1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hồ chí minh với việc hoàn chỉnh phương pháp khởi nghĩa vũ trang trong quá trình tiến tới cách mạng tháng tám

147 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hồ Chí Minh Với Việc Hoàn Chỉnh Phương Pháp Khởi Nghĩa Vũ Trang Trong Quá Trình Tiến Tới Cách Mạng Tháng Tám
Tác giả Nguyễn Thị Phượng
Người hướng dẫn PGS.TS. Hà Minh Hồng
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã Hội Và Nhân Văn - Đại học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lịch Sử Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử
Năm xuất bản 2013
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 2,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Về khái niệm “Khởi nghĩa vũ trang” (12)
  • 1.2. Sơ lược những cuộc khởi nghĩa vũ trang trong lịch sử dân tộc Việt Nam (14)
  • 1.3. Chủ nghĩa Mác – Lênin bàn về khởi nghĩa vũ trang (19)
  • 1.4. Nguyễn Ái Quốc vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện Việt Nam hình thành con đường đấu tranh giải phóng dân tộc theo phương pháp vũ trang khởi nghĩa (26)
  • Chương 2. NGUYỄN ÁI QUỐC VỀ NƯỚC HOÀN CHỈNH CHỦ TRƯƠNG KHỞI NGHĨA VŨ TRANG GIÀNH CHÍNH QUYỀN……………………………………………………….………… 29 2.1. Phong trào cách mạng Việt Nam theo phương pháp khởi nghĩa vũ (12)
    • 2.2. Nguyễn Ái Quốc về nước hoàn chỉnh chủ trương khởi nghĩa vũ (58)
  • Chương 3. HỒ CHÍ MINH VỚI QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN PHƯƠNG PHÁP KHỞI NGHĨA VŨ TRANG GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1941 – 8/1945) (33)
  • KẾT LUẬN (116)
  • PHỤ LỤC (130)

Nội dung

Về khái niệm “Khởi nghĩa vũ trang”

Khởi nghĩa là hoạt động nổi dậy có tổ chức của quần chúng bị áp bức nhằm lật đổ chế độ thống trị của giai cấp trong nước hoặc sự đô hộ của nước ngoài, nhằm giành chính quyền địa phương hoặc toàn quốc Lực lượng chính quyết định thắng lợi của khởi nghĩa là lực lượng chính trị của quần chúng phối hợp cùng lực lượng vũ trang, và việc sử dụng vũ lực tùy thuộc vào phản kháng của giai cấp trị vì Nghệ thuật chỉ đạo khởi nghĩa đòi hỏi phải nắm bắt thời cơ, tiến công kiên quyết và liên tục để đảm bảo thắng lợi Khởi nghĩa vũ trang là cuộc nổi dậy chủ yếu bằng bạo lực vũ trang, xảy ra khi các thế lực phản động sử dụng bạo lực đàn áp quần chúng khởi nghĩa Ví dụ tiêu biểu là Cách mạng tháng Mười Nga (1917) lật đổ chính phủ tư sản và thiết lập chính quyền Xô Viết toàn Nga; hoặc Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam, cuộc khởi nghĩa toàn dân dựa vào sức mạnh chính trị của quần chúng kết hợp lực lượng vũ trang nhân dân, lật đổ ách thống trị của thực dân và phong kiến, giành độc lập và thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Khởi nghĩa vũ trang là sự nổi dậy của đông đảo quần chúng bị áp bức nhằm giành chính quyền bằng con đường bạo lực khi thời cơ và điều kiện phù hợp xuất hiện Thời cơ khởi nghĩa đề cập đến tình thế thuận lợi để cuộc khởi nghĩa nổ ra, trong khi điều kiện khởi nghĩa liên quan đến các yếu tố cần thiết để cuộc khởi nghĩa thành công Hiểu rõ khái niệm này giúp nhận diện rõ hơn về quá trình và nguyên nhân của các cuộc khởi nghĩa vũ trang trong lịch sử.

Thời cơ là tình thế xuất hiện trong thời điểm nhất định có lợi cho việc phát huy sức mạnh thắng lợi trong khởi nghĩa, chiến tranh và tác chiến Nó có thể do năng động chủ quan tạo ra hoặc do sai lầm của đối phương và điều kiện khách quan đem lại Thời cơ thường xuất hiện rất nhanh, đột ngột và cũng qua đi rất nhanh, bao gồm các loại như thời cơ chiến lược, chiến dịch và chiến thuật Việc tạo, kịp thời nắm bắt và hành động đúng thời cơ đóng vai trò quan trọng trong việc giành thắng lợi chiến lược và chiến thuật.

Thời cơ trong khởi nghĩa thể hiện là yếu tố quyết định thành công, khi các điều kiện khách quan và chủ quan đã chính muồi và kết hợp chặt chẽ Đảm bảo thời cơ đúng lúc giúp khởi nghĩa giành thắng lợi, trong khi khởi nghĩa non hoặc chậm trễ đều dễ dẫn đến thất bại Ví dụ điển hình là Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 của nhân dân Việt Nam, khi phát xít Nhật và tay sai suy yếu, quần chúng, công nhân và tầng lớp trung gian đã ủng hộ cách mạng, và Đảng Cộng sản Đông Dương trở thành đội tiên phong uy tín, nhanh chóng ra lệnh tổng khởi nghĩa toàn quốc vào ngày 13/8/1945.

Điều kiện khởi nghĩa được hiểu là những yếu tố cần thiết để cuộc khởi nghĩa có thể thắng lợi, theo Lênin, phải gồm ba yếu tố chính: có giai cấp tiên phong lãnh đạo, cao trào cách mạng của nhân dân, và bước ngoặt trong lịch sử của cuộc cách mạng đang lên với khí thế của quần chúng cao, đối phương và lực lượng trung gian hoang mang dao động Trong quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam, để khởi nghĩa thành công, cần đạt các điều kiện gồm lực lượng đế quốc thống trị lung lay, cao trào cách mạng trong quần chúng diễn ra rộng lớn, và có chính đảng cách mạng cùng đường lối khởi nghĩa đúng đắn.

Quá trình khởi nghĩa bắt đầu từ các cuộc khởi nghĩa từng phần tại địa phương, nhằm giành chính quyền ở cấp cơ sở, rồi mở rộng thành tổng khởi nghĩa toàn quốc Khởi nghĩa từng phần diễn ra ở từng vùng, từng địa phương, là bước chuẩn bị quan trọng cho cuộc tổng khởi nghĩa lớn hơn Thời gian diễn ra của các cuộc khởi nghĩa này phụ thuộc vào tình hình thực tế và cơ hội chính trị xuất hiện Tổng khởi nghĩa được hiểu là cuộc khởi nghĩa diễn ra trên phạm vi toàn quốc trong thời gian ngắn, theo kế hoạch chặt chẽ và chỉ đạo tập trung nhằm giành chính quyền trên toàn quốc Ở Việt Nam, tháng 8/1945 diễn ra cuộc Tổng khởi nghĩa thành công sau nhiều cuộc khởi nghĩa từng phần, tạo điều kiện thuận lợi cho thắng lợi chung của phong trào cách mạng.

Sơ lược những cuộc khởi nghĩa vũ trang trong lịch sử dân tộc Việt Nam

Khởi nghĩa vũ trang là một khái niệm quen thuộc trong lịch sử Việt Nam, thể hiện truyền thống đấu tranh giữ độc lập của dân tộc hàng nghìn năm qua Trong các cuộc chống ngoại xâm, kẻ thù thường là những quốc gia lớn với quân đội mạnh, vũ khí tối tân và phương tiện chiến tranh hiện đại Lịch sử chiến tranh bảo vệ đất nước của Việt Nam ghi nhận nhiều phong trào khởi nghĩa vũ trang nhằm chống lại sự xâm lược của các thế lực ngoại bang mạnh mẽ.

Năm 218 trước Công nguyên, quân đội Tần Thủy Hoàng đã tiến đánh nước Văn Lang, nhưng bị quân dân ta anh dũng chống lại bằng chiến thuật du kích, đánh dấu lần đầu tiên sử dụng phương pháp này trong lịch sử Việt Nam Sau 10 năm kiên trì chiến đấu, nhân dân ta đã đẩy lui quân xâm lược của Tần, lập ra nước Âu Lạc dưới sự lãnh đạo của Thục Phán An Dương Vương vào năm 208 TCN Tuy nhiên, năm 179 TCN, Triệu Đà của Nam Việt tiến quân xâm lược, đưa đất nước trở lại trong vòng kiểm soát của phong kiến phương Bắc.

Năm 40, dưới sự lãnh đạo của Hai Bà Trưng, dân tộc ta đã nổi dậy giành lại 65 thành trì, lật đổ ách thống trị của giặc phương Bắc và khôi phục nền tự chủ trong vòng 3 năm Tuy nhiên, sau đó, nhà Hán đã đặt ách nô dịch trở lại đất nước ta Tiếp theo là các cuộc khởi nghĩa của Chu Đạt nhằm chống lại ách đô hộ của nhà Hán, thể hiện tinh thần bất khuất và ý chí giành độc lập của dân tộc ta qua các thời kỳ.

Cuộc nổi dậy của nhân dân ta năm 218 dưới sự lãnh đạo của Bà Triệu là một chiến thắng anh dũng, thể hiện khí phách dân tộc Tiếp theo, năm 541, Lý Bôn đã nổi dậy lật đổ ách thống trị của nhà Lương, khôi phục chủ quyền dân tộc và thành lập nước Vạn Xuân Tuy nhiên, đến năm 602, nước Vạn Xuân bị Nhà Tùy thôn tính, chấm dứt quá trình tồn tại độc lập của vương quốc này.

Nhà Đường thay thế nhà Tùy đô hộ nước ta không lâu sau đó, với chính sách cai trị hà khắc khiến các sản vật của đất nước bị vơ vét để phục vụ cho nhu cầu xa xỉ của giai cấp phong kiến Trung Quốc Năm 722, Mai Thúc Loan đứng lên liên minh với các nước Lâm Ấp và Chân Lạp nhằm chống lại sự đô hộ của nhà Đường Tuy nhiên, liên minh này đã bị quân nhà Đường tăng viện đánh bại.

Năm 776, Phùng Hưng và Phùng Hải phát động khởi nghĩa tại Đường Lâm (Hà Tây), chiếm lĩnh thành Tống Bình và được nhân dân hưởng ứng, tạo nền móng cho phong trào đấu tranh giành độc lập của địa phương Tuy nhiên, đến năm 791, nhà Đường tiến quân sang đàn áp nghĩa quân, gây ra thất bại và mất tự do Đến đầu thế kỷ X, khi chính quyền đô hộ suy yếu, Khúc Thừa Dụ lãnh đạo nhân dân nổi dậy, chiếm lại thành Tống Bình và quét sạch quân Đường, đặt nền móng cho nền tự chủ của đất nước vào năm 905 Các cuộc khởi nghĩa do Khúc Thừa Dụ và các nhân vật như Dương Đình Nghệ tạo nền móng cho sự nghiệp độc lập, trong đó chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền năm 938 là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử chống ngoại xâm và xây dựng nền độc lập của nước ta.

938, mở đầu thời kỳ độc lập lâu dài của dân tộc sau hơn 1000 năm dưới ách đô hộ của phong kiến phương Bắc

Trong các thế kỷ từ 938 đến 1407, dân tộc ta liên tục đối đầu với các cuộc xâm lược của phong kiến phương Bắc nhưng đều chiến thắng, giữ vững nền độc lập và đạt được nhiều thành tựu phát triển rực rỡ Năm 1407, nhà Minh của Trung Quốc tiến hành xâm lược Việt Nam, gây ra thất bại cho nhà Hồ nhưng nhân dân ta liên tục khởi nghĩa, tiêu biểu là Trần Ngỗi, Trần Quý Khoáng và khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã dẫn dắt đất nước qua 10 năm chiến đấu gian khổ, tiêu diệt quân Minh ở Chi Lăng – Xương Giang, kết thúc 20 năm thống trị của nhà Minh vào năm 1427 Đến thế kỷ XIX, dân tộc Việt Nam lại đối mặt với chủ nghĩa thực dân phương Tây, đặc biệt là Pháp, bắt đầu bằng cuộc xâm lược năm 1858 và sự đầu hàng của triều đình nhà Nguyễn năm 1883, trong khi nhân dân luôn anh dũng đứng lên chống lại quân xâm lược ngay từ khi chúng đặt chân vào đất nước.

Năm 1859, thực dân Pháp chiếm thành Gia Định, dẫn đến cuộc kháng chiến của nghĩa quân do Trương Định tổ chức tại Gò Công và Tân An Trương Định được triều đình Huế giao chức Lãnh binh để chỉ huy phong trào kháng Pháp Năm 1862, khi triều đình ra lệnh giải binh để đàm phán với Pháp, ông vẫn kiên quyết kháng chiến đến cùng và được nhân dân suy tôn là Bình Tây Đại nguyên soái Ngày 20/8/1864, Trương Định bị thương nặng trong chiến đấu rồi tự sát bằng cách rút gươm Con trai ông, Trương Quyền, tiếp tục chiến đấu và duy trì phong trào kháng chiến đến năm 1867.

Cùng với khởi nghĩa Trương Định, năm 1861, Nguyễn Trung Trực (tức Nguyễn Văn Lịch) cũng nổi dậy ở Tân An, chỉ huy nghĩa quân đốt cháy tàu Hy

Vào tháng 12 năm 1861, giặc Pháp mở chiến dịch vọng (hy vọng) trên sông Vàm Cỏ Đông, nhằm mở rộng xâm lược Nam Bộ Tuy nhiên, lòng kiên trì chống giặc của chính quyền và nhân dân đã giúp duy trì căn cứ vững chắc tại các vùng Rạch Giá, Hà Tiên và đảo Phú Quốc Những cuộc kháng chiến này khiến giặc Pháp phải đối mặt với nhiều nỗi kinh hoàng, thể hiện tinh thần đấu tranh kiên cường của quân và dân địa phương trong cuộc kháng chiến chống xâm lược.

Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần

Trong khoảng 30 năm cuối thế kỷ XIX, nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra mặc dù thất bại, nhưng lòng yêu nước và ý chí đấu tranh giành độc lập dân tộc của quân dân Việt Nam vẫn luôn cháy bỏng và chưa bao giờ tắt Các cuộc khởi nghĩa này khơi dậy tinh thần đoàn kết và niềm hy vọng về độc lập, đặc biệt khi ngọn cờ Cần Vương của vua Hàm Nghi phất cao tại Tân Sở, Quảng Trị Những cuộc khởi nghĩa tiêu biểu diễn ra ở khắp nơi, thể hiện ý chí quyết tâm đánh đuổi thực dân, giữ vững nền độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam trong giai đoạn này.

Khởi nghĩa Ba Đình (1886 – 1887) do Đinh Công Tráng cùng một số nhân vật yêu nước như Phạm Bành, Nguyễn Khế, Hà Văn Mao, Cầm Bá Thước lãnh đạo Chính nghĩa này đã lập chiến khu ở Ba Đình (Nga Sơn, Thanh Hóa) để chống lại quân xâm lược, gây thiệt hại đáng kể cho chúng.

Khởi nghĩa Bãi Sậy (1885 – 1889) do Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo, nổi bật với phong cách chiến tranh du kích và biến hóa linh hoạt, dựa vào tự nhiên để chống Pháp Nghĩa quân Bãi Sậy đã dựng căn cứ kháng chiến tại khu vực Bãi Sậy thuộc hai huyện Văn Giang và Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên cũ Nhờ chiến thuật phân tán và linh hoạt, khởi nghĩa Bãi Sậy đã gây nhiều tổn thất đáng kể cho quân Pháp, góp phần quan trọng vào phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc Việt Nam.

Khởi nghĩa Hùng Lĩnh (1886 – 1892) do Tống Duy Tân và Cao Điền lãnh đạo, là cuộc khởi nghĩa nổi bật tại Thanh Hóa nhằm chống lại thực dân Pháp Cuộc khởi nghĩa diễn ra song song với các phong trào khởi nghĩa như Phạm Bành và Đinh Công Tráng Sau thất bại của nghĩa quân Ba Đình, Tống Duy Tân tạm thời phân tán lực lượng và lánh sang Trung Quốc để tránh bị truy đuổi Khởi nghĩa Hùng Lĩnh thể hiện tinh thần yêu nước và ý chí đánh đuổi thực dân của nhân dân Thanh Hóa cuối thế kỷ XIX.

Năm 1888, ông trở về Thanh Hóa, tái tổ chức nghĩa quân, xây dựng cứ điểm và chiến đấu chống thực dân trong suốt sáu năm liên tiếp Trong quá trình kháng chiến, ông đã lập nhiều chiến công vang dội, góp phần vào phong trào chống giặc cứu nước Đến năm 1892, cuộc khởi nghĩa của ông bị thực dân đàn áp d brutal, Tống Duy Tân bị bắt và dũng cảm hy sinh để gìn giữ độc lập, tự do cho quê hương.

Vào năm 1885, nhân dân Gia Định do Phan Văn Hớn lãnh đạo đã quyết định khởi nghĩa chống thực dân Pháp Ngày 25 tháng chạp năm Giáp Thân (8-9/2/1885), hàng nghìn nghĩa quân tấn công dinh huyện Bình Long theo ba hướng, nhưng nhanh chóng bị thất bại Phan Văn Hớn bị hành hình tại Hóc Môn vào rạng sáng ngày 30/3/1886 cùng với các đồng chí của ông, marking dấu chấm hết cho phong trào khởi nghĩa này.

Chủ nghĩa Mác – Lênin bàn về khởi nghĩa vũ trang

Chủ nghĩa Mác – Lênin là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, có nhiệm vụ truyền đạt lý luận về vai trò và sứ mệnh của giai cấp công nhân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội chủ nghĩa Hệ tư tưởng này không chỉ tập trung vào các vấn đề lý luận về con đường cách mạng và phương thức đấu tranh đúng đắn, mà còn hướng tới mục tiêu thúc đẩy phát triển lực lượng cách mạng và nâng cao nhận thức của nhân dân lao động bị áp bức Chủ nghĩa Mác – Lênin đóng vai trò cốt lõi trong việc hình thành chiến lược cách mạng của đảng cộng sản, góp phần dẫn dắt phong trào giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội công bằng, dân chủ.

Trong lịch sử, việc "vũ trang cho công nhân" được xem là cách để họ có được những "vũ khí" cần thiết thực hiện sứ mệnh cách mạng Từ những năm 1880, các tư tưởng của Marx – Engels đã nhấn mạnh về vai trò của khởi nghĩa vũ trang như một phương pháp đấu tranh quyết định Trong tác phẩm "Cách mạng và phản cách mạng ở Đức," Engels đã viết về khởi nghĩa vũ trang như là một phương pháp không thể thiếu trong cuộc cách mạng, nhấn mạnh rằng vũ trang là công cụ để các tầng lớp công nhân và nhân dân giành độc lập và tiến tới xã hội mới.

Khởi nghĩa là một nghệ thuật, đòi hỏi phải tuân thủ các quy tắc nhất định để đảm bảo thành công Những đảng nào quên mất quy tắc này sẽ dễ dàng thất bại hoặc bị tiêu vong Các quy tắc này được suy ra một cách lô-gích dựa trên bản chất của đảng và những điều kiện cần xem xét trong quá trình khởi nghĩa.

Ngăn ngừa những hiểu lầm về tính chất của khởi nghĩa, Ănghen nhấn mạnh rằng khởi nghĩa vũ trang không phải là một hành động cảm tính nhất thời, mà cần có sự tính toán kỹ lưỡng, đánh giá tất cả các khả năng và biến cố có thể xảy ra Theo đó, không bao giờ được coi nhẹ khởi nghĩa nếu không có quyết tâm tiến hành đến cùng, bởi vì đây là một bài toán với nhiều đại lượng bất định, trong đó giá trị có thể thay đổi hàng ngày Các lực lượng đối phương thường có lợi thế về tổ chức, kỷ luật và quyền uy lâu dài, do đó, nếu những người khởi nghĩa không có lực lượng mạnh hơn hẳn đối phương, khả năng thắng lợi sẽ rất thấp và dễ bị tiêu diệt.

Trong chiến lược khởi nghĩa, việc nắm bắt thời cơ và hành động quyết đoán là yếu tố quyết định thành bại, như câu nói "dũng cảm, dũng cảm, dũng cảm nữa" của Đăng-tông đã nhấn mạnh tầm quan trọng của sự dũng cảm Ănghen nhấn mạnh rằng lực lượng chủ yếu trong khởi nghĩa vũ trang là công nhân, phối hợp cùng nông dân, tầng lớp tiểu tư sản và binh lính, với công nhân đứng vị trí tiền phong để dẫn dắt phong trào Tuy nhiên, ông cảnh báo về tính bất ổn của lực lượng tiểu tư sản, khi đa số thanh niên các giai cấp thường tham gia ban đầu rồi mất dần sau những khủng hoảng, làm cho tinh thần lực lượng cách mạng dễ bị dao động Đặc biệt, ông nhấn mạnh vai trò của sức mạnh tinh thần, cho rằng dù lực lượng cách mạng có thể gặp cảnh hoảng loạn, nhưng họ vẫn tự hào và tin tưởng rằng với sức mạnh vô địch, quân khởi nghĩa có thể đánh bại lực lượng đối phương vượt trội về quân số, như Napoléon đã từng bị kính trọng ngay cả khi đối mặt với đội quân đông đảo hơn.

Lênin hoàn chỉnh các vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mác trong bối cảnh thế giới mới, khi chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc, đồng thời nhấn mạnh vai trò của khởi nghĩa vũ trang như một phương thức đấu tranh phù hợp hơn trong hoàn cảnh mới, khi mà giai cấp thống trị ít bị tác động bởi các cuộc bãi công hay biểu tình đơn thuần Ông bảo vệ quan điểm của Mác rằng “khởi nghĩa là một nghệ thuật,” và nhấn mạnh rằng nguyên tắc chủ đạo của nghệ thuật đó là tấn công dũng cảm, kiên quyết, không lay chuyển được trước các thế lực phản cách mạng và các lực lượng chủ hòa, ngay cả khi thời cơ đã chín muồi và điều kiện khách quan, chủ quan đều thuận lợi cho khởi nghĩa.

Lênin nhấn mạnh rằng để đạt được thắng lợi trong khởi nghĩa, không thể dựa vào một cuộc âm mưu hay chính đảng đơn lẻ, mà phải dựa vào giai cấp tiên phong của cách mạng Khởi nghĩa cần dựa trên cao trào cách mạng của nhân dân, phản ánh sức mạnh dân tộc và sự đoàn kết của quần chúng Ngoài ra, khởi nghĩa phải nắm bắt bước ngoặt lịch sử của cuộc cách mạng đang lên, khi mà lực lượng tiến bộ trong nhân dân đạt đến đỉnh cao và các yếu tố bất ổn trong hàng ngũ địch cũng như những người mềm yếu, thiếu quyết đoán ngày càng mạnh lên, tạo điều kiện thuận lợi cho thắng lợi của cách mạng.

Lênin nhấn mạnh rằng lực lượng lãnh đạo cuộc khởi nghĩa phải là chính đảng của giai cấp công nhân, giữ vai trò chủ đạo trong việc đề ra kế hoạch, chuẩn bị và lãnh đạo phong trào Đảng cần linh hoạt, không cứng nhắc giáo điều mà thích nghi với tình hình thực tế để không bỏ lỡ thời cơ, sử dụng mọi phương pháp đấu tranh phù hợp với điều kiện hiện có để đạt kết quả tối đa Khi đảng mạnh và có tổ chức, một cuộc bãi công nhỏ có thể biến thành cuộc biểu tình chính trị thắng lợi, và một phong trào khởi nghĩa địa phương có thể phát triển thành chiến thắng cách mạng lớn.

Giai cấp vô sản là giai cấp tiên tiến nhất và cách mạng triệt để nhất, đảm nhận sứ mệnh lãnh đạo phong trào cách mạng dân chủ Họ nhất định sẽ kiên quyết tham gia khởi nghĩa, và sự tham gia này quyết định vận mệnh của cuộc cách mạng Tuy nhiên, để giữ vai trò lãnh đạo, giai cấp vô sản cần phải tập hợp thành một lực lượng chính trị duy nhất và độc lập dưới ngọn cờ của Đảng công nhân xã hội dân chủ.

Đảng của giai cấp vô sản Nga không chỉ lãnh đạo về mặt tư tưởng mà còn về mặt thực tiễn trong cuộc cách mạng, theo Nghị quyết về khởi nghĩa vũ trang của Đại hội thứ 3 của Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga năm 1905 Trong quá trình chuẩn bị khởi nghĩa, nội bộ phải được hoàn thiện, loại bỏ những kẻ phản đối hoặc không ủng hộ khởi nghĩa vũ trang để đảm bảo sức mạnh và sự đoàn kết của phong trào cách mạng Quần chúng cần nhận thức rõ rằng cuộc đấu tranh vũ trang sẽ đẫm máu, một mất một còn, yêu cầu tinh thần tấn công kiên quyết của lực lượng cách mạng Tổ chức đấu tranh linh hoạt, thu hút sự tham gia của các phần tử dao động trong quân đội, nhằm biến chuyển tích cực trong lực lượng vũ trang Đảng của giai cấp vô sản phải tập hợp ngày càng đông vô sản, nông dân và quân đội, đồng thời nhấn mạnh rằng sự chuyển biến của quân đội không phải là kết quả tự nhiên, mà là thành quả của công tác binh vận, trong đó đấu tranh giành lấy quân đội là một phần không thể tránh khỏi của phong trào cách mạng mãnh liệt.

Chuẩn bị khởi nghĩa là yếu tố then chốt, không chỉ đơn thuần về trang bị vũ khí mà còn bao gồm tích lũy kinh nghiệm qua các hành động thực tập vũ trang nhỏ lẻ như tập kích cảnh sát, giải thoát tù nhân hoặc tấn công các cơ quan chính phủ trong các cuộc tụ họp công khai của nhân dân Lênin nhấn mạnh rằng chiến thuật trong khởi nghĩa vũ trang dựa trên trình độ kỹ thuật quân sự hiện tại, khi kỹ thuật mới đã thay thế phương pháp cũ, đòi hỏi sự linh hoạt và sáng tạo trong chiến đấu Ông phân tích rõ về chiến tranh du kích và dùng lũy trong thành phố như những chiến thuật quân sự mới phù hợp với thời kỳ, khẳng định rằng lấy số đông để đối đầu với vũ khí hiện đại là chiến lược ngu ngốc.

Khi lực lượng cách mạng vô sản đã đủ mạnh và các điều kiện khách quan đã chín muồi, cần biết nắm bắt thời cơ để khởi nghĩa vũ trang Mỗi bước tiến của cách mạng đều tạo ra sức mạnh phản cách mạng ngày càng lớn, buộc đối phương phải sử dụng các biện pháp tự vệ ngày càng cứng rắn, từ đó khiến phong trào cách mạng càng trở nên mãnh liệt hơn Người công nhân hàng ngày sống trong cuộc đấu tranh nhận thức rõ sự thay đổi các điều kiện khách quan, chuyển từ đấu tranh công khai sang khởi nghĩa là điều tất yếu; “sự thay đổi này đã được giai cấp vô sản cảm nhận sớm hơn các nhà lãnh đạo” Vì vậy, công tác lãnh đạo phong trào cần quan sát kỹ lưỡng, xác định thời điểm phù hợp để phát động khởi nghĩa dựa trên những dấu hiệu của phong trào lên cao và lực lượng đối địch Theo Lenin, việc quyết định khởi nghĩa phải hành động quyết liệt, không chỉ dừng lại ở lời nói, mà phải huy động toàn bộ lực lượng của đảng vào trong các nhà máy và trại lính để tiến hành cuộc cách mạng thực sự.

Sau khi vấn đề được đặt ra, tất cả hoạt động của đảng đoàn đều tập trung tại các nhà máy và trại lính, giúp chúng ta xác định chính xác thời điểm phù hợp để phát động khởi nghĩa, từ đó nâng cao hiệu quả đấu tranh cách mạng.

Về việc xây dựng chính quyền sau khởi nghĩa vũ trang Lênin từng đề cập:

Bãi công và khởi nghĩa vũ trang đều đặt ra vấn đề chính quyền cách mạng và chuyên chính, vì các hình thức đấu tranh này đều dẫn đến việc lật đổ chính quyền cũ và giành chính quyền của giai cấp vô sản cùng các lực lượng cách mạng Chính quyền mới, gọi là chính quyền “chuyên chính của nhân dân cách mạng,” là cần thiết để thực hiện các mục tiêu cách mạng, bao gồm trục xuất địa chủ và chiếm các nhà máy, nhằm xây dựng một xã hội công bằng và tiến bộ.

Lênin đã xây dựng lý luận về khởi nghĩa vũ trang dựa trên tư tưởng ban đầu của Mác – Ănghen và bài học thực tiễn từ cách mạng Nga Ông phát triển những nguyên tắc này khi áp dụng vào cuộc Cách mạng tháng Mười năm 1917, xác định vai trò quyết định của lực lượng vũ trang trong sự nghiệp cách mạng Lý luận của Lênin nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang toàn diện, phù hợp với điều kiện lịch sử và điều kiện cụ thể của cách mạng Nga.

NGUYỄN ÁI QUỐC VỀ NƯỚC HOÀN CHỈNH CHỦ TRƯƠNG KHỞI NGHĨA VŨ TRANG GIÀNH CHÍNH QUYỀN……………………………………………………….………… 29 2.1 Phong trào cách mạng Việt Nam theo phương pháp khởi nghĩa vũ

HỒ CHÍ MINH VỚI QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN PHƯƠNG PHÁP KHỞI NGHĨA VŨ TRANG GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1941 – 8/1945)

NGHĨA VŨ TRANG GIÀNH CHÍNH QUYỀN

2.1 Phong trào cách mạng Việt Nam theo phương pháp khởi nghĩa vũ trang trước khi Nguyễn Ái Quốc về nước (1930 – 1940)

2.1.1 Lu ận cương của Đảng cộng sản Việt Nam (1930) với con đường đấu tranh bạo lực gi ành chính quy ền

Từ ngày 14 đến 31/10/1930, Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Đảng Cộng sản Việt Nam họp Hội nghị lần thứ nhất tại Hương Cảng, Trung Quốc Hội nghị đã quyết định đổi tên Đảng thành Đảng Cộng sản Đông Dương và thông qua bản “Luận cương chính trị” do đồng chí Trần Phú khởi thảo, tạo nền tảng cho sự phát triển của phong trào cách mạng Việt Nam.

Luận cương chính trị (10 – 1930) của Đảng (thường được gọi là Luận cương cách mạng tư sản dân quyền) gồm ba phần:

1 Tình hình thế giới và cách mạng Đông Dương

2 Những đặc điểm về tình hình ở Đông Dương

3 Tính chất và nhiệm vụ cách mạng Đông Dương

Dựa trên phân tích khoa học tình hình thế giới và trong nước cùng đặc điểm xã hội và mâu thuẫn giai cấp ở Đông Dương, Luận cương chính trị xác định rằng cuộc cách mạng ở Đông Dương là cách mạng tư sản dân quyền do giai cấp công nhân lãnh đạo, là giai đoạn dự bị để tiến tới xã hội cách mạng, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa và tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội Nhiệm vụ trọng tâm của cách mạng Đông Dương trong giai đoạn đầu là đánh đổ thực dân Pháp để giành độc lập dân tộc và tiêu diệt chế độ phong kiến nhằm chia lại ruộng đất cho nông dân Hai nhiệm vụ này có mối liên hệ chặt chẽ, không thể tách rời, vì “có đánh đổ đế quốc chủ nghĩa mới phá được giai cấp địa chủ và đưa cách mạng thổ địa thắng lợi; đồng thời, phá tan chế độ phong kiến mới mở đường đánh đổ đế quốc chủ nghĩa”.

Giai cấp vô sản là lực lượng cách mạng chính vừa là động lực vừa là người lãnh đạo nhân dân lao động đấu tranh Dân cày là một động lực quan trọng trong phong trào cách mạng, trong khi các tầng lớp lao động thành phố như người bán rao, thủ công nghiệp nhỏ đều tham gia phong trào do đời sống cực khổ Đảng kiên quyết phản đối các đảng phái quốc gia cải lương, vạch trần tính chất nguy hiểm, lừa gạt và phá hoại phong trào cách mạng công nông của họ Trong khi đó, đối với các đảng phái tiểu tư sản, Đảng có thể tạm thời hợp tác dưới điều kiện họ thực sự chống đế quốc và không cản trở công tác tuyên truyền của Đảng trong phong trào công nông.

Luận cương nhấn mạnh tầm quan trọng của phương pháp cách mạng trong mọi hoàn cảnh, bao gồm cả trong thời kỳ bình thường và khi đối mặt với tình thế trực tiếp cách mạng Khi có tình thế trực tiếp cách mạng, Đảng phải lãnh đạo quần chúng khởi nghĩa vũ trang để giành chính quyền Đồng thời, việc sử dụng võ trang bạo động không phải là điều bình thường, mà cần tuân thủ nguyên tắc và khuôn phép của nhà binh để đảm bảo hiệu quả và an toàn cho phong trào cách mạng.

Trong giai đoạn thời cơ khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, Luận cương nhấn mạnh rằng khi sức cách mạng mạnh mẽ, các giai cấp thống trị bắt đầu rung động, còn các giai cấp trung lập ngày càng thiên về phía cách mạng; quần chúng công nông sôi nổi quyết tâm hy sinh để đấu tranh, đòi hỏi Đảng phải lập tức lãnh đạo để lật đổ chính phủ địch và giành lại chính quyền cho quần chúng Đồng thời, Luận cương cảnh báo nguy cơ chiến tranh đế quốc ngày càng cấp bách, yêu cầu nâng cao nhận thức về chống chiến tranh bằng các khẩu hiệu như “Đổi chiến tranh đế quốc thành chiến tranh cách mạng” và “Phản đối binh bị”, cùng với đó là tăng cường công tác vận động binh lính địch và tổ chức đội tự vệ của công nông để chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang Các tổ chức phụ thuộc của Đảng được tổ chức nhằm bảo vệ hoạt động của Đảng và chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa./

Đội tự vệ được thành lập nhằm tập hợp các lực lượng công nhân hoặc nông dân thành các đơn vị vũ trang để bảo vệ quyền lợi chính trị và kinh tế của họ Các nhiệm vụ chính bao gồm chống lại các thủ đoạn cướp đoạt, đàn áp của địch, và bảo vệ các cuộc đấu tranh chính trị, kinh tế của công nhân và nông dân Ngoài ra, đội tự vệ còn là lực lượng chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang và tham gia đấu tranh để thực hiện các khẩu hiệu của phong trào công nhân và nông dân, góp phần xây dựng phong trào cách mạng trong giai đoạn đấu tranh.

2.1.2 Đấu tranh bạo l ực trong cao tr ào cách m ạng 1930 – 1931

Ngay khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (tháng 2/1930), một cao trào cách mạng trong cả nước đã bùng nổ

Cuộc bãi công của 3.000 công nhân đồn điền Phú Riềng vào tháng 2 năm 1930 đã mở đầu cho phong trào cách mạng của quần chúng tại Việt Nam Tiếp đó, phong trào lan rộng với cuộc đấu tranh của 4.000 công nhân nhà máy sợi Nam Định vào tháng 3 năm 1930, cũng như các cuộc đình công của 400 công nhân nhà máy diêm và nhà máy cưa Bến Thuỷ vào tháng 4 năm 1930 Những cuộc bãi công này đánh dấu bước phát triển quan trọng trong phong trào đấu tranh của công nhân nhằm đòi quyền lợi và thúc đẩy sự thay đổi xã hội.

Ngày Quốc tế Lao động 1/5/1930 đã khai mạc một cao trào cách mạng mạnh mẽ trên toàn quốc, phát triển dựa trên phong trào của công nhân và nông dân Trước ngày lễ, công nhân Hà Nội và các khu vực lân cận đã rải truyền đơn kêu gọi dân chúng hưởng ứng, đồng thời nhiều hoạt động tuyên truyền diễn ra ở Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình, Huế, Vinh và các nơi khác Tại Nam Kỳ, truyền đơn về ngày 1/5 được rải quanh nhà máy, thể hiện sự phối hợp của các lực lượng cách mạng Vào ngày 1/5, các hình thức đấu tranh sôi nổi như mít tinh, biểu tình, rải truyền đơn và cắm cờ búa liềm diễn ra khắp nơi, nổi bật là công nhân nhà máy diêm Bến Thủy và hàng ngàn nông dân ở Vinh biểu tình đòi tăng lương và giảm giờ làm, phản đối khủng bố chính trị và yêu cầu thi hành luật lao động Trong đó, một cuộc nổi dậy của 3.000 nông dân huyện Thanh Chương đã phá đồn, cắm cờ và chia đất cho nông dân, thể hiện khí thế cách mạng sục sôi từ Bắc vào Nam, từ thành thị đến nông thôn.

Sang tháng 6, 7, 8/1930 phong trào tiếp tục dâng cao Tính chung từ tháng

Từ tháng 6 đến tháng 8, cả nước đã diễn ra 121 cuộc đấu tranh, trong đó có 95 cuộc của nông dân, 22 cuộc của công nhân và 4 cuộc của tiểu tư sản, thể hiện phong trào đấu tranh ngày càng sôi nổi Từ tháng 9/1930, phong trào Nghệ – Tĩnh tiến tới giai đoạn thành lập chính quyền Xô Viết, trong khi tại Quảng Ngãi và các tỉnh Nam Kỳ, các cuộc đấu tranh trở nên mạnh mẽ hơn, nhiều cuộc tự vệ bằng vũ trang diễn ra Đặc biệt, trong cuộc biểu tình tại Vĩnh Lộc, Gò Vấp ngày 11-12/9, lực lượng biểu tình đã xung đột với quân Pháp, gây dấu ấn lớn cho phong trào Ngày 14/9, tại Chợ Lớn và Tân An, các đoàn biểu tình đã phá cầu Rạch Cấm để ngăn chặn xe địch và tiến vào làng Ba Cun, đồng thời xung đột với lính tại Long Hiệp, Gò Đen và Bến Lức Trong khoảng thời gian từ ngày 12 đến 29/9, nhiều cuộc biểu tình diễn ra ở Trà Ôn, Cần Thơ, Tân An và Gia Định, thể hiện sự mạnh mẽ của phong trào đấu tranh Tháng 10, phong trào tiếp tục dâng cao, tiêu biểu là cuộc mít tinh đêm 2/10 tại Châu Phú (Bến Tre), khi quần chúng tự vũ trang bằng gậy gộc, giáo mác và súng trường để nghe diễn thuyết và bảo vệ người diễn thuyết, đóng vai trò quan trọng trong phong trào cách mạng.

Tại Bắc Kỳ, dù không tổ chức các cuộc biểu tình rầm rộ, nhưng các cuộc đấu tranh diễn ra qua nhiều hình thức khác nhau Các khẩu hiệu phản đối Hội đồng đề hình và các án tử hình các chiến sĩ cách mạng đã xuất hiện rộng rãi Vào cuối tháng 9 và đầu tháng 10, các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Kiến An, Thái Bình, Hà Đông, Hồng Gai đều tràn ngập các biểu ngữ đấu tranh Ngay cả tại các hội hè thôn quê, người dân cũng treo cờ đỏ búa liềm và xuất hiện các biểu ngữ kêu gọi nhân dân tranh đấu, thể hiện tinh thần đấu tranh quyết liệt chống lại chế độ đàn áp.

Trong cao trào này, Nghệ An và Hà Tĩnh là nơi phong trào phát triển mạnh nhất Từ tháng 9/1930 phong trào lên đến đỉnh cao ở đây với những cuộc đấu tranh chính trị qui mô lên đến hàng vạn người tham gia Quần chúng đã mít tinh biểu tình, phá nhà lao, đốt huyện đường, vây đồn lính làm cho chính quyền của thực dân – phong kiến ở nhiều nơi bị tan rã Cuộc biểu tình lớn của 2 vạn nông dân huyện Hưng Nguyên – Nghệ An ngày 12/9/930 tại huyện lỵ sau đó dự định kéo về Vinh để đưa yêu sách đã bị thực dân Pháp đã đàn áp bằng máy bay ném bom vào đoàn biểu tình, làm 217 người chết, 125 người bị thương Hành động tội ác này của chính quyền thực dân Pháp chỉ làm tăng thêm ngọn lửa căm thù của quần chúng Phong trào vẫn tiếp tục lan rộng với quy mô ngày càng lớn Đến đầu 1931, khí thế đấu tranh của quần chúng lên rất mạnh làm cho chính quyền của thực dân - phong kiến ở một số nơi bị tan rã, nhiều địa phương Hào lý đã trả lại triện cho Tri huyện và xin thôi việc Trước tình hình đó, Đảng bộ các địa phương đã kịp thời đứng ra thành lập một hình thức chính quyền mới theo mô hình liên minh Xô Viết ở Liên Xô Tuy còn thô sơ nhưng các Xô viết thực chất đã làm chức năng của một chính quyền cách mạng Trước việc cao trào đấu tranh lan khắp hai tỉnh Nghệ An – Hà Tĩnh, thực dân Pháp dùng đủ thủ đoạn từ quân sự đến chính trị để đàn áp phong trào Phong trào trở nên sôi nổi, dữ dội, chuyển từ biểu tình yêu sách đến chống khủng bố trắng Nhiều đoàn tuần hành đã mang tính chất quân sự, trực tiếp đối đầu với địch Những cuộc phản công vào đồn địch đã vượt ra khỏi phạm vi đấu tranh chính trị để bước vào đấu tranh vũ trang một cách bị động trong khi phong trào đang đi xuống Từ tháng 5/1931, phong trào toàn quốc nói chung đã gần như kết thúc Những cán bộ lãnh đạo của Đảng ở miền Trung lần lượt bị bắt, nhiều tỉnh ủy, huyện ủy bị phá vỡ, làm cho bộ máy lãnh đạo không thể xây dựng lại được nữa Những phần tử tích cực trong dân chúng không được lãnh đạo, lại bị địch liên tục dồn ép, nên dần đi vào bế tắc Cho đến đầu tháng 8/1931, sau những trận xô xát với binh lính và một số hoạt động lẻ tẻ, phong trào Nghệ – Tĩnh chìm trong biển lửa Cao trào cách mạng 1930 – 1931 kết thúc, với một đợt khủng bố trắng của kẻ thù

Cao trào cách mạng 1930 – 1931 phát triển mạnh đã dẫn tới sự thành lập

Xô Viết Nghệ – Tĩnh là hình thức chính quyền nhà nước công nông đầu tiên ở Việt Nam, đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng quần chúng cách mạng Dù tồn tại trong thời gian ngắn, chính quyền Xô Viết đã trở thành biểu tượng của lòng tin và sức mạnh của nhân dân công nông, cổ vũ phong trào cách mạng tiến lên Xô Viết Nghệ – Tĩnh phản ánh kinh nghiệm quý báu về đấu tranh vũ trang và xây dựng chính quyền cách mạng, góp phần là cuộc tập dượt quan trọng cho thắng lợi của Cách mạng tháng Tám sau này Mặc dù thất bại, bài học từ chính quyền Xô Viết vẫn còn giá trị và có ảnh hưởng lớn trong lịch sử cách mạng Việt Nam.

2.1.3 Xây d ựng v à phát tri ển lực lượng bạo lực quần chúng trong giai đoạn đấ u tranh 1931 – 1939

Cao trào cách mạng 1930 – 1931, đặc biệt là Xô Viết Nghệ – Tĩnh, đánh dấu cuộc diễn tập đầu tiên của phong trào cách mạng Việt Nam Đây là giai đoạn quan trọng, mở đầu cho sự thử nghiệm các phương pháp đấu tranh và xây dựng chính quyền cách mạng Thành công của cuộc diễn tập giúp rút ra nhiều bài học thực tiễn quý giá, góp phần hình thành và hoàn thiện đường lối khởi nghĩa vũ trang của Đảng trong giai đoạn sau.

Trong cao trào cách mạng 1930 - 1931, Nguyễn Ái Quốc khẳng định rằng công cuộc giải phóng dân tộc ở nước ta không thể đạt được bằng phương pháp hòa bình Thay vào đó, cách mạng cần dùng bạo lực để phá bỏ nền móng của chủ nghĩa thực dân và đế quốc, mở đường cho độc lập tự do của đất nước.

Thực tiễn cao trào cách mạng 1930 - 1931 cho thấy bạo lực cách mạng xuất phát từ quần chúng và bao gồm hai lực lượng chính trị và quân sự Các hình thức đấu tranh chủ yếu là chính trị và vũ trang, phản ánh sự phát triển của phong trào dựa trên sức mạnh của quần chúng Khi phong trào tiến triển, lực lượng vũ trang xuất hiện dưới dạng các đội tự vệ và hình thức đấu tranh nửa vũ trang hoặc vũ trang toàn diện Việc kết hợp hai hình thức đấu tranh này phù hợp với diễn biến và đặc điểm phong trào là nghệ thuật chỉ đạo cách mạng, và nếu thực hiện đúng đắn sẽ thúc đẩy phong trào phát triển mạnh mẽ.

Ngày đăng: 22/08/2023, 02:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Ảnh 8: Hình ảnh về Khởi nghĩa Nam Kỳ [111]. - Hồ chí minh với việc hoàn chỉnh phương pháp khởi nghĩa vũ trang trong quá trình tiến tới cách mạng tháng tám
nh 8: Hình ảnh về Khởi nghĩa Nam Kỳ [111] (Trang 145)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w