TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ TƯƠNG TÁC GIỮA MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI NHÂN VĂN NGƯỜI KHMER VỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN TRONG QUÁ TRÌNH SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ T
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ TƯƠNG TÁC GIỮA MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI NHÂN VĂN NGƯỜI KHMER VỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN TRONG QUÁ TRÌNH
SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
HUYỆN HỒNG DÂN, TỈNH BẠC LIÊU
TP.HỒ CHÍ MINH, THÁNG 01 NĂM 2010
Trang 2
NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ TƯƠNG TÁC GIỮA MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI NHÂN VĂN NGƯỜI KHMER VỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN TRONG QUÁ TRÌNH
SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
HUYỆN HỒNG DÂN, TỈNH BẠC LIÊU
CHUYÊN NGÀNH: SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
MÃ SỐ : 60.85.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ MÔI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN ĐẮC DÂN
TP.HỒ CHÍ MINH, THÁNG 01 NĂM 2010
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Phạm Trần Thùy Linh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn Thạc sĩ này, bên cạnh những nỗ lực của tôi trong suốt thời gian qua, còn có sự giúp đỡ của người thân, thầy cô, bạn bè và cán bộ chính quyền địa phương nơi tôi nghiên cứu
Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các hộ dân tại 03 xã Lộc Ninh, Ninh Hòa và Ninh Thạnh Lợi, huyện Hồng Dân đã nhiệt tình đóng góp ý kiến
và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu ở thực địa
Xin cảm ơn các anh chị cán bộ tại UBND, Mặt trận Tổ quốc và Trung tâm Y
tế dự phòng huyện Hồng Dân đã giúp đỡ trong quá trình thu thập số liệu, tài liệu, tạo điều kiện để tôi dễ dàng tiếp cận với cộng đồng
Xin chân thành cảm ơn cán bộ, thầy cô ở Phòng Sau Đại học và Khoa Địa lý
đã giúp đỡ và tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học
Đặc biệt xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy Trần Đắc Dân đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm và kiến thức cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn Xin gửi lời tri ân tới ba mẹ, người thân và bạn bè đã luôn yêu thương, chia
sẻ, động viên và giúp đỡ trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
TP.Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2009
PHẠM TRẦN THÙY LINH
Trang 5Đề tài “Nghiên cứu mối quan hệ tương tác giữa môi trường xã hội nhân
văn người Khmer và môi trường tự nhiên trong quá trình sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trường huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu” được thực hiện từ tháng 09
năm 2008 đến tháng 11 năm 2009 Đề tài gồm 3 phần chính:
Thứ nhất: Nghiên cứu những nét đặc trưng của môi trường xã hội – nhân văn người Khmer trong quá trình tương tác với tự nhiên
Thứ hai: Tìm hiểu thực trạng nhận thức của người Khmer trong quá trình sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trường
Thứ ba: Tìm hiểu hiện trạng môi trường khu vực nghiên cứu và những tác động của tự nhiên đến tình hình sản xuất và sức khỏe của người Khmer
Từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm bảo vệ tài nguyên môi trường khu vực người Khmer sinh sống
Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của người Khmer cũng như kiến thức bản địa của họ đã được hình thành từ trong lịch sử lâu dài, được truyền từ đời này tới đời khác qua quá trình thích nghi với điều kiện đặc biệt của hệ sinh thái Nó hướng đến việc điều hòa các mối quan hệ giữa con người và môi trường
Canh tác lúa nước là một định hướng cơ bản, xuyên suốt toàn bộ hoạt động kinh tế và là cơ sở hình thành môi trường xã hội nhân văn người Khmer Điều kiện
tự nhiên của vùng sông nước huyện Hồng Dân có những thuận lợi nhất định, nhưng cũng có những khắc nghiệt như nhiễm phèn, nhiễm mặn đã ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và sinh hoạt Để bám trụ trên mảnh đất này, người nông dân Khmer đã bao đời làm lụng vất vả, siêng năng, vượt bao gian lao, đoàn kết chống chọi với thiên tai, từng bước cải tạo hoàn cảnh theo hướng thích ứng và hòa hợp với tự nhiên, đã biết nương tựa vào hoàn cảnh để sinh sống và phát triển
Trang 6hồn, có các vị thần cai quản Bởi vậy khi con người có nhu cầu xâm phạm tới đều phải có lời khẩn cầu, phải thực hiện các nghi lễ, tuân thủ các quy định nghiêm ngặt, hoặc phải làm lễ xá tội
Nhận thức được mối liên hệ nhân quả giữa việc phá hoại môi trường với sự trừng phạt của thần linh, thực chất là sự trừng phạt của tự nhiên là một nhận thức khoa học mà đồng bào đã phát hiện từ rất sớm trong quá trình sinh tồn Quan niệm truyền thống ấy góp phần quan trọng vào việc bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, cũng chính là bảo vệ cuộc sống của họ
Ngày nay, khi nhu cầu vật chất ngày càng tăng, con người đang trực tiếp gây
ô nhiễm môi trường và tàn phá tài nguyên Cùng quá trình giao thoa văn hóa, lối sống hài hòa với tự nhiên, những giá trị văn hóa truyền thống của người Khmer cũng đang trong quá trình chuyển đổi
Do sống trong điều kiện tự nhiên vùng sông nước, thói quen sinh hoạt của người Khmer hay người Kinh, người Hoa tại các điểm khảo sát đều cho kết quả khá tương đồng Một bộ phận lớn người dân hiểu biết về tác hại của phân thải và nước thải đối với sức khỏe và môi trường Tuy nhiên, phần lớn người Khmer vẫn còn có mức sống thấp Nghèo nàn đi đôi với lạc hậu Hầu hết họ không có điều kiện để xây dựng nhà tiêu hay hệ thống xử lý nước thải đảm bảo tiêu chuẩn khoa học kỹ thuật
Họ vẫn phải thực hiện theo các biện pháp xử lý truyền thống mà theo họ là phù hợp với vùng sông nước và điều kiện kinh tế hiện tại Việc đi nhà tiêu ao cá vẫn phổ biến trong cộng đồng dân cư và khó có thể thay thế trong điều kiện hiện nay
Dù muốn hay không, tất cả những hành vi trên đã làm ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe cá nhân, gia đình và cộng đồng dân cư, làm tỉ lệ bệnh tật gia tăng Và như vậy, chúng tôi khẳng định có mối quan hệ tương tác giữa môi trường xã hội nhân văn người Khmer và môi trường tự nhiên trong quá trình sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trường huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu
Trang 7The thesis “S TUDY INTERACTING RELATIONSHIP BETWEEN THE KHMER HUMAN SOCIAL ENVIRONMENT AND NATURAL ENVIRONMENT THROUGH PROCESS USING AND PROTECTING ENVIRONMENTAL RESOURCE IN HONG DAN DISTRICT, BAC LIEU PROVINCE” was carried out from September 2008 to November 2009 The thesis consist of three main parts:
The first: To study specific characters of the Khmer human social environment in the process interaction with nature;
The second: To survery awareness of the Khmer in using natural resource and environmental protection;
The third: To survery environmental state in the studying area and influences
of nature to production and health of the Khmer;
Finally: To propose suitable solutions to protect environmental resource
RESULT OF THE STUDY:
The Khmer behaviour culture and their indigenous knowledge were taken form for long time and passed on from one generation to another in the process within which the Khmer adapted themselves to a particular set of conditions in an ecosystem They move towards to intimate interaction between man and the environment
Wet rice cultivation is basis to take form the Khmer human social environment Natural condition in Hong Dan district has both advantage and difficulty influenced to their livelihood directly To hold on the area, the Khmer worked hard, united to confront natural calamity, adapted and lived in perfect harmony with nature
The tradional Khmer respected nature They believed that land, water, and living organism had soul and were administered by Deities When they wanted to violate nature, they prayed to Deities, observed strict regulation, or carried out rituals to pardon Awareness of causal principle between environmental degradation
Trang 8life
Nowadays, for physical needs increase day after day, man has been exploiting natural resource Taking part in cultural exchange, harmonious lifestyle with nature and tradional culture of the Khmer have some changes
Because of living in waterways areas, research result shows up life habit of the Khmer, the Kinh, the Hoa is rather similar A large of people know about harmful effects of waste to health and environment However, most of the Khmer have low living standards Poverty go together with backward They don’t have enough condition to build water-closet or waste processing system in accordance with the technical and scientific process They still use water-closets on fish pond popularly They still have to treat according to tradional methods To them, it is suitable with waterways areas and economic condition It is difficult to replace them
in the present circumstance
Whether they want or not, all of harmful behaviours above made pollute environment and increase illness rate As we mentioned above, we assert that there
is interactive relationship between the Khmer human social environment and natural environment through process using natural resource and protecting environment in Hong Dan district, Bac Lieu Province
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 2
2.1 Các quan điểm triết học về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên 2
2.2 Mối quan hệ giữa văn hoá và môi trường 5
2.2.1 Văn hoá được quy định bởi môi trường 5
2.2.2 Văn hoá tác động trở lại đến môi trường 6
3 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 6
3.1 Lịch sử nghiên cứu đề tài trên thế giới 6
3.2 Lịch sử nghiên cứu đề tài ở Việt Nam 8
3.2.1 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa Môi trường xã hội – nhân văn và Môi trường tự nhiên trong quá trình sử dụng và bảo vệ tài nguyên 8
3.2.2 Tổng quan một số nghiên cứu về người Khmer ĐBSCL và các chương trình, dự án đầu tư phát triển vùng đồng bào Khmer 12
4 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 15
4.1 Tính cấp thiết của đề tài 15
4.2 Ý nghĩa thực tiễn 15
4.3 Ý nghĩa khoa học 16
4.4 Tính mới của đề tài 16
5 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 17
5.1 Mục tiêu chung 17
5.2 Mục tiêu cụ thể 17
6 TÌM HIỂU CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 17
6.1 Khái niệm “Môi trường xã hội – nhân văn” 17
Trang 106.2 Khái niệm “Văn hóa” 18
6.3 Khái niệm “Phong tục tập quán” 19
6.4 Khái niệm “Lối sống” 20
6.5 Khái niệm “Phát triển bền vững” 20
7 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 21
8 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
8.1 Phương pháp thu thập thông tin, tổng hợp và phân tích tài liệu 21
8.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa 22
8.2.1 Phương pháp phỏng vấn 23
8.2.2 Phương pháp quan sát và tham gia 25
8.3 Phương pháp thống kê xử lý số liệu 25
9 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI 26
9.1 Đối tượng nghiên cứu 26
9.2 Phạm vi nghiên cứu 26
10 KẾT QUẢ DỰ KIẾN VÀ CƠ QUAN ÁP DỤNG 27
10.1 Kết quả dự kiến 27
10.2 Cơ quan áp dụng 27
11 TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN 28
PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN - KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN HỒNG DÂN, TỈNH BẠC LIÊU 30
1.1 Về đặc điểm tự nhiên 30
1.1.1 Vị trí địa lý 30
1.1.2 Đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng 31
1.1.3 Đặc điểm khí hậu – khí tượng 31
1.1.4 Thủy văn 31
1.2 Đặc điểm dân số - kinh tế - xã hội 32
Trang 111.2.1 Lịch sử khai phá và phát triển huyện Hồng Dân 32
1.2.2 Dân số 34
1.2.3 Tình hình kinh tế 38
1.2.4 Cơ sở hạ tầng phục vụ đời sống sinh hoạt, sản xuất của người dân 39
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI – NHÂN VĂN NGƯỜI KHMER HUYỆN HỒNG DÂN TRONG QUÁ TRÌNH TƯƠNG TÁC VỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN 42
2.1 Đặc điểm về xã hội của người Khmer 42
2.1.1 Đặc điểm cư trú và đơn vị xã hội của người Khmer 42
2.1.2 Về gia đình và thân tộc 43
2.1.3 Về mối quan hệ xã hội 43
2.2 Đặc điểm về đời sống kinh tế và văn hóa người Khmer 44
2.2.1 Đặc điểm về đời sống kinh tế 44
2.2.2 Đặc điểm về văn hóa vật thể và phi vật thể 6
2.3 Kiến thức bản địa và những quy định của người Khmer về sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trường 58
2.3.1.Quan niệm về nước của người Khmer 58
2.3.2.Phân loại nước theo quan niệm của người Khmer 59
2.3.3 Tín ngưỡng tôn giáo và những quy định bảo vệ tài nguyên nước 60
2.3.4 Phân loại và sử dụng tài nguyên đất phục vụ sản xuất 62
2.3.5 Kiến thức bản địa trong sản xuất bảo vệ tài nguyên môi trường 65
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI KHMER HUYỆN HỒNG DÂN VỀ SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG 68
3.1 Thực trạng nhận thức của người Khmer về sử dụng tài nguyên 68
3.1.1 Nguồn nước, chất lượng nước và thói quen sử dụng nước sinh hoạt 68
3.1.2 Hành vi xử lý nước phục vụ sinh hoạt 74
3.2 Thực trạng nhận thức và hành vi xử lý chất thải 77
3.2.1 Thực trạng nhận thức và hành vi xử lý phân thải 77
Trang 123.2.2 Thực trạng nhận thức và hành vi xử lý nước thải 81
3.2.3 Thực trạng nhận thức và hành vi xử lý rác thải 87
CHƯƠNG 4: HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA TỰ NHIÊN ĐẾN SẢN XUẤT VÀ SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHMER HUYỆN HỒNG DÂN 93
4.1 Hiện trạng môi trường huyện Hồng Dân 93
4.1.1 Diễn biến môi trường nước mặt 94
4.1.2 Diễn biến môi trường nước ngầm 97
4.1.3 Diễn biến khối lượng và công tác xử lý chất thải rắn 97
4.1.4 Diễn biến hiện trạng môi trường đất 101
4.2 Những tác động của tự nhiên đến sản xuất và sức khỏe của người Khmer 103
4.2.1 Những tác động của tự nhiên đến hoạt động sản xuất 104
4.2.2 Những tác động của tự nhiên đến sức khỏe của người Khmer 105
4.2.2 Thời điểm bệnh tật liên quan đến môi trường xuất hiện nhiều nhất 109
4.3 Những thuận lợi và khó khăn của chính quyền trong quá trình quản lý và bảo vệ tài nguyên môi trường 110
4.3.1 Những thuận lợi 110
4.3.2 Những khó khăn 114
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 116
5.1 Kết luận 116
5.2 Kiến nghị 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO 126
Trang 13PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Kết quả quan trắc môi trường nước mặt khu vực huyện Hồng Dân năm
2007 i Phụ lục 2: Kết quả quan trắc chất lượng môi trường nước ngầm tại huyện Hồng Dân năm 2007 ii Phụ lục 3: Thành phần chất thải rắn trên địa bàn huyện Hồng Dân năm 2007 ii Phụ lục 4: Phiếu thu thập ý kiến cộng đồng iii
Trang 14DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 1: Những lớp kiến thức bản địa 7
Hình 2: Cấu trúc của Văn hóa 18
Hình 1.1: Bản đồ huyện Hồng Dân, Bạc Liêu 30
Hình 2.1: Thuyết giảng kinh Phật cho các Phật tử 49
Hình 2.2: Một góc vườn chùa Đầu Sấu, Lộc Ninh 50
Hình 2.3: Tổ chức cúng mồ mã ông bà nhân dịp tết Dolta 51
Hình 2.4: Hội đua ghe ngo tổ chức tại huyện Hồng Dân 52
Hình 2.5: Điệu múa Rô băm 55
Hình 2.6: Một góc chùa Khmer 58
Hình 2.7: Con sông gắn liền với đời sống sinh hoạt của người Khmer 59
Hình 2.8: Thả đèn trời trong đêm giao thừa tết Cholthnamthmay 61
Hình 2.9: Ao nước sạch ngày xưa, nay sử dụng để nuôi cá 62
Hình 2.10: Rễ cây thuốc cá 66
Hình 2.11: Lá và thân cây thuốc cá 66
Hình 3.1: Hệ thống cấp nước sạch tại xã Lộc Ninh 68
Hình 3.2: Sử dụng nước giếng khoan phục vụ sinh hoạt 74
Hình 3.3: Lọc bằng vải trong quá trình hứng nước mưa 75
Hình 3.4: Lu chứa nước mưa chứa trong nhà 76
Hình 3.5: Nhà tiêu ao cá vẫn phổ biến tại huyện Hồng Dân 78
Hình 3.6: Mương lộ thiên dẫn nước thải ra đìa sau nhà 83
Hình 3.7: Mương dẫn nước thải trực tiếp ra sông 83
Hình 3.8: Thả bèo trong đìa chứa nước thải sau nhà 85
Trang 15Hình 3.9: Nước thải đổ tràn lan trong vườn nhà 86
Hình 3.10: Nước thải chăn nuôi đổ trực tiếp xuống sông 87
Hình 3.11: Rau sạch sử dụng phân bón hữu cơ 89
Hình 3.12: Rác thải ứ đọng trong các ao đìa sau nhà 90
Hình 4.1: Chất lượng nước sông tại huyện Hồng Dân tương đối tốt 95
Hình 4.2: Xác gia cầm chết trôi trên sông tại huyện Hồng Dân 96
Hình 4.3: Rác ứ đọng vào những tháng mùa mưa 98
Hình 4.4: Nhà tắm xây dựng kiên cố nhưng không đảm bảo vệ sinh 107
Hình 4.5: Trẻ em dễ nhiễm bệnh trong điều kiện vệ sinh môi trường không đảm bảo 108
Hình 4.6: Băng rôn tuyên truyền tại UBND huyện Hồng Dân 113
Trang 16DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Các công cụ của PRA sử dụng trong nghiên cứu 23
Bảng 2: Số lượng hộ phỏng vấn tại ba xã nghiên cứu 24
Bảng 3: Tiến độ thực hiện đề tài 29
Bảng 1.1: Tỷ lệ kinh tế hộ giữa các năm tại huyện Hồng Dân 35
Bảng 1.2: Tỷ lệ hộ và khẩu người Khmer ở từng xã 36
Bảng 3.1: Nguồn nước cung cấp chính cho sinh hoạt gia đình 69
Bảng 3.2: Chất lượng nước giếng khoan và nước mưa 72
Bảng 3.3: Lý do không xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh 79
Bảng 3.4: Các chỉ số đánh giá chất lượng nhà tiêu hợp vệ sinh 80
Bảng 3.5: Nhận thức về tác hại của nước thải đối với sức khỏe 82
Bảng 3.6: Các hình thức thải nước của hộ dân 84
Bảng 3.7: Cách xử lý rác cơ bản của người dân 88
Trang 17DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1: Khung tiếp cận nghiên cứu 25
Sơ đồ 2: Các bước triển khai nghiên cứu 28
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu kinh tế truyền thống của người Khmer 44
Sơ đồ 3.1: Nguồn sản sinh, hậu quả và cách xử lý rác thải 91
Sơ đồ 4.1: Sơ đồ quan hệ giữa rác thải, ô nhiễm môi trường, bệnh tật và các sự kiện trong năm 100
Trang 18PHẦN MỞ ĐẦU
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong lịch sử, con người đã từng có những mối quan hệ truyền thống điển hình với tự nhiên, vừa coi tự nhiên là đối tượng khai thác, vừa là người bạn gần gũi Trong quá trình tương tác với tự nhiên, con người đã xây dựng một hệ giá trị văn hóa sinh thái nhân văn đặc sắc Đó là tất cả những giá trị vật chất và tinh thần nhằm
có cách thức ứng xử thích hợp với tự nhiên, vừa khai thác vừa bảo vệ nhằm đáp ứng được nhu cầu sống của con người Sau này, trong quá trình phát triển, do nhu cầu ngày càng cao của con người, mối quan hệ giữa con người và môi trường đã thay đổi Tự nhiên không còn là bạn mà được coi như đối tượng để chinh phục, khai thác
và thống trị Mức độ khai thác tự nhiên của con người ngày một gia tăng, tài nguyên dần bị cạn kiệt, môi trường bị phá hoại ngày một nhanh và rộng Các nhà khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên, đang ngày càng tập trung vào nghiên cứu vấn đề môi trường và phương cách để bảo vệ môi trường Thế nhưng, dường như dư luận vẫn còn ít quan tâm đến vấn đề môi trường dưới góc độ khoa học xã hội Trên thực tế,
để giải quyết các vấn đề hiện đại cần phải có một cách tiếp cận toàn diện, kết hợp cả khoa học tự nhiên với khoa học xã hội Chính khoa học xã hội sẽ giúp chúng ta nhận thức vấn đề dưới góc độ tổng thể Nhà khoa học xã hội tiếp cận vấn đề môi trường trên cơ sở xây dựng luận điểm về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên,
từ đó đưa ra những thái độ của con người trước tự nhiên Bản chất của mối quan hệ này biến đổi theo mỗi thời kỳ, phụ thuộc vào trình độ của lực lượng sản xuất Đồng bào Khmer có lịch sử cư trú lâu đời ở Nam Bộ Sống trong môi trường thiên nhiên miền Tây Nam Bộ với đặc điểm vừa đẹp, vừa trù phú nhưng cũng nhiều khắc nghiệt là nền tảng đầu tiên hình thành nên bản sắc văn hóa dân tộc, hình thành môi trường xã hội nhân văn người Khmer Những điều kiện đó giữ vai trò quan trọng trong việc định hướng hoạt động của người Khmer, đồng thời cũng quyết định
xu hướng vận động của các giá trị truyền thống trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc
Trang 19Cùng quá trình cộng cư với người Kinh, người Hoa, giao thoa và tiếp nhận các yếu
tố văn hóa mới, văn hóa truyền thống của người Khmer cũng ít nhiều thay đổi
Đồng thời, cùng với quá trình phát triển kinh tế, chất lượng cuộc sống người Khmer ngày càng được nâng cao, nhưng bên cạnh những thành tựu đạt được đã nảy sinh các vấn đề môi trường nông thôn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và sinh kế của
người dân nghèo, là bài toán nan giải cho các nhà quản lý
2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 2.1 Các quan điểm triết học về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên
Theo Võ Minh Tuấn (2004), con người là một động vật đặc biệt nhưng cũng
là một thực thể xã hội, nên ngoài quá trình trao đổi chất tự nhiên, còn có thêm một quá trình sản xuất xã hội làm cho con người tách rời khỏi đời sống sinh vật Và cũng chính quá trình này, ngày một mở rộng phạm vi và gia tăng về tốc độ đã gây ra hàng loạt vấn đề: khủng hoảng xã hội, khủng hoảng môi trường và phá vỡ cơ chế thống nhất của tự nhiên Mãi đến gần đây, người ta mới xem xét lại quan điểm của mình về mối quan hệ con người – tự nhiên Năm 1972, hội nghị Môi trường và Con người – Stốckhôm đã đưa vào văn bản khái niệm “Phát triển bền vững” mà tiêu chí căn bản nhất là phát triển kinh tế - xã hội gắn liền với bảo vệ môi trường
Từ thời cổ Hy Lạp đã hình thành chủ nghĩa nhân bản, cho rằng con người là sản phẩm cao nhất của tự nhiên Con người là trung tâm, có quyền tối thượng với thiên nhiên, có quyền thống trị và bốc lột thiên nhiên để phục vụ cho cuộc sống của mình Quan điểm này chi phối suốt một thời kỳ dài, cực thịnh trong thời Phục hưng
và vẫn còn đến bây giờ Có thể thấy trong các tác phẩm văn học nghệ thuật, trong
hệ thống chuẩn mực đạo đức xã hội ca ngợi những hình ảnh anh hùng khai sơn phá thạch, chinh phục tự nhiên
Về sau, chủ nghĩa nhân bản được nâng cấp nặng về lý trí như một sự khẳng định bản chất con người Descartes cho rằng con người tự khẳng định mình qua tư
Trang 20duy, có thể sử dụng tri thức để trở thành kẻ sở hữu thiên nhiên Còn Bacon, nếu con người nuôi tham vọng thống trị thiên nhiên, thì đó chính là tham vọng trong sạch, cao quý Tiếp tục đi xa hơn trong luận điểm này là chủ nghĩa siêu nhân loại khi coi con người là trung tâm, con người là duy nhất có giá trị nội tại Thực chất quan niệm đó chính là biểu hiện của chủ nghĩa vị kỷ nhân loại Nhưng bên cạnh đó, cũng tồn tại một quan điểm đối lập, cho rằng tự nhiên cũng có giá trị nội tại của nó, cũng
có quyền được sống, quyền được khẳng định và bảo vệ
Trong thời hiện đại, các nhà tư tưởng đi sâu tìm hiểu quan hệ con người – tự nhiên dưới góc độ đạo đức Việc xây dựng lý thuyết Environment Ethics – Đạo đức học Môi trường là một cố gắng về mặt lý luận nhằm xây dựng những nguyên tắc, chuẩn mực hướng dẫn con người trong việc thiết lập mối tương giao mới, quan hệ mới với tự nhiên, không chấp nhận việc khai thác tự nhiên chỉ vì lợi ích của con người Biocentre Ethics - Đạo đức học duy sinh vật dựa trên cơ sở coi sự sống là một giá trị, tự nhiên chỉ được tôn trọng thực sự khi con người thừa nhận nó như một giá trị, các sinh vật là đồng nhất và có quyền sống như nhau, và sự xâm phạm sự sống của sinh vật là một tội ác Con người không hề có ưu thế đặc biệt đối với vạn vật, mà cần xây dựng ở đây một quan niệm về bình đẳng loài Thế nhưng quan điểm này bị phê phán ở chỗ, nếu cho rằng mỗi sinh vật là một trung tâm sống có mục đích riêng, tức là đã phủ nhận hiện tượng ăn thịt lẫn nhau giữa chúng (chuỗi thức ăn) Quy luật đấu tranh sinh tồn và chọn lọc tự nhiên đã làm quan điểm này khó đứng vững
Deep Ecology – Sinh thái học bề sâu là một xu hướng khác Điểm xuất phát của lý thuyết này là từ trực giác tạo nên biểu tượng về thực tại, trong đó mỗi sinh vật, kể cả con người đều có mối quan hệ hữu cơ tác động lẫn nhau tạo nên bản chất của thế giới sống Mọi sinh vật đều có giá trị nội tại của chính nó Sinh thái học bề sâu bác bỏ sự phân chia thành khách thể và chủ thể trong thế giới, mà đi theo quan điểm cho rằng, mọi sinh vật trong thế giới này là một hiện hữu độc lập, không có bất cứ một sự tách biệt nào giữa giới tự nhiên và con người Vì thế, con người không nên coi mình là tối thượng, mà phải nhận thức được rõ tính bình đẳng trong
Trang 21tương quan với mọi sinh vật và giới tự nhiên Hạn chế của lý thuyết này là dẫn đến
sự hạ thấp và xóa nhòa vai trò của con người trong tương quan với tự nhiên
Vậy đâu là cơ sở triết học đúng đắn cho vấn đề nhận thức quan hệ giữa con người với tự nhiên? Sự phát triển triết học duy vật biện chứng hiện đại, kết hợp triết
lý Đông phương về sự hòa đồng đã đưa ba nguyên lý cơ bản để nhận thức quan hệ giữa con người với tự nhiên khi xem xét về sử dụng tài nguyên thiên nhiên và vấn
đề môi trường
Trước hết là nguyên lý về tính thống nhất vật chất của thế giới Mối quan hệ giữa con người với xã hội và tự nhiên là một thể thống nhất biện chứng, các yếu tố trong đó tương tác và quy định lẫn nhau Tự nhiên ở đây được hiểu là cơ sở để tồn tại, còn con người là sản phẩm của tự nhiên, xã hội là sản phẩm tiến hóa của tự nhiên và con người Tính thống nhất ấy tạo ra cơ chế tự điều khiển, tự bảo vệ, đảm bảo cho chu trình trao đổi chất trong tự nhiên Việc tôn trọng tính thống nhất vật chất là điều kiện tiên quyết để duy trì sự tồn tại bền vững của tự nhiên, xã hội và con người
Nguyên lý về sự phụ thuộc của mối quan hệ giữa con người với tự nhiên vào trình độ phát triển xã hội Mối quan hệ đó không đơn thuần là giữa con người và tự nhiên, mà còn liên quan đến trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, nói cách khác là trình độ phát triển xã hội Con người có hai nhu cầu cơ bản, nhu cầu sinh lý – sinh thái (ăn, ngủ, môi trường trong lành ) và nhu cầu thuộc
về kinh tế xã hội Tới một trình độ phát triển nhất định, khi đã thỏa mãn được nhu cầu sinh lý và bắt đầu tìm kiếm lợi nhuận, người ta chỉ chú ý đến nhu cầu thứ hai
mà quên đi nhu cầu về một môi trường sống trong lành và hòa hợp với tự nhiên dẫn đến tình trạng định hướng phát triển lệch, mất cân đối, phá vỡ tính thống nhất của thế giới
Nguyên lý về sự điều khiển một cách có ý thức mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Con người là một sinh vật đặc biệt, được tách ra khỏi đời sống động vật nhờ lao động và bộ óc biết tư duy Con người có thể tự điều chỉnh hành vi của
Trang 22mình Chung sống hòa hợp với tự nhiên, coi tự nhiên là bạn, vừa là nơi cung cấp nguồn sống, vừa là cái quy định sự sống sẽ đem lại sự phát triển hài hòa và lâu dài
2.2 Mối quan hệ giữa văn hoá và môi trường 2.2.1 Văn hoá được quy định bởi môi trường
Để sinh tồn con người phải ăn, ở và mặc, đó cũng là những quan hệ đầu tiên của con người với môi trường Ngay cả những hình thái văn hoá cao cấp như nghệ thuật, ngay buổi bình minh của loài người, chúng ta đã nhận thấy những dấu ấn mà môi trường tự nhiên tác động lên những tác phẩm nghệ thuật âm nhạc như những bài dân ca hay cách hát của người miền núi cao, hay miền đại dương, hay tạo hình trong hang động
Môi trường nào thì con người phải kiếm ăn theo cách tương ứng: Những cư dân tại các hòn đảo chắc chắn phải kiếm ăn bằng nghề săn bắt cá, cư dân trên các thảo nguyên phải biết chăn nuôi, du mục Những người sống bên những cánh rừng trên lục địa lại kiếm ăn bằng săn bắn, hái lượm… Quá trình lao động sản xuất ra của cải vật chất này dần dần tạo thành những phương thức sản xuất nhất định, và phương thức sản xuất lại quy định lối sống, tức là văn hoá của xã hội ấy Tuy gián tiếp nhưng chính môi trường đã quy định sự hình thành và phát triển của mỗi một nền văn hoá nói chung và một hình thái biểu tượng nào đó nói riêng
Môi trường không chỉ tác động đến cuộc sống vật chất mà còn tác động đến tâm trí, tư tưởng và đời sống tinh thần của con người Thuyết hồn linh thực sự là
“triết học chung và hệ thống về thế giới tự nhiên”, là phương thức tư duy đặc thù của con người nguyên thuỷ Họ không đối lập con người với hồn hay với các sinh loài khác, thậm chí ngay cả những vật thể tự nhiên như hòn đá cũng được họ xem như là chính họ Chính điều đó khiến họ ứng xử với chúng như chính với đồng loại (Từ điển mở Wiktionary)
Trang 232.2.2 Văn hoá tác động trở lại đến môi trường
Môi trường tác động mạnh đến văn hoá (dù trực tiếp hay gián tiếp), đặc biệt
nó góp phần quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển tư tưởng, tâm trí của con người Và văn hoá cũng tác động trở lại đến môi trường Trên thế giới này
có rất nhiều nền văn hoá khác nhau, nhưng cũng có thể phân loại thành hai loại chính Hai loại văn hoá này dẫn tới những hành vi có những tác động đến môi trường rất khác nhau:
Loại thứ nhất luôn đối lập tự nhiên và xã hội, coi con người là trung tâm và động cơ hành vi của con người trong mối quan hệ với môi trường là khai thác, tận dụng triệt để vì lợi ích của mình Nạn tàn phá rừng và săn bắn động vật hoang dã ở nhiều nơi trên thế giới là một minh chứng
Loại thứ hai không đặt con người đối lập với thế giới, coi mọi vật ở thế giới này đều có tính người và tính xã hội Tất cả đều có tính chủ thể Nền văn hoá này không chỉ sản sinh ra những hành vi tôn trọng môi trường mà còn sản sinh ra những khối lượng kiến thức về môi trường rất đáng khâm phục Nhiều học giả đã khẳng định khả năng nhận biết đặc biệt về động thực vật, các hiện tượng gió, ánh sáng, màu sắc, nước và không khí của thổ dân thuộc các bộ lạc cổ xưa mà người hiện đại chúng ta khó có thể theo kịp (Từ điển mở Wiktionary)
3 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 3.1 Lịch sử nghiên cứu đề tài trên thế giới
Ngày nay, trên thế giới, nhiều nhà khoa học cũng rất quan tâm mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, đặc biệt là nghiên cứu về văn hóa và kiến thức bản địa của cộng đồng dân tộc thiểu số trong quá trình tương tác với tự nhiên, với nhiều hướng tiếp cận khác nhau Theo Anan Ganjanapan (2000) và Yos Santasombat (2003), nghiên cứu về văn hóa của các nhóm dân tộc thiểu số khác nhau ở miền Bắc Thái Lan, các tác giả tiếp cận theo 2 hướng: quyền cộng đồng và văn hóa cộng
Trang 24đồng Sử dụng phương pháp ba cùng: Cùng ăn, cùng ở, cùng sản xuất với người dân bản xứ, các tác giả có dịp đi sâu nghiên cứu kiến thức bản địa của các nhóm dân tộc thiểu số Kiến thức ấy đã được tích lũy, phát triển và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác từ hàng trăm đến hàng ngàn năm Các lớp kiến thức của họ có mối liên
hệ với nhau, như kiến thức về thực phẩm và thuốc men có liên quan chặt chẽ với kiến thức về sản phẩm nông nghiệp và quản lý tài nguyên Niềm tin tôn giáo có ý nghĩa vô cùng quan trọng, làm tăng sức mạnh của thế giới vô hình trong việc quản
lý bền vững tài nguyên Họ xem đất và rừng là tài sản chung của cộng đồng, và có cách bảo vệ theo những luật tục và những quy định nghiêm khắc Họ là chủ nhân của các vùng nhạy cảm sinh thái nên chỉ có họ mới thực sự bảo vệ được các vùng đất này Các quy chế kiểm soát, áp đặt từ bên ngoài vào khiến họ không tham gia được vào bảo vệ các vùng nhạy cảm sinh thái, rất có thể biến họ thành lực lượng phá hoại vì miếng cơm manh áo, và trước hết vì họ không còn quyền sở hữu hay sử dụng không gian môi trường như trước
Hình 1: Những lớp kiến thức bản địa (Yos Santasombat, 2003)
Mode
of thought
Belief and ritual
Production and resource management
Food and medicine
Trang 25Theo Yos Santasombat (2003) “Đa dạng sinh học và đa dạng văn hóa có mối quan hệ mật thiết Phá hoại đa dạng văn hóa có nghĩa là phá hoại cơ hội để nghiên cứu và sử dụng kiến thức sinh thái cho lợi ích của nhân loại” và “Đa dạng sinh học
và kiến thức bản địa là nền tảng của sự phát triển bền vững” Điều này chứng tỏ tầm quan trọng của văn hóa và tri thức bản địa trong việc gìn giữ đa dạng sinh học cũng như bảo vệ tài nguyên môi trường nói chung Tri thức bản địa là nguồn tài nguyên quốc gia quan trọng, có thể giúp ích rất nhiều cho quá trình phát triển theo những phương sách ít tốn kém nhất, có sự tham gia của người dân và đạt được sự bền vững (Vanek, 1989, Hanen và Ebaugh, 1987) Khi nhận thức được bản chất văn hóa của các dân tộc, hiểu được giá trị của tri thức địa phương, thì con người nghiễm nhiên là chủ thể chứ không còn là đối tượng đơn thuần của sự phát triển Con người của địa phương đó phải được trao quyền và họ phải là người quyết định mọi việc (Lê Trọng Cúc, 1999)
Cùng quan điểm trên, qua quá trình phân tích, so sánh giữa các lý thuyết và các quan điểm, William H.durham (1976) cho rằng hành vi ứng xử của con người hiện nay là sản phẩm của quá trình tiến hóa sinh thái và sự phát triển văn hóa của con người Ông cũng quan tâm đến khả năng thích nghi và thay đổi có chọn lọc của con người trong cách ứng xử để phù hợp hơn với môi trường sống
3.2 Lịch sử nghiên cứu đề tài ở Việt Nam 3.2.1 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa Môi trường xã hội – nhân văn và Môi trường tự nhiên
Nghiên cứu của TS Phạm Thị Ngọc Trầm (2005) và TS Hà Huy Thành (1999) đã đưa ra cái nhìn tổng quan về các giá trị văn hóa sinh thái nhân văn được định hình từ mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa con người Việt Nam truyền thống với những điều kiện tự nhiên vốn có Kiến thức bản địa cũng hình thành trực tiếp từ lao động của người dân trong cộng đồng, được hoàn thiện dần dần và truyền thụ cho các thế hệ sau bằng truyền khẩu trong gia đình, trong thôn bản, hoặc thể hiện trong ca hát, ngạn ngữ, trường ca tập tục… Phần lớn các kiến thức bản địa có
Trang 26khả năng thích ứng cao với điều kiện môi trường đa dạng của địa phương vùng cao
và gắn liền với nền văn hóa riêng của từng dân tộc (Hoàng Xuân Tý, 1999)
Những giá trị truyền thống đó về căn bản cho đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị, song về nội dung cụ thể đang có/cần có những sự chuyển đổi cho phù hợp với những điều kiện cụ thể của thời đại Ví dụ phương thức canh tác rẫy thực chất là một hệ luân canh giữa cây nông nghiệp và cây rừng Sau khi đốt rừng và trồng ngô, lúa vài ba vụ, do đất xấu dần và nhiều cỏ dại, đồng bào dân tộc thường bỏ hóa từ 10-20 năm để cây rừng phục hồi và độ phì nhiêu của đất được cải thiện Một chu kỳ trồng trọt mới lại bắt đầu và năng suất thường được bảo đảm ổn định Tuy nhiên, hệ
du canh này chỉ bền vững khi mật độ dân cư thưa thớt, với một chu kỳ bỏ hóa đủ dài để cho đất phục hồi Ngày nay phương thức di canh này trở nên không bền vững
và nguy hại do tăng dân số dẫn đến việc rút ngắn chu kỳ bỏ hóa đất đai
Văn hoá của mỗi dân tộc đều có những đặc trưng nhất định để thể hiện đời sống xã hội, phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng, văn học nghệ thuật… Những đặc trưng đó là những sản phẩm trí tuệ rất quý báu Ở nước ta hiện nay có 54 dân tộc, mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hoá đặc thù, nhưng tất cả đã cùng hoà quyện, kết tinh thành một nền văn hoá chung, đó là nền văn hoá của đại gia đình dân tộc Việt Nam với đặc thù sống hài hòa với thiên nhiên Đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa, miền núi có những luật tục phù hợp với tinh thần pháp luật, có giá trị hỗ trợ, bổ sung vào việc bảo vệ môi trường (Hoàng Thị Kim Quế, 2006)
Luật tục là một hình thức của tri thức bản địa được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài, qua kinh nghiệm ứng xử với môi trường và ứng xử xã hội, đã được định hình dưới nhiều dạng thức khác nhau, được truyền từ đời này sang đời khác Nó hướng đến việc hướng dẫn, điều chỉnh và điều hòa mối quan hệ xã hội, quan hệ con người với môi trường thiên nhiên
Ví dụ như qui ước về bảo vệ rừng, nguồn nước, bảo vệ đất, cây trồng, muông
thú, đồng thời qui định lại các hình thức xử phạt nếu có người vi phạm của người Hmông, người Thái, người Tày, người Ê Đê; Tục lệ khi xây dựng gia đình thì cặp
Trang 27vợ chồng trẻ phải trồng tre, tràm hoặc quế Khi trong gia đình có một đứa trẻ ra đời thì bà con thôn bản, họ hàng đến thăm và mỗi người đem một cây quế con trồng để
sau này làm tài sản hoặc của hồi môn cho đứa trẻ của người Dao; Người La Hủ có
qui định trong việc thu hái cây rừng về làm thuốc, nếu lấy cả cây, phải trồng lại cây khác, nếu lấy rễ, chỉ được tỉa không được đào hết để cây còn có điều kiện phục hồi
và phát triển; Luật tục M’nông có ghi tội thuốc cá suối, trong đó nghiêm cấm đánh
cá bằng lá cây có chất độc, cấm bắt cá con vào mùa sinh nở Các cộng đồng đánh cá ven biển Hải Phòng đã có những quy định truyền thống rất chặt chẽ trong đánh bắt hải sản như quy định về ngư cụ, quy định về mùa cấm đánh bắt một số loài trong kỳ sinh sản, quy định vùng đánh bắt (Hoàng Xuân Tý và cộng sự, 1998)
Đôi khi Hương ước, luật tục còn mượn yếu tố “thần linh” để bảo vệ môi trường, như đặt tên cho các khu “rừng thiêng”, “rừng cấm”, “rừng ma”, mệnh danh cho một con suối, khúc sông là “long mạch”, “cuống họng” của làng, cấm xâm phạm, nếu xâm phạm thì không chỉ bản thân mà cả vận mệnh và sự hưng thịnh của
làng, cả cộng đồng cũng bị đe dọa: người Nùng, Người Khơ Mú “Luật” bảo vệ môi
trường kiểu dân gian như vậy được tuân thủ lâu đời, trở thành lối sống đạo đức, một nét ứng xử văn hóa của người dân trước thiên nhiên, để giữ cho sự cân bằng giữa các yếu tố cấu thành môi trường, sinh thái Sự linh thiêng hóa thiên nhiên đã hàm chứa một tư duy duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa con người và môi trường (Nguyễn Hữu Trí, 1999)
Đối với người Khmer Nam Bộ, từ lâu nước đã gắn chặt với phong tục tập
quán của dân tộc, nước luôn là một thứ gần gũi, thân thiện mang lại sự sống cho con người, làm cho nhân khang vật thịnh, mùa màng tốt tươi Vì vậy trong phong tục của người Khmer truyền thống có một số quy định về việc bảo vệ nguồn nước thiêng, xét cho cùng đó là cách giáo dục của người xưa đối với cộng đồng nhằm bảo
vệ lợi ích chung, bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe con người (Hứa Sa Ni, 2008) Thế nhưng, cùng với sự phát triển của KT-XH, mức độ và phạm vi khai thác tài nguyên ngày càng lớn; sản xuất hàng hoá tập trung và trình độ thâm canh cao
Trang 28làm nảy sinh nhiều vấn đề môi trường, và điều quan trọng là những giá trị của nếp sống truyền thống ngày một mai một Đất đai trù phú ĐBSCL đang có hiện tượng suy thoái trong suốt quá trình khai thác “Đất bạc màu, lưu tồn hóa chất; nước ô nhiễm sản lượng tôm cá giảm… Mục tiêu đa dạng sinh học khó thực hiện được” (Nguyễn Hữu Chiếm, 2009) Tùy theo nhu cầu cây trồng, vùng đất mà nông dân phải xác định loại phân bón, nông dược và định lượng phù hợp nhu cầu của cây trồng Nhưng do thói quen hoặc không biết nên một bộ phận lớn vẫn vô tư với chuyện liều lượng, thành phần phân bón…(Nguyễn Bảo Vệ, 2009) Dư lượng các thuốc trừ cỏ, trừ sâu, thuốc diệt chuột, phân bón và vô số loại thuốc kích thích tăng trưởng đã làm tổn hại môi trường Tuy nhiên “chuyển nông nghiệp hóa chất sang nông nghiệp hữu cơ, chỉ sử dụng phân hữu cơ và không sử dụng thuốc trừ sâu bệnh trong sản xuất là một quan điểm khó được đông đảo nông dân hưởng ứng” (Phạm Văn Kim, 2009) Tâm lý, hiệu quả đầu tư và thói quen sử dụng các sản phẩm hóa học tác động cây trồng được nông dân vùng ĐBSCL nói chung và nông dân Khmer nói riêng xem là phương tiện để chạy nhanh hơn trong cuộc “đua” năng suất, dù biết
là có tiềm ẩn nhiều nguy cơ Dù vô tình hay cố ý, bà con nông dân cũng trở thành người đối đầu với nền nông nghiệp bền vững
Trong những cộng đồng bản địa, việc điều chỉnh hành vi của các thành viên
bằng luật tục đóng vai trò rất quan trọng, mặc dù nhiều điều khoản của luật tục chỉ
là những câu truyền miệng Trong điều kiện hiện nay, xã hội các tộc người đã và đang có nhiều biến động lớn, các thiết chế và quan niệm xã hội mới xuất hiện, tuy nhiên, luật tục các dân tộc thiểu số với những tri thức về môi trường và các cách thức quản lý, khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên vẫn giữ nguyên giá trị tích cực của nó Mặc dù quy định của luật tục ngày nay đã không còn phù hợp, nhưng phải xác nhận rằng có rất nhiều điểm trong luật tục là những tri thức bản địa quý giá cần phải coi là tài sản quốc gia, vì nó được đúc kết trên cơ sở lối sống bền vững, hoà hợp với phân hệ nuôi dưỡng sự sống trong rất nhiều thế hệ (Hoàng Xuân Tý và cộng sự, 1998) Vì vậy cần quan tâm đến việc kết hợp hai nguồn tri thức bản đại và hiện đại trong việc khai thác, quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Trang 293.2.2 Tổng quan một số nghiên cứu về người Khmer ĐBSCL và các chương trình, dự án đầu tư phát triển vùng đồng bào Khmer
Một số nghiên cứu về người Khmer vùng ĐBSCL
Người Khmer là một trong 4 cộng đồng dân tộc (Kinh, Khmer, Hoa, Chăm) sinh sống lâu đời ở ĐBSCL Giao lưu văn hóa giữa các dân tộc thể hiện qua nhiều mặt, từ hôn nhân, kiến trúc, nghệ thuật, từ trong ngôn ngữ đến lối sống Có khá nhiều công trình nghiên cứu về người Khmer, trong đó có nghiên cứu khá công phu của TS.Trần Hồng Liên và các cộng sự (2002) về các vấn đề quan trọng: dân tộc, tôn giáo, dân số, văn hóa dân gian, giáo dục, kinh tế của người Khmer Sóc Trăng
Sử dụng phương pháp thu thập tài liệu, quan sát và phỏng vấn, tác giả đã cho người đọc cái nhìn tổng quan về người Khmer, từ đó nêu lên một số giải pháp định hướng đường lối, chính sách về vấn đề dân tộc và tôn giáo của tỉnh Sơn Lương (2005) cũng có công trình nghiên cứu các loại hình nghệ thuật phong phú, đặc sắc của dân tộc Khmer, đặc biệt là quá trình hình thành và phát triển cũng như những bước thăng trầm trong nghệ thuật sân khấu Dù Kê Khmer Nam Bộ
Qua thu thập, phân tích tài liệu, số liệu, thông tin liên quan đến tình trạng đói nghèo của người Khmer, sử dụng công cụ PRA thu thập ý kiến của các tầng lớp dân
cư và chính quyền…, Viện nghiên cứu và phát triển hệ thống canh tác thuộc trường
ĐH Cần Thơ (2003) đã xác định nguyên nhân cơ bản gây nên tình trạng nghèo đói ở người Khmer ĐBSCL (nghiên cứu điển hình tại Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang)
và định hướng các giải pháp thiết thực để thoát nghèo
Tuy nhiên, nghiên cứu về người Khmer không chỉ dừng lại ở vấn đề dân tộc, dân số, kinh tế mà còn cần quan tâm đến môi trường sống của họ Vấn đề bức xúc hiện nay là điều kiện vệ sinh môi trường không được đảm bảo ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng (Nguyễn Xuân Châu, 2007) Theo ông, nguyên nhân chính của vấn
đề là kinh phí thiếu thốn, chất lượng của công tác tuyên truyền bảo vệ môi trường
và phòng tránh dịch bệnh chưa cao, nhận thức của người Khmer còn nhiều hạn chế, phong tục tập quán lạc hậu…
Trang 30Các chương trình, dự án đầu tư phát triển vùng đồng bào Khmer
Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách và tăng cường đầu tư phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc và các địa bàn khó khăn Đối với vùng dân tộc Khmer, tuy còn đối mặt với nhiều khó khăn thách thức nhưng quá trình thực hiện Chỉ thị 68-CT/TW ngày 18/4/1991 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá VI về “Công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer” và Nghị quyết Trung ương 7 khoá IX về “Công tác dân tộc” đã tạo được bước chuyển tích cực
Chương trình 135 giúp cho giao thông nông thôn, lưới điện quốc gia, trường học, trạm xá, thuỷ lợi, nước sạch được tăng cường, từng bước đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, hỗ trợ vốn vay phát triển sản xuất, có chính sách trợ giá cho các hộ nghèo bức xúc về nhà ở Công tác khuyến nông, khuyến ngư và chuyển giao khoa học kỹ thuật nông nghiệp được chú trọng; tăng cường hỗ trợ cho ngành giáo dục - đào tạo; đời sống văn hoá thông tin đại chúng như báo đài bằng tiếng Khmer được đầu tư; Các đoàn nghệ thuật, các đội văn nghệ quần chúng Khmer được tạo điều kiện hoạt động tốt hơn Tổ chức học hành cho các vị sư; việc quản lý chùa, chủ trì các lễ hội tôn giáo được thực hiện đúng pháp luật, phù hợp với tập quán dân tộc và chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước… (Sơn Phước Hoan, 2005)
Nghị quyết số 41 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nêu rõ: "Cần xây dựng và thực hiện quy ước, hương ước, cam kết về bảo vệ môi trường và các mô hình tự quản về môi trường của cộng đồng dân cư" Bộ Văn hóa thông tin và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ra thông tư liên tịch hướng dẫn việc xây dựng Hương ước của làng, xã sao cho đảm bảo dân chủ, không trái pháp luật Từ đó đến nay đã có hàng nghìn bảng hương ước
ra đời lồng ghép vấn đề bảo vệ môi trường một cách cụ thể Đơn cử như: Quy ước của làng Trang Liệt, xã Đồng Quang, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh ghi rõ: "Cấm lấp lối nước chảy từ trước tới nay, trường hợp đặc biệt phải được Ban quy hoạch nông thôn đồng ý và phải có trách nhiệm làm đường nước chảy mới Hương ước
Trang 31của làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An quy định: “Không được đổ xác các loại gia cầm, gia súc trên đường, trên mương máng và những nơi công cộng khác gây mất vệ sinh, ô nhiễm môi trường Nếu ai vi phạm phải tự thu dọn Cấm mua bán, vận chuyển làm thịt con vật bị nhiễm dịch, nhiễm bệnh, nếu lưu hành hoặc giết mổ, buôn bán thì sẽ bị tịch thu toàn bộ hiện vật" Tuy nhiên, tại một số vùng dân tộc Khmer vẫn chưa được triển khai xây dựng hương ước về bảo vệ môi trường
Dự án Phát triển Cộng đồng có Sự tham gia của người dân (PACODE) tại
An Giang và Sóc Trăng (2005-2009) cải thiện điều kiện sống cho các cộng đồng nghèo có đông đồng bào Khmer tại ĐBSCL Dự án quan tâm đến vấn đề giới, trong
đó nâng cao trình độ và kiến thức của người phụ nữ, khả năng tiếp cận với các dịch
vụ và tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng Bên cạnh đó, dự án đào tạo cho cộng đồng, Hội phụ nữ và các tổ chức phi chính phủ, các cơ quan chính quyền địa phương có năng lực lập kế hoạch và thực hiện các hoạt động phát triển cộng đồng
có sự tham gia trong các vùng có tỉ lệ đồng bào Khmer sinh sống cao Còn có khá nhiều dự án nhỏ lẻ thực hiện từ những năm 2006 – 2007, do các đoàn thể như Hội phụ nữ, Câu lạc bộ khuyến nông, Hội nông dân của các xã nằm trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng thực hiện, nhằm nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường, sử dụng bền vững tài nguyên, và thực hiện các giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm vùng đồng bào Khmer sinh sống
Nói chung, các công trình nghiên cứu về người Khmer và các chương trình,
dự án trên mang tính tổng quát và toàn diện với quy mô lớn, chủ yếu quan tâm đến các vấn đề dân tộc, tôn giáo, nghèo đói, dân số, nghệ thuật và văn hóa Đó là những vấn đề cơ bản rất cần được nghiên cứu để giải quyết vấn đề bức thiết hiện nay là đảm bảo chất lượng cuộc sống của người Khmer Nam Bộ Chất lượng cuộc sống phụ thuộc vào trình độ phát triển xã hội, mức thu nhập, môi trường sống và quan hệ
xã hội
Như vậy, để đảm bảo chất lượng cuộc sống người dân và phát triển bền vững, một điều kiện tiên quyết cần quan tâm là vấn đề bảo vệ môi trường Tuy
Trang 32nhiên các nghiên cứu về môi trường sống của người Khmer còn quá ít, đặc biệt là nghiên cứu về mối quan hệ giữa môi trường xã hội nhân văn người Khmer và môi trường tự nhiên trong quá trình khai thác và sử dụng tài nguyên gần như vẫn còn bỏ ngỏ
4 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 4.1 Tính cấp thiết của đề tài
Là những người cư trú đầu tiên tại vùng ĐBSCL, hơn ai hết, người Khmer hiểu được đặc điểm tự nhiên của vùng đất bao đời họ gắn bó Bản sắc văn hóa dân tộc, môi trường xã hội nhân văn người Khmer cũng được hình thành từ quá trình lao động và đấu tranh với thiên nhiên để sinh tồn và phát triển Ngày nay, bên cạnh quá trình phát triển kinh tế thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nông thôn, chất lượng cuộc sống người Khmer ngày càng được nâng cao, còn có nhiều vấn đề bất cập nảy sinh, trong đó chất lượng môi trường đang diễn biến phức tạp ảnh hưởng đến sức khỏe và sinh kế của những người dân nghèo
Từ tổng quan tài liệu, ta có thể thấy ở Việt Nam hầu như chưa có một công trình nào nghiên cứu về mối quan hệ giữa môi trường xã hội nhân văn người Khmer với môi trường tự nhiên trong quá trình sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trường
Đề tài là cơ sở để xác định mối quan hệ tương tác giữa hai đối tượng này, tìm hiểu các vấn đề nảy sinh từ đó định hướng cho các hoạt động tiếp theo nhằm đạt đến mục tiêu phát triển bền vững Theo tôi, đây là một đề tài rất rộng và rất cần thiết
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài có tính thực tiễn rất cao trong việc tìm hiểu nét văn hóa độc đáo của người Khmer trong cách ứng xử với tự nhiên nhằm nâng cao nhận thức và khơi dậy văn hóa truyền thống tốt đẹp của người Khmer đối với tự nhiên, phát huy những ưu điểm, khắc phục nhược điểm nhằm đạt được mục tiêu bảo vệ tài nguyên và môi trường
Trang 33Bên cạnh đó, đề tài còn xác định rõ mối quan hệ tương tác giữa môi trường
xã hội nhân văn người Khmer và môi trường tự nhiên, xác định nguyên nhân của các vấn đề môi trường vùng nông thôn, định hướng cho các hoạt động phát triển con người và môi trường huyện Hồng Dân, Bạc Liêu
4.3 Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu mối quan hệ giữa môi trường xã hội – nhân văn của người Khmer và môi trường tự nhiên trong quá trình sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trường gần như vẫn còn bỏ ngỏ Vì thế đề tài này thành công sẽ mở ra một cách nhìn khách quan về vấn đề người Khmer và môi trường, từ đó có một phương hướng mới trong công tác nghiên cứu, nhằm cải thiện chất lượng môi trường sống
và đảm bảo sức khỏe của đồng bào Khmer tỉnh Bạc Liêu cũng như vùng ĐBSCL
Đề tài sẽ làm tiền đề, cơ sở lý luận thực tiễn và khoa học phục vụ cho các chương trình, dự án phát triển cộng đồng thực hiện tại những khu vực đồng bào Khmer sinh sống; đồng thời sẽ là nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo để xây dựng giải pháp nhằm định hướng cho mối quan hệ giữa Môi trường xã hội - nhân văn người Khmer và môi trường luôn vận động và phát triển hài hòa, phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững mà toàn xã hội đang hướng đến
4.4 Tính mới của đề tài
Qua phân tích tổng quan và lịch sử nghiên cứu cho thấy: nghiên cứu mối quan hệ giữa con người và môi trường không phải là một đề tài mới, đặc biệt là nghiên cứu về văn hóa của một cộng đồng dân tộc thiểu số, kiến thức bản địa và phương thức ứng xử với môi trường tự nhiên của họ đã được nghiên cứu rộng rãi trên thế giới và tại Việt Nam, và đã được ứng dụng rất có hiệu quả vào thực tế đời sống, góp phần cho sự phát triển bền vững
Tuy nhiên, nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa ứng xử của người Khmer Nam
Bộ đối với môi trường tự nhiên và mối quan hệ tương tác giữa môi trường xã hội nhân văn người Khmer với môi trường tự nhiên vẫn chưa được thực hiện Đây chính là điểm mới của đề tài
Trang 345 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 5.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu mối quan hệ tương tác giữa môi trường xã hội – nhân văn người Khmer và môi trường tự nhiên trong quá trình sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trường, điển cứu tại huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu
Tìm hiểu hiện trạng môi trường khu vực nghiên cứu và những tác động của
tự nhiên đến tình hình sản xuất và sức khỏe của người Khmer
Thông qua việc thực hiện những mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể nêu trên, tác giả nghiên cứu đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm bảo vệ tài nguyên môi trường khu vực người Khmer sinh sống
6 TÌM HIỂU CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 6.1 Khái niệm “Môi trường xã hội – nhân văn”
Trong quá trình chung sống với tự nhiên, nhận thức của con người về môi trường tự nhiên được tích lũy và mở rộng dần, từ đó mà hình thành thế ứng xử thích hợp của con người đối với môi trường tự nhiên Những thế ứng xử thích hợp đó được thể hiện trong cuộc sống vật chất – như tổ chức sản xuất, ăn, mặc, ở…, trong cuộc sống tinh thần – như văn chương, nghệ thuật, lễ hội, tín ngưỡng, hành vi hướng về cái thiêng… và cuộc sống xã hội – như quan hệ giữa con người và con
Trang 35người, quyền về nghĩa vụ đối với gia đình, cộng đồng làng xóm, quốc gia, dân tộc… Những cách thức ứng xử thích hợp đó gộp chung lại được các nhà khoa học gọi là môi trường xã hội – nhân văn Những yếu tố cấu thành của môi trường xã hội nhân văn được lặp đi lặp lại qua nhiều thế hệ thì được gọi là phong tục, tập quán, văn hóa, lối sống… (Hà Huy Thành, 1999)
6.2 Khái niệm “Văn hóa”
Cho đến nay, đã có tới hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hoá (định nghĩa theo triết học, định nghĩa theo dân tộc học, nhân học, tâm lý học và xã hội học…) Điều đó có nghĩa rằng, xuất phát từ những thực tiễn khác nhau, tuỳ mục đích sử dụng khác nhau mà người ta đưa ra hoặc lựa chọn một định nghĩa nào đó để tiện cho diễn giải và thao tác
Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn lâu dài, trong sự tương tác giữa con người và môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Do cộng đồng người hiển nhiên tồn tại trong quan niệm với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, nên văn hóa bao gồm văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và văn hóa ứng xử với môi trường xã hội (Trần Ngọc Thêm, 2004)
Hình 2: Cấu trúc của Văn hóa (Trần Ngọc Thêm, 2004)
Trang 36Hay như định nghĩa của Malinowski: “Văn hóa bao gồm các quá trình kế thừa về kỹ thuật, tư tưởng, tập quán và giá trị”
Văn hoá là giá trị, là những thành tựu kết tinh sự sáng tạo của con người trên các hoạt động hướng tới Chân, Thiện, Mỹ Đó là những thành tựu về khoa học, nghệ thuật, các hoạt động kinh tế - xã hội, giáo dục Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những yêu cầu đời sống và đòi hỏi sự sinh tồn
Khi văn hoá là giá trị, hơn nữa là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo nên trong cuộc sống, thì bản thân giá trị đó sẽ tạo nên một môi trường Đó chính là môi trường văn hoá Môi trường văn hoá chính là những giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể mà xã hội tạo nên Văn hoá sinh ra cùng với con người, có mặt trong bất cứ hoạt động nào của con người, dù đó là hoạt động sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần, hay trong quan hệ giao tiếp ứng xử xã hội và ngay
cả trong thái độ đối với tự nhiên (Lưu Hoài Chuẩn) Văn hoá, bên cạnh thành tố tư tưởng, còn bao gồm hàng loạt những hệ thống hành vi, ứng xử của con người đối với nhau và đối với tự nhiên (cách thức sản xuất, tôn giáo, phong tục tập quán…) (Từ điển mở Wiktionary)
6.3 Khái niệm “Phong tục tập quán”
"Phong" là nền nếp đã lan truyền rộng rãi, “Tục” là thói quen lâu đời Phong tục tập quán là những thói quen đã ăn sâu vào đời sống xã hội từ lâu đời, được mọi người thừa nhận và làm theo (Hà Huy Thành, 1999) Nội dung phong tục bao hàm mọi mặt sinh hoạt xã hội Phong tục có thứ trở thành luật tục, ăn sâu, bén rễ trong nhân dân rất bền chặt, có sức mạnh hơn cả những đạo luật Phong tục cũng không ngừng biến đổi theo trào lưu biến đổi văn hoá xã hội, nhưng dai dẳng hơn và có quy luật riêng của nó, không dễ gỡ một sớm một chiều đã được mọi người, mọi nhà, mọi tầng lớp tuân theo
Trang 37Phong tục có hai loại: mỹ tục là những tập tục tốt, như thờ phụng tổ tiên, cưới hỏi, lễ tết… và hũ tục là những tập tục xấu như mê tín dị đoan, tin vào bùa phép Trong truyền thống văn hoá của dân tộc Việt Nam, có nhiều thuần phong mỹ tục cần cho đạo lý làm người, kỷ cương xã hội Thế giới văn minh mỗi ngày thay đổi và nếp sống cũng vậy, nhân loại ngày ngày đều cố gắng phát huy mỹ tục và đẩy lùi hũ tục
6.4 Khái niệm “Lối sống”
Lối sống là cách ứng xử của con người trước môi trường thiên nhiên với địa hình, địa thế, khí hậu, thời tiết, thủy văn, thổ nhưỡng nhất định, con người phải tìm cách ứng xử sao có thể đảm bảo cho mình một cuộc sống vật chất với các điều kiện ăn, ở, mặc, đi lại (Hà Huy Thành, 1999)
Quá trình khai thác và thích ứng với cảnh quan thiên nhiên, với địa hình, địa thế để đảm bảo cuộc sống vật chất dần dần hình thành môi trường xã hội bao gồm các thiết chế tổ chức, các mối quan hệ xã hội và các quy tắc ứng xử trong cuộc sống cộng đồng mà mọi người phải tuân thủ, trở thành tập quán, thành phong tục và nhiều mặt dần dần trở thành truyền thống có tác dụng chế định thế ứng xử của mỗi
cá nhân, là sự ra đời của tôn giáo, tín ngưỡng, văn học, quan niệm và đạo đức, các giá trị văn hóa tinh thần
6.5 Khái niệm “Phát triển bền vững”
“Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại
mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội
và bảo vệ môi trường”
Khái niệm "phát triển bền vững" nhấn mạnh đến khả năng phát triển kinh tế liên tục lâu dài, không gây ra những hậu quả tai hại khó khắc phục ở những lĩnh vực khác, nhất là thiên nhiên Các hoạt động kinh tế của thế hệ trước phải giảm thiểu sự thiệt hại cho thế hệ sau và những nhu cầu thiết yếu của những người nghèo trong cùng một thế hệ phải được quan tâm đặc biệt Chỉ quan tâm đến liên hệ giữa môi
Trang 38trường sinh thái, tài nguyên thiên nhiên, và tăng trưởng kinh tế là chưa khai thác hết
sự quan trọng của sự "bền vững" Khái niệm ấy sẽ hữu ích hơn nếu được áp dụng vào hai thành tố nòng cốt khác của phát triển, đó là văn hóa và xã hội
7 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Giả thuyết nghiên cứu của đề tài: Trong quá trình người Khmer hoạt động, tác động lên tự nhiên đã hình thành nên môi trường xã hội nhân văn đặc sắc, biểu hiện cách thức ứng xử đối với tự nhiên nhằm đáp ứng nhu cầu sống của họ Bên cạnh đó, tự nhiên cũng tác động trở lại, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống sinh hoạt, sản xuất của người dân Khmer Như vậy có mối quan hệ tương tác giữa môi trường xã hội nhân văn người Khmer và môi trường tự nhiên trong quá trình sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trường
8 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8.1 Phương pháp thu thập thông tin, tổng hợp và phân tích tài liệu
Đây là một trong hai phương pháp quan trọng nhất của đề tài Việc nghiên cứu tài liệu giúp tác giả có cái nhìn toàn diện, sâu sắc về các kiến thức liên quan đến Môi trường tự nhiên huyện Hồng Dân, Môi trường Xã hội Nhân văn người Khmer trong quá trình sinh hoạt và sản xuất Đồng thời, thu thập các thông tin có sẵn là cơ
sở dữ liệu ban đầu, là nguồn thông tin định hướng và kiểm tra chéo với kết quả nghiên cứu
- Thông tin trên mạng internet: sưu tầm thông tin từ các trang web của các tổ chức quốc tế như www.undp.org.vn, www.worldbank.org…, các trang web của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng cục Môi trường… và thông tin từ sách báo để thu thập tài liệu, thông tin về: Các chương trình, dự án, nghiên cứu, hội thảo và các bài báo liên quan đến mối quan hệ giữa con người và môi trường, nghiên cứu về đời sống văn hóa, sức khỏe và hoạt động
Trang 39sản xuất của người Khmer; Các phương pháp nghiên cứu văn hóa cộng đồng áp dụng trên thế giới và tại Việt Nam
- Thu thập các thông tin có liên quan đến huyện Hồng Dân: Liên hệ với Uỷ Ban Nhân Dân huyện, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, phòng Thống kê, phòng Tài Nguyên Môi Trường huyện Hồng Dân và các Sở ban ngành của tỉnh Bạc Liêu: Sở Tài Nguyên Môi Trường, Sở Khoa học công nghệ… để tìm hiểu điều kiện tự nhiên, hiện trạng sử dụng tài nguyên, hiện trạng môi trường, tình hình kinh tế, y tế, văn hóa - xã hội
8.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
Đây là phương pháp dùng để triển khai phần thứ hai của đề tài, sử dụng phương pháp điều tra Xã hội học nhằm tiếp cận và thu thập thông tin hiệu quả hơn khi làm việc với cộng đồng Để thu được những thông tin toàn diện, tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu tổng hợp: kết hợp nghiên cứu định tính với nghiên cứu định lượng, nghiên cứu lý luận với ứng dụng
Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp PRA (Participatory Rural Appraisal) là
phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia PRA bao gồm hàng loạt cách tiếp cận và phương pháp nhằm khuyến khích, lôi cuốn người dân cùng tham gia phát hiện vấn đề, chia sẻ, thảo luận và phân tích kiến thức của họ về đời sống, phương thức sản xuất, sinh hoạt và các vấn đề môi trường, bệnh tật liên quan
Trang 40Bảng 1: Các công cụ của PRA sử dụng trong nghiên cứu
Công cụ sử dụng Mục tiêu trong nghiên cứu tác động Chỉ tiêu quan sát
Phân tích văn hóa Phân tích niềm tin tôn giáo, tín
ngưỡng, lối sống, phong tục tập quán
Văn hóa - xã hội, dân tộc, tôn giáo
Phân tích lịch thời
vụ (Seasonal calendar analysis)
Ghi nhận những thời điểm làm thay đổi chất lượng môi trường trong năm ở địa phương
Xã hội, hoạt động sản xuất, TN-MT
Phân tích SWOT (Điểm mạnh – Điểm yếu; Cơ hội – Rủi ro)
Tìm hiểu ưu và khuyết điểm trong hành vi và nhận thức của người Khmer trong quá trình tương tác với tự nhiên;
ghi nhận những ý kiến đề xuất của cộng đồng nhằm đảm bảo chất lượng môi trường sống
Kinh tế - văn hóa -
xã hội, tài nguyên - môi trường
Phân tích chuỗi vấn đề (Problem web)
Xác định nguyên nhân của các vấn đề
về môi trường mà cộng đồng đang gặp phải
Kinh tế - văn hóa -
xã hội, hiện trạng môi trường
8.2.1 Phương pháp phỏng vấn
a Phỏng vấn bằng bảng hỏi
Mục đích nghiên cứu là nhằm chứng minh được mối quan hệ giữa môi trường xã hội nhân văn người Khmer và môi trường tự nhiên Để chứng minh được điều này, bên cạnh việc thu thập các tài liệu thứ cấp, quan sát trực tiếp, tác giả sẽ lập bảng hỏi để điều tra một số thông tin về thói quen trong sinh hoạt, sản xuất và nhận thức của người dân trong quá trình tương tác với môi trường tự nhiên
Đối tượng chọn mẫu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là người Khmer Tuy nhiên để đánh giá về nhận thức một cách khách quan, tác giả lựa chọn thêm đối tượng chọn mẫu là