tranh dã man ở Việt Nam”, thể hiện sự quyết tâm và dũng cảm của các cá nhân phản đối chiến tranh Mục sư Mactin Luthơkinh, người sáng lập Hội nghị lãnh đạo Thiên chúa miền nam nước Mỹ, là biểu tượng của phong trào chống chiến tranh đầy mạnh mẽ và ý nghĩa này.

23 kêu gọi: “Chúng ta phải biểu tình, hội thảo và tuyên truyền cho đến khi chính những nền móng của đất nước chúng ta phải rung chuyển” [86, - ]

Bốn năm sau, ngày 15 tháng 11 năm 1969, sau khi thuỷ quân lục chiến

Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng, diễn ra cuộc tuần hành lớn thu hút hơn 250.000 người tại trung tâm thành phố, cùng lúc diễn ra hàng loạt cuộc biểu tình ở nhiều thành phố lớn trên cả bờ Đông và Tây của nước Mỹ Các cuộc xuống đường này diễn ra ngay tại các trung tâm trung tâm như đại lộ số năm và gần Quảng trường Thời Đại (Times Square) ở New York, thể hiện sức mạnh của phong trào phản đấu đang lan rộng khắp các đô thị lớn.

Sự xuất hiện của các nhà văn cựu chiến binh Mỹ

Chương 2 Chiến tranh Việt Nam v à c ấu trúc tác phẩm

2.1 Nghệ thuật xây dựng kết cấu tác phẩm

2.2 Tính lắp ghép trong việc xây dựng cấu trúc tác phẩm

2.3 Thời gian nghệ thuật trong tác phẩm

Chương 3 Chiến tranh Việt Nam v à nhân v ật trong tác phẩm

3.1 Nhân vật với những trải nghiệm trong chiến tranh

3.2 Nhân vật đi tìm câu trả lời cho nỗi ám ảnh

3.3 Nghệ thuật xây dựng điểm nhìn của nhân vật- người kể chuyện

CHƯƠNG 1 : NGƯỜI MỸ VỚI CUỘC CHIẾN TRANH

Chiến tranh trở thành kho tư liệu và ký ức tâm hồn của mỗi dân tộc, góp phần tạo nên sức sống vĩnh cửu trong nhân dân qua các tác phẩm văn học phản ánh chân thực và sâu sắc cuộc sống của người trong chiến tranh Nhà văn với trái tim nhiệt huyết và cái nhìn khách quan, nhân bản, đã tái hiện những sự thật khó nói của chiến tranh và con người trong chiến tranh, giúp đánh thức mọi tiềm lực của dân tộc Văn học về chiến tranh sau chiến tranh nhanh chóng chiếm lĩnh hiện thực cuộc sống, phản ánh một quan niệm đa dạng và toàn diện, trong đó còn bộc lộ những mặt chưa từng được khám phá, góp phần làm rõ hơn về bản chất và hậu quả của chiến tranh Đặc điểm này còn thể hiện rõ trong nền văn học Mỹ, chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc chiến tranh Việt Nam – một cuộc chiến phi nghĩa do Mỹ gây ra, dẫn đến thất bại nặng nề và in đậm trong tiềm thức người dân Mỹ, đến mức họ vẫn còn băn khoăn về lý do vì sao một cường quốc mạnh mẽ như Mỹ lại thất bại trước một quốc gia nhỏ bé, thuộc địa.

Chương này cung cấp cái nhìn tổng quan về cuộc chiến tranh Việt Nam và các vấn đề liên quan, giúp độc giả hiểu rõ hơn về con người ở hai phía chiến tuyến Đồng thời, bài viết nhấn mạnh sự xuất hiện của các nhà văn cựu chiến binh Mỹ và nền văn học chiến tranh Việt Nam tại Mỹ, phản ánh các góc độ đa dạng của chiến tranh qua góc nhìn của các nhà văn này.

1.1 Nhìn lại cuộc chiến tranh Việt Nam đã qua:

Cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) là một trong những cuộc chiến dài nhất trong lịch sử nước Mỹ và đã huy động nguồn lực lớn về nhân lực, vật lực và trí tuệ của đất nước Từ thời Tổng thống Dwight D Eisenhower đến Gerald R Ford, Mỹ đã thực hiện bốn chiến lược chiến tranh mới nhằm kiểm soát Việt Nam, đồng thời sử dụng đội ngũ cố vấn chiến lược đỉnh cao như Henry Kissinger và Zbigniew Brzezinski để tối đa hóa sức mạnh kinh tế và quốc phòng của quốc gia.

Mỹ đã sử dụng các phương tiện hiện đại nhất cùng tư tưởng chỉ đạo quân sự dựa trên sức mạnh vũ khí và công nghệ kỹ thuật số, nhưng thất bại thảm hại trước sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân Việt Nam Sự kháng cự quyết liệt của người dân và chiến lược phù hợp đã chứng minh rằng sức mạnh con người và tinh thần chiến đấu mới là yếu tố quyết định thắng lợi, làm suy yếu hoàn toàn các phương tiện hiện đại và kỹ thuật của Mỹ.

Trong cuốn sách “ H ồi tưở ng: Bi k ị ch và nh ữ ng bài h ọ c chi ế n tranh ” (“In Retrospect – The Tragedy and Lessons of Viet Nam”) của mình, Bộ trưởng

Bộ Quốc phòng Mỹ dưới thời McNamara đã thừa nhận có mười một nguyên nhân chính dẫn đến thất bại ở chiến trường Việt Nam Trong đó, bao gồm việc đánh giá sai khả năng của Bắc Việt Nam và xem thường chủ nghĩa dân tộc như một dân tộc trên thế giới Đồng thời, Mỹ không nhận thức được những hạn chế của trang thiết bị kỹ thuật cao và thiếu sự hợp tác bình đẳng với quốc hội cũng như công chúng Mỹ Ngoài ra, yếu tố chủ chốt là năng lực tổ chức kém hiệu quả đã góp phần làm trầm trọng thêm thất bại của chiến dịch.

Việt Nam đã vượt qua giai đoạn bị thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm chiếm, từ một dân tộc éo le trong cảnh nô lệ, để giành lại quyền độc lập dân tộc sau gần một thế kỷ mất nước Sau hành trình anh dũng, đất nước đã trở thành một quốc gia độc lập, thống nhất, có đầy đủ chủ quyền và được cộng đồng quốc tế công nhận Quá trình này khẳng định lời Bác Hồ trong di chúc, nhấn mạnh rằng “Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta,” tượng trưng cho ý chí không khuất phục của dân tộc Việt Nam.

Nước ta tự hào là một quốc gia nhỏ bé nhưng đã anh dũng chiến thắng hai đế quốc lớn là Pháp và Mỹ, góp phần quan trọng vào phong trào giải phóng dân tộc Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong cuốn sách “Chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ tổ quốc” nhấn mạnh về ý nghĩa của những thắng lợi của dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập tự do.

Thắng lợi của chiến tranh Việt Nam trước những vũ khí và kỹ thuật hiện đại nhất của Mỹ chứng minh rõ ràng rằng, dù một đội quân xâm lược được trang bị rất hiện đại, nhưng vẫn có thể bị đánh bại nhờ sức mạnh chiến đấu và quyết tâm của một dân tộc nhỏ Chiến thắng này là minh chứng cho sức mạnh của ý chí và chiến lược đánh du kích, cho thấy rằng quyết tâm và cách đánh hay mới là yếu tố quyết định thành công trên chiến trường.

Khi Mỹ tham chiến ở Việt Nam, đã xuất hiện một cuộc nội chiến trong lòng nước Mỹ, phản đối chiến tranh phi nghĩa, vi phạm nhân quyền và gây tổn thất lớn về nhân lực cũng như vật lực Nhiều người Mỹ có lương tri đã đứng lên phản đối những hành động tàn bạo của quân đội Mỹ tại Việt Nam, tạo nên phong trào phản chiến mạnh mẽ trong lịch sử nước Mỹ Chính phong trào này đã góp phần cổ vũ tinh thần đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam và hỗ trợ cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam.

Truyền hình Mỹ đã mang đến hình ảnh chân thực về mức độ tàn phá, sự chịu đựng và bi kịch của dân thường Việt Nam trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam Người xem có thể thấy cảnh lính thủy quân lục chiến đốt nhà bằng Zippo, hình ảnh bé Kim Phúc bị bỏng Napalm và tấm hình tòa đại sứ Mỹ bị tấn công ngay trung tâm Sài Gòn Những hình ảnh này đã tác động mạnh mẽ đến công chúng Mỹ và dẫn đến sự phản đối rộng rãi chống chiến tranh.

Nhân dân Việt Nam và toàn thế giới luôn ghi nhớ những chiến sĩ hòa bình Mỹ, trong đó có Morrison, người đã thể hiện hành động cao đẹp và dũng cảm hy sinh vì chính nghĩa và tự do của Việt Nam Vào ngày 2 tháng 11 năm 1965, những hành động anh dũng này góp phần khẳng định tấm lòng vị tha và tinh thần nhân đạo trong cuộc đấu tranh chống lại chiến tranh phi nghĩa Những phẩm chất cao quý của Morrison và các chiến sĩ hòa bình khác luôn là biểu tượng của tinh thần đoàn kết, hòa bình và nhân đạo xuyên suốt lịch sử Việt Nam.

Norman Morrison tự thiêu trước Lầu Năm Góc ở thủ đô Washington, Mỹ để phản đối cuộc chiến tranh, thể hiện lòng yêu nước và mong muốn hòa bình Cảm kích trước tấm lòng của anh dành cho nhân dân Việt Nam, nhà thơ Tố Hữu, người lãnh đạo của cách mạng Việt Nam, đã sáng tác bài thơ “Emlili, con ơi…” để tưởng nhớ người chiến sĩ vì hòa bình và góp phần lan tỏa tinh thần đấu tranh chống chiến tranh.

Nhìn ta phút này! Ôi không chỉ là ta với con gái nhỏ trong tay

Và con ta, Ê-mi-li ơi, con là mãi mãi!

Ta đứng đây, Với trái tim vĩ đại Của trăm triệu con người

(“E-mi-li, con ơi…” - Tố Hữu)

Cái chết của Morrison mang ý nghĩa vô cùng lớn đối với người Mỹ và dân tộc Việt Nam Trước khi qua đời, chị Ann Morrison đã phát biểu rằng Norman Morrison hy sinh để phản đối sự thiệt hại lớn về mạng sống trong chiến tranh ở Việt Nam và thể hiện tiếng nói phản đối chính sách can thiệp quân sự ngày càng sâu của chính phủ Mỹ vào cuộc chiến này.

Nước Mỹ đã chứng kiến nhiều cuộc tự thiêu phản đối chiến tranh, như anh Rogiơ Lapotơ (22 tuổi), chị Xilin Giancaoxki, mẹ của hai đứa con nhỏ, và cụ bà Helga Alithơt (79 tuổi), được báo chí gọi là “những bó đuốc tiếp sức phản kháng chiến tranh ở Việt Nam” Trong số những người đấu tranh đó còn có mục sư Mactin Luthơkinh, người sáng lập Hội nghị lãnh đạo Thiên chúa miền nam nước Mỹ, biểu hiện rõ nét tinh thần phản đối quyết liệt chiến tranh trong giai đoạn đó.

23 kêu gọi: “Chúng ta phải biểu tình, hội thảo và tuyên truyền cho đến khi chính những nền móng của đất nước chúng ta phải rung chuyển” [86, - ]

Bốn năm sau, ngày 15 tháng 11 năm 1969, sau khi thuỷ quân lục chiến

Mỹ diễn ra nhiều hoạt động lớn, trong đó có cuộc tuần hành hơn 250.000 người ở trung tâm New York, gần Quảng trường Thời đại Đồng thời, hàng loạt cuộc xuống đường cũng diễn ra tại nhiều thành phố lớn trên cả bờ Đông và Tây của nước Mỹ, thể hiện sự sôi động và đa dạng của phong trào phản đối Ngày càng nhiều người tham gia các cuộc biểu tình quy mô lớn, góp phần nhấn mạnh tính quan trọng của các sự kiện này trên phạm vi quốc gia.

CHIẾN TRANH VIỆT NAM VÀ CẤU TRÚC TÁC PHẨM

CHIẾN TRANH VIỆT NAM VÀ NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM 92

Ngày đăng: 22/08/2023, 02:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. J.A. Amtơ, Lời phán quyết về Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời phán quyết về Việt Nam
Tác giả: J.A. Amtơ
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1982
2. Aristole, Nghệ thuật thi ca, Nxb Lao động – Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thi ca
Tác giả: Aristole
Nhà XB: Nxb Lao động – Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây
Năm: 2007
3. Alain Robbe- Grillet, Vì một nền tiểu thuyết mới, Nxb Hội Nhà Văn, H, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vì một nền tiểu thuyết mới
Tác giả: Alain Robbe-Grillet
Nhà XB: Nxb Hội Nhà Văn
Năm: 1997
4. Barthers, R, Độ không của lối viết (Nguyên Ngọc dịch), Nxb Văn học, H, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Độ không của lối viết
Tác giả: Barthers, R
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1996
5. Lê Huy Bắc, Truyện ngắn Mĩ đương đại, TCVHNN, số 1, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn Mĩ đương đại
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: TCVHNN
Năm: 1997
6. Lê Huy Bắc, Phê bình lý luận Văn học Anh - Mỹ, Nxb , 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình lý luận Văn học Anh - Mỹ
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb
Năm: 2000
7. Lê Huy Bắc, Truyện ngắn hậu hiện đại thế giới, NXb Hội nhà văn – Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, H, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn hậu hiện đại thế giới
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: NXb Hội nhà văn – Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây
Năm: 2003
8. David Bergen, Ở lưng chừng thời gian, Nxb Văn học, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ở lưng chừng thời gian
Tác giả: David Bergen
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2007
9. Nguyễn Thị Bình, Một vài đặc điểm của Tiểu thuyết Mới, TCVH, số 6, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài đặc điểm của Tiểu thuyết Mới
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: TCVH
Năm: 1999
10. Trần Thái Bình, Dấu tích người nước ngoài trong lịch sử Việt Nam, Nxb Trẻ, Tp.HCM 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dấu tích người nước ngoài trong lịch sử Việt Nam
Tác giả: Trần Thái Bình
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2010
11. Đào Ngọc Chương, Thi pháp tiểu thuyết và sáng tác của Ernest Hemingway, Nxb Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp tiểu thuyết và sáng tác của Ernest Hemingway
Tác giả: Đào Ngọc Chương
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2003
12. Đào Ngọc Chương, Truyện ngắn dưới ánh sáng so sánh, NXb Văn hóa thông tin,2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn dưới ánh sáng so sánh
Tác giả: Đào Ngọc Chương
Nhà XB: NXb Văn hóa thông tin
Năm: 2010
13. G. Côncô, Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải phẫu một cuộc chiến tranh
Tác giả: G. Côncô
Nhà XB: Nxb Quân đội Nhân dân
Năm: 1989
14. Lê Đình Cúc, Văn học Mỹ- mấy vấn đề và tác giả, Nxb Khoa học xã hội, H, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Mỹ- mấy vấn đề và tác giả
Tác giả: Lê Đình Cúc
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2001
15. Đỗ Đức Dục, Chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học phương Tây, Nxb KHXH, H, 1971 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học phương Tây
Tác giả: Đỗ Đức Dục
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1971
16. Nguyễn Hồng Dũng, Chiến tranh Việt Nam trong văn học Mỹ - từ sự thật đến tác phẩm, Tạp chí Văn nghệ Quân đội tháng 4, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh Việt Nam trong văn học Mỹ - từ sự thật đến tác phẩm
Tác giả: Nguyễn Hồng Dũng
Năm: 2005
17. Dnieprov, V, Những mưu toan đổi mới trong nền tiểu thuyết hiện đại, Nxb Văn học, H, 1961 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những mưu toan đổi mới trong nền tiểu thuyết hiện đại
Tác giả: Dnieprov, V
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1961
18. Lê Cao Đài, Chất da cam trong chiến tranh Việt Nam tình hình và hậu quả, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất da cam trong chiến tranh Việt Nam tình hình và hậu quả
Tác giả: Lê Cao Đài
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1999
19. Đặng Anh Đào, Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại, Nxb ĐHQGHN, H, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN
Năm: 2001
21. Hà Minh Đức, Đi tìm chân lý nghệ thuật, Nxb Văn học, H, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đi tìm chân lý nghệ thuật
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2000

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm