1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giá trị văn hóa phật giáo trong bản sắc văn hóa việt nam

155 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giá trị văn hóa phật giáo trong bản sắc văn hóa việt nam
Tác giả Phan Ngọc Pháp
Người hướng dẫn TS. Trần Hoàng Hảo
Trường học Đại học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết Học
Thể loại Luận văn thạc sĩ triết học
Năm xuất bản 2015
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 155
Dung lượng 1,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì thế, nhận diện để phát huy giá trị văn hóa Phật giáo trong bản sắc văn hóa Việt Nam không những bảo tồn được các giá trị văn hóa truyền thống, mà còn góp phần tôn vinh văn hóa dân tộc

Trang 1

PHAN NGỌC PHÁP

GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHẬT GIÁO

TRONG BẢN SẮC VĂN HÓA VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2015

Trang 2

PHAN NGỌC PHÁP

GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHẬT GIÁO

TRONG BẢN SẮC VĂN HÓA VIỆT NAM

Chuyên ngành: TRIẾT HỌC

Mã số: 60.22.80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

TS TRẦN HOÀNG HẢO

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2015

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Trần Hoàng Hảo Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của công trình khoa học này

Tác giả

Phan Ngọc Pháp

Trang 4

1.1 Lý luận về văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam .….12

1.1.1 Khái niệm về văn hóa và vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội 12

1.1.2 Khái niệm về bản sắc văn hóa dân tộc 19

1.1.3 Đặc trưng của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam 22

1.2 Khái quát về giá trị văn hóa Phật giáo Việt Nam 26

1.2.1 Khái niệm về giá trị văn hóa Phật giáo 26

1.2.2 Sự truyền bá và phát triển văn hóa Phật giáo ở Việt Nam 35

1.2.3 Đặc điểm của văn hóa Phật giáo Việt Nam 56

Kết luận chương 1 60

Chương 2: GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHẬT GIÁO VIỆT NAM TRONG MỐI LIÊN HỆ VỚI BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ … 62

2.1 Giá trị văn hóa Phật giáo đối với hệ tư tưởng và nền chính trị Việt Nam thời phong kiến 65

2.1.1 Giá trị văn hóa Phật giáo đối với hệ tư tưởng Việt Nam thời phong kiến 65

2.1.2 Giá trị văn hóa Phật giáo đối với nền chính trị Việt Nam thời phong kiến 83

2.2 Giá trị văn hóa Phật giáo đối với đạo đức, tập quán dân gian và lễ hội người Việt Nam 97

2.2.1 Giá trị văn hóa Phật giáo đối với đạo đức người Việt Nam 97

Trang 5

Việt Nam 125

2.3.2 Văn hóa Phật giáo đã góp phần làm đa dạng, phong phú thêm bản sắc văn hóa dân tộc 128

2.3.3 Ý nghĩa lịch sử của giá trị văn hóa Phật giáo trong thời đại ngày nay… 131

Kết luận chương 2 136

KẾT LUẬN 138

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 144

Trang 6

Trong xã hội hiện đại, con người ngày nay dường như đã xích lại gần

nhau hơn, có sự giao lưu phổ biến hầu hết trên tất cả các lĩnh vực: từ kinh

tế-xã hội cho đến văn hóa, tư tưởng Nó mở ra nhiều cơ hội thuận lợi phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng đời sống vật chất cũng như tinh thần; đồng thời cũng mở ra không ít thách thức, khó khăn Trong những khó khăn đó, điều nguy hiểm nhất là chúng ta rất dễ bị đánh mất chính mình, bị cuốn trôi khi hòa nhập Hay nói cách khác, đó là chúng ta không nhận diện được phẩm chất, đặc trưng truyền thống của dân tộc, đánh mất đi bản sắc văn hóa Mất đi điều kiện vật chất chúng ta có thể tìm kiếm và khôi phục lại được; nhưng nếu mất

đi bản sắc văn hóa của mình thì đó là một sai lầm không thể cứu vãn Bởi vì, văn hóa là sự kế thừa và tiếp nối tinh thần dân tộc từ ngàn đời Phát triển mà không biết kế thừa các giá trị tinh hoa của thời đại trước, thì phát triển đó cũng chỉ là một sai lầm trong vòng lẫn quẫn Trong khi, thế giới ngày càng phụ thuộc lẫn nhau, con người được kết nối với nhau hơn bất kỳ thời điểm nào trong lịch sử, con đường của nền văn minh hiện đại có xu hướng tập trung thái quá vào việc thỏa mãn các nhu cầu vật chất, thu nhập của cải và tiền bạc, tham vọng quá mức đối với sự tiến bộ mang tính cá nhân trong đời sống hàng ngày, mong muốn điều khiển và có quyền lực đối với tha nhân, môi trường và

sự ảnh hưởng cuộc sống hàng ngày hơn bao giờ hết Nhìn chung, những hành động này đã tác động và dẫn đến không ít xung đột, bạo lực, khủng hoảng và thảm họa mà ngày nay chúng ta đều đã và đang chứng kiến Nó không những khiến cho con người dễ bị tha hóa trong suy nghĩ và lối sống, mà còn dần dần

có thể tha hóa luôn tính dân tộc, dễ lãng quên các giá trị văn hóa truyền thống của tổ tiên, nguồn cội Cho nên, trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường, cần phải biết chú trọng và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống,

Trang 7

Trước yêu cầu phát triển kinh tế phải đi đôi với việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, Đảng ta đã lựa chọn con đường đúng đắn là hướng đến mục tiêu xây dựng một đất nước Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, có một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc Bản sắc văn hóa Việt Nam là thành quả lao động, sáng tạo của toàn dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh, xây dựng và phát triển đất nước; là tài sản quý giá có vai trò nền tảng của tinh thần của xã hội; vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội Trong suốt quá trình đó, văn hóa truyền thống Việt Nam đã không ngừng giao lưu, tiếp thu tinh hoa của những nền văn hóa khác để tô đậm thêm bản sắc của mình Trong đó, văn hóa Phật giáo hiện lên như là một thành tố quan trọng trong chỉnh thể văn hóa dân tộc Việt Nam Lịch sử Phật giáo từ đầu Công Nguyên cho đến ngày nay, đã có những ảnh hưởng lâu dài và sâu rộng đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, cũng như sinh hoạt văn hóa con người Việt, hướng con người đến lối sống chân, thiện, mỹ Phật giáo đã để lại cho dân tộc ta nhiều di sản vật chất và tinh thần có giá trị đặc sắc Những di sản này đã qua quá trình thẩm định, chọn lọc của lịch sử và được lưu truyền cho đến ngày nay có đầy đủ giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học Chúng kết tinh trong không gian văn hóa truyền thống là hình ảnh ngôi chùa, nơi bảo lưu các hình thức nghệ thuật dân tộc ở các lĩnh vực: kiến trúc, điêu khắc, hội họa

và âm nhạc…đã góp phần hình thành những không gian văn hóa truyền thống điển hình, đóng vai trò là nơi giao lưu, liên kết các cộng đồng dân tộc Bên cạnh đó, hệ thống triết học Phật giáo biểu trưng cho các giá trị văn hóa tinh thần đã ảnh hưởng sâu đậm đến văn hóa, con người Việt Nam trên các lĩnh vực: tư tưởng, chính trị, đạo đức … Những giá trị văn hóa này, ngay từ những

Trang 8

chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống xã hội Nó dấn thân vào con đường nhập thế, gắn đạo với đời, đồng hành cùng dân tộc, trở thành nguồn động lực tạo nên những thời đại phồn thịnh, huy hoàng của dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước Vì thế, nhận diện để phát huy giá trị văn hóa Phật giáo trong bản sắc văn hóa Việt Nam không những bảo tồn được các giá trị văn hóa truyền thống, mà còn góp phần tôn vinh văn hóa dân tộc, góp phần thiết thực vào việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong thời buổi hội nhập

Ý thức được tầm quan trọng của ý nghĩa đó, người viết chọn đề

tài:“Giá Trị Văn Hóa Phật Giáo Trong Bản Sắc Văn Hóa Việt Nam” làm đề

tài cho luận văn thạc sĩ của mình Thiết nghĩ, đây là nhiệm vụ không hề đơn giản, nhưng với tâm nguyện muốn tìm về những giá trị truyền thống của tổ tiên ông bà, tìm về bản sắc văn hóa dân tộc, nhất là các giá trị văn hóa Phật giáo trong truyền thống văn hóa Việt Nam; để rồi từ đó, có thể khẳng định mình trong xu thế hội nhập phát triển của thời đại sao cho không trái với tinh hoa tinh thần của các thế hệ đi trước, có thể góp phần phát huy các giá trị văn hóa đó trong hiện tại và tương lai; luôn tự hào được sống trong đất nước có

một “nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc”, có bề dày, chiều sâu và đầy đủ nội lực có thể giao lưu, hợp tác với các nền văn hóa khác trên thế giới

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài

Vấn đề nghiên cứu bản sắc văn hóa dân tộc và văn hóa Phật giáo Việt Nam đã được các nhà nghiên cứu dưới nhiều góc độ và phạm vi khác nhau trong các ngành khoa học Trong đó, ở lĩnh vực văn hóa, nổi bậc có các công trình giá trị như:

Trang 9

hình thành nên nền văn hóa Việt Nam khởi nguồn từ nền văn minh cho đến văn hóa thời Nguyễn Trong đó, bàn về văn hóa Phật giáo đã trình bày khá chi tiết về lịch sử truyền thừa của các dòng thiền ở Việt Nam bên cạnh các tôn giáo Nho, Lão là một tác phẩm có giá trị không những trên lĩnh vực văn hóa

mà còn ở lĩnh vực tư tưởng của các tôn giáo đối với nền văn hóa bản địa

- Phan Ngọc (2013), “Bản sắc văn hóa Việt Nam”, Nxb Văn hóa –

Thông tin, là một cách tiếp cận độc đáo của tác giả về bản sắc văn hóa dân tộc Việt, chỉ ra những đặc điểm văn hóa Việt Nam khác với Trung Hoa Bàn về các tôn giáo giao thoa với văn hóa Việt, tác phẩm chỉ trình bày Khổng giáovà Đạo giáo chứ chưa trình bày về Phật giáo, như lời của tác giả “chưa có điều kiện viết về Phật giáo Chúng tôi dự định khi về hưu sẽ đến một ngôi chùa học đạo để viết” [45,13] Trong khi văn hóa Phật giáo Việt Nam là một thành

tố rất quan trọng của bản sắc văn hóa Việt Nam

- Thích Mãn Giác (1967), “Phật giáo và nền văn hóa Việt Nam”, Ban Tu

Thư Đại học Vạn Hạnh, đã thể hiện tâm huyết muốn trình bày mối liên hệ khắn khít của Phật giáo và văn hóa Việt Nam, nhưng phạm vi nghiên cứu của tác phẩm chỉ chú trọng về mặt văn học, các vấn đề khác như tư tưởng đạo đức,

mỹ thuật,… chưa đi vào chiều sâu

- Đào Duy Anh (2010), “Việt Nam văn hóa sử cương”, Nxb Thời Đại

Tác phẩm đứng trên quan điểm “văn hóa tức là sinh hoạt” [1, 11], chia làm ba

bộ phận: kinh tế sinh hoạt, xã hội sinh hoạt và tri thức sinh hoạt Phật học, Nho học, cùng với Lão học được chia ở bộ phận Tri thức văn hóa Tác phẩm nghiên cứu dàn trãi trên nhiều lĩnh vực, cho nên chưa chỉ ra hết vai trò, những cống hiến của ba tôn giáo này đối với nền văn hóa Việt Nam

Trang 10

- Nguyễn Duy Hinh, Lê Đức Hạnh (2011), “Phật giáo trong văn hóa

Việt Nam”, Nxb Văn Hóa - Thông Tin, Hà Nội là một tác phẩm giá trị đã

khái quát các hệ kinh tạng Phật giáo Nam truyền và Bắc truyền, cùng hình tượng các vị Phật, Bồ tát, La hán Bàn về nội dung Phật giáo trong văn hóa Việt, tác giả trình bày khái quát lịch sử du nhập và phát triển, đề xuất phương pháp phát triển Phật giáo vào trong hoàn cảnh hiện đại

Nghiên cứu về giá trị văn hóa ở các lĩnh vực chính trị, đạo đức thường được nghiên cứu thông qua các tư liệu lịch sử Ở lĩnh vực sử học Phật giáo, có thể liệt kê các công trình nổi bật như:

- Nguyễn Tài Thư chủ biên (1991), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà nội đã khái quát quá trình từ khi Phật giáo du nhập cho

đến thời Pháp thuộc Tác phẩm đã phân tích nhiều dữ liệu quý giá của Phật giáo, bao gồm các vấn đề của hầu hết các lĩnh vực kinh tế, chính trị-xã hội, văn hóa, đạo đức Phật giáo

- Nguyễn Lang (2010) với “Việt Nam Phật giáo sử luận”, Nxb Văn học,

đã tập trung nghiên cứu các dòng thiền hiện diện ở Việt Nam từ buổi sơ khai cho đến giai đoạn cận đại Trong đó, điều đặc biệt nhất là tác giả đã có những luận điểm sắc bén chứng minh được Trung tâm Phật giáo đầu tiên của Việt Nam được thành lập trước cả trung tâm Phật giáo Trung quốc Đây là niềm tự hào của văn hóa Phật giáo Việt Nam

- Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam – Viện Sử học (1980), “Tìm hiểu xã

hội Việt Nam thời Lý – Trần”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Tác phẩm là

công trình nghiên cứu của nhiều học giả có uy tín, trình bày các vấn đề kinh tế, chính trị-xã hội và văn hóa; nổi bậc là tư tưởng của Phật giáo Việt Nam tập trung trong giai đoạn Lý-Trần

Trang 11

- Lê Mạnh Thát (2006), “Lịch sử Phật giáo Việt Nam – 3 tập”, Nxb

Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh đã có những phát hiện mới giá trị trong nền học thuật của lịch sử Phật giáo cũng như lịch sử dân tộc

- Thích Mật Thể với “Việt Nam Phật giáo sử lược”, Nxb Tôn giáo, là

một tác phẩm tuy ngắn gọn nhưng đã khái quát một cách súc tích các đặc điểm của Phật giáo qua các thời kỳ lịch sử, giúp dễ dàng hệ thống lại các sự kiện lịch sử của Phật giáo Việt Nam

- Đức Nhuận (2009), “Đạo Phật và dòng sử Việt”, Nxb Phương Đông,

đã chỉ ra mối liên kết chặt chẽ giữa Phật giáo và dân tộc Việt

Ở lĩnh vực tư tưởng triết học Phật giáo, ngoài các công trình nghiên cứu chuyên môn của các học giả là tín đồ Phật tử, tư tưởng triết học Phật giáo còn được trình bày cùng chung với các hệ thống tư tưởng triết học khác trong các công trình nghiên cứu như:

- Viện khoa học xã hội Việt Nam - Viện triết học (1993), “Lịch sử tư

tưởng Việt Nam” 2 tập, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội ấn hành đã trình bày

khá chi tiết chiều dài lịch sử tư tưởng của dân tộc; trong đó, chỉ ra tư tưởng triết học Phật giáo Việt Nam là một trong những nhân tố quan trọng trong việc hình thành nên nhân sinh quan con người Việt

- Doãn Chính chủ biên (2012), Lịch Sử Triết Học Phương Đông, Nxb

Chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội là một tác phẩm giá trị liên quan đến Phật giáo, không những khái quát hết quá trình lịch sử tư tưởng Phật giáo khởi thủy từ Ấn Độ đến khi du nhập Việt Nam, mà còn chỉ ra vai trò Phật giáo là

“tấm lá chắn” đối trọng với văn hóa Trung Hoa trong những ngày đầu dựng nước

- Thích Chơn Thiện (1999), “Phật học khái luận”, Nxb Tp Hồ Chí

Minh, đã hệ thống toàn bộ triết học Phật giáo theo kết cấu Phật, Pháp, Tăng; làm nổi bật nhân sinh quan và bản thể luận triết học Phật giáo

Trang 12

- Thích Tâm Thiện (1995), “Tìm hiểu nhân sinh quan Phật giáo”, Thành

hội Phật giáo Tp Hồ Chí Minh, trình bày cách nhìn Phật giáo về thế giới và nhân sinh trên giáo lý Duyên khởi

Các tác phẩm trên đều là những tác phẩm giá trị khi nghiên cứu triết học Phật giáo Có những tác phẩm chỉ trình bày thuần chất triết lý nhà Phật, nhưng cũng có tác phẩm gắn triết học Phật giáo liên quan với lịch sử phát triển tư tưởng của nhân loại, cũng như Việt Nam Đó đều là những dữ liệu quý giá để tìm hiểu văn hóa Phật giáo ở lĩnh vực tư tưởng Bên cạnh đó, còn

có những tác phẩm khác, tuy chỉ trình bày các loại hình thức nghệ thuật Phật giáo, nhưng thông qua đó vẫn khái quát lên giá trị văn hóa đạo Phật, như:

- Chu Quang Trứ (2001), “Mỹ thuật Lý – Trần, mỹ thuật Phật giáo”, Nxb

Mỹ Thuật; (2012), “Sáng giá chùa xưa, mỹ thuật Phật giáo”, Nxb Mỹ Thuật; hay (2001), “Tượng cổ Việt Nam với truyền thống điêu khắc dân tộc”, Nxb

Mỹ Thuật; (2000), “Di sản văn hóa dân tộc trong tín ngưỡng và tôn giáo ở

Việt Nam”, Nxb Mỹ Thuật; lấy trung tâm hình ảnh ngôi chùa là không gian

văn hóa, nơi bảo lưu các giá trị nghệ thuật dân tộc của Phật giáo

- Trần Lâm Biền (1996), “Chùa Việt”, Nxb Văn hóa – Thông tin; nghiên

cứu về lịch sử hình thành ngôi chùa Việt qua các thời kỳ lịch sử Tác phẩm tập trung vào nghệ thuật kiến trúc văn hóa của ngôi chùa, qua đó khái quát nên những giá trị di sản văn hóa vật thể của Phật giáo đối với truyền thống văn hóa Việt Nam

- Nguyễn Hữu Thông chủ biên (2008), “Nhạc lễ Phật giáo xứ Huế”,

Nxb Văn Nghệ là một tác phẩm trình bày nghệ thuật âm nhạc Phật giáo, được xem là một trong những phương pháp thuần tịnh, thanh khiết, có thể thâm nhập thể tính Phật đà Trong đó, chỉ ra rằng âm nhạc truyền thống dân tộc có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nghi lễ Phật giáo

Trang 13

- Ngoài ra, còn có các đề tài luận văn, luận án, các bài viết đăng trên các

tạp chí có nội dung liên quan đến văn hóa Phật giáo như:“Ảnh hưởng của

Phật giáo Đàng Trong đối với đời sống văn hóa xã hội người Việt thời chúa Nguyễn (khoảng thế kỷ XVI-XVIII)” của tác giả Trần Thanh Bình, “Ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân thành phố

Hồ Chí Minh” của tác giả Thân Ngọc Anh, “Tính dung hợp của Phật giáo người Việt ở Nam Bộ” của Nguyễn Thị Thêm, “Phật giáo Lý-Trần trong mối quan hệ với văn hóa dân gian bản địa” của Đặng Trần Minh Hiếu,“Phật giáo

và Nho giáo thời Trần nhìn từ triết học so sánh” của Phan Đình Thùy và “Sự tác động giữa giá trị đạo đức Phật giáo với phong tục tập quán Nam bộ” của

Đoàn Thị May…đều là những công trình nghiên cứu chuyên sâu về các lĩnh vực văn hóa khác nhau của Phật giáo đối với dân tộc

Tất cả các tác phẩm nghiên cứu về văn hóa Phật giáo nói trên đều là những tác phẩm uy tín, giá trị trong nền học thuật Việt Nam Nội dung ít nhiều đã đề cập đến các khía cạnh văn hóa Phật giáo và bản sắc văn hóa dân tộc Tác giả luận văn đã kế thừa và tiếp tục phát triển những thành tựu trên của các bậc tiền bối và rất mong có sự đóng góp vào hoạt động nghiên cứu nhằm khẳng định thêm giá trị văn hóa Phật giáo Việt Nam trong dòng chảy văn hóa dân tộc

Luận văn này với đề tài “Giá Trị Văn Hóa Phật Giáo Trong Bản Sắc

Văn Hóa Việt Nam”, ngoài việc nổ lực nghiên cứu nhằm hệ thống lại những

giá trị văn hóa của Phật giáo Việt Nam, diễn ra trên các lĩnh vực: tư tưởng, chính trị, đạo đức, phong tục, tập quán con người Việt; mà còn chứng minh rằng mối liên hệ văn hóa giữa Phật giáo và dân tộc Việt Nam là không thể tách rời

Trang 14

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn Mục đích nghiên cứu của luận văn

Mục đích của luận văn là khẳng định những giá trị đặc thù của văn hóa Phật giáo trong bản sắc văn hóa Việt Nam Đó là một truyền thống văn hóa hiền hòa, có nền triết lý nhân sinh sâu sắc gắn liền với chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam, góp phần làm cho tư tưởng và lối sống của dân tộc

Việt thêm phong phú và đặc sắc

Nhiệm vụ của luận văn

Nhiệm vụ của luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ trọng yếu như sau:

Một là, xác định nội dung, đặc điểm của bản sắc văn hóa dân tộc và văn hóa Phật giáo

Hai là, nghiên cứu mối liên hệ, giao thoa giữa văn hóa Phật giáo và dân tộc Đặc trưng của văn hóa Phật giáo Việt Nam là kết tinh của sự giao thoa văn hóa Phật giáo và văn hóa truyền thống của dân tộc Việt

Ba là, khái quát những giá trị ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo đối với bản sắc văn hóa dân tộc trên các lĩnh vực tư tưởng, chính trị, đạo đức, cũng

như trong phong tục, tập quán con người Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu

Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu như đã trình bày ở trên, luận văn xác định đối tượng nghiên cứu là những giá trị văn hóa Phật giáo trong đời sống tinh thần đối với bản sắc văn hóa Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu

Văn hóa là một đề tài nghiên cứu phong phú và đa dạng Phạm vi nghiên cứu của nó rất rộng, nhất là diễn ra trong lĩnh vực tôn giáo Văn hóa Phật giáo xuất hiện hầu hết trong tất cả lĩnh vực của văn hóa Việt Nam: từ

Trang 15

trong các di sản văn hóa vật chất cho đến tinh thần; từ các hình thức nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, hội họa, âm nhạc; cho đến các lĩnh vực tín ngưỡng,

tư tưởng, chính trị, đạo đức, xã hội.v.v… Vì thế, luận văn chỉ giới hạn tập trung nghiên cứu những giá trị đặc thù của văn hóa Phật giáo trong đời sống tinh thần, những yếu tố đã góp phần hình thành nên bản sắc văn hóa Việt trong tiến trình cùng nhân dân xây dựng và bảo vệ tổ quốc; trong đó, chủ nghĩa yêu nước dân tộc đóng vai trò là trung tâm

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Cơ sở lý luận

Luận văn này được thực hiện chủ yếu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, cùng với quan điểm đường lối của Đảng về văn hóa và chính sách phát triển văn hóa; đồng thời có tham khảo một số công trình nghiên cứu, đề tài khoa học, sách, báo… tài liệu có liên quan đến nội dung được đề cập trong luận văn

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn chủ yếu nghiên cứu dựa trên phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, nhằm chỉ rõ mối liên hệ xuyên suốt giữa văn hóa Phật giáo và văn hóa dân tộc trong chiều dài lịch sử Việt Nam Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp lịch sử và lôgic, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch… nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài một cách toàn diện

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Nhận diện để phát huy giá trị văn hóa Phật giáo trong bản sắc văn hóa Việt Nam không những bảo tồn được các giá trị văn hóa truyền thống, mà còn góp phần tôn vinh văn hóa dân tộc Trong ý nghĩa đó, luận văn góp phần vào việc làm rõ thêm những nét đặc trưng cơ bản của các giá trị văn hóa Phật giáo, những yếu tố hợp thành bản sắc văn hóa, con người Việt Nam dưới góc

Trang 16

độ của chủ nghĩa xã hội khoa học Tất cả đều hướng về mục tiêu cùng nhau xây dựng và phát huy nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc của đất nước

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần khiêm tốn vào việc khẳng định nội dung văn hóa con người Việt Nam; cũng như các giá trị văn hóa Phật giáo trong truyền thống văn hóa dân tộc Qua đó, giúp chúng ta có

đủ nền tảng lý luận để nhận diện và phát huy các phẩm chất, diện mạo văn hóa dân tộc để có những hướng đi đúng đắn, phù hợp với tình hình phát triển năng động của đất nước; với quá trình giao lưu, hợp tác cùng với các nền văn hóa khác trong khu vực, cũng như trên toàn thế giới

Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu các lĩnh vực triết học tôn giáo, văn hóa học… đồng thời cũng là tài liệu cho những người Việt xa quê khi nghĩ về cội nguồn đất nước có thể tiếp cận, đồng cảm với những tư tưởng, phong cách sống của các thế hệ tiền bối, tổ tiên

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm có hai chương, năm tiết

Trang 17

Chương 1

LÝ LUẬN VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM

VÀ GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHẬT GIÁO

1.1 LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT

là sản phẩm của văn hóa Nhưng không phải tất cả mọi kết quả hoạt động của

con người đều trở thành văn hóa Văn hóa là sản phẩm hay kinh nghiệm mang tính tập thể, được toàn thể cộng đồng tiếp nhận và được kế thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo thành nét đặc thù của toàn thể cộng đồng trên lĩnh vực vật chất cũng như tinh thần Trên ý nghĩa đó, văn hóa của một dân tộc là kết tinh của những giá trị lao động sáng tạo từ vật chất cho đến tinh thần trong việc hướng tới những giá trị chân, thiện, mỹ của dân tộc đó

Trong tiến trình hình thành khái niệm văn hóa, ở phương Đông, khái niệm này xuất hiện từ rất sớm Trong các thư tịch cổ của Trung Quốc, Quẻ Bí trong Chu Dịch nói: “quan hồ nhân văn, dĩ hóa thành thiên hạ - 观乎人文,以化城天下” [6, 347], nghĩa là (thánh nhân) quan sát thi thư lễ nhạc mà giáo hóa thành thiên hạ Thời Xuân Thu, Khổng Tử đã coi văn là một trong bốn môn giáo dục con người Khái niệm này dần dần mở rộng về nghĩa “văn vũ chi trị - 文武之治” [30, 15], tức là dùng đạo đức, lễ nhạc hay uy sức để giáo

hóa con người Sách Thuyết Uyển, bài Chi Vũ, Lưu Hướng (khoảng 77 – 6

TCN) đời Tây Hán nói: “bậc thánh nhân trị thiên hạ, trước dùng văn đức rồi sau mới dùng vũ lực Phàm dùng vũ lực đều để đối phó kẻ bất phục tùng,

Trang 18

dùng văn hóa không thay đổi được thì sau đó sẽ chinh phạt” [8, 15] Đến

Thúc Triết trong sách Bổ vong thi có viết: “văn hóa nội tập, vũ công ngoại tu -

文化内集,武功外修” [8, 15], nghĩa là văn hóa để làm cho bên trong hòa mục, vũ công để sửa sang bên ngoài Văn hóa ở đây có nghĩa là giáo dục nhân cách bên trong của con người, trái với lối giáo dục Vũ công mang hình thức bên ngoài

Ở phương Tây, khởi nguyên gốc từ văn hóa (cultus) mang nghĩa gieo trồng, trồng trọt Nhà triết học người La Mã Cicéron (106 – 45 TCN) đã có công trong việc đưa khái niệm này gắn với hoạt động trí tuệ của con người

Từ đây, khái niệm văn hóa từ nghĩa gieo trồng trên đất đai sang nghĩa vun trồng trí óc Đến thế kỷ thứ XVII, người đầu tiên đưa từ văn hóa (culture) vào trong khoa học là nhà nghiên cứu pháp luật người Đức S Pufendorf (1632 - 1694) Ông sử dụng thuật ngữ văn hóa để chỉ toàn bộ những gì do con người tạo ra khác với những cái có sẵn trong tự nhiên Bên cạnh đó, nhà triết học G Vico (1668 - 1744) người Ý, coi văn hóa như một phức thể, bao gồm cả kinh

tế, chính trị, khoa học và nghệ thuật Triết gia người Đức I.G Herder (1744 –

1803 ) quan niệm văn hóa là quá trình hình thành con người, là sự nắm bắt và

sử dụng kinh nghiệm hay truyền thống Ông đưa khái niệm văn hóa lên một tầm cao mới khi cho rằng văn hóa cần phải gắn với việc giáo dục tính nhân văn và lối sống của dân tộc Theo Herder, sự hình thành văn hóa không chỉ phụ thuộc vào các điều kiện khách quan của tự nhiên và xã hội, mà còn phụ thuộc vào quá trình nổ lực lao động theo cách chủ quan của con người Chỉ trong quá trình sáng tạo ra những giá trị thuộc về văn hóa, thì sinh thể con người mới hình thành nên những giá trị của mình theo đúng nghĩa của nó Đến E.B Taylor, giáo sư nhân học người Anh, người đầu tiên đưa ra định nghĩa về văn hóa: “văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập

Trang 19

quán và một số năng lực và thói quen khác.v.v…được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên xã hội” [30, 20] Đây là một định nghĩa nổi tiếng

và có tầm quan trọng đặc biệt trong truyền thống các khoa học nghiên cứu về văn hóa Với định nghĩa này, lần đầu tiên văn hóa không còn được hiểu bó hẹp trong nghĩa vun trồng cho trí óc, hay giáo hóa bằng văn nữa, mà văn hóa hiện lên như là kết quả trong các lĩnh vực hoạt động của con người, bất luận

là các hoạt động đó ở trình độ nào trong các bậc thang tiến hóa

Như vậy, văn hóa được hình dung như một phương thức hoạt động đặc trưng của con người, là kết quả của quá trình sinh hoạt, sáng tạo của con người Trong tính nhân văn của nó, văn hóa còn được hiểu như là sự nổ lực chủ quan của con người trong quá trình lao động để hình thành nên sinh thể con người đúng nghĩa khác với thế giới tự nhiên cũng như thế giới động vật Trong thế giới tự nhiên, để có thể tồn tại và phát triển, con người không chỉ buộc phải thích ứng, mà còn phải biết cách chinh phục tự nhiên lẫn chính bản thân mình, qua đó tạo ra văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Trong tác

phẩm Biện chứng của tự nhiên, Ph Ăngghen đã nhận xét: khác với các loài

động vật chỉ dựa vào tự nhiên có sẵn để sinh sống, con người luôn tìm cách làm chủ thế giới xung quanh mình Kết quả của mối quan hệ đó, con người đã tác động vào tự nhiên, làm thay đổi diện mạo của nó, biến những cái có sẵn trong tự nhiên thành những sản phẩm đáp ứng cho nhu cầu sinh hoạt của mình Quá trình đó, không chỉ là phương thức hoạt động sống của con người, mà còn là con đường hình thành nhân cách, tái tạo hiện thực khách quan thành thế giới thứ hai cho chính mình và vì mình theo “các quy luật của cái đẹp” [52, 137] Cũng trong quá trình chinh phục tự nhiên, mối quan hệ giữa người với người đã khiến hành vi con người trở nên hoàn thiện, ngày càng tách khỏi thế giới động vật, xóa bỏ những đặc tính của động vật, để khẳng định đặc tính con người Toàn bộ hoạt động của con người dần dần sáng tạo nên một “tự

Trang 20

nhiên thứ hai” phong phú và đa dạng, đối lập với “tự nhiên nhi nhiên” của vạn vật, núi sông và cây cỏ Con người chính là chủ nhân của tự nhiên thứ hai đó, hay là chủ nhân của văn hóa do mình tạo ra

Văn hóa chỉ xuất hiện khi con người ý thức được một cách rõ ràng về đời sống xã hội của mình, về hoạt động lao động sáng tạo, hoạt động sản xuất vật chất để cải tạo và biến đổi giới tự nhiên vì sự tồn tại, phát triển cho cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn Ở phương diện này, văn hóa thể hiện sức mạnh của bản chất con người thông qua lao động sản xuất Chính trong quá trình lao động sản xuất, con người hình thành mối quan hệ của mình với thế giới tự nhiên và mối quan hệ giữa người với người Đó chính là nguồn gốc và động lực của việc sáng tạo nên những giá trị vật chất và giá trị tinh thần, là nội dung cơ bản của văn hóa Những giá trị này được các thế hệ sau kế thừa, tiếp thu, phát huy, sáng tạo và cứ như vậy hình thành nên những bản sắc văn hóa riêng biệt

Nếu như văn hóa vật chất thường bắt nguồn từ thế giới tự nhiên; thì văn hóa tinh thần dường như không được khơi nguồn từ thế giới ấy, bởi trong giới

tự nhiên không có một cơ sở nào tạo điều kiện trực tiếp để con người hình thành nên văn hóa tinh thần Đó là sự xuất hiện của ngôn ngữ với tư cách là công cụ của tư duy, là hệ thống giá trị, chuẩn mực tồn tại trong tiềm thức và chỉ huy các hoạt động của mỗi con người, cũng như của cộng đồng người Cụ thể là những lý tưởng về đạo đức và thẩm mỹ, chính trị và tư tưởng, tôn giáo

và pháp luật, khoa học và nghệ thuật, và các thiết chế xã hội như gia đình, giáo dục, chính trị, kinh tế…Thông qua đó, con người sáng tạo nên văn hóa trong nghĩa vật chất cũng như tinh thần, những thứ hoàn toàn chưa có trong tự nhiên

Ngày nay đã có hơn 400 định nghĩa về văn hóa Năm 1970, tại hội nghị Venise về các chính sách văn hóa do UNESCO đề xướng, đã đưa ra khái niệm

Trang 21

văn hóa hướng vào cái cơ bản nhất: “văn hóa không tự giới hạn trong các hoạt động nghệ thuật mà bao gồm toàn bộ các hoạt động của con người, cho phép con người tự định vị mình trong không gian và thời gian, tạo ra chìa khóa để giải thích thế giới, khả năng giao lưu và sáng tạo” [53, 7] Cơ sở hình thành khái niệm văn hóa này dựa trên bốn bộ phận hợp thành: hệ thống ý niệm, hệ thống giá trị và chuẩn mực, hệ thống biểu hiện văn hóa, cùng hệ thống hành động và ứng xử văn hóa Hệ thống ý niệm: là tập hợp những khái niệm và biểu tượng Trên cơ sở đó, con người tìm cách tự lý giải mình và giải thích thế giới như: triết học, tôn giáo, khoa học…Hệ thống giá trị và chuẩn mực: là những yếu tố liên quan đến giá trị, cho phép đánh giá các tình huống, các hành động, phân loại các hành vi cụ thể, bao gồm các quy tắc dựa vào đó con người tổ chức các hệ thống hành vi của mình Các hệ thống biểu hiện: là các thể thức hay hình thức, qua đó các ý niệm và các chuẩn mực được biểu hiện

cụ thể ở mức cảm nhận Hệ thống biểu hiện cao nhất, quan trọng nhất là hệ thống văn học, nghệ thuật Và hệ thống hành động: là các trung gian kinh tế cho phép làm chủ ở mức độ nào đó trong môi trường tự nhiên và các trung gian xã hội, dựa vào đó cộng đồng tự tổ chức và quản lý số phận của mình.Khi văn hóa được hình thành thì nó là điều kiện bảo toàn và tôn vinh các giá trị làm người Tất cả các hoạt động văn hóa đều nhằm phát huy các năng lực bẩm sinh và các năng lực bản chất của con người Trên cơ sở đó, con người tổng hòa được thuộc tính sinh vật – xã hội và tính chất xã hội – văn hóa

để phát triển toàn diện như một nhân cách văn hóa Nói cách khác, con người

đã tạo ra văn hóa, cả văn hóa vật chất lẫn văn hóa tinh thần và sử dụng chúng như những phương tiện để tồn tại, phát triển, làm con người ngày càng hoàn thiện, đồng thời khẳng định bản sắc riêng của mình Trong đó, sự sáng tạo ra văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần là một bước chuyển mang tính quyết định về mặt nhân tính, mà không có bất kỳ loài vật nào có thể làm được

Trang 22

Nếu như văn hóa là do con người sáng tạo ra để nhằm phát huy tất cả các năng lực bẩm sinh và các năng lực bản chất của con người, thì bản thân văn hóa có một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội Nó có thể tác động, chi phối đối với toàn bộ hoạt động của con người Văn hóa đóng vai trò

là mục tiêu của sự phát triển xã hội Văn hóa vừa là nền tảng tinh thần, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội Ngoài ra, nó còn là nhân tố quan trọng trong việc ngày càng hoàn thiện, phát huy nhân tố con người

Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển xã hội Bởi lẽ, phát triển chỉ có thể bền vững và trường tồn khi con người biết cân bằng giữa nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần Trong đời sống sinh hoạt xã hội, con người không chỉ cần thỏa mãn những nhu cầu vật chất mà còn có nhu cầu hưởng thụ sản phẩm văn hóa tinh thần Con người và xã hội loài người càng phát triển thì nhu cầu văn hóa tinh thần đòi hỏi ngày càng cao Nếu phát triển chỉ nghiên

về phía vật chất, xa rời những giá trị văn hóa truyền thống, tách khỏi cội nguồn thì sẽ lâm vào nguy cơ tha hóa, mất đi bản sắc, đánh mất bản thân mình Cho nên, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần đó chính là đảm bảo sự phát triển ngày càng nhiều của cải vật chất cho con người và xã hội

Trên ý nghĩa đó, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, đồng thời là động lực của sự phát triển Vì xét cho cùng, mọi sự phát triển đều do con người quyết định mà văn hóa thể hiện trình độ vun trồng ngày càng cao, càng toàn diện con người và xã hội, làm cho con người và xã hội ngày càng phát triển, tiến bộ Điều đó có nghĩa là con người ngày một xa rời trạng thái nguyên sơ, mông muội để tiến tới một cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc và văn minh Trong đó, bản chất nhân văn, nhân đạo của mỗi cá nhân cũng như của cả cộng đồng được bồi dưỡng; phát huy trở thành giá trị cao quý và chuẩn mực tốt đẹp của toàn xã hội Có thể nói văn hóa là hệ điều tiết của sự phát triển Bởi lẽ, văn hóa phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của

Trang 23

các nhân tố khách quan và chủ quan, của các điều kiện bên trong và bên ngoài, bảo đảm cho sự phát triển được hài hòa, cân đối, lâu bền

Bên cạnh đó, văn hóa còn là động lực của sự phát triển xã hội Một xã hội phát triển sẽ luôn hướng đến những giá trị mới nhưng không thể tách rời cội nguồn Trong đó, nhân tố con người đóng vai trò là chủ thể của sự phát triển Mọi sự phát triển đều do con người quyết định chi phối Trong khi, văn hóa khơi dậy và nhân lên mọi tiềm năng sáng tạo của con người, huy động sức mạnh nội sinh to lớn trong con người đóng góp vào sự phát triển

xã hội

Nói tóm lại, nói đến văn hóa là nói đến hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do con người lao động sáng tạo ra, bao gồm các giá trị liên quan đến truyền thống, biểu tượng, ngôn ngữ, tôn giáo, nếp sống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, nghệ thuật và khoa học được các thế hệ con người kế thừa, bảo tồn và phát huy thành những bản sắc riêng biệt Về mặt xã hội, vai trò của văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần, động lực phát triển; mà còn là mục tiêu của phát triển xã hội Dựa trên văn hóa, nhân tố con người ngày càng phát huy trở thành hoàn thiện

Như vậy, vai trò của văn hóa một khi đã đáp ứng được nhu cầu văn hóa tinh thần thì tức là sự đảm bảo cho việc phát triển ngày càng nhiều yếu

tố văn hóa vật chất cho con người và xã hội Luận văn nói về giá trị văn hóa Phật giáo trong bản sắc văn hóa Việt Nam là nói về những giá trị văn hóa tinh thần của Phật giáo Việt Nam trong sự nghiệp bảo tồn, kế thừa và phát huy chung của văn hóa dân tộc Chính trong môi trường này, văn hóa Việt Nam đã đón nhận và tiếp biến văn hóa Phật giáo thành một trong những nhân tố quan trọng bản sắc văn hóa của mình; và cũng chính môi trường này, văn hóa Phật giáo có điều kiện trở thành, khẳng định mình là văn hóa Phật giáo Việt Nam;

Trang 24

từ đó, góp phần hình thành nên những thành tựu đặc sắc trong sinh hoạt vật chất cũng như sinh hoạt tinh thần của con người Việt

1.1.2 Khái niệm về bản sắc văn hóa dân tộc

Khái niệm về bản sắc văn hóa, trước tiên, được hiểu như là một tổng

thể các đặc trưng của văn hóa, được hình thành, tồn tại và phát triển suốt quá trình lịch sử lâu dài của dân tộc Cho nên, các đặc trưng văn hóa ấy mang tính bền vững, trường tồn Muốn nhận biết bản sắc phải thông qua vô vàn các sắc thái văn hóa, với tư cách là biểu hiện của bản sắc văn hóa ấy Bản sắc văn hóa góp phần tạo nên bản lĩnh văn hóa, hay nói cụ thể hơn đó là bản lĩnh dân tộc Chính nhờ bản lĩnh này mà văn hóa của một dân tộc có thể bảo tồn và phát huy giá trị của mình trong những hoàn cảnh khác nhau Như vậy, trong bản sắc văn hóa, bản lĩnh dân tộc đều chứa đựng những giá trị như Ngô Đức

Thịnh (2014), Giá trị văn hóa Việt Nam – truyền thống và biến đổi, Nxb

Chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội đã nói: “Trong mỗi bản sắc đều chứa đựng các giá trị Chính vì vậy mà nhiều khi bản sắc được coi là giá trị và ngược lại, giá trị được coi là bản sắc” [62, 31] Lý giải về việc này, chúng ta thấy rằng giữa bản sắc và giá trị tuy là những khái niệm riêng, nhưng nội hàm của chúng lại có điểm chung Hiểu là bản sắc khi chúng ta coi đó là cái căn cước, cái đặc thù của mỗi cộng đồng để phân biệt nó với cộng đồng khác; còn coi đó là giá trị khi người ta muốn nhấn mạnh đến tính ích dụng, tính đáp ứng của bản sắc văn hóa trước nhu cầu của con người và xã hội Như vậy, trong bản sắc văn hóa đều chứa đựng những giá trị nhất định hay nói cách khác, giá trị làm nên cái cốt lõi của bản sắc

Khái niệm về bản sắc văn hóa dân tộc cho đến nay vẫn có nhiều cách hiểu và lý giải khác nhau Trong cuốn Về bản lĩnh văn hóa Việt Nam, tác giả

Hồ Sỹ Vịnh cho rằng: “bản sắc văn hóa dân tộc là một phạm trù rộng, bao quát một cách uyển chuyển, linh hoạt nhiều đặc điểm của một dân tộc để tạo

Trang 25

nên bộ mặt, hình dáng, cốt cách của dân tộc ấy không đồng nhất với các dân tộc khác trong khu vực và trên thế giới” [95, 289] Tương tự như thế, trong

tác phẩm Những thách thức của văn hóa Việt Nam trong quá trình hội nhập

kinh tế quốc tế, tác giả Phạm Duy Đức cũng đưa ra quan niệm: “bản sắc văn

hóa dân tộc là các giá trị đặc trưng tiêu biểu phản ánh diện mạo, cốt cách, phẩm chất và bản lĩnh riêng của mỗi quốc gia, dân tộc; là dấu hiệu cơ bản để phân biệt nền văn hóa của dân tộc này với dân tộc khác” [21, 167] Như vậy, bản sắc văn hóa dân tộc là những giá trị đặc thù tạo nên những đặc điểm riêng, làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác Nó biểu hiện những giá trị tiêu biểu, đặc trưng của một dân tộc, mà nếu không có những giá trị này thì không thể nhận diện được hình dáng và cốt cách của dân tộc ấy Lẽ hiển nhiên, những giá trị của bản sắc văn hóa dân tộc không phải được hình thành một cách nhất thời, mà đó là những giá trị đạt được trong suốt quá trình sinh hoạt,

lao động, phấn đấu của dân tộc đó Chính vì thế, Ngô Đức Thịnh trong Những

giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam đã khái quát: “bản sắc văn hóa dân tộc

là một tổng thể các đặc trưng của văn hóa, được hình thành, tồn tại, phát triển suốt quá trình lịch sử lâu dài của dân tộc, các đặc trưng văn hóa ấy mang tính bền vững, trường tồn, trừu tượng và tiềm ẩn” [68, 29] Ngoài ra, bàn về vấn

đề bản sắc văn hóa dân tộc, Hoàng Trinh trong cuốn Bản sắc văn hóa dân tộc

và hiện đại hóa trong văn hóa, đã quan niệm về bản sắc văn hóa dân tộc là:

“tổng thể những tính chất, tính cách, đường nét, màu sắc, biểu hiện ở một dân tộc trong lịch sử tồn tại và phát triển, giúp cho dân tộc đó giữ vững được tính duy nhất, tính thống nhất, tính nhất quán của bản thân mình trong quá trình phát triển” [81,18-19]

Bản sắc văn hóa dân tộc luôn gắn chặt với môi trường sống của một cộng đồng hay một dân tộc Nếu xét về cơ sở nguồn gốc, bản sắc văn hóa dân tộc chính là sự phản ánh mối quan hệ giữa con người với điều kiện tự nhiên,

Trang 26

kinh tế - xã hội và môi trường sống Điều kiện tự nhiên, môi trường sống và sau đó là kinh tế - xã hội quyết định đến bản chất, tính cách cũng như sự sáng tạo của con người, là nơi ghi đậm dấu ấn của con người Mỗi dân tộc đều cư trú trên một địa bàn nhất định, không dân tộc nào giống dân tộc nào Từ nhu cầu của cuộc sống, con người và cộng đồng một mặt khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên, làm ra của cải vật chất nuôi sống mình, mặt khác lại phải đấu tranh với tự nhiên để tồn tại và phát triển Cũng chính trong quá trình đó, con người sáng tạo ra các giá trị văn hóa, tích lũy và xây dựng những truyền thống mang đậm dấu ấn của con người, của cuộc sống cộng đồng Các thế hệ

kế tiếp nhau, nối tiếp những giá trị truyền thống mà các thế hệ trước để lại

Cứ như thế, hệ thống những giá trị và truyền thống của cộng đồng được tiếp thu, kế thừa, hun đúc, được tiếp biến và lưu truyền trở thành bản sắc văn hóa của cộng đồng người

Như vậy, nói một cách khái quát, bản sắc văn hóa dân tộc là những giá trị văn hóa mang sắc thái đặc thù, riêng có của dân tộc, được hình thành trong quá trình tồn tại, phát triển; trên cơ sở điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường sống của cộng đồng dân tộc Nó phản ánh diện mạo, cốt cách, tâm hồn, tính cách, tâm lý con người và cộng đồng người tồn tại trên đó Nói đến bản sắc dân tộc là nói đến con người, đến cộng đồng dân tộc Mỗi dân tộc tạo

ra bản sắc dân tộc mình, bản lĩnh văn hóa của mình trên cơ sở những điều kiện, hoàn cảnh địa lý và lịch sử dân tộc, truyền thống dân tộc, nền kinh tế - chính trị và văn hóa của nước mình

Bản sắc văn hóa dân tộc không phải là một phạm trù bất biến, mà luôn vận động, bổ sung, kế thừa và tiếp biến Trong quá trình đó, nó luôn đảm bảo

sự phù hợp với thời đại lịch sử Nói cách khác, sự vận động và phát triển của bản sắc văn hóa dân tộc tất yếu phải tuân theo quy luật phát triển của lịch sử

xã hội, của dân tộc và thời đại Quan niệm về bản sắc văn hóa dân tộc, một

Trang 27

mặt chỉ ra rằng nó là nét riêng biệt, cụ thể để phân biệt nền văn hóa này với những nền văn hóa khác Mặt khác, bản sắc văn hóa dân tộc luôn gắn liền với đặc điểm lịch sử và tính chất của dân tộc Làm thế nào để khẳng định bản sắc dân tộc trong tiến trình phát triển văn hóa nước nhà là điều hết sức quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Bởi việc khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc không những đảm bảo sự trường tồn những giá trị truyền thống của dân tộc, quyết định cho diện mạo, cốt cách và phẩm chất của dân tộc; mà còn là sức mạnh to lớn cho sự phát triển ổn định và bền vững của sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước trong mọi thời điểm lịch sử

1.1.3 Đặc trưng của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam

Về bản sắc dân tộc Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII khẳng định: “Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đình – làng xã – Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống… Bản sắc văn hóa dân tộc còn đậm nét trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo”

Từ quan niệm về bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam mà Đảng ta đã xác định, có thể khái quát những đặc trưng cơ bản như sau:

Một là, lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết giữa cá nhân – gia đình – làng xã – Tổ quốc

Có thể nói, lòng yêu nước, ý chí tự cường, tinh thần đoàn kết, gắn bó cộng đồng là nội dung cốt lõi bao trùm nhất của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam Đây là nội dung, hệ giá trị tiêu biểu, đặc sắc nhất, mang tính bền vững và định

Trang 28

hướng các giá trị khác, cũng như chi phối toàn bộ quá trình phát triển của văn hóa Việt Nam Những giá trị này phản ánh điều kiện thực tế của lịch sử Việt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước qua hàng ngàn năm, luôn phải đấu tranh chống lại sự xâm lăng của các thế lực ngoại ban, khẳng định chủ quyền bờ cõi, bảo vệ độc lập dân tộc Từ trên mảnh đất này, con người Việt Nam đã gắn bó, yêu thương, cùng nhau đoàn kết xây dựng nên những giá trị đặc sắc của bản sắc văn hóa dân tộc mà đỉnh cao là chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam Tinh thần yêu nước là một giá trị phổ quát mang tính toàn nhân loại, tuy nhiên, nội dung của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam có những đặc thù riêng biệt Xuất phát từ tình yêu xóm làng, quê hương,

xứ sở, con người Việt Nam ý thức vấn đề toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền dân tộc, lịch sử, văn hóa của mình là thiêng liêng, bất khả xâm phạm Chính từ tinh thần này, mà mỗi con người cho đến toàn thể dân tộc Việt Nam biết yêu thương, đoàn kết lẫn nhau vượt qua thử thách mỗi khi đất nước lâm vào hoàn cảnh khó khăn Chủ nghĩa yêu nước ấy được thiêng liêng hóa thành một thứ tình cảm hết sức cao đẹp Những người anh hùng có công với đất nước đều được dân tộc tôn xưng như những vị thánh, như: Quốc tổ Hùng Vương, Thánh Gióng, Đức thánh Trần Hưng Đạo, Trương Định Trong thời cận đại

và cho đến ngày nay còn có Hồ Chí Minh, Võ Thị Sáu, Nguyễn Thị Định và mới đây là Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Hai là, lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động Đây chính là nội dung bản sắc văn hóa thể

hiện cốt cách và phẩm chất của con người Việt Nam từ trong nét đẹp nhân

cách cho đến cao thượng trong tâm hồn Từ chổ trọng nghĩa tình và đạo lý,

cho thấy phẩm chất con người Việt Nam rất xem trọng hai chữ tình và lý Khi

sự việc được nhìn nhận một cách thấu đáo giữa lý và tình thì sự việc đó mới trở nên khách quan và đầy tính nhân văn Từ đây, con người Việt Nam không

Trang 29

chỉ yêu nước mà còn có lòng nhân ái, khoan dung trong tinh thần “thương người như thể thương thân”; không chỉ yêu thương dân tộc, đồng bào, đồng chí mà còn nhân từ ngay với chính kẻ thù của mình, như: các vua Trần cấp thuyền cho các bại tướng Nguyên Mông, Lê Lợi đã cấp thuyền và lương thực cho quân Minh về nước, thể hiện tinh thần khoan dung, độ lượng: “đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo”

Đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động là biểu hiện cốt cách và phẩm

chất con người Việt Nam trong lao động sản xuất Do điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt đã buộc con người Việt Nam phải cần cù, chịu khó trong lao động sản xuất, làm ra của cải vật chất, đảm bảo cho sự tồn tại của bản thân cũng như cộng đồng Tinh thần cần cù tạo nên đức tính kiên nhẫn, chịu khó tìm tòi, học hỏi nhằm tạo ra phương thức lao động tốt nhất, để đạt được hiệu quả cao trong lao động nhằm đáp ứng được yêu cầu mọi mặt của cuộc sống con người Lại thêm trong điều kiện đất nước thường lâm vào cảnh chiến tranh chống giặc ngoại xâm, để đáp ứng một cách tốt nhất cho sự tồn tại và phát triển của đời sống, dân tộc Việt Nam vừa ra sức bảo vệ đất nước, vừa biết sáng tạo trong lao động sao cho năng suất luôn đáp ứng được nhu cầu của xã hội trong từng điều kiện cụ thể Đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động là một nền tảng vững chắc cho dân tộc Việt Nam trong việc thể hiện vai trò của mình trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Một khi đất nước

có nền kinh tế ổn định thì các yếu tố văn hóa, xã hội mới có điều kiện để phát triển bền vững

Ba là, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống Dân tộc Việt

Nam là một dân tộc theo nền văn minh lúa nước Do đời sống gắn liền với bờ ruộng, lũy tre, xem thiên nhiên như là ngôi nhà thứ hai của mình cho nên đời sống trở nên rất giản dị Tuy nhiên, sự giản dị không đơn thuần là sự đơn điệu, tầm thường mà ẩn trong cái bình thường nó hàm chứa cái cao quý, trong cái

Trang 30

giản dị nó hàm chứa nét thanh cao Họ sống giản dị với thiên nhiên, với quê hương đất nước, với bờ ruộng lũy tre, nhưng trong mối quan hệ giữa con người với con người đó là tình cảm đậm đà, đùm bọc và tương trợ lẫn nhau trong những hoàn cảnh khó khăn; trong tình yêu đất nước, làng quê, họ đoàn kết với nhau như thể ruột rà, “môi hở răng lạnh” Họ yêu làng nước, quê hương như máu thịt của mình Tính giản dị của dân tộc Việt Nam là như thế

Từ đó, nó đưa đến cách ứng xử giữa con người với con người một cách tinh tế,

mà đặc trưng cơ bản nhất là tình thương yêu con người, tôn trọng cuộc sống

và đề cao các giá trị nhân phẩm con người Họ luôn coi trọng mối quan hệ cá nhân – gia đình – làng xóm – cộng đồng dân tộc Sống có nghĩa, có tình đã trở thành nguyên tắc, chuẩn mực, giá trị của con người Việt Nam; sẵn sàng quan tâm, gắn bó, tương trợ lẫn nhau Trong những trường hợp cấp bách, sẵn sàng đặt lợi ích cộng đồng lên trên lợi ích cá nhân, lợi ích làng nước lên trên lợi ích gia đình

Cuối cùng, bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam còn đậm nét trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo Các hình thức biểu hiện mang

tính dân tộc độc đáo đó chính là những di sản văn hóa vật chất và tinh thần có giá trị lịch sử, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Trong

Luật di sản văn hóa của Việt Nam, di sản văn hóa được định nghĩa: “Di sản

văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [54,7] “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác” [55, 6-7]

Trang 31

Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá trong bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam và là bộ phận của di sản văn hóa nhân loại Nó bao gồm, di sản văn hóa vật chất là những công trình kiến trúc, điêu khắc, hội họa… trong đền đài, cung điện, chùa tháp Di sản văn hóa phi vật chất là phong tục, tập quán, lối sống, tín ngưỡng… trong các cộng đồng dân tộc khác nhau trong lãnh thổ Việt Nam Nó không những đại diện cho những nét riêng biệt của bản sắc văn hóa dân tộc, mà còn phản ánh sự đa dạng, phong phú của các thành phần hình thành nên bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam

Những nội dung cơ bản trên của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là

sự kết tinh tất cả những gì đặc sắc, đẹp đẽ và độc đáo nhất của cộng đồng dân tộc Việt Nam; là diện mạo, cốt cách để phân biệt với các dân tộc khác Đó là kết quả của quá trình vun đắp, kế thừa, tiếp nối truyền thống lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Những giá trị đó tạo nên một diện mạo đặc trưng của dân tộc Việt Nam Đó là một thể thống nhất, bền vững, gắn kết cộng đồng, tạo sức mạnh chiến thắng trong mọi hoàn cảnh của quá trình xây dựng và phát triển đất nước Trong đó, tinh thần yêu nước, ý chí

tự cường, tinh thần đoàn kết dân tộc, tình yêu thương con người, cần cù, sáng tạo trong lao động là nội dung chủ đạo, định hướng và chi phối các phẩm chất văn hóa khác Nó không những là bộ mặt, đồng thời đóng vai trò là nền tảng cho sự tồn tại và phát triển bền vững của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam

1.2 KHÁI QUÁT VỀ GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHẬT GIÁO VIỆT NAM

1.2.1 Khái niệm về giá trị văn hóa Phật giáo

Khái niệm về giá trị, giá trị văn hóa

Nhiều thập kỷ qua, giá trị học được xem là một trong ba lĩnh vực mà triết học nghiên cứu bao gồm: bản thể luận, nhận thức luận và giá trị luận Trong khi, bản thể luận đề cập đến sự tồn tại bản chất của thực tại: tồn tại là gì? Cuộc sống là gì? Nhận thức luận đề cập đến chân lý và cơ sở của tri thức:

Trang 32

chân lý là gì? Bằng cách nào con người đi đến tri thức? Và giá trị luận xem xét vấn đề tồn tại khách quan của các giá trị, phải làm cái này, không làm cái kia, tỏ thái độ đánh giá, công nhận… Cho nên, giá trị luận là một bộ phận không thể thiếu của triết học

Nói đến giá trị là nói đến việc đánh giá, tìm ra ý nghĩa của các sự vật,

sản phẩm mà chủ thể con người quan tâm đến, có ước muốn đạt được để thực hiện một mục đích nào đấy Giá trị là một khái niệm được sử dụng trong nhiều ngành khoa học khác nhau, như: toán học, xã hội học, triết học, văn hóa học…Trong mỗi bộ môn khoa học, khái niệm này mang những hàm nghĩa

khác biệt Gs Ts Ngô Đức Thịnh (2014), trong cuốn Giá trị văn hóa Việt

Nam – truyền thống và biến đổi, Nxb Chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội

cho rằng: “Giá trị cũng như tập quán, chuẩn mực, tri thức …đều là những sản phẩm của quá trình tư duy, sáng tạo tinh thần của con người, là yếu tố cốt lõi nhất của văn hóa Giá trị, giá trị văn hóa là một hình thái của ý thức, của đời sống tinh thần, nó phản ánh và kết tinh những giá trị của cả đời sống vật chất

và đời sống văn hóa tinh thần.” [62, 20]

Chúng ta biết rằng, toàn bộ sự tồn tại của loài người trên thế giới này đều dựa trên các giá trị vật chất và giá trị tinh thần Các giá trị này bảo đảm sự tồn tại, cuộc sống của con người ở các cấp độ khác nhau Giá trị bao giờ cũng chứa đựng sẵn trong các vật thể, các sản phẩm do chính con người tạo ra Cho nên, trí tuệ và lý trí của con người được xem là một trong những nguồn tạo ra giá trị Nhưng trình độ lý trí nói riêng, trình độ tinh thần nói chung phải phát triển đến một mức độ nhất định con người mới xuất hiện như là chủ thể, khách thể, có mối quan hệ giữa người với người…và khi đó mới có sự đánh giá, nhận xét, công nhận cái gì có ích, có ý nghĩa Đây chính là nguồn gốc của giá trị

Trang 33

Định nghĩa về Giá trị, Clyde Kluckhohn trong Từ điển xã hội học, của

tác giả G Endruweit và G Trommsdorff (2002), Nxb Thế giới, Hà Nội cho rằng: “giá trị là những quan niệm thầm kín hay bộc lộ về các điều ao ước riêng của cá nhân hay của nhóm Những quan niệm ấy chi phối sự lựa chọn các phương thức, phương tiện và mục tiêu của hành động” [26, 156] Nhà xã hội học hiện đại Mỹ J H Fichter đã đưa ra một định nghĩa về giá trị như sau:

“Theo cách mô tả chúng ta có thể nói rằng, tất cả những gì có ích lợi, đáng ham chuộng hoặc đáng kính phục đối với con người hoặc nhóm, đều là “có

một giá trị” [62, 21] Trong cuốn Tự điển triết học do M Rodentan và P

Iudin biên soạn, cũng nêu định nghĩa về giá trị: “những khẳng định xã hội đặc biệt về những đối tượng của thế giới bao quanh, biểu hiện các ý nghĩa tích cực hay tiêu cực của những đối tượng ấy đối với con người và xã hội” [62, 21] Các nhà xã hội học Việt Nam, trong quan niệm về giá trị của mình cho rằng:

“bất cứ sự vật nào đó cũng có thể xem là có giá trị, dù nó là vật thể hay tư tưởng, miễn là nó được người ta thừa nhận, người ta cần đến nó như một nhu cầu, hoặc cấp cho nó một vị trí quan trọng trong đời sống của họ… Trong mọi giá trị đều chứa đựng yếu tố nhận thức, yếu tố tình cảm và yếu tố hành vi của chủ thể trong mối quan hệ với sự vật, hiện tượng mang giá trị, thể hiện sự lựa chọn và đánh giá của chủ thể” [82, 55] Có thể thấy rằng, trong các định nghĩa trên, tuy cách diễn đạt có khác nhau, nhưng các nhà khoa học đều có nhận thức khá thống nhất về nội dung, nhìn chung nghiên cứu về giá trị vẫn là việc đánh giá, tìm ra ý nghĩa của các sự vật, sản phẩm mà con người quan tâm đến theo tiêu chuẩn của cái chân, thiện, mỹ Và những giá trị này được hình thành

sẽ chi phối trở lại tư tưởng, hành vi và tình cảm của con người: “giá trị là hệ thống những đánh giá mang tính chủ quan của con người về bất cứ hiện tượng

tự nhiên, xã hội và tư duy theo hướng những cái đó là cần, là tốt, là hay, là đẹp, nói theo cách các nhà triết học phương Tây một thời, đó chính là những

Trang 34

cái được con người cho là chân, thiện, mỹ, giúp khẳng định và nâng cao bản chất người Một khi những giá trị ấy đã hình thành và định hình thì nó chi phối cách suy nghĩ, niềm tin, hành vi, tình cảm của con người” [62, 22]

Định nghĩa về Giá trị văn hóa, trong lĩnh vực giá trị học, Gs Ts Phạm Minh Hạc (2012), trong cuốn Giá trị học – cơ sở lý luận góp phần đúc kết,

xây dựng giá trị chung của người Việt Nam thời nay, Nxb Dân Trí đã chỉ ra

mối liên hệ giữa phạm trù giá trị và văn hóa: “Giá trị (học) giữ vai trò đặc biệt trong văn hóa (học), vì thông thường coi văn hóa trong nghĩa rộng nhất là tổng của các giá trị vật chất và giá trị tinh thần Đối tượng của văn hóa học (xét một cách đại thể) là các giá trị Vấn đề giá trị là vấn đề trung tâm của văn hóa, được gọi là các giá trị văn hóa ” [29, 34] Như vậy, nghiên cứu về giá trị văn hóa cũng tức là nghiên cứu tính thiết thực và tính đáp ứng của văn hóa, bản sắc văn hóa đối với nhu cầu ngày càng hoàn thiện các phẩm chất tốt đẹp của con người và xã hội Gs Ts Ngô Đức Thịnh cho rằng: “giá trị văn hóa là cốt lõi của văn hóa, nó được sáng tạo và kết tinh trong quá trình lịch sử của mỗi cộng đồng, tương ứng với môi trường tự nhiên và xã hội nhất định Giá trị văn hóa hướng đến thỏa mãn những nhu cầu và khát vọng của cộng đồng

về những điều tốt đẹp (chân, thiện, mỹ), từ đó bồi đắp và nâng cao bản chất người Giá trị văn hóa luôn ẩn tàng trong bản sắc văn hóa, di sản văn hóa, biểu tượng, chuẩn mực văn hóa Chính vì vậy mà văn hóa thông qua hệ giá trị của nó góp phần điều tiết sự phát triển xã hội” [62, 23]

Về việc phân loại giá trị, người ta phân chia thành hai loại: giá trị vật chất và giá trị tinh thần Các giá trị vật chất nằm ngay trong bản thân sự vật, đáp ứng nhu cầu vật chất của con người như: ăn, mặc, ở, đi lại… Các giá trị tinh thần nói lên ý nghĩa của sự vật ấy đối với sự thích thú, quan tâm của con người; đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người như: giá trị nhận thức, giá trị chính trị, giá trị đạo đức, giá trị tâm linh, giá trị thẩm mỹ… Như vậy, nói đến

Trang 35

giá trị văn hóa Phật giáo trong đời sống tinh thần đối với bản sắc văn hóa Việt Nam, nghĩa là chúng ta thực hiện việc đánh giá, tìm ra ý nghĩa của tinh thần Phật giáo, những cái đã gắn bó với dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử xây dựng và phát triển đất nước, đã chi phối nhận thức, hành vi, tình cảm con

người và xã hội Việt Nam trong việc hướng đến các giá trị chân, thiện, mỹ

Giá trị văn hóa Phật giáo

Phật giáo khởi đầu tại miền Bắc Ấn Độ vào thế kỷ thứ VI đến thế kỷ thứ V trước Công Nguyên Ra đời trong hoàn cảnh đạo Bà La Môn thống trị

xã hội đương thời với tư tưởng phân biệt chủng tộc gay gắt Phật giáo với triết

lý nhân sinh và bản thể luận đề cao giá trị con người một cách triệt để của mình, đã mang hơi thở mới cho sự bình đẳng và tự do của con người trong xã hội Ấn Độ cổ đại Nó trở thành một trào lưu tư tưởng mang tính tích cực đối với những giá trị khắt khe, cứng nhắc về giá trị nhân phẩm con người Người sáng lập đạo Phật là Thích Ca Mâu Ni (Sakiyamuni), có tên là Tất Đạt Đa (Siddhattha), họ Cù Đàm (Gautama), thuộc đẳng cấp vua chúa hàng Sát đế lợi (Khattiya), cha là vua Tịnh Phạn (Suddhodana), mẹ là hoàng hậu Ma Da (Maya), thuộc bộ tộc Thích Ca (Sakiya), tại kinh đô là thành Ca-tì-la-vệ (Kapilavatthu) Ông sinh ngày 8 tháng 4, khoảng năm 563 và mất năm 483 trước Công nguyên

Tất Đạt Đa xuất gia năm 29 tuổi, có thời gian sáu năm đi khắp nơi học đạo và tu hành theo phương pháp khổ hạnh, cuối cùng Ông nhận thức rằng: pháp tu khổ hạnh này chỉ làm cho con người khánh kiệt sức khỏe và suy giảm tinh thần Mặt khác, đời sống xa hoa và thụ hưởng vật chất chỉ khiến cho con người bị cuốn theo những ham muốn tầm thường, làm chậm trễ sự tiến bộ đạo đức và tâm trí Cuối cùng, Ông quyết định đến xứ Ưu-lâu-tần-loa (Uruvela)

và dừng chân tại Bồ đề đạo tràng (Bodh Gaya), một thành phố ở quận Gaya, Bihar, Ấn Độ ngày nay, chuyên tâm thực hành thiền định dưới cội cây Bồ đề

Trang 36

Ròng rã suốt 48 ngày đêm nhập thiền, đến đêm cuối cùng sau khi giác ngộ

con đường Trung đạo, Ông chứng ngộ và thành tựu quả vị Phật

Bằng con đường Trung đạo, Phật Thích Ca Mâu Ni đã đưa ra học thuyết cứu khổ chúng sanh của mình trên hai phương diện: một là, liên quan đến đời sống con người, bản chất của cuộc sống con người và cảnh giới lý tưởng mà con người tìm tới bằng học thuyết Tứ Diệu Đế Hai là, từ việc nhận thức cuộc sống con người đi tới việc phân tích mối quan hệ giữa con người với vũ trụ bằng thế giới quan “Duyên khởi”, “Vô thường” và “Vô ngã” Con đường mà Tất Đạt Đa tìm ra và học thuyết mà Ông đã khởi xướng là một hệ

thống triết lý tích cực, được Lưu Trường Cửu (2009), trong cuốn Nền Văn

Hóa Phật Giáo Trung Quốc, Nxb Đồng Nai đánh giá là một “lý luận tôn giáo

giàu tính triết học nhất” [13, 105]

Quan điểm Phật giáo về nhân sinh

Học thuyết Tứ Diệu Đế (Catvary arya satyani) được xem là một lý luận nhận thức cơ bản, đặc sắc của Phật giáo Tứ Diệu Đế chỉ ra đâu là nổi khổ của con người, đâu là nguyên nhân của khổ và vạch ra con đường diệt trừ khổ não

nhằm đem lại hạnh phúc, an vui cho mọi người bằng bốn sự thật: Khổ đế, Tập

đế, Diệt đế và Đạo đế Khổ đế là sự thật về những đau khổ trong kiếp nhân

sinh Tập đế là nguyên nhân chỉ ra vì sao con người có những nổi đau khổ ấy

là Vô minh Diệt đế tức là trạng thái Niết bàn, trạng thái hạnh phúc lý tưởng sau khi con người đã chấm dứt hết khổ đau Đạo đế là con đường, những phương pháp giúp con người diệt trừ những khổ não, đưa đến niềm vui Niết

bàn Niết bàn (nirvāna) là danh từ để chỉ cho một trạng thái của tâm không

còn tham, sân, si nữa như trong kinh Tăng Chi, Phật xác định “Này Bà La Môn, khi vị ấy cảm thọ tham ái được đoạn tận không có dư tàn, cảm thọ sân đoạn tận không có dư tàn, cảm thọ si được đoạn tận không có dư tàn Như vậy,

Trang 37

này Bà La Môn, Niết Bàn là thiết thực hiện tại, không có thời gian đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí giác hiểu” [89, 285]

Dựa vào kết quả nhận thức chia xúc cảm con người từ khổ đến vui, Phật giáo phân thành mười loại cảnh giới gồm có bốn cõi thánh và sáu cõi phàm Bốn cõi thánh gồm Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ tát và Phật Sáu cõi phàm gồm có cõi Trời, Người, A tu la, Súc sinh, Ngạ quỷ và Địa ngục Phật giáo cho rằng, con người trong sáu cõi phàm trần nếu biết tu hành làm lành tránh ác, giữ tâm ý thanh tịnh, đều có khả năng đi vào hàng tứ thánh và thành Phật Bản chất con người theo quan niệm Phật giáo là tập hợp của Ngũ Uẩn: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức Thiếu một trong năm uẩn thì không thể hiểu là người Sắc uẩn thuộc về phần vật lý Thọ, tưởng, hành, thức thuộc phần tâm

lý Con người không thể thiếu một trong hai phần tâm lý và vật lý mà có được

mà là một thể thống nhất của hiện tượng vật chất và hiện tượng tinh thần Con người do Ngũ Uẩn hòa hợp mà sinh, Ngũ uẩn phân tán mà mất, thành hoại vô thường Cho nên, Phật giáo chủ trương vô ngã Nghĩa là, con người là một tổng hợp của Ngũ uẩn biến đổi trong từng sát-na (ksana) sanh diệt, vừa là nó vừa không phải là nó, không phải là một thực thể cố định mà luôn luôn vận động và biến đổi

Con người có thân ngũ uẩn, do tham ái và vô minh mà sinh ra các thứ khổ não Khổ não gồm có 8 loại: sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, cầu mong không được là khổ, oán thù mà gặp gỡ là khổ, thương yêu mà chia lìa là khổ và Ngũ uẩn là khổ Ngũ uẩn vốn do duyên sinh nên vô ngã, vô thường Vì

vô minh, con người chấp thân sắc uẩn, chấp cảm thọ, tư duy hiểu biết là của mình, là mình, là tự ngã của mình nên khi chúng thay đổi, biến dịch, thì nghe mình khổ đau Tập đế hay nguyên nhân của khổ não đó là do vô minh gây ra Giải thích điều này, Phật Thích Ca Mâu Ni đã chỉ ra thuyết Thập Nhị Nhân Duyên như là nguồn gốc của nổi khổ con người: “do vô minh, có hành sinh;

Trang 38

do hành, có thức sinh; do thức, có danh sắc sinh; do danh sắc, có lục nhập sinh: do lục nhập, có xúc sinh; do xúc, có thọ sinh; do thọ, có ái sinh; do ái, có thủ sinh; do thủ, có hữu sinh; do hữu, có sinh sinh; do sinh, có lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh Như vậy, toàn bộ Khổ uẩn sinh Đây là Duyên khởi” [88, 10] Khi Mười hai nhân duyên sinh khởi thì đồng nghĩa với toàn bộ Khổ uẩn xuất hiện Khi Mười hai nhân duyên diệt thì đồng nghĩa với toàn bộ Khổ uẩn đoạn diệt Khổ uẩn đoạn diệt, con người sẽ đạt đến cảnh giới an vui Niết bàn không còn sanh tử nữa Niết bàn cũng chính là Diệt đế Phương pháp tu hành đạt đến cảnh giới Diệt đế là con đường Bát Chánh Đạo: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và

Chánh định Ngoài ra, Phật giáo còn chủ trương tu hành bằng con đường Tam

học: Giới, Định, Tuệ; và Lục độ gồm: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn,

Thiền Định và Trí Tuệ

Tất cả học thuyết Phật giáo là một nhân sinh quan sâu sắc khẳng định con người tuy có khổ nhưng cũng hoàn toàn có khả năng diệt khổ, đạt được cảnh giới an vui Chỉ ra những điều khổ não, xác định nguyên nhân và tìm phương pháp để đạt được mong muốn an vui là điểm tích cực trong học

thuyết cứu khổ của Phật giáo Con người luôn “hãy tự biết mình” như

Socracte đã từng nói, đó chính là điểm tích cực của giáo lý Tứ Diệu Đế Từ đây, Phật giáo hướng đến cái nhìn bản thể của vũ trụ

Quan điểm Phật giáo về thế giới

Phật giáo quan niệm cuộc sống của con người trong thế giới hiện thực luôn có những quan hệ mật thiết với thế giới khách quan, cho nên hình thành bản thể luận của mình với học thuyết Duyên khởi, Vô thường và Vô ngã Duyên khởi luận là lý luận nền tảng của toàn bộ giáo lý Phật giáo, các loại lý luận khác đều bắt đầu từ nguyên lý này Duyên khởi luận cho rằng: “Đây có thì đó có, đây không thì đó không Đây sinh thì đó sinh, đây diệt thì đó diệt”

Trang 39

[90, 118] Sự vật hiện tượng sinh ra đều có nguyên nhân của nó Thế giới sự vật hiện tượng vô cùng vô tận, không có cái nào không do nhân duyên hòa hợp mà sinh, đều là một chuổi nhân quả gắn liền với nhau Nhân quả với ba thời quá khứ, hiện tại và tương lai tương ứng với nhau không gián đoạn Duyên khởi luận chủ trương rằng, thế giới vạn vật không có bất kỳ một thực thể nào không do nhân duyên hòa hợp mà sinh Có nhân tất có quả, có quả tất

có nhân, quả do nhân nhờ duyên tác động mà thành Nhân và duyên tuy có

sự khác biệt, nhưng trong điều kiện này có lúc duyên cũng gọi là nhân, trong điều kiện khác nhân cũng gọi là duyên Thế giới vạn vật đều do nhân duyên hòa hợp mà sinh, không có một thực thể tồn tại độc lập, đều nằm trong mối quan hệ hổ tương với nhau, không có sự tồn tại của một đấng chủ tể sáng tạo

ra mọi vật Con người chính là chủ nhân là người chịu trách nhiệm với hành

vi tạo tác của mình Từ đó, đưa ra hai xu hướng sinh hoạt trong đời sống con người: làm lành đưa đến quả lành, làm ác đưa tới quả ác, hay còn gọi là nghiệp (nhân) và nghiệp báo (quả) của thuyết Nhân quả Nhìn chung, luật

nhân quả ngoài việc chỉ ra mối liên hệ phổ biến của sự vật hiện tượng, còn đề

ra phương thức rèn luyện đạo đức của cuộc sống con người

Vô thường là lý luận trọng yếu sinh ra từ lý luận duyên khởi Phật giáo quan niệm rằng thế giới sự vật luôn luôn vận động và biến đổi không ngừng trong từng sát-na, cho nên không có vật gì có thể tồn tại thường hằng mà không có sự biến đổi Sự biến đổi ở con người là sinh, lão, bệnh, tử; ở sự vật hiện tượng là thành, trụ, hoại, không Sự biến đổi như vòng tròn tiếp nối không có sự chấm dứt Từ đây, chỉ ra nguồn gốc khổ đau của con người là do

Vô minh trong chuổi Thập nhị nhân duyên, sở dĩ có khổ đau là do con người tham ái, chấp thủ, không có thói quen chấp nhận sự biến đổi của những cái gì

mà mình yêu thích, đó chính là sự thiếu hiểu biết, là Vô minh

Trang 40

Vô ngã cũng là một lý luận quan trọng bắt nguồn từ thuyết duyên khởi Phật giáo không chấp nhận một thực thể nào là tồn tại bất biến (ngã), mà cho rằng vạn pháp đều vô Ngã, tức là sự vận động và biến đổi không ngừng Ngã gồm hai loại: nhân ngã và pháp ngã Nhân vô ngã chính là con người không thể tồn tại một cách độc lập mà không có sự liên hệ nào với các sự vật hiện tượng chung quanh mình, nghĩa là cái “ngã” luôn biến đổi Con người là một tập hợp của Sắc, Thọ, Tưởng, Hành và Thức; cho nên luôn luôn vận động và biến đổi từ thân vật chất cho tới tinh thần, vì thế gọi là Nhân vô ngã Pháp vô ngã tức là thế giới khách quan vận động biến đổi không ngừng theo những quy luật riêng của nó mà không theo ý thức chủ quan của con người, không

Trên cơ sở nhận thức luận và bản thể luận của mình, Phật giáo trở thành một một tôn giáo lớn, không chỉ phát triển trên lãnh thổ Ấn Độ mà còn lan truyền ra những nước khác theo hai hướng Nam truyền và Bắc truyền Phật giáo mỗi phương đều có những hoạt động văn hóa nghệ thuật riêng đặc sắc Cũng vì lý do này, mà văn hóa Phật giáo trở nên phong phú Mỗi vùng miền đều có những nét đặc thù riêng, với hệ thống tư tưởng triết lý nhân sinh, các loại hình nghệ thuật thẩm mỹ đồ sộ của mình đã góp phần to lớn vào kho tàng văn hóa chung của nhân loại

Mặc dù Phật giáo là một văn hóa có nguồn gốc từ nước ngoài, nhưng

Ngày đăng: 22/08/2023, 02:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w