1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mô tả so sánh giới từ trong tiếng hán hiện đại với liên kết trong tiếng việt

134 23 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mô tả so sánh giới từ trong tiếng hán hiện đại với liên kết trong tiếng việt
Tác giả Cao Thị Quỳnh Hoa
Người hướng dẫn PGS. Hồ Lê
Trường học Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2004
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 834,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CAO THỊ QUỲNH HOA MÔ TẢ - SO SÁNH GIỚI TỪ VÀ LIÊN TỪ TRONG TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI VỚI KẾT TỪ TRONG TIẾNG VIỆT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN CHUYÊN NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH MÃ SỐ:

Trang 1

CAO THỊ QUỲNH HOA

MÔ TẢ - SO SÁNH GIỚI TỪ VÀ LIÊN TỪ

TRONG TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI

VỚI KẾT TỪ TRONG TIẾNG VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH

MÃ SỐ: 05 04 27

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS HỒ LE Â

TP HỒ CHÍ MINH – 2004

Trang 2

cám ơn sâu sắc đến PGS Hồ Lê, người đã tận tình hướng đẫn luận văn cho tôi

Xin gửi lời cảm ơn đến Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Khoa Ngữ văn Trung Quốc trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, cám ơn các đồng nghiệp và bạn bè đã cung cấp tài liệu, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập

Xin tri ân sự hậu thuẫn quí báu của gia đình, nơi đã cho tôi những lời động viên và giúp đỡ trong những tháng năm học tập

Cao Thị Quỳnh Hoa

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng có bề dày lịch sử trong giao lưu hợp tác kinh tế, văn hóa, chính trị v.v… Ngay từ khi nhà Hán đặt ách thống trị lên đất nước ta vào khoảng thế kỷ thứ II TCN, tiếng Hán cổ đại đã du nhập vào Việt Nam và được người Việt Nam tiếp thu, đến đời Đường thì sự tiếp thu đó càng tích cực và một khối lượng từ Hán - Việt đồ sộ đã góp phần làm phong phú thêm cho kho tàng ngôn ngữ tiếng Việt (theo thống kê của một số nhà ngôn ngữ học trong tiếng Việt có khoảng từ 65% đến 70 % từ Hán Việt hoặc có liên quan đến yếu tố Hán Việt) Vì vậy tiếng Hán đối với người Việt Nam chúng ta không phải là một ngôn ngữ xa lạ Biểu hiện trước hết là lịch sử đã để lại các di sản Việt Nam gắn liền với chữ Hán Bên cạnh những tác phẩm được ghi chép bằng chữ Hán mà những người có học mới có điều kiện tiếp xúc, thì chữ Hán còn xuất hiện thường ngày trong cuộc sống của người dân Việt Nam thông qua các bức đối, liễn được treo trong nhà hoặc ở những nơi linh thiêng gắn liền với cuộc sống người dân như đình chùa, miếu, mạo Trong tâm thức người Việt Nam, chữ Hán đã trở thành một phần không thể thiếu được cho dù không phải ai cũng hiểu được ý nghĩa của chúng Đặc biệt là trong những năm gần đây khi quan hệ hợp tác thương mại và đầu tư giữa Việt Nam với Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông… tiến triển ngày càng cao thì nhu cầu

Trang 4

Học tiếng Trung Quốc cũng như bất kì ngoại ngữ nào khác không những đòi hỏi người học phải tích lũy vốn từ vựng dồi dào mà còn phải nắm được đặc điểm ngữ pháp, hiểu thấu đáo đặc điểm của từ loại để có thể vận dụng vào việc đặt câu cho đúng, cho hay Tuy rằng ngữ pháp tiếng Trung Quốc và tiếng Việt có nhiều điểm giống nhau song cũng không ít điểm khác nhau Chính vì thế việc đi sâu tìm hiểu ngữ pháp là việc làm cần thiết trong suốt quá trình học tập

Có thể nói hầu hết các nhà ngữ pháp khi nghiên cứu về tiếng Việt đều trực tiếp hoặc gián tiếp nói đến hư từ Tuy nhiên vấn đề hư từ cho đến nay vẫn chưa phải là vấn đề đã được khép kín Mặc dù là lớp từ có số lượng ít hơn nhiều so với thực từ, không có khả năng làm thành tố chính trong tổ chức đoản ngữ và làm thành câu, nhưng hư từ đóng một vai trò quan trọng về cú pháp, vì nó được dùng để biểu thị các quan hệ, tức là những mối liên hệ giữa các đối tượng phản ánh và dùng để biểu thị cách thức phản ánh các đối tượng đó

Trong tiếng Hán, hư từ càng có tác dụng lớn trong câu vì: tần số xuất hiện của nó rất cao; nếu như không có những từ như: “的,在,了, 不,

和 ” thì chúng ta khó mà diễn đạt được ý của câu Theo thống kê về tần số xuất hiện của hư từ trong sách báo hiện nay thì bình quân khoảng 100 chữ thì có một chữ “在” hư từ Sử dụng nhiều hư từ cũng là một đặc điểm trong tiếng Hán

Trang 5

rất cao và có tác dụng quan trọng về cú pháp” [4]

Giới từ và Liên từ trong tiếng Hán là loại từ tương đối khép kín, số lượng có hạn, nhưng đóng một vai trò đặc biệt quan trọng; cách dùng thì

đa dạng và có những nét khu biệt tế nhị về ngữ nghĩa

Do đó việc sử dụng đúng Kết từ trong tiếng Việt và Giới từ, Liên từ trong tiếng Hán là một vấn đề quan trọng của người học tiếng Việt cũng như người học tiếng Hán Như vậy việc nghiên cứu đề tài này vừa mang tính khoa học vừa có ý nghĩa thực tiễn rõ ràng

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

2.1 Việc nghiên cứu hư từ trong tiếng Hán

Trong tiếng Trung Quốc, từ được chia ra làm hai loại là thực từ và

hư từ Tác phẩm sớm nhất chia từ ra làm hai loại thực từ và hư từ có từ đời nhà Tống, nhưng thời bấy giờ “từ” được gọi là “tự” Trong tác phẩm

“Thanh ba tạp kí” của nhà văn Châu Huy đời nhà Tống có viết “东波教诸子作文,或辞多而意寡,或虚字多实字少,皆批谕之 (tạm dịch: Đông

Ba dạy học trò viết văn, có người dùng rất nhiều từ nhưng có ít ý, có người lại dùng hư tự nhiều, thực tự ít, sau khi được chỉ ra điểm sai, mọi người đều hiểu ra cái sai của mình) Có thể thấy được rằng thời bấy giờ cái được gọi là “thực tự” được dùng để chỉ những từ biểu thị về khái niệm hay sự vật cụ thể, gần giống như cách chúng ta gọi danh từ, động từ, tính từ thời nay, còn “hư tự” thì chủ yếu dùng để chỉ phó từ, liên từ, giới từ, trợ từ,

Trang 6

Quyển từ điển sớm nhất về hư từ của Trung Quốc là “Ngữ trợ” (còn có tên là “Trợ ngữ từ”) của Lư Dĩ Vĩ thời Nguyên Đến đời Thanh, nhận thức của mọi người về hư tự đã tiến bộ rõ rệt Trong “Biện tự quyết”, Vương Minh Xương đời Thanh đã có thể căn cứ vào công dụng của hư tự để chia ra làm sáu loại: Khởi ngữ hư tự; Án ngữ hư tự; Chuyển ngữ hư tự; Sấn ngữ hư tự; Thúc ngữ hư tự và Yết ngữ hư tự Nhưng những nghiên cứu thời bấy giờ chưa được xem là nghiên cứu chuyên về ngữ pháp, chủ yếu dùng để giải thích sách cổ và phục vụ cho việc hướng dẫn viết văn Sách chuyên giải thích về hư tự, ngoài “Ngữ trợ” ra còn có “Hư tự thuyết” của Viên Nhân Lâm, “Trợ tự biện lược” của Lưu Kì, “Kinh truyền thích từ” của Vương Dẫn Chi v.v…, những tác phẩm trên đều có tính đại diện Những sách về hư từ này về cơ bản đều lấy kinh truyện làm gốc để giải thích

những hư từ như phó từ, liên từ, giới từ, trợ từ, ngữ khí từ

Tóm lại, trước đây ranh giới giữa thực từ và hư từ vừa không chặt chẽ về phân loại dựa trên ý nghĩa, lại vừa không rõ ràng về phạm vi và chủng loại

Cho đến cuối thế kỉ 19, Mã Kiến Trung mới viết ra bộ ngữ pháp đầu tiên của Trung Quốc; đó là: “Mã thị văn thông”, trong đó ranh giới giữa thực từ và hư từ mới hơi gần với sự phân loại dựa trên ý nghĩa như hiện nay Xuất phát từ góc độ ý nghĩa Mã thị có nói: “Phàm là tự, nếu nó có thể giải thích đuợc thì gọi là thực tự; còn nếu không thể giải thích được, chỉ dùng để giải thích tình thái của thực tự thì gọi là hư tự.”

Trang 7

Bạch thoại chính thức trở thành tiếng thông dụng thì việc nghiên cứu hư từ càng được coi trọng hơn Vào thời kì này có những nhà ngữ pháp sau đây nghiên cứu về hư từ: Lê Cẩm Hy, Vương Lực, Lã Thúc Tương, Cao Danh Khải Tuy nhiên, những sách ngữ pháp thời kì này đều chịu ảnh hưởng lý luận ngôn ngữ Phương Tây Trong số đó quyển “Hán ngữ ngữ pháp luận” của Cao Danh Khải mô tả về hư từ khá tỉ mỉ

Thời kì sau thập niên 50, có những sách sau đây đề cập đến hư từ:

“Bắc Kinh khẩu ngữ ngữ pháp”, “Ngữ pháp tu từ giảng thoại”, “Hiện đại Hán ngữ ngữ pháp”, “Hiện đại Hán ngữ ngữ pháp giảng thoại” Đồng thời, cũng có nhiều luận văn nghiên cứu về hư từ Việc nghiên cứu về hư từ có thể chia làm hai mặt:

Thứ nhất: Phân định thực từ và hư từ từ góc độ vĩ mô xác định

tính chất và phạm vi của hư từ và phân loại nó

Thứ hai: Tiến hành phân tích và so sánh về các mặt chức năng, ý

nghĩa, cách dùng của Phó từ, Giới từ, Liên từ, Trợ từ, Ngữ khí từ, Thán từ, Tượng thanh từ nhìn từ góc độ vi mô

Kết quả việc nghiên cứu hư từ trong thời kì này so với thời kì trước có tiến bộ rõ rệt, nhưng nhìn từ các mặt bối cảnh lí luận và phương pháp nghiên cứu thì không đạt được bước đột phá về thực chất là bao

Từ cuối thập niên 70, việc nghiên cứu hư từ bước vào thời kì mới Tổng kết 20 năm nghiên cứu hư từ (từ đầu thập niên 80 đến cuối thế kỉ 20), kết quả thu được thể hiện ở hai mặt:

Trang 8

điển tổng hợp hư từ khá quan trọng như sau:

1- “Hiện đại Hán ngữ bát bạch từ” của Xương Thúc Sương;

2- “Hiện đại Hán ngữ hư từ lệ thích” của khoa Trung văn trường Đại học Bắc Kinh;

3- “Hiện đại Hán ngữ thường dùng hư từ từ điển” do Vũ Khắc Trung chủ biên;

4- “Hiện đại Hán ngữ hư từ” do Hầu Học Siêu chủ biên

Thứ hai: Có nhiều sách chuyên nghiên cứu về hư từ như: “Hiện

đại Hán ngữ hư từ tản luận” của Lục Kiệm Minh, Mã Chân; “Phức cú hòa

từ ngữ đích quan hệ” của Hình Phước Nghĩa; “Hán ngữ trợ từ luận” của Lưu Công Vọng; “Hán ngữ hư từ và hư từ đoản ngữ” của Kim Xương Cát;

“Hiện đại Hán ngữ phó từ nghiên cứu” của Trương Nghị Sinh Có nhiều

công trình nghiên cứu về hư từ được đăng trên tạp chí “Trung Quốc ngữ

văn” và nhiều tạp chí khác

Trước đây các nhà ngữ pháp Trung Quốc cho rằng Giới từ và Liên từ là một loại Như trong “Tân trứ quốc ngữ văn pháp” và “Trung Quốc văn pháp yếu lược” đều gọi Gt và Lt là “quan hệ từ”ø, trong “Trung Quốc hiện đại ngữ pháp” của Vương Lực thì gọi Gt và Lt là “liên kết từ”

Nhưng về sau trong “Trung Quốc hiện đại ngữ pháp”; và “Hán ngữ ngữ pháp luận” lần lượt gọi Gt là “phó động từ, chuẩn động từ và thụ đạo từ” Trong khi đó trong “Hán ngữ tu từ giảng thoại” của Lã Thúc Tương và Chu Đức Hy cũng cho Lt có sự độc lập; lúc này Lt được gọi là

Trang 9

“liên kết từ” Có thể thấy được các nhà ngữ pháp đã bắt đầu thấy được sự độc lập của Gt và Lt

Từ thập niên 50 cho đến nay việc nghiên cứu Gt và Lt đều tiến những bước dài và sự độc lập của Gt và Lt ngày càng được khẳng định thông qua những chuyên đề và từ điển nghiên cứu về Gt và Lt như: “Hán ngữ giới từ và giới từ đoản ngữ” của Kim Xương Cát, “Liên quan từ từ điển” của Đới Mộc Kim, “Liên quan từ ngữ giải thích” của Mạnh Điền…

2.2 Việc nghiên cứu hư từ trong tiếng Việt

Sự phân biệt giữa thực từ và hư từ không chỉ là sự phân loại của riêng tiếng Việt Vấn đề tranh luận về việc phân loại thực từ và hư từ trong giới Việt ngữ học đã trải qua một thời gian khá dài, tuy nhiên hư từ

vẫn là một lĩnh vực gây nhiều tranh luận

Đối với loại hình phân tích tính như tiếng Việt thì hư từ có một tầm quan trọng đặc biệt Phần lớn các phạm trù ngữ pháp đều được thể hiện thông qua ý nghĩa và chức năng của hư từ Các quan hệ ngữ pháp nói riêng giữa từ với từ, giữa câu với câu và nói chung giữa ngôn ngữ với hiện thực, giữa cấu trúc sâu với cấu trúc mặt v.v… cũng đều thể hiện bằng con

đường hư từ

Hư từ có tầm quan trọng đặc biệt như vậy, nhưng trong các sách ngữ pháp tiếng Việt thì cũng mới chỉ dừng ở khái niệm chung hoặc mô tả

một cách riêng rẽ công dụng của từng hư từ

Cuốn sách “Hư từ trong tiếng Việt hiện đại” của Nguyễn Anh Quế xuất bản năm 1988 có thể được xem là cuốn sách khảo sát về hư từ có hệ thống về toàn bộ hư từ trong tiếng Việt Cuốn sách đã đề cập đến

Trang 10

những vấn đề đặc biệt cần thiết như: Cơ sở của việc phân định và phân loại hư từ; mô tả chi tiết hư từ trên hai phương diện, phương diện ngữ nghĩa

và phương diện chức năng

Ở nhiều ngôn ngữ Âu châu, người ta thường tách Kt thành hai loại từ riêng: giới từ (preposition) và liên từ (conjunction) Việc phân loại này có cơ sở khách quan Trong tiếng Việt, việc vạch ra một ranh giới rõ rệt đâu là hư từ Gt và đâu là hư từ Lt gặp không ít khó khăn Một số tài liệu nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt cho rằng có sự chuyển hóa một số Gt

sang Lt Chẳng hạn theo Nguyễn Kim Thản thì các Gt vì, do, lại, đều có

thể chuyển thành Lt [31] Thật ra, về đại thể, những hư từ có tác dụng kết nối những thành phần có quan hệ chính – phụ đều thuộc loại Gt; còn những hư từ có tác dụng kết nối những thành phần có quan hệ liên hợp (hoặc đẳng lập) đều thuộc loại Lt Nhưng như thế thì không thể sắp xếp Gt,

Lt ngang hàng về loại với những loại hư từ khác trong tiếng Việt như: trợ

từ, phó từ, cảm từ Đó là lý do để nhập Gt và Lt lại thành một loại là kết

từ Thuật ngữ “kết từ” lần đầu tiên được khẳng định trong quyển “Ngữ

pháp tiếng Việt ” do Viện ngôn ngữ học thuộc Uûy ban khoa học xã hội biên soạn và xuất bản vào năm 1983 với những đồng tác giả có uy tín Nguyễn Kim Thản, Hoàng Tuệ, Nguyễn Tài Cẩn…

Và từ năm 1983 cho đến nay, giới Việt ngữ học đều thừa nhận Kt là một từ loại hư từ

Chính vì có lịch sử nghiên cứu như đã trình bày như trên nên chúng tôi thống nhất việc gọi tên các hư từ này trong tiếng Việt theo cách gọi mới nhất là Kết từ và trong tiếng Hán là Giới từ, Liên từ

Trang 11

3 PHẠM VI VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU TRONG ĐỀ TÀI 3.1 Phạm vi

Tất cả Kết từ thường dùng trong tiếng Việt và Giới từ, Liên từ thường dùng trong tiếng Hán hiện đại đều nằm trong phạm vi nghiên cứu và đối chiếu của luận văn Đặc điểm cú pháp của chúng được luận văn xác định là khả năng kết dính giữa những bộ phận trong ngữ và câu của chúng

3.2 Nội dung nghiên cứu

Xác định, phân loại và phân tích Giới từ, Liên từ trong tiếng Hán

hiện đại và Kết từ trong tiếng Việt

So sánh điểm giống nhau và khác nhau của các hư từ này trong tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Luận văn sử dụng hai phương pháp sau:

Phương pháp miêu tả ngữ nghĩa – cú pháp

Dựa trên những thành tựu nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học, chúng tôi sẽ miêu tả lại đặc điểm ngữ nghĩa và đặc điểm cú pháp của Kết từ trong tiếng Việt và Giới từ, Liên từ trong tiếng Hán hiện đại một cách có hệ thống, phù hợp với nhiều mục đích khác nhau của người sử dụng

Phương pháp so sánh

- So sánh về mặt ngữ nghĩa

- So sánh về mặt chức năng

5 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Trang 12

Mục đích chính mà luận văn muốn đạt được là giúp cho ngươi học tiếng Việt cũng như người học tiếng Trung Quốc hiểu được một cách có hệ thống về lý thuyết cũng như thực hành Kết từ trong tiếng Việt cũng như Giới từ và Liên từ trong tiếng Hán; người học có thể sử dụng chúng trong câu một cách đúng đắn Chúng tôi cũng hy vọng kết quả của luận văn sẽ giúp cho người dạy và người học có thể nhận ra được sự tương đồng và dị biệt của chúng trong từng ngôn ngữ để việc học và việc dạy khoa học hơn và hứng thú hơn

Cuối cùng, điều chúng tôi mong muốn đạt được sẽ là nhịp cầu nối cho hai dân tộc Việt Nam – Trung Quốc càng hiểu nhau hơn

6 BỐ CỤC LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu và kết luận ra, luận văn gồm có ba chương chính sau:

Chương I Giới từ và Liên từ trong tiếng Hán hiện đại Chương II Kết từ trong tiếng Việt

Chương III So sánh cách dùng Giới từ, Liên từ trong tiếng Hán hiện đại với Kết từ trong Tiếng Việt

Trang 13

CHƯƠNG I GIỚI TỪ – LIÊN TỪ TRONG TIẾNG HÁN

1 Ý NGHĨA CỦA HƯ TỪ

Số lượng của hư từ trong tiếng Hán khoảng hơn trăm từ, trong số đó căn cứ vào nghĩa chức năng (functional meaning) lại có thể phân ra thành nhiều tiểu loại hư từ Ngoại trừ phó từ mà có tác giả còn gọi là “bán thực từ” hoặc “bán hư từ”, các hư từ khác đều không tự đảm nhiệm thành phần của câu Công dụng chính của hư từ là đánh dấu một quan hệ cú pháp nhất định; một số hư từ không mang trọng âm trong lời mà chỉ phát khinh âm Hư từ gồm phó từ, giới từ, liên từ, trợ từ và cảm thán từ Mặc dù

hư từ không có ý nghĩa vật chất nhưng tác dụng của nó trong câu rất lớn, vì:

Lí do thứ nhất: tần số xuất hiện của nó rất cao, nếu không có

những từ như “的, 在, 了, 不, 和” chúng ta khó mà diễn đạt được ý nghĩa câu Theo thống kê về tần số xuất hiện của hư từ trong sách báo hiện nay thì bình quân khoảng 100 tự có đến từ 15 đến 20 tự là hư từ Sử dụng nhiều

hư từ là một trong những đặc điểm quan trọng của tiếng Hán

Lí do thứ hai: hư từ thường đóng vai trò tổ chức của câu hoặc của

đoạn trong câu, nếu dùng sai sẽ ảnh hưởng đến kết cấu và ý nghĩa của toàn câu

Ví dụ:

人们不禁要问,为什么这个单位的领导对群众一贯反对个别作者的错误做法却无动于衷,不予过问呢?

Trang 14

Nguyên ý của tác giả chỉ muốn chất vấn lãnh đạo của đơn vị này tại sao không hỏi “个别作者的错误做法”, “群众一贯反对” vốn dùng làm định ngữ cho “个别作者的错误做法”, nhưng do giữa kết cấu chính phụ này thiếu mất “的”, nên biến cả kết cấu trở thành kết cấu chủ vị (Làm cho “群众一贯反对(的) 个别作者的错误做法” (nghĩa là: cách làm sai trái của một số tác giả cá biệt mà quần chúng nhất loạt phản đối) trở thành

“群众一贯反对个别作者的错误做法”nghĩa là: cách làm sai trái của việc quần chúng nhất lượt phản đối một số tác giả cá biệt) Rõ ràng khi kết cấu thay đổi sẽ kéo theo ý nghĩa hoàn toàn thay đổi Đó là chưa kể những trường hợp vì không dùng đúng hư từ mà câu trở nên vô nghĩa

2 TÁC DỤNG CỦA HƯ TỪ

Tác dụng chính của hư từ trong câu là đánh dấu một quan hệ ngữ pháp nhất định, cũng có nghĩa rằng nó có tác dụng tổ chức câu hoặc liên

kết các câu với nhau Thông qua bốn cách chính là bổ nghĩa (好), liên

(是啊,你呢 ?) để nối các loại thực từ, nhóm từ hoặc câu thành một chỉnh

thể hữu cơ để biểu đạt ý nghĩa, trao đổi suy nghĩ Vì thế nhìn từ góc độ khác, hư từ trong tiếng Hán hoàn toàn có thể biểu đạt rõ ràng mối quan hệ giữa từ với từ, giữa nhóm từ với nhóm từ, giữa câu với câu, tạo thành mạch

Trang 15

của tổ chức câu nói Một câu nói hay một đoạn hội thoại cho dù nội dung phức tạp đến mấy, đầu mối rối rắm đến bao nhiêu, ý nghĩa rắc rối đến mức độ nào, ta chỉ cần làm rõ mối quan hệ giữa các hư từ và thành phần trong đó; lúc ấy ta có thể nắm được đầu mối, phân rõ ràng thứ bậc, như thế mạch của câu (đoạn hội thoại) sẽ trở nên rõ ràng

Tuy vậy, trong hàng ngũ của hư từ thì phó từ là trường hợp đặc biệt Đại đa số ý nghĩa của phó từ đều đã hư hóa ở những mức độ rõ rệt, nhưng lại có thể đảm nhận thành phần của câu, vì vậy có người xếp nó vào thực từ, có người lại xếp nó vào hư từ, và có người đã gọi là hư thực từ hoặc bán hư từ

4 GIỚI TỪ VÀ LIÊN TỪ 4.1 Giới từ

4.1.1 Đặc điểm

Gt là loại từ tương đối khép kín, số lượng có hạn, nhưng trong hệ thống ngữ pháp tiếng Hán, Gt đóng một vai trò rất quan trọng

Trang 16

Chức năng cú pháp của Gt chủ yếu là bám ở phía trước từ ngữ khác, tạo thành đoản ngữ Gt, đảm nhiệm vai trò trạng ngữ, vị ngữ…, tuy rằng bản thân Gt không thể sử dụng một cách đơn độc được nhưng

do tạo thành đoản ngữ Gt nên tần số sử dụng của nó rất cao, cách dùng đa dạng, cá tính nổi bật Tóm lại, Gt là loại từ có cách dùng tương đối phức tạp; có diện liên quan khá rộng trong hư từ của tiếng Hán

4.1.2 Chức năng

Phần lớn trong các sách ngữ pháp trước kia cho rằng “Giới từ” có nghĩa là “giới thiệu” cho các từ khác, là loại từ có tác dụng “giới thiệu” Cách nói này quá rộng và chung chung, thật ra một số hư từ khác như liên từ, trợ từ, cũng có tác dụng “giới thiệu” nhất định nào đó, rất khó phân biệt

Chức năng cú pháp của Gt trong tiếng Hán hiện đại, đặc biệt là ngữ giới từ khá phức tạp, vì thế cần phải phân rõ hai loại chức

năng của Gt: Chức năng cơ bản và Chức năng đặc biệt

- Chức năng cơ bản tức là: hễ là Gt thì cần phải có những chức năng này

- Chức năng đặc biệt tức là: không phải Gt nào cũng đều phải có chức năng này

4.1.2.1 Chức năng cơ bản của Gt trong tiếng Hán gồm có: 4.1.2.1.1 Bám theo để định vị (附着定位):

Trang 17

Nghĩa là Gt phải đứng trước tân ngữ của Gt, trong bất kì tình huống nào tân ngữ của Gt cũng không thể chuyển dịch hoặc lược bỏ

Ví dụ:

_ 小王把车子骑走了 (Tiểu Vương lấy xe cưỡi đi mất rồi)→* 车子,小 王把骑走了 (Xe, Tiểu Vương lấy đi rồi)→*

小王把 [ ] 骑走了 (Tiểu Vương lấy [ ] đi mất rồi)

_ 火车从上海站出发了 (Xe lửa từ ga Thượng Hải xuất phát )→*上海 站,火车从出发了 (Ga Thượng Hải, xe lửa từ xuất phát)→* 火车从[ ] 出发了 (Xe lửa từ [ ] xuất phát)

4.1.2.1.2 Không thể dùng đơn độc (不能单用):

Nghĩa là Gt chỉ là bám theo, trước tiên bắt buộc phải tạo thành ngữ Gt, sau đó mới có thể đảm nhiệm các loại thành phần cú pháp, trong bất kỳ tình huống nào Gt cũng không thể sử dụng đơn độc Như những ví dụ dưới đây, chỉ dùng Gt để trả lời câu hỏi hoàn toàn không thể chấp nhận được, thậm chí trong ngữ cảnh đàm thoại cũng không thể được:

Ví dụ:

_ 你跟 她生气?(Mày giận (với) nó à?)—— * 跟

(với)/ * 不跟。(không với)

Trang 18

_ 你从 南京走?(Anh đi từ Nam Kinh à?)—— * 从

(từ)/ * 不从。(không từ)

4.1.2.1.3 Không thể làm vị ngữ (不作谓语)

Nghĩa là bất kì Gt nào cũng không thể đơn độc làm trung tâm vị ngữ của câu, ngữ Gt thường làm trạng ngữ hay định ngữ nhiều hơn, nếu Gt nào đó có thể làm trung tâm vị ngữ, thì chắc chắn nó phải là kiêm nhiệm từ động giới Ta thử

so sánh:

1- 我比他高 (Tôi so với nó (thì) cao hơn) 2- 我不跟他比 (Tôi không bì với nó)

“比” ở câu 1 là Gt, vì “我比他” không là câu。 “比”

ở câu 2 là động từ , vì thế chúng có thể đơn độc làm vị ngữ

4.1.2.1.4 Không thể cùng xuất hiện (不能连用)

Nghĩa là trong bất kì tình huống nào cũng không thể gặp trường hợp hai Gt cùng xuất hiện song song Nếu ta thấy hai Gt xuất hiện nối tiếp nhau, thì chắc chắn chúng không thể cùng một bậc

Ví dụ:

把在家里受苦的情况都讲了出来 (Mang hết những khổ cực phải chịu đựng trong nhà kể ra hết)

“把,在” tuy chúng gần nhau, nhưng chúng không hề có mối quan hệ gì

Trang 19

4.1.2.2 Chức năng đặc biệt: chức năng riêng có của một số

Gt còn giữ lại chức năng của thực từ, gồm có:

4.1.2.2.1 Đứng trước từ mang tính chất vị ngữ hoặc tiểu

4.1.2.2.2 Kết hợp với tân ngữ của Gt dùng đơn độc trong

câu trả lời

Ví dụ:

你从哪儿走?(Cậu từ đâu đi?) —— 从这儿 (Từ đây)

4.1.2.2.3 Có thể nhận sự bổ nghĩa của phó từ, trợ từ

Ví dụ:

就因为你的缘故 (Chính tại vì cậu)

正是由于你 (Đúng là do cậu)

4.1.2.2.4 Có thể dùng “hình thức chính phản” để đặt câu

hỏi

Ví dụ:

从不从北京出发?(Xuất phát từ Bắc Kinh à?)

朝没朝她开枪? (Có nhắm súng vào nó không?)

Trang 20

4.1.3 Tác dụng của Gt trong câu

Là một chất kết dính trong câu, Gt có ba tác dụng chính như sau:

4.1.3.1 Tác dụng chuyển hóa:

Quan sát nội bộ mối quan hệ giới- tân, ta thấy giữa Gt và tân ngữ là mối quan hệ bám theo và bị bám theo; nhưng nếu quan sát từ tính chất của tân ngữ Gt ta thấy cái bám theo Gt thực chất có một chức năng chuyển hóa: tân ngữ Gt vốn là thể từ hoặc là vị từ, nhưng khi nó theo sau Gt thì lại trở thành từ có tính chất thêm vào Cũng có thể nói rằng tân ngữ Gt vốn có thể đảm nhiệm chức năng chủ ngữ; tân ngữ hoặc vị ngữ; thuật ngữ, nhưng sau khi tạo thành ngữ Gt thì đại đa số chỉ có thể đảm nhiệm chức năng trạng ngữ, định ngữ và thành phần bổ nghĩa đứng đầu câu

Trang 21

4.1.3.2 Tác dụng dẫn dắt

Hai phương thức ngữ pháp chính của tiếng Hán là trật tự từ và hư từ Gt là một loại hư từ rất quan trọng Tác dụng ngữ pháp của nó trong câu chủ yếu là dẫn dắt Dẫn dắt ở đây có nghĩa là bất kì một Gt nào, cho dù nó đứng trước một từ nào, và cho dù nó tạo thành một đoản ngữ Gt như thế nào, cũng đều không có tự

do, đều không thể trực tiếp biểu đạt ý nghĩa, đa số chỉ có thể làm đơn vị bổ nghĩa Ta có thể thấy được tác dụng cơ bản của Gt là mang tân ngữ của Gt dẫn dắt tới trung tâm ngữ thích hợp, đồng thời làm cho chúng nảy sinh một thay đổi nhất định về mặt ý nghĩa ngữ pháp

4.1.4 Phạm vi và phân loại Gt 4.1.4.1 Phạm vi

Trang 22

Phạm vi của Gt khá rõ ràng, đặc biệt là những Gt điển hình Nếu gộp chung cả Gt bình thường lẫn Gt đặc biệt, lẫn các từ kiêm nhiệm như liên giới; động giới; danh giới, lẫn các Gt có sắc thái văn viết và sắc thái văn nói, lẫn Gt mang hậu tố “着,了,过,于” và các Gt này khi không mang hậu tố, thì số lượng Gt trong tiếng Hán hiện đại có lẽ phải gần 130 Tất nhiên số lượng

Gt điển hình đúng nghĩa, Gt thường dùng và Gt không có tranh luận gì thì không đến 100

4.1.4.2 Phân loại

Về vấn đề phân loại trong nội bộ Gt còn tồn tại nhiều quan điểm và tiêu chuẩn phân loại không thống nhất Theo chúng tôi nghĩ, mục đích phân loại là giúp cho việc học tập và nghiên cứu thuận lợi hơn Nếu như mục đích và phương pháp học tập, nghiên cứu không giống nhau, vậy thì ta phải tiến hành phân loại

Gt từ nhiều góc độ khác nhau Nhìn chung có ba kiểu phân loại như sau:

Loại I: Dựa trên hình thức cấu tạo từ

Xét từ góc độ âm tiết thì Gt trong tiếng Hán chia làm hai

loại đơn âm tiết và đôi âm tiết

Ví dụ:

自— 自从 / 打—自打/ 对— 对于/ 因 — 因为 / 按— 按照 / 除— 除了 / 为 — 为着/ 距 — 距离

Gt đôi âm tiết lại có thể chia làm hai loại phái sinh và phức hợp

Trang 23

Ví dụ:

Phái sinh: 顺着,随着, 沿着,乘着,趁着,为着, 本 着,

冲着,按着,照着,向着,朝着, 当着,除了,为了,通了,经 过,关于,由于,鉴于,基于。

Phức hợp: 自从,从打,自打,按照,依照,依据,根据,因

为,除去,除开,除掉,距离。

Loại II: Dựa trên chức năng của bản thân Gt

Gt nào mà có đủ bốn chức năng cơ bản thì đều có thể gọi là Gt điển hình; nếu chỉ có vài chức năng cơ bản thì có thể gọi là

Gt bình thường; nếu vừa có chức năng cơ bản, lại vừa có chức năng đặc biệt nào đó thì có thể gọi là Gt đặc biệt

Ví dụ:

GT điển hình: 自,沿,以,就,据,照,为,于,随;

GT bình thường: 拿,打,冲,除,连,管,赶,逢,论;

GT đặc biệt: 当,在,从,把,被,跟,将,朝,向;

Loại III: Phân loại dựa trên chức năng của đoản ngữ Gt

Theo khảo sát, trong tiếng Hán, đoản ngữ Gt có thể đảm nhiệm ba thành phần cú pháp và một thành phần khởi ngữ như: trạng ngữ, định ngữ, bổ ngữ và ngữ bổ nghĩa đứng đầu câu

Ví dụ:

Trang 24

- 从上海出发(xuất phát từ Thượng Hải / 把大门关上 (đóng cửa lại)/ 向雷锋学习 (noi theo gương Lôi Phong)/ 按要求

办事 (làm theo yêu cầu)/ 被困难吓倒 (bị khó khăn hạ gục)

- 对朋友的态度 (đối với thái độ của bạn bè)/ 沿街的店铺 (cửa hàng ven đường)/和老朋友的关系 (quan hệ với bạn bè cũ)

- 沿着这个方向, 你们继续向前搜索 (cứ đi theo hướng này, chúng ta có thể tiếp tục tiến lên tìm kiếm)/ 按设计要求, 我们又做了改进(theo yêu cầu của thiết kế, chúng ta lại phải cải tiến)/

照这个方子,你再去抓几服中药 (Theo cái đơn thuốc này, anh hãy bốc thêm vài thang thuốc bắc nữa )/对于这些问题,我已经考虑了很久 (Về vấn đề này tôi đã suy nghĩ rất lâu)

Tóm lại, nếu thừa nhận ngữ Gt có thể làm chủ ngữ và tân ngữ, phân loại tỉ mỉ hơn ta sẽ có 10 tiểu loại Gt như sau:

Chức năng Loại

Trạng ngữ Ngữ đầu câu Bổ ngữ Định ngữ Chủ ngữ Tân ngữ

Trang 25

9 Loại “为 对” + + - + - +

10 Loại “在” + + + + + +

4.1.5 Cấu tạo của đoản ngữ Gt

Đoản ngữ Gt là do Gt và tân ngữ Gt tạo thành Nhìn từ góc độ ngữ pháp, tân ngữ của Gt chỉ có thể ở hai cấp độ là từ và ngữ, thông thường nó không thể là một tiểu câu

Ví dụ:

向沙漠进军 ( hành quân vào sa mạc)

对于一般的人 (đối với người bình thường)/自从鸦片战争以来。(từ chiến tranh Nha phiến đến nay)

*关于我们几个打算参加暑假社会实践 (về mấy dự định của chúng ta tham gia đợt thực tế xã hội vào kì nghỉ hè)

Quan sát hai ví dụ dưới dây ta sẽ thấy sự khác nhau:

生长相当不到。

Hai tiểu câu trên đây không phải là tân ngữ Gt của “于”, tân ngữ của Gt “于” là “儿童的学习和成长” và “小麦的生长”, còn “极其有害” và “相当不利” là vị ngữ của “游戏机泛滥” và

“干热风”

Trang 26

Nhìn từ góc độ chức năng thì Gt có thể là thể từ tính, mà cũng có thể là vị từ tính; tân ngữ Gt của thể từ tính bao gồm ngữ chính phụ, ngữ liên hợp, ngữ đồng vị, ngữ số lượng, ngữ phương

vị, ngữ chữ “的” v.v…

Ví dụ:

- 为了最基本的要求… (Vì yêu cầu cơ bản nhất …)

- 小孩被他洋娃娃,布老虎吸引住了 (Đứa bé bị búp bê và cọp bông của anh ta thu hút)

- 从我们这些人做起 (Bắt đầu từ bọn tôi)

- 将那一筐先卖掉 (Bán cái giỏ đấy trước)

- 在高山的山顶上 (Tại đỉnh núi của ngọn núi cao)

- 被那不要脸的拿走了 (Bị cái đứa mặt dày đó lấy mất) Tân ngữ Gt của vị từ tính bao gồm: ngữ vị từ tính chính phụ, ngữ liên hợp, ngữ động bổ, ngữ động tân v.v…

Ví dụ:

- 因为极度疲劳 (Vì làm việc quá sức)

-为了学好英文而放弃休息 (Vì muốn học tốt tiếng Anh nên không hề nghỉ ngơi)

-对于解决问题,几乎没有兴趣 (Hầu như không có hứng thú với việc giải quyết vấn đề)

4.1.6 Chức năng cú pháp của giới ngữ

Trang 27

Giới ngữ là một ngữ gồm có “Gt đứng dầu câu +

những từ đi theo nó”, dùng để biểu thị một điều gì đó phụ

vào cho thành phần chính (là động từ vị ngữ) trong câu

Ví dụ:

Thời gian: 自去年年初起 (Từ đầu năm năm ngoái)

Nơi chốn:在书架上找书 (Tìm sách trên giá sách) Phương hướng:水往低处流,人往高处走 (Nước chảy về nơi thấp, con người đi về nơi cao.)

Phạm vi: 除老李都去 (Trừ ông Lí ra thì đều đi) Công cụ: 用砂锅炖鸡汤 (Dùng nồi đất hầm gà) Căn cứ: 按原计划执行 (Căn cứ theo kế hoạch mà chấp hành) Đối đãi: 对我们很礼貌 (Rất lịch sự với tôi)

Trang 28

Nguyên nhân:因迟到而受罚 (Vì đến trễ nên bị phạt) Mục đích:替他们多想想 (Lo nghĩ thay cho anh ta) Phối hợp : 和魔鬼打交道 (Giao thiệp với bọn quỉ quái) Xử lí :把炉子生起来 (Nổi lửa bếp lò lên)

Bị động: 被警察抓住了(Bị cảnh sát bắt rồi) Giới thiệu dẫn dắt: 归你的你拿走 (Thuộc về anh thì anh lấy đi)

Đi kèm: 随团前往朝鲜 (Theo đoàn đi về hướng Triều Tiên)

So sánh: 小李比小王强 (Tiểu Lí mạnh hơn tiểu Cường)

4.1.6.2 Ngữ bổ nghĩa đầu câu

Nhìn từ góc độ cú pháp, trạng ngữ thuộc về phạm trù cú pháp, còn ngữ bổ nghĩa đầu câu thuộc về phạm trù nằm ngoài kết cấu chính của câu, hay còn gọi là phạm trù khởi ngữ

Nhìn từ góc độ biểu đạt, trạng ngữ là thành phần cú pháp bổ nghĩa và hạn chế trung tâm ngữ; còn ngữø bổ nghĩa đầu câu là thành phần câu, bổ nghĩa và hạn chế thành phần câu của cả câu Trong tiếng Hán hiện đại có hai đoản ngữ Gt làm được ngữ bổ nghĩa đầu câu là “关于 X, 至于 X”

Ví dụ:

- 关于列车提速问题,局领导已经考虑过 (Về việc tăng tốc đoàn tàu, ban lãnh đạo đã nghĩ đến)

Trang 29

- 至于是否应聘,我还没有做出最后决定 (Về việc có tham gia dự tuyển hay không, tôi vẫn chưa có quyết định dứt khoát)

Ngoài những trường hợp trên, về mặt lí luận đại đa số đoản ngữ Gt đều có thể đảm đương cả hai thành phần, nhưng trong thực tế giao tiếp, mỗi một đoản ngữ Gt có thể thích hợp với vai trò trạng ngữ hay ngữ bổ nghĩa đầu câu thì còn phải phụ thuộc vào một loạt yếu tố và điều kiện, chủ yếu là về mặt : quan hệ ngữ nghĩa; kết cấu của câu; thành phần thêm vào phía trước; độ dài của âm tiết; nhu cầu biểu đạt

4.1.6.3 Làm bổ ngữ

Đoản ngữ Gt làm bổ ngữ có công thức: Động từ + Gt + cụm danh từ

Ví dụ:

躺在地上 (Nằm trên mặt đất)

来自中国 (Đến từ Trung Quốc)

飞向蓝天 (Bay lên trời xanh)

走向胜利 (Đi đến thắng lợi)

4.1.6.4 Làm chủ ngữ

Trong tiếng Hán hiện đại, có hai loại đoản ngữ Gt có thể làm chủ ngữ:

của loại câu này hoặc biểu thị một phạm trù về thời gian, hoặc

Trang 30

khái quát một sự vật trừu tượng; động từ của vị ngữ thường là từ diễn đạt trạng thái tĩnh “是” và “有”

Y” làm chủ ngữ “从 X 到 Y” Có thể chia làm hai loại: loại chính phụ và loại liên hợp (dưới dây sẽ gọi là loại A và loại B) Hai loại công thức này ít nhất tồn tại bốn phương diện khác biệt và đối lập

Trang 31

Sau “到 Y” trong loại A có thể xuất hiện động từ chỉ xu hướng, còn sau “到 Y” của loại B thì không thể

Ví dụ:

气勃勃,傲然挺立 (Mùa đông năm ngoái tôi từ Ứng Đắc đến huyện Liên, cây thông hai bên đường tươi tốt, tràn đầy sức sống, hiên ngang kiên cường)

据说从姚店 到花艳岭(* 去),是整整二十里呢 (Nghe nói từ Diêu Điếm đến Hoa Diễm Linh cách nhau đúng 20 km)

2) Cụ thể và trừu tượng

Xét tính chất, loại A là cụ thể, rõ ràng; còn loại B là trừu tượng, mơ hồ

“到” trong loại A tương đương với “到达” “前往”, “到” trong

B gần giống với “一至” “及至”

Ví dụ:

(Tôi cũng giống như Tào Huệ Anh, từ đội thanh niên đến đội Bát nhất, sau đó thì tham gia vào đội tuyển Quốc gia)

Trang 32

她发现从山脚到顶峰的铁栏杆上挂满了各式各样的锁 (Tôi phát hiện từ chân núi đến lan can sắt trên đỉnh núi treo đầy các loại khóa)

Về lôgic “XY” của loại A bắt buộc phải có chủ thể phát ra động tác rõ ràng, có thể xuất hiện hoặc không xuất hiện trong câu Còn “XY” trong B thì thường không có hoặc không rõ chủ thể phát ra động tác rõ ràng

Ví dụ:

[ ] 从北京到上海,两天以后又经杭州去了宁波 ([ ] Từ Bắc Kinh đến Thượng Hải, hai ngày sau lại đi qua Hàng Châu để đến Ninh Ba)

[?]从北京到上海,坐火车大约需要十五个小时 ([?] Từ Thượng Hải đến Bắc Kinh, đi bằng xe lửa mất khoảng 15 tiếng đồng hồ.)

3) Vị ngữ tính và thể từ tính

Xét từ chức năng, mặc dù cả hai đều có thể làm chủ ngữ, tân ngữ định ngữ, trạng ngữ; nhưng loại A là vị từ tính, còn loại B là thể từ tính Sự khác nhau là:

Loại A bao hàm nhóm từ chính phụ của một nhóm động tân, loại B bao hàm nhóm từ đẳng lập của hai Gt

Ví dụ:

Trang 33

他从后街到前街,从真理到野外的山坡上,旮旯 都找遍了,也没见踪影 (Nó tìm khắp từ đầu đường đến cuối đường, từ trong trong thị trấn đến khu vực ngoài núi, tìm khắp mọi nơi mà vẫn không thấy bóng dáng đâu)

从未庄到鲁镇是一滩浅浅的沼泽 (Từ thôn Vi đến trấn Lỗ là một vùng đầm lầy nông)

“到前街”trong câu trước là một cụm động tân, nó kết hợp với nhóm Gt“从后街”ở phía trước tạo thành cụm chính phụ, đảm nhiệm vị trí vị ngữ trong câu; còn“到鲁镇”trong câu sau là một nhóm Gt, nó kết hợp với nhóm Gt “从未庄”ở phía trước để tạo thành một nhóm từ đẳng lập, đảm nhiệm chức vụ vị ngữ trong câu

Loại A có thể đơn độc làm vị ngữ, cũng có thể đơn độc làm thành câu; còn loại B thì không thể

Ví dụ:

汉口 (Vào những ngày đầu của thế kỉ này, Lí Tứ Quang mới

14 tuổi, từ quê nhà Hoàng Cang Hồ Bắc đến Hán Khẩu) 炮兵阵地 [分布在] 从跑马场小营门附近的墙内外 (Trận địa pháo binh [bố trí tại] từ ngoài bức tường gần cửa doanh trại.)

Trang 34

“从 X 到 Y” ở ví dụ trước là một phân câu độc lập, còn “从 X

到 Y” ở ví dụ sau chỉ là chỉ là một thành phần cú pháp bám theo, nếu không có thành phần tường thuật trong [ ] thì không thể dùng một mình được

4) Động thái và tịnh thái

Nhìn từ góc độ biểu đạt, loại A có xu hướng biểu đạt hành vi động tác của động thái, còn loại B thì có xu hướng biểu đạt trạng thái tính chất của tịnh thái Biểu hiện cụ thể như sau: Loại A biểu thị hành vi chủ thể, loại B biểu thị trạng thái khách quan

Ví dụ:

察看这里煤铁矿藏 (Năm 1915 Tôn Trung Sơn từ Bắc Kinh đến Thái Nguyên, khi đi qua Dương Tuyền ông đã xuống xe vào thăm mỏ than, mỏ sắt)

泰山,都有它的足迹 (Từ phía nam cao nguyên Bá Mi Nhĩ và núi Côn Lôn, đến phía bắc bình địa Chuẩn Các Nhĩ và A Nhĩ Thái Sơn, đều có dấu chân nó)

Trong loại A, vị trí của chủ thể hành vi phải di chuyển, còn trong loại B, vị trí của đối tượng không di chuyển

Ví dụ:

Trang 35

从西头到东头,又从东头返回西头,找回的已不到三分之一 (Từ Tây sang Đông, lại từ Đông sang Tây, tìm được không đến một phần ba)

Tóm lại, trong thực tế tiếng Hán tồn tại hai loại “从

X 到 Y”, trong đó loại B là đoản ngữ Gt hình thức liên hợp làm chủ ngữ, còn loại A là một loại đoản ngữ Gt làm trạng ngữ

4.1.6.5 Làm tân ngữ

Trong tiếng Hán hiện đại, có một bộ phận đoản ngữ

Gt đứng sau động từ phán đoán “是”, hiện tượng này có thể cho rằng ngữ Gt làm tân ngữ

Ví dụ:

这样处理是按照我们一贯的原则 (Giải quyết thế này là tuân theo nguyến tắc chung của chúng ta.)

Trang 36

4.2 Liên từ 4.2.1 Tính chất và đặc điểm Lt

Theo “Hiện đại hán ngữ hư từ”, Lt trong tiếng Hán là hư từ có chức năng liên kết nhiều tầng cấp, nó vừa có thể liên kết từ với đoản ngữ, lại vừa có thể liên kết tiểu câu với câu, lại có thể liên kết câu với nhóm câu Hơn nữa, ngoài chức năng ngữ pháp liên kết ra,

Lt còn có chức năng ngữ nghĩa là bổ nghĩa Về mặt chức năng cú pháp, Lt có bốn đặc trưng lớn sau đây:

Đặc trưngI: Bám theo, bản thân Lt không thể dùng riêng một mình

để nói, cũng không thể dùng riêng lẻ nửa vế được liên kết

Ví dụ:

儿子和女儿 (con trai và con gái) — *和女儿 (và con gái)

或快或慢 (hoặc nhanh hoặc chậm) — *或慢 (hoặc chậm)

只有亲自去一趟,才能了解实际情况(chỉ có đích thân đi một chuyến, mới có

thể hiểu được thực tế tình hình)

— *只有亲自去一趟 (chỉ có đích thân đi một chuyến)

Đặc trưng II: Lt không thể nhận bổ nghĩa của các từ khác Cũng có

nghĩa là thành phần bổ nghĩa xuất hiện trước Lt không bổ nghĩa cho bản thân Lt, mà bổ nghĩa cho cả phần câu mà Lt dẫn dắt

Ví dụ:

- 正因为这一带饭店太多了,所以大家生意都不好 (Chính vì cả khu vực này quán ăn nhiều quá nên mọi người đều ế ẩm.)

Trang 37

Hoàn toàn không thể viết: 正因为这一带饭店太多了 rồi dừng lại

Đặc trưng III: Lt cùng loại không thể xuất hiện liền nhau trong

cùng một bậc

Nhưng Lt đơn âm tiết do chịu hạn chế của âm tiết nên chỉ có thể đứng sau chủ ngữ

Trang 38

Ta có thể căn cứ vào ba tiêu chuẩn sau đây để xác định

Lt, chỉ cần phù hợp với một trong ba tiêu chuẩn thì đó là Lt:

Tiêu chuẩn 1:

Nối kết hai hoặc từ hai trở lên kết cấu song song, nó đứng giữa hai kết cấu hoặc đứng giữa hai kết cấu song song cuối cùng trong kết cấu nhiều song song, kết cấu ngôn ngữ được liên kết có thể dùng đơn độc để nói

Ví dụ:

去或不去, 随你的便 (Đi hay không đi, tùy ý cậu)

老王, 老张和老李都是这个学校的老师 (Ông Vương, ông Trương và ông Lí đều là giáo viên trường này.)

Những thành phần “去或不去” , “老王,老张和老李” mà 或và

和 liên kết đều có thể dùng nói riêng được

Tiêu chuẩn 2:

Liên kết câu tiên phong, đứng trước hoặc sau chủ ngữ, hoặc đứng sau cả câu tiên phong, cả kết cấu ngôn ngữ liên kết không thể dùng đơn độc, có tác dụng dẫn dắt câu nối liền phía sau

Ví dụ:

Trang 39

不但我们想去(而且其他人也想去.)(Không những chúng tôi muốn đi (mà người khác cũng muốn đi))

Căn cứ vào vị trí của Lt, ta có thể chia Lt ra hai loại: Lt

đứng truớc và Lt đứng sau, ta cũng có thể chia làm hai loại là Lt định vị và Lt di động Nếu vị trí của Lt đứng trước thành phần bị

liên kết hoặc bộ phận bị liên kết thì đấy đều là Lt đứng trước; còn nếu Lt đứng sau thành phần bị liên kết, thì đấy đều là Lt đứng sau

Ví dụ:

Trang 40

Nếu như vị trí của Lt không thể thay đổi thì đấy là Lt định vị, còn nếu vị trí có thể thay đổi thì đấy là Lt di động Trong số Lt đứng trước thì có một bộ phận nhỏ là Lt định vị, những Lt này chỉ có thể đứng phía trước bộ phận bị liên kết (giữa chủ ngữ và vị ngữ); Còn Lt đứng sau về cơ bản đều là Lt định vị, những Lt này chỉ có thể đứng sau thành phần bị liên kết

Ví dụ:

大人尚且不行, 更何况小孩呢 (Người lớn còn không được, huống hồ chi con nít.)

— * 尚且 大人不行, 更何况小孩

你想去也罢,不想去也罢,总给人家一个回音 (Anh muốn đi cũng được, không muốn đi cũng được, nhưng phải báo cho mọi người biết một tiếng.)

—* 你想也罢去,不想也罢去, 总得给人家一个回音

Đa số Lt đứng trước đều là Lt di động, nó vừa có thể đứng trước thành phần bị liên kết, mà cũng có thể đứng trước bộ phận được liên kết

Ví dụ:

Ngày đăng: 22/08/2023, 02:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w