Lịch sử vấn đề
Tam tổ thực lục đã được chú ý từ lâu nhưng vẫn chưa có công trình nghiên cứu hệ thống về bộ ba tác phẩm này Theo quan điểm của Nguyễn Huệ Chi trong Từ điển văn học (tập II, 1984, trang 328), Tam tổ thực lục còn chưa được khai thác một cách đầy đủ và toàn diện, làm nổi bật sự thiếu hụt trong các nghiên cứu chính thống về tác phẩm này.
Các phần trong tác phẩm thể hiện tính chất tập hợp, nội dung và phong cách nghệ thuật không thống nhất, tạo nên sự đa dạng và phong phú về hình thức thể hiện Truyện Trần Nhân Tông nổi bật với cốt truyện kết hợp trình tự tiếp nối của nhiều mẫu đối thoại thiền học bằng thơ giữa vua Trần và đồ đệ, phản ánh sâu sắc tư tưởng và triết lý sống Trong khi đó, truyện Pháp Loa là bản niên phả ngắn gọn, trừ phần cuối chuyển sang thể truyện rõ nét, thể hiện sự giản dị và chân thực trong cách kể chuyện Ngược lại, truyện Huyền Quang mang nét truyền kỳ thú vị, có nhân vật, đối thoại và tình tiết dẫn dắt khéo léo, sử dụng phương pháp kể chuyện nửa thật nửa hư để thu hút người đọc Đằng sau bút pháp huyền thoại, yếu tố hiện thực chủ yếu là tâm lý và tình cảm vẫn khá rõ nét, tạo nên chiều sâu tâm lý cho các câu chuyện.
Trong sách Văn học Việt Nam (thế kỷ X – nửa đầu thế kỷ XVIII), Đinh Gia Khánh chủ biên nhấn mạnh rằng "khó mà khẳng định rằng tác phẩm nào không phải là sử, lại khó mà nói rằng tác phẩm nào không có ý nghĩa văn học," cho thấy sự đa dạng và phong phú của các tác phẩm văn học, kết hợp giữa giá trị lịch sử và giá trị văn học.
Năm 1996, Nguyễn Phạm Hùng đã ra mắt cuốn "Văn học Lý - Trần" nhằm khảo sát thể loại truyện thời Trần, trong đó đặc biệt đề cập đến Tam tổ thực lục trong Chương VI: Truyện đời Trần Ông đã phân tích nguồn gốc, đặc điểm của truyện thời Trần cũng như các phương diện tiếp cận như tính ghi chép, môi trường thông báo, vai trò của tác giả và số phận của truyện, và nhấn mạnh rằng dù kể về hành trạng và công đức của các vị sư hay các tổ thiền, các tác phẩm này đều phản ánh chân thực qua ngòi bút, phản ánh cuộc sống và hành trạng thật sự của nhân vật Trong đó, tác giả phân biệt rằng, trong Việt điện u linh các nhân vật được tôn vinh bằng ánh sáng thần linh, còn trong Thiền uyển tập anh và Tam tổ thực lục, các nhân vật được soi sáng bằng ánh sáng của Phật pháp Ngoài ra, ông còn chỉ ra rằng các hình thức truyện mang tính tiểu thuyết sau này có nguồn gốc từ truyện Lý - Trần, như Truyện Hà Ô Lôi, Truyện Không Lộ, Truyện Huyền Quang, trong đó không chỉ tập trung vào chân dung nhân vật mà còn khai thác các tình tiết, cốt truyện và các khía cạnh nhân cách của các nhân vật thần thánh, mở ra hướng đi mới cho thể loại truyện thời Trần.
Nguyễn Đăng Na trong cuốn Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại khẳng định rằng, dù còn mang dấu ấn của văn học dân gian và văn học chức năng như tôn giáo, hành chính, văn xuôi tự sự thế kỷ X – XIV đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc đặt nền móng cho văn xuôi trung đại và truyện văn xuôi cận – hiện đại về nội dung và phương thức tư duy nghệ thuật Ông cũng nhấn mạnh rằng, các tác phẩm như Lĩnh Nam chích quái, Ngoại sử kí (Đỗ Thiện), Đại Việt sử kí (Lê Văn Hưu), Báo cực truyện, Việt điện u linh tập, Thiền uyển đều góp phần định hình vị trí của văn xuôi tự sự thời kỳ này Ngoài ra, phần giới thiệu về Tam tổ thực lục cũng đề cập đến vai trò của những tác phẩm này trong sự phát triển của tiểu thuyết và truyện kể trung đại Việt Nam.
Dù là văn học chức năng tôn giáo, tác giả vẫn chú trọng xây dựng cốt truyện với nhiều tình tiết éo le, li kì và hấp dẫn, nhằm thu hút người đọc Tính cách nhân vật được khắc họa rõ nét, giúp làm nổi bật phẩm chất cao đẹp và đạo đức của họ Tuy nhiên, để phục vụ cho chức năng tôn giáo, tác giả tập trung đề cao phẩm hạnh nhân vật, truyền tải những giá trị đạo đức tích cực đến độc giả.
Vi phạm mục đích biên soạn "thực lục" nghĩa là chép đúng sự thật, nhưng người viết đã thần thánh hóa nhân vật bằng yếu tố kỳ ảo, khiến tác phẩm vượt ra khỏi chức năng tôn giáo để tiến gần hơn tới giá trị văn học đích thực.
Trần Thị Băng Thanh trong bài viết "Huyền Quang và vai trò lãnh tụ thiền phái Trúc Lâm Yên Tử" đã nhận xét về truyện Huyền Quang (Tổ gia thực lục) trong Tam tổ thực lục rằng, "Sách Tổ gia thực lục không ghi được hành trạng của ông theo đúng yêu cầu và quy cách ghi chép tiểu sử các danh tăng mà trái lại đậm tính chất văn học" [62, tr.38] Đặc biệt, Nguyễn Công Lý đã phân tích chi tiết những thành tựu nghệ thuật của truyện Huyền Quang trong tác phẩm "Văn học Phật giáo thời Lý – Trần: diện mạo và đặc điểm" xuất bản năm 2002, trong phần về hệ thống thể loại văn học với mục Truyện ký có nhận định rằng: “Riêng truyện ” (tiếp tục nội dung rõ ràng và phù hợp để tối ưu hóa SEO).
Tổ gia thực lục được đánh giá là một tác phẩm đạt trình độ nghệ thuật cao trong văn học thời Trần, nổi bật với các yếu tố lạ hóa như sự ra đời kỳ lạ của thiền sư Huyền Quang, cùng với nhiều tình tiết hấp dẫn và các đoạn mô tả nhân vật sinh động như cuộc thử thách của vua Trần Anh Tông, chuyện oan trái của nhà sư với Điểm Bích và quá trình giải oan Truyện còn khắc họa tâm lý và chân dung nhân vật qua các diễn biến theo trình tự thời gian tuyến tính, thể hiện khả năng xây dựng nhân vật và câu chuyện một cách chặt chẽ Nguyễn Công Lý nhận định rằng, Tổ gia thực lục là một tác phẩm vừa có giá trị lịch sử và tôn giáo, vừa có giá trị văn học, đứng ở đỉnh cao của thể loại văn xuôi tự sự và truyện ký chữ Hán thời Trần Đây là phân tích sâu sắc nhất về giá trị nghệ thuật của Tam tổ thực lục từ trước đến nay, mặc dù mới chỉ tập trung vào một phần về thiền sư Huyền Quang và chưa khảo sát toàn bộ tác phẩm.
Nguyễn Hữu Sơn trên tạp chí Khoa học và Tổ quốc đã nhấn mạnh rằng sách Tam tổ thực lục ghi chép khá chi tiết về cuộc đời Trần Nhân Tông, xem như một tiểu sử thiền sư với ý nghĩa lịch sử và tôn giáo sâu sắc Ông mô tả Trần Nhân Tông, hay Trúc Lâm Đại Sĩ, sinh ra bắt đầu từ điềm lạ, thể hiện sự thiêng liêng trong quá trình hành đạo Cuộc đời của ông nổi bật với nhiều công tích, để lại nhiều tác phẩm thơ văn giá trị và kết thúc bằng cái chết trong trạng thái thanh thản, được coi là sự “hóa thân” của một thiền sư đích thực.
Trong Phật giáo, khái niệm "trở về" thể hiện rõ nét qua quan niệm "sinh ký tử qui", mang ý nghĩa luân hồi và tái sinh Tiểu truyện thiền sư Trần Nhân Tông mang tính hỗn dung thể loại, lưu giữ giá trị thi ca sâu sắc, kết hợp các lời đối thoại, hỏi đáp về Phật pháp, quá khứ, hiện tại và vị lai, cùng các công án, giáo điển về nhân quả và hóa thân Những nội dung này phản ánh rõ nét triết lý về vòng đời, sự chuyển sinh và tìm kiếm chân lý trong đạo Phật.
Năm 2009, hội thảo khoa học về Bảo tồn và phát huy di sản đệ tam tổ thiền phái Trúc Lâm Huyền Quang cùng lễ hội Côn Sơn đã được tổ chức tại Hải Dương Sự kiện do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp cùng Giáo hội Phật giáo tỉnh Hải Dương thực hiện nhằm giới thiệu giá trị lịch sử và tầm quan trọng của di sản Trúc Lâm Huyền Quang Đây là hoạt động góp phần gìn giữ và phát huy giá trị di sản văn hóa Phật giáo đặc sắc của địa phương.
Trong đó, nhiều bài tham luận của các tác giả uy tín như Nguyễn Minh Tường, Hoàng Minh Đô, Nguyễn Hùng Hậu, Lê Thị Lan, Nguyễn Quốc Tuấn, Đinh Khắc Thuân, Nguyễn Kim Sơn, Tạ Ngọc Liễn, Trần Lâm Biền, Nguyễn Hữu Sơn, Bích Sâm và Nguyễn Quang Khải đã bàn về các vấn đề tiểu sử, sự nghiệp thơ ca và tư tưởng của đệ tam tổ Huyền Quang Các bài viết chủ yếu khám phá nhân vật Huyền Quang dưới góc độ lịch sử, văn hóa và con người, với riêng Nguyễn Hữu Sơn trong bài viết "Các nhà nho bàn về câu chuyện đệ tam tổ Huyền Quang – Điểm Bích" đề cập sâu đến vấn đề lịch sử tiếp nhận "Tổ gia thực lục" (truyện Huyền Quang), góp phần làm rõ hơn về cuộc đời và sự nghiệp của nhân vật này.
Chúng tôi xem đó là những gợi ý quí báu khi nghiên cứu giá trị nghệ thuật của bộ ba tác phẩm này
Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu về Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang, chủ yếu tập trung vào vai trò của các nhân vật lịch sử, thiền sư và tác giả văn học Tuy nhiên, họ không chỉ đơn thuần là các nhân vật văn học mà còn thể hiện vai trò quan trọng trong lịch sử và tư tưởng Phật giáo Đặc biệt, cuốn "Thiền học đời Trần" do Viện nghiên cứu là một trong những tài liệu tiêu biểu giúp làm sáng tỏ những đóng góp của các thiền sư thời Trần trong lĩnh vực thiền học.
Cuốn Phật học Việt Nam xuất bản năm 1995 tập trung tổng hợp kiến thức về Phật giáo Việt Nam, trong đó nhiều bài viết lấy dẫn liệu từ Tam tổ thực lục Tuy nhiên, điều đặc biệt là trong toàn bộ nội dung, tác giả không hề đề cập đến tên của tác phẩm này, điều này làm nổi bật sự chủ ý trong việc trích dẫn nguồn hoặc cách thể hiện thông tin trong sách.
Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
5.1 Phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp
Sử dụng phương pháp thống kê, chúng tôi đã xác định các điểm chung về cấu trúc của Tam tổ thực lục, một phần trong Thiền uyển tập anh, truyện thiền sư Trung Hoa và truyện dân gian Việt Nam Phân tích này giúp chúng tôi đối chiếu, so sánh và tổng hợp các đặc điểm hình thức của tác phẩm, từ đó làm rõ các đặc trưng cấu trúc của Tam tổ thực lục.
Phương pháp này giúp làm rõ giá trị của Tam Tổ Thực Lục về mặt cấu trúc trong mối tương quan so sánh với các tác phẩm cùng loại hoặc cùng thời Qua đó, chúng tôi xác định những điểm tương đồng giữa ba truyện tổ, khẳng định rằng Tam Tổ Thực Lục không phải là một hiện tượng văn học độc lập Tuy nhiên, tác phẩm vẫn có những thành công và đặc sắc riêng, góp phần làm phong phú thêm di sản văn học Việt Nam.
5.3 Phương pháp văn hóa – lịch sử
Phương pháp này giúp chúng tôi giải thích nguồn gốc của các hiện tượng lặp đi lặp lại thành motif trong văn học dân gian, trung đại và đặc biệt trong văn học Phật giáo Theo B.L Riptin, “lễ tiết văn học” phản ánh việc mô tả sự ra đời của các nhân vật một cách thần kỳ, đồng thời đặt đối tượng khảo sát trong một hệ thống tri thức cụ thể và lịch sử tiếp nhận.
6 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận, và Tài liệu tham khảo, luận văn được triển khai thành ba chương sau đây:
Chương 1: Tam tổ thực lục và thiền phái Trúc Lâm
Trong chương này, chúng tôi thuyết minh một số vấn đề về nguồn gốc các văn bản trong Tam tổ thực lục, những nét chính về thiền phái Trúc
Lâm cùng các tổ sư thiền phái, bao gồm Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang, là những nhân vật chính của Tam tổ thực lục Chương này mang tính tổng thuật nhằm nhấn mạnh giá trị và tầm quan trọng của Tam tổ thực lục trong lịch sử, văn hóa và đặc biệt là trong văn học Phật giáo thời Trần, góp phần làm rõ vai trò của các tổ sư trong phát triển thiền phái và di sản của Phật giáo Việt Nam.
Chương 2: Sự hỗn dung thể loại trong Tam tổ thực lục
Trong chương này, chúng tôi phân tích đặc điểm của các truyện thiền sư trong Tam tổ thực lục dựa trên góc nhìn loại hình học, nhằm đánh giá sự giao thoa giữa các quan niệm thể loại Bằng cách so sánh với các dạng văn xuôi cùng loại hoặc cùng thời kỳ, bài viết làm nổi bật tính “nguyên hợp” của thể loại truyện thiền sư, phản ánh đặc trưng riêng biệt và giá trị của thể loại này trong truyền thống văn học Phật giáo Việt Nam.
“đa nguyên” về thể loại của các tác phẩm: sự pha trộn giữa văn học viết và văn học dân gian, sự phối kết giữa các thể loại văn học thế tục và văn học tôn giáo cũng như những gợi mở rất giá trị của Tam tổ thực lục
Chương 3: Từ chức năng tôn giáo đến giá trị văn học của Tam tổ thực lục
Trong chương này, chúng tôi chủ yếu khai thác giá trị của Tam tổ thực lục về mặt chức năng tôn giáo – nghi lễ, đồng thời mở rộng khám phá tính văn học cũng như giá trị văn học của các tác phẩm trong việc đặt nền móng cho văn xuôi tự sự các thời kì sau, đặc biệt là ở việc mở ra một mảng đề tài lớn cho văn chương của các nhà Nho sau này (đối với trường hợp truyện Huyền Quang)
TAM T Ổ THỰC LỤ C VÀ THIỀN PHÁI TRÚC LÂM
Theo lời giới thiệu về Tam tổ thực lục trong cuốn Tổng tập văn học Việt Nam, tập II, do Trần Lê Sáng chủ biên, nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành năm 1997 tại Hà Nội, hiện ở thư viện Hán Nôm có ba bản Tam tổ thực lục: bản sớm nhất in năm Cảnh Hưng thứ 16 (1765), bản muộn hơn in năm
Thành Thái thứ 9 (1897) và một bản nữa in năm Thành Thái thứ 15 (1903); ngoài ra còn văn bản của chùa Quán Sứ, Hà Nội do Tổng hội Phật giáo Bắc
Kỳ ấn hành năm 1943 [52, tr.781]
Nhà nghiên cứu Lê Duy Mạnh, trong bài viết Trúc Lâm tam tổ là ai, đăng trên tạp chí Xưa & Nay, số 287, tháng 7 năm 2007, trang 19, có dẫn lại một phần lời Tựa bản in sớm nhất năm 1765 (do quá cũ và mối ăn mất nhiều nên không thể đọc được hết) Theo người viết tựa thì “từ trước vẫn có [những bản] ghi chép về ba vị tổ [phái Trúc Lâm] triều Trần, đã thành văn chương, và được liệt vào “đồ tịch” để cho người [đời noi theo]” Sách đã được “lưu truyền rất lâu Nhưng than ôi! [lẽ thường] thời vận lúc hưng lúc suy trải qua thời gian, chính bản cũng bị hỏng nát, lâu ngày thành ra thất truyền” Trước tình hình đó, soạn giả đành phải lấy chuyện thứ nhất từ sách “ đăng lục Và sao lại một cách sơ lược bài bia cổ chùa Hương Hải” để làm truyện thứ hai Rồi thu thập thêm chương “[Thiền đạo] yếu học để tiện quan lãm Rồi đến Trúc Lâm [đệ tam tổ Bản] hạnh [Tất cả] gộp thành một bộ sách” Từ đó Lê Duy Mạnh đi đến kết luận là bộ sách Tam tổ thực lục hiện nay chỉ là một bộ sách mới, được chính thức khai sinh vào năm 1765 với công sức của những người biên soạn là các nhà sư Quảng Điền, Hải Lượng và một số người khác, để thay thế cho một bộ Tam tổ thực lục đời Trần đã thất truyền [39, tr.19] Nói gọn lại, sách Tam tổ thực lục hiện nay được tập hợp từ ba nguồn khác nhau: truyện tổ thứ nhất (về Trần Nhân Tông) có thể được truyền từ
Thánh đăng (ngữ) lục, không rõ tác giả; truyện tổ thứ hai (về Pháp Loa) được sao lục từ một tấm bia cổ ở chùa Hương Hải mang tên Đệ nhị đại tổ bi trùng tu sự tích kí; truyện tổ thứ ba (về Huyền Quang) được lấy từ Bản hạnh ngữ lục (Tổ gia thực lục), là một bản thực lục gia truyền, không rõ người biên soạn (Để tiện theo dõi, chúng tôi xin được phép gọi ba truyện tổ này một cách nôm na là truyện Trần Nhân Tông, truyện Pháp Loa và truyện Huyền Quang)
Nguồn gốc của truyện Trần Nhân Tông đã được Nguyễn Công Lý xác nhận là “được lấy nguyên xi từ Thánh đăng ngữ lục” [37, tr.151] Thánh đăng
(ngữ) lục là một tập ghi chép về năm ông vua – Phật tử - thiền sư thời Trần là
Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông và Trần Minh Tông Điều này không cần phải bàn thêm
Về nguồn gốc truyện Pháp Loa, Lê Duy Mạnh khẳng định là “tấm bia Đệ nhị đại tổ bi trùng tu sự tích kí, bia được khắc ngày 10 tháng chạp năm
Chính Hoà thứ năm (tức ngày 14 tháng Giêng năm 1685) tại chùa Hương Hải Nội dung hoàn toàn phù hợp với truyện Pháp Loa ghi trong Tam tổ thực lục
Mà về thời gian, bia lại được “trùng san” 80 năm trước khi Tam tổ thực lục xuất hiện” [39, tr.19]
Theo nghiên cứu của giáo sư sử học Hà Văn Tấn trong cuốn *Đến với lịch sử văn hóa Việt Nam*, việc ghi nhận truyện Pháp Loa sao từ tấm bia cổ ở chùa Hương Hải là có sự nhầm lẫn Ông đã dựa vào những dòng khắc trên mặt thứ tư của văn bia hiện còn tại chùa Hương Hải, nay thuộc xã Ái Quốc, huyện Nam Thanh, tỉnh Hải Dương, sau đó được chuyển về chùa Văn.
Xá cách chùa Hương Hải hơn 2km do chùa này đã bị quân Pháp phá hủy vào năm 1949 Trong văn bia có ghi chú về việc năm Chính Hòa thứ 5, Huệ Nghĩa nam viết, Nguyễn Tiến Tước xã Liễu Chàng khắc, và năm Tự Đức thứ 9, bia được khắc lại Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu kết luận rằng văn bia hiện tại của chùa Hương Hải không phải là văn bia ban đầu mà người soạn Tam tổ thực lục đã sao chép hoặc chỉnh sửa lại.
Dựa trên từ “khắc lại” và các chữ húy thời Tự Đức, nhà nghiên cứu cho rằng văn bia này là bản sao của văn bia năm Chính Hòa thứ 5 (1685), được khắc năm Tự Đức thứ 9 (1865) Bản Tam tổ thực lục sớm nhất còn tồn tại đến ngày nay được in năm 1765, góp phần xác định giá trị lịch sử và nguồn gốc của văn bia.
Theo suy đoán của chúng tôi, dựa trên các cứ liệu do Lê Duy Mạnh và Hà Văn Tấn trình bày, văn bia trong Tam tổ thực lục (1765) có thể là một bản sao chép của một văn bia khác khắc năm 1685 Nghiên cứu này cho thấy khả năng văn bia gốc đã bị thất lạc hoặc hủy hoại vì lý do nào đó, khiến cho hiện tại chỉ còn lại bản chép lai.